Hành Trình Khám Phá Trung Hoa

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đến tệ xá ngồi chơi một lát

❊ ❊ ❊

Một

Những năm gần đây, tôi được mời đến nhiều nơi trong và ngoài nước để giảng về lịch sử văn hóa Trung Hoa, bài giảng luôn dừng lại ở cuối thời Thanh, rồi tiện thể nói thêm vài câu về thời cận đại. Thế nhưng, hầu như lần nào tôi cũng được yêu cầu nói thêm một đoạn về hiện trạng và tương lai của văn hóa Trung Hoa. Tôi nhớ khi thuyết trình tại Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học Columbia và Thư viện Quốc hội Mỹ, câu hỏi tại chỗ của khán giả mỗi buổi đều tập trung chủ yếu vào thời đương đại. Vì vậy, hôm nay, sau khi đã sắp xếp xong hành trình gian nan tìm kiếm văn hóa Trung Hoa bắt đầu từ những đống đổ nát của tai ương, dường như cũng nên thêm vào bài viết này.

Một người nghiên cứu muốn đứng từ trên cao nhìn xuống để luận bàn về thời đương đại là rất khó khăn, cách duy nhất khả thi là xuất phát từ cảm nhận cá nhân của chính mình. Điều này giống như việc dẫn một nhóm bạn đi thưởng ngoạn danh sơn đại xuyên, cuối cùng đi vào những con hẻm nhỏ, mời họ đến nhà mình ngồi chơi một lát.

Điều này có vẻ không thỏa đáng lắm, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác. Chốn thị thành ngày nay chẳng có danh sơn đại xuyên nào, thay vì đi tham quan những cảnh trí giả tạo được dựng lên, chi bằng ngồi ở tệ xá trò chuyện về những điều tai nghe mắt thấy của nhau.

Vậy nên, việc xác định "thời đương đại" cũng chỉ có thể lấy hành trình kể từ khi tôi chào đời làm cột mốc.

Tôi có một vài sự thấu cảm tương đối tích cực về văn hóa đương đại Trung Quốc. Điểm này từng khiến nhiều học giả Hoa kiều ở nước ngoài kinh ngạc, nghi ngờ liệu tôi có phải đang nói những lời xu nịnh vì áp lực chính trị nào đó hay không. Nhưng họ xem xét kỹ những phát ngôn của tôi trong mấy chục năm qua, lại thấy không hề có dấu vết nào về phương diện đó. Tôi thẳng thắn nói với họ, họ đã mắc mưu của "thuyết chính trị văn hóa nhất thể". Dù khen hay chê, họ đều xuất phát từ lập trường chính trị để bắt cóc văn hóa, từ đó đánh mất đi sự bình tĩnh lý trí, đánh mất đi chân tướng sự thật.

Năm 1949, tôi mới ba tuổi, đã bắt đầu biết chuyện, sống ở một vùng nông thôn hẻo lánh cách huyện thành sáu mươi dặm ở Chiết Đông. Sau này lớn lên mới biết, thời đó từng xảy ra nhiều hành vi quá khích, nhưng ở Chiết Đông có vẻ tương đối ôn hòa. Thể hiện trong gia đình chúng tôi là việc ông ngoại bị xếp vào hàng "địa chủ", chịu vài lần phê đấu, bị lục soát nhà cửa; may mà ông vốn đã sa sút, trong nhà chẳng còn gì đáng giá, cửa nẻo cũng chưa bao giờ đóng, lục hay không cũng như nhau. Những chuyện còn lại, phần lớn đều thuộc phạm vi văn hóa.

Nhiều thanh niên trí thức từ trong thị trấn đến, dưới danh nghĩa "đội công tác" đi lại giữa các thôn làng, tổ chức hội phụ nữ phê bình từng "mẹ chồng ác", thành lập hội nông dân khuyên răn từng kẻ "lười biếng", "đầu đường xó chợ", nỗ lực xóa mù chữ, mở trường tiểu học, lập trạm y tế, tiêm chủng các loại vắc-xin cho người dân...

Về sau tôi dần hiểu ra, đây là một kiểu sinh thái văn minh đến muộn đang vội vã khỏa lấp sau nhiều năm chiến loạn. Tất nhiên, điều này cũng liên quan đến việc chính quyền mới muốn thể hiện trình độ văn minh và năng lực làm việc của mình với nhân dân, nhưng về nội dung thì không hoàn toàn là hành vi chính trị. Mẹ tôi, với tư cách là con gái địa chủ, lẽ ra phải là đối tượng đối lập về chính trị, vậy mà lại là giáo viên lớp xóa mù chữ được kính trọng nhất. Còn tôi thì bước vào ngôi trường tiểu học vừa mới mở, bắt đầu hành trình học tập dài đằng đẵng của mình. Chú tôi là học sinh tốt nghiệp trung học ở Thượng Hải, cũng chủ động đăng ký về nông thôn An Huy để làm những việc tương tự, thỉnh thoảng về thăm quê thăm bà nội, còn tổ chức đoàn kịch nông dân trong thôn.

Vì thế tôi từng phát biểu tại Đài Loan rằng, nếu chỉ dùng ánh mắt đối kháng chính trị để nhìn nhận mọi việc, chắc chắn sẽ bỏ sót một số sự thật văn hóa căn bản nhất. Ví dụ, Trung Quốc vốn là một quốc gia nông nghiệp, những ngôi trường tiểu học đầu tiên, bưu điện đầu tiên, bệnh viện đầu tiên, con đường đầu tiên, tờ báo đầu tiên, bộ phim đầu tiên ở những vùng nông thôn rộng lớn như quê tôi xuất hiện từ khi nào? Điều này dù thế nào cũng nên được ghi nhận một cách tích cực. Bởi vì quốc gia này thực sự quá rộng lớn, mà trên thế giới vẫn còn không ít nơi chưa xuất hiện những điều này.

Trong số đó, tôi coi trọng nhất là giáo dục văn hóa. Khi tôi chào đời, xung quanh mấy chục dặm, với tư cách là quê hương của Vương Dương Minh và Hoàng Tông Hy, số người biết chữ ít đến mức đáng thương, chắc chắn không đến một phần nghìn. Nghĩa là, 99,9% người dân đều mù chữ. Trong tình hình đó, văn hóa Trung Hoa mà chúng ta tự hào nhất sẽ nằm ở đâu? Mảnh đất rộng lớn này lại có liên quan gì đến văn hóa? Do đó, việc mẹ tôi có cơ hội dạy học, tôi và nhiều bạn học có cơ hội đọc sách, không phải là chuyện nhỏ. Lịch sử đã chứng minh, sự phát triển vượt bậc về kinh tế ở quê tôi ba mươi năm qua, những người tiên phong đầu tiên chính là những người bạn học cũ của tôi và học trò của họ.

Sau giữa thập niên năm mươi của thế kỷ XX, giáo dục văn hóa bị quấy nhiễu bởi chính trị cực tả. Những giáo viên mà chúng tôi yêu quý nhất bị gán mác "phái hữu", không ngẩng đầu lên nổi. Trong sách giáo khoa cũng xuất hiện một số bài văn mang tính chính trị. Tuy nhiên, dù là vậy, chính trị và văn hóa vẫn là hai việc khác nhau. Không chỉ toán học, vật lý, hóa học vẫn được giảng dạy rất nghiêm túc, mà tỉ lệ văn ngôn trong sách giáo khoa ngữ văn cũng rất cao, việc rèn luyện năng lực đọc viết rất khắt khe. Khi đó tôi đã đến Thượng Hải học trung học, ở trường đã đọc thuộc lòng "Luận Ngữ" và "Ly Tao", xem qua hầu hết các kiệt tác văn học cổ điển Trung Quốc và văn học thế giới hạng nhất, học được cách làm thơ từ cổ thể, tiếng Anh cũng học khá tốt.

Chính trị cuối cùng cũng hung hăng bao trùm lên văn hóa, đó là khi đến thời "Cách mạng Văn hóa".

Tại sao gọi là "Cách mạng Văn hóa"? Tôi nghĩ, đó là vì những chính trị gia phái "tả" kia thấy văn hóa thực sự quá không nghe lời chính trị, nên muốn thẳng tay đụng đến văn hóa. Từ đó có thể thấy, trước "Cách mạng Văn hóa", văn hóa vẫn đang vận hành theo logic riêng của nó, nếu không đã chẳng khiến chính trị nổi giận đến thế.

Hai

Cho đến tận hôm nay, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn dừng luận bàn về "Cách mạng Văn hóa" ở sự thăng trầm của các nhân vật chính trị cấp cao, thực sự là đã thu nhỏ một tai họa dân tộc, quá có lỗi với đông đảo quần chúng chịu khổ nạn vào thời điểm đó.

Về điều này, với tư cách là người trong cuộc, tôi có cái nhìn hoàn toàn khác với những nhà nghiên cứu kia.

Nhà tư tưởng người Đức Lessing từng nói, những nhân vật chính trị đó vì địa vị quá cao nên trở nên không quá quan trọng. Câu nói này nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng thực ra vô cùng sâu sắc. Trong thời đại không có dân chủ chính trị, địa vị không có tính đại diện. Họ thăng trầm vinh nhục trong những vòng tròn đặc thù, có những quy tắc trò chơi và logic nhân quả đặc biệt, đông đảo quần chúng không hiểu rõ, cũng khó phán đoán, càng không thể lấy mình ra so sánh, hoàn toàn không tồn tại ý nghĩa điển hình của xã hội, nên tất nhiên không quá quan trọng.

Cái gì mới thực sự quan trọng? Đó là sinh thái của quần chúng, đặc biệt là sinh thái văn hóa quyết định sự tồn vong của một nền văn minh.

Tôi cho rằng, "Cách mạng Văn hóa" đã mang lại hai tai họa sau đây đối với sinh thái văn hóa—

Những màn trình diễn phản văn hóa, phản văn minh này cuối cùng tập trung vào một quan điểm, đó là: tấn công luôn có lý, làm tổn thương luôn không hổ thẹn, người nổi tiếng luôn có tội, tội danh luôn vô hạn. Quan điểm này lập tức phổ biến trong xã hội, khiến văn hóa trong chốc lát trở nên cô đơn lẻ bóng, không nơi nương tựa.

Thứ hai, là cả nước đình chỉ giảng dạy, "lên núi xuống làng". Nói nông thôn là trường học, nông dân là giáo viên, thực chất là bãi bỏ toàn bộ việc giảng dạy, phủ định toàn bộ thành thị. Tình trạng này, kể từ khi Trung Quốc bước chân vào ngưỡng cửa văn minh, trong trạng thái không có chiến tranh thì đây là lần đầu tiên xảy ra. Ở châu Âu, trong thời kỳ Cách mạng Pháp cũng xuất hiện nhiều bạo lực, nhưng không hề ngừng giảng dạy, vì vậy văn hóa Pháp không chịu quá nhiều tổn thương. Việc đình chỉ giảng dạy ở Trung Quốc vào cuối thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, do liên quan đến hàng vạn gia đình, ảnh hưởng đến sự truyền thừa văn hóa, thực sự là một đại sự kiện văn hóa chưa từng có, tương đương với việc bùng phát một trận động đất văn hóa. Cả gia đình chúng tôi từ tôi trở đi, để lại bà nội, cha, mẹ không nơi trông cậy, tất cả đều "lên núi xuống làng", không ai tránh khỏi.

Khi lao động ở nông trường, những cuốn sách chúng tôi giấu dưới đáy hòm cũng bị tịch thu, có thể thấy đây là một tai họa hoàn toàn phản văn hóa. Thượng Hải, nơi từng là trung tâm giáo dục văn hóa Trung Quốc, nỗi đau nhức nhối do việc đình chỉ giảng dạy, "lên núi xuống làng" gây ra tất nhiên càng mãnh liệt hơn. Tôi nhớ lúc đó Thượng Hải có dàn dựng một vở kịch, ép buộc mỗi học sinh và phụ huynh sắp "lên núi xuống làng" đều phải đi xem, thậm chí phải xem đi xem lại nhiều lần. Vở kịch này không ngừng nói cho khán giả biết, giáo dục có hại thế nào, trường học có hại thế nào, biên cương tốt đẹp ra sao, khiến học sinh và phụ huynh hoàn toàn từ bỏ sự chuẩn bị về tư tưởng và vật chất cho cuộc sống nông mục ở biên cương cực kỳ gian khổ. Cho đến khi "Cách mạng Văn hóa" kết thúc, nhóm người trung niên đầy thương tích đó cuối cùng cũng trở về thành phố, nhất quyết phải tìm tác giả kịch bản kia để tính sổ. Tác giả đó lúc cấp bách đã tìm đến tôi, muốn tôi với tư cách đại diện cho những người "lên núi xuống làng" để biện hộ cho ông ta. Tôi đã thực sự đi biện hộ cho ông ta, và đến nay vẫn cho rằng, vở kịch đó tuy gây họa cho mỗi gia đình, nhưng trách nhiệm của bi kịch xã hội toàn diện không nên do một mình tác giả đó gánh vác.

Tuy nhiên, sau khi sự việc này lắng xuống, tôi cũng từng nói với tác giả đó rằng, một người làm văn hóa viết sai điều gì đó có thể tha thứ, nhưng nếu gặp phải những vấn đề nhân học cơ bản nhất như có cần văn hóa không, có cần giáo dục không, có cần trường học không, thì tuyệt đối không được cẩu thả.

Ba

Bước ngoặt xảy ra vào mùa thu năm 1971.

Thế lực cực tả vì đấu đá nội bộ mà chịu tổn thất, các nhà lãnh đạo phái khai minh trong chính phủ nắm thực quyền, bắt tay khôi phục giáo dục, văn hóa và khoa học công nghệ. Vì vậy, một số nhà nghiên cứu ở nước ngoài cho rằng, "Cách mạng Văn hóa" đã kết thúc vào năm 1971, kéo dài năm năm. Bởi vì "đường parabol logic" của nó đã rơi xuống đất, những ngày sau đó chỉ là cuộc đấu tranh xoay quanh việc sửa sai năm năm này hay bảo vệ năm năm này. Ngay cả nhà văn Trương Ái Linh vốn không mấy quan tâm đến chính trị cũng đã viết một bài văn ở Mỹ, tán đồng thời kỳ kết thúc này. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nên căn cứ theo lời của chính người phát động "Cách mạng Văn hóa", định Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ IX là thời kỳ kết thúc, thì còn sớm hơn nữa. Vấn đề này, hãy để các nhà sử học tiếp tục nghiên cứu vậy.

Cảm nhận của riêng tôi là, sau đó dù có còn coi là "Cách mạng Văn hóa" đi chăng nữa, không khí cũng đã thay đổi hoàn toàn. Chu Ân Lai chỉ vài ngày sau khi sự kiện Lâm Bưu kết thúc đã vội vã đến Thượng Hải đưa ra một loạt chỉ thị, nói rằng ngoài đại học khoa học kỹ thuật ra, đại học văn khoa cũng phải khôi phục. Giáo trình văn khoa không thể chỉ dùng tác phẩm của lãnh tụ chính trị và kịch mẫu cách mạng, có thể dùng tác phẩm của Lỗ Tấn trước, bởi vì Lỗ Tấn là nhà văn học thực thụ.

Do việc khôi phục giảng dạy toàn diện, các nhóm biên soạn giáo trình loại này được thành lập hàng loạt. Mấy năm ngừng giảng dạy như trải qua một cơn sốc, ngược lại đã tập hợp được cảm giác văn hóa trọn vẹn hơn, đột nhiên phát hiện ra ngay cả trình độ giáo dục văn hóa trước "Cách mạng Văn hóa" cũng còn mỏng. Thế là, bắt tay vào đặt dấu câu cho "Nhị thập tứ sử", Chu Ân Lai đích thân chỉ định nhà sử học Cố Hiệt Cương chủ trì; biên soạn vẽ bản đồ "Trung Quốc lịch sử địa đồ tập", Chu Ân Lai đích thân chỉ định nhà sử học địa lý Đàm Kỳ Nhương chủ trì; rồi tập trung lực lượng biên soạn "Anh-Hán đại từ điển" quy mô to lớn, biên soạn lại "Từ hải", bắt đầu chuẩn bị biên soạn "Hán ngữ đại từ điển", dịch các loại tác phẩm nhân văn, lịch sử, khoa học quốc tế, khôi phục các tạp chí đại học, nhất thời như lửa cháy mạnh mẽ. Thế lực cực tả khó lòng ngăn cản, chỉ có thể miễn cưỡng theo sau, nhưng lại chờ thời cơ phản kích.

Chu Ân Lai sau năm 1971 chỉ huy việc khôi phục giáo dục văn hóa, biên soạn điển tịch văn hóa, thực sự có công lao không nhỏ. Tôi luôn cho rằng, thái độ đối với văn hóa quyết định phẩm cách cơ bản của một nhân vật chính trị.

Bản thân tôi cuối cùng cũng được điểm danh trong đống bùn lầy lao động chân tay nặng nhọc, với tư cách là giáo viên trẻ tham gia nhóm biên soạn giáo trình Lỗ Tấn cho các trường đại học văn khoa Thượng Hải theo yêu cầu của Chu Ân Lai, địa điểm là Đại học Phúc Đán. Mặc dù nhiệm vụ tôi được phân rất nhẹ, vài ngày là xong, nhưng cảnh tượng nhìn thấy ở Đại học Phúc Đán lại khiến tôi vô cùng xúc động.

Các giáo viên trong các nhóm biên soạn giáo trình, đại đa số đều giống tôi vừa từ nông thôn lên. Mọi người mặt mũi đen sạm, quần áo cũ kỹ, khó khăn gia đình chưa giải quyết xong, vết sẹo tinh thần chưa phục hồi, vừa nghe tin khôi phục giảng dạy biên soạn giáo trình, liền vội vã chạy đến, không nói hai lời đã vùi đầu vào giữa những sách vở bản thảo.

Cuối cùng, mọi người nhìn thấy, những thanh niên mấy năm trước bị lôi ra khỏi lớp học một cách thô bạo, rời xa thành phố, đến "thiên địa rộng lớn", lại được triệu tập về thành phố, cầm lên cuốn giáo trình chúng tôi vừa biên soạn xong. Một quy trình văn minh được nhân loại công nhận đã bắt đầu trở lại.

Tôi nhớ Thư viện Đại học Phúc Đán lúc đó, từ sáng mở cửa đã phải tranh giành chỗ ngồi, đến đêm trước giờ đóng cửa vẫn còn sáng đèn. Tôi nhiều lần ngước nhìn từng hàng cửa sổ sáng rực, nghĩ thầm, đúng là trời phù hộ Trung Hoa.

Sau đó, "Cách mạng Văn hóa" cuối cùng cũng bị phủ định, nhưng việc biên soạn giáo trình, biên soạn từ điển cũng đều bị tính là "sáng tác Cách mạng Văn hóa". Đúng lúc trong giáo trình, từ điển quả thực vẫn còn một số câu từ "tả khuynh", mọi người cũng lặng lẽ chấp nhận phê phán. Người phê phán, vẫn là những kẻ phê phán họ trong "Cách mạng Văn hóa". Đó là một nghề nghiệp đặc thù của Trung Quốc.

Chỉ có điều, cho đến hôm nay, trên bàn làm việc của các nhà Hán học trên khắp thế giới, những thứ thường thấy nhất vẫn là chồng "Anh-Hán đại từ điển", "Hán ngữ đại từ điển", "Từ hải", "Trung Quốc lịch sử địa đồ tập", "Nhị thập tứ sử" bản có dấu câu. Chất lượng học thuật của những công trình văn hóa này, đa số đều vượt xa các cuốn sách cùng loại đi trước hoặc đi sau chúng. Còn những học sinh bị thay đổi số phận bởi giáo trình năm đó, sớm đã trở thành lực lượng nòng cốt của các chuyên ngành văn hóa, bây giờ đều đã cận kề độ tuổi nghỉ hưu.

Thực ra, ngay khi chúng tôi đang biên soạn giáo trình, còn xuất hiện những công trình văn hóa trọng đại hơn: Trung Quốc đột nhiên phát hiện ra một loạt di tích văn hóa đỉnh cao.

Ngay cả những quốc gia phát triển nhất, cũng thường xuyên không xoay xở nổi với việc phát hiện một di tích cổ quan trọng. Mà Trung Quốc lúc đó liên tiếp phát hiện ra những gì? Lại chính là Hà Mẫu Độ, Mã Vương Đôi, Binh mã dũng, mộ Phụ Hảo! Những thứ ở cấp độ thấp hơn một chút thì càng nhiều.

Sự xuất hiện đồng thời của một loạt di tích vĩ đại đủ để viết lại lịch sử Trung Quốc, viết lại lịch sử khảo cổ nhân loại này, đã thử thách tiềm năng văn hóa tổng thể của một quốc gia, một dân tộc. Từ khai quật, khảo sát, giám định, nghiên cứu đến tu sửa, bảo tồn, cần phải huy động từng đội ngũ văn hóa có chức năng hoàn chỉnh. Kết quả cuối cùng chúng ta thấy là, từng khâu đều giành được sự gật đầu đồng thuận của đồng nghiệp quốc tế.

Có một số bạn bè nước ngoài thường hỏi tôi: Quốc gia các bạn có nhiều người không ngừng tuyên bố ra bên ngoài rằng, "Cách mạng Văn hóa" đã hủy diệt tất cả văn vật lịch sử, nhưng tại sao những di tích quan trọng nhất mà chúng tôi đi tham quan hiện nay đều là được khai quật và bảo vệ trong thời gian đó?

Tôi đã trả lời như thế này: Xin đừng cười nhạo văn hóa Trung Quốc trong thời kỳ tai ương. Mục đích ban đầu của tai ương là muốn phá hoại nó, nhưng sức mạnh bản thân nó và sức mạnh nhân cách của những người làm văn hóa Trung Quốc ngược lại đã khiến nó có được một màn trình diễn tuyệt vời.

Bốn

Trong thời gian "Cách mạng Văn hóa", thông qua sự giúp đỡ của một người thầy, tôi từng ẩn náu trên một ngọn núi ở Phụng Hóa, Chiết Giang. Chính tại nơi đó, tôi tình cờ gặp một nơi giấu sách bí mật vốn được đặt tên theo danh xưng của Tưởng Giới Thạch, bắt đầu quá trình nghiên cứu hệ thống về văn hóa Trung Quốc.

Sau này có người luôn hỏi tôi, vào lúc đó, khi còn chưa hề nhìn thấy nhu cầu của xã hội đối với một học giả văn hóa, tại sao lại có thể tĩnh tâm nghiên cứu miệt mài? Tôi nói, tôi tuy không nhìn thấy nhu cầu, nhưng đã nhìn thấy một sự cao cả. Cảnh tượng biết bao giáo viên dốc toàn bộ tinh lực vào giáo trình, từ điển, sử tịch, tạp chí học thuật, những hành động phi thường của biết bao chuyên gia gửi gắm sinh mạng mình vào Hà Mẫu Độ, Mã Vương Đôi, Binh mã dũng, mộ Phụ Hảo, khiến tôi hiểu ra, văn hóa không phải là vật điểm xuyết cho thời thịnh thế, mà nên là ngọn nến trong đêm đen. Nếu thế nhân tạm thời không cần ngọn nến này, vậy thì, tôi hãy để nó thắp sáng trong thâm tâm mình trước.

Một khi đã dấn thân mới nhận ra, căn bản không cần phải vội vã chờ đợi nhu cầu của thế nhân, bởi vì để thắp sáng thâm tâm mình thôi đã rất khó, cần phải tiêu tốn quá nhiều thời gian.

May thay cuối cùng cũng đón chào một thời đại cải cách mở cửa. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, văn hóa Trung Quốc lại được quan tâm. Nhiều người làm văn hóa có được quyền sáng tạo, tôi cũng có được một loại tự do, có thể từ chức đi xa, đi khắp Trung Quốc, rồi đi khắp thế giới, so sánh điểm giống và khác nhau giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa các dân tộc khác.

Tuy nhiên, kỳ lạ là, mặc dù nhiều người đang nỗ lực, thành quả cũng không ít, nhưng năm này qua năm khác, văn hóa trong quá trình chuyển đổi xã hội lại ngày càng tụt hậu, ngày càng mê loạn, ngày càng mất đi uy tín công chúng.

Nó dường như đã gặp phải nhiều rắc rối, nhiều cái bẫy.

Vì vậy, tôi muốn dùng trải nghiệm và quan sát của mấy chục năm qua để nói về một cái bẫy lớn mà văn hóa Trung Quốc gặp phải trong thời hiện đại.

Năm

Không sai, coi văn hóa là vật trang trí cho lễ hội, công cụ tuyên truyền, ống nói chính trị, không ngừng dựng lên những phô trương giả tạo, rỗng tuếch gồm những đêm hội, bình chọn giải thưởng, sản phẩm tinh phẩm, ngôi sao lớn, đó là một cái bẫy. Thế nhưng, cái bẫy này đối với những người làm văn hóa và nghệ sĩ chân chính mà nói, là có thể tránh được. Hơn nữa, dù được coi là một cái bẫy, thì cũng đã rành rành trước mắt mọi người, mà cái bẫy rành rành trước mắt thì không gọi là bẫy nữa.

Ngoài ra, coi văn hóa là vật trang trí của riêng mình, là trò chơi trong vòng tròn, là sự thâm sâu xa rời thế tục, không ngừng dệt nên những màn trình diễn ngụy tinh hoa gồm những điều vô hiệu, vô năng, vô vị, vô căn cứ, cũng là một cái bẫy. Thế nhưng, cái bẫy này cũng đã dần bị nhận ra, không gây ra tác hại quá lớn nữa.

Vậy, cái bẫy đặc biệt có tính nguy hại nằm ở đâu?

Mọi người không phương (ngại gì) tự hỏi trong thâm tâm—

Văn hóa là do con người tạo ra, lịch sử văn hóa được cấu thành từ một chuỗi những cái tên không thể nghi ngờ, nhưng tại sao dưới danh nghĩa văn hóa lại ngày càng không liệt kê ra được những cái tên ra hồn? Những người sáng tạo văn hóa không có chức quan bảo vệ, tại sao đều trôi dạt ở vùng rìa của văn hóa? Vinh quang và tôn nghiêm của họ đã bị tiêu giải bởi một loại sức mạnh nào?

Phong ba chính trị hiện đại Trung Quốc tuy nhiều, nhưng không ít nghệ sĩ vốn dĩ không phải là mục tiêu của các phong trào chính trị, cũng không bị nhân vật chính trị điểm danh, tại sao lại luôn là người chịu hại đầu tiên? Sức mạnh nào đã đẩy họ vào vũng bùn vu khống chính trị?

Tại sao Lão Xá lại tự sát? Tại sao Thẩm Tùng Văn lại gác bút? Tại sao Triệu Đan lại để lại di nguyện "miễn đấu"?

Hiện nay Trung Quốc đã không thể phát động phong trào chỉnh người quy mô lớn trong giới văn hóa, tại sao hầu hết các nhà sáng tạo văn hóa nổi tiếng đều khó mà thư giãn, tín hiệu tiềm ẩn nào đã khiến họ có sự phòng vệ tâm lý này?

Tại sao một số thành quả văn hóa thực sự có tính sáng tạo đều trở thành "tác phẩm có tranh cãi", tác giả của chúng đều trở thành "nhân vật có tranh cãi"?

Mọi người đều nói "người sợ nổi tiếng, heo sợ mập", vậy thì, nhóm người ẩn giấu nào đang cầm từng con dao mổ heo, chờ đợi từng người nổi tiếng văn hóa?

---❊ ❖ ❊---

Những câu hỏi như vậy có thể hỏi mãi, nhưng dường như không cần thiết nữa. Một sự tồn tại trông có vẻ không quá quan trọng đã gây ra tất cả những điều này.

Nó là gì? Câu trả lời rất đơn giản, nhưng diễn đạt thì lại rất dài: Nó là một loại chủ nghĩa dân túy vạch trần, phê phán quy mô lớn, lấy việc coi thường văn hóa làm tiền đề, lấy việc đố kỵ hiền tài làm điểm khởi đầu, lấy việc rình mò bôi nhọ làm thủ đoạn, lấy việc "nâng cao quan điểm" làm lối mòn, lấy truyền thông đại chúng làm sân khấu, lấy việc đánh đổ người nổi tiếng làm mục đích, lấy một số kẻ văn nhân tầng thấp đầy rẫy sự thôi thúc chỉnh người làm chủ thể, có thể nhanh chóng khơi gợi sự hùa theo của thế tục mà vĩnh viễn không tìm ra cách ngăn chặn.

Câu nói này tuy dài đến mức khiến người ta nghẹt thở, nhưng chỉ cần là người Trung Quốc, nhìn là biết ngay. Nó, chính là nó. Cả một đoạn lịch sử văn hóa Trung Quốc tốt đẹp, bị nó giam cầm. Nhiều linh hồn văn hóa cao quý, bị nó quấn lấy đến đau khổ.

Nhà văn quá cố Vương Tiểu Ba nói, giới văn hóa Trung Quốc chỉ có hai loại người: một loại là người làm việc, một loại là người không cho người khác làm việc. Trong đại đa số các trường hợp, lực lượng của loại người thứ hai mạnh hơn nhiều. Điều này cấu thành cái bẫy lớn nhất của văn hóa Trung Quốc.

Loại vạch trần, phê phán quy mô lớn mà chúng ta nói đến, hoàn toàn trái ngược với khái niệm "phê phán" mà giới học thuật phương Tây cận đại đưa ra. Nó không dựa trên sự thật, lý trí, thảo luận, phản tư, mà lấy hư giả, cảm xúc, tạo thế, tấn công làm sự sống, vì vậy về căn bản đi ngược lại với tinh thần nhân văn. Văn hóa Trung Quốc ngàn tốt vạn tốt, nhưng cũng có không ít điểm yếu chí mạng, cung cấp điều kiện nảy sinh đặc thù cho nó.

Ví dụ, văn hóa Trung Quốc so với văn hóa phương Tây, thiếu đi ý thức thực chứng. Nơi đâu cũng thích tin đồn, mọi người không quan tâm thật giả, toàn bộ văn hóa không có chức năng và quy trình biện giả, đính chính tin đồn, điều này trở thành mảnh đất màu mỡ cho nó trú ngụ lâu dài.

Lại như, văn hóa Trung Quốc so với văn hóa phương Tây, còn thiếu đi ý thức pháp chế. Chưa bao giờ coi trọng quyền nhân thân, quyền danh dự, cũng chưa bao giờ coi trọng tội phỉ báng, tội vu khống, điều này trở thành bức tường an ổn cho nó trú ngụ.

Lại như, văn hóa Trung Quốc so với văn hóa phương Tây, lại thiếu nhận thức về không gian công cộng. Nhiều người nhìn thấy sự kiện gây tổn thương cho văn hóa, không biết mình nên gánh vác trách nhiệm gì. Thậm chí như triết gia người Anh Russell chỉ trích người Trung Quốc, thấy đồng nghiệp bị tổn thương còn thầm vui mừng. Điều này dung túng cho nó ngang nhiên đi lại như chỗ không người giữa chốn đông người, trên phương tiện truyền thông công cộng.

Nếu nói sâu xa hơn một chút, thì những mưu thuật pháp gia, triết lý tiểu nhân, tâm lý đám đông, truyền thống phản trí tuệ thịnh hành trong lịch sử Trung Quốc, cộng thêm quan niệm và thực tiễn đấu tranh giai cấp vô biên vô tận trong lịch sử hiện đại, đã hợp lực đào nên cái bẫy khổng lồ này.

Nhìn từ bề ngoài, nhiều nhà sáng tạo văn hóa không trực tiếp gặp phải sự vạch trần, phê phán quy mô lớn này, nên không đau thấu tim gan. Còn tại sao tác phẩm của họ vĩnh viễn bị quần chúng lạnh nhạt? Tại sao nghề nghiệp của họ vĩnh viễn bị xã hội liếc nhìn? Chính là bởi loại vạch trần, phê phán quy mô lớn này đã chà đạp lặp đi lặp lại nhận thức thẩm mỹ của quần chúng, làm nhục lâu dài tôn nghiêm cơ bản của văn hóa. Mỗi sự kiện chỉnh người mà những kẻ đó khởi xướng, đều là sự gặm nhấm đối với toàn bộ cơ thể văn minh.

Thực ra, nhiều quần chúng Trung Quốc im lặng mặc dù chịu đựng sự độc hại sâu sắc, nhưng cũng nhìn ra một quy luật: nhân vật nào càng hoạt động tích cực, báo chí nào càng bán chạy, thì trạng thái văn hóa càng tồi tệ.

Nhà văn hiện đại có cốt cách nhất Trung Quốc, Ba Kim, cuối cùng đã làm một việc lớn, đó là thách thức "một loại nhân vật nào đó" từ trước cả "Cách mạng Văn hóa". Ba Kim nói, nhóm người đó số lượng không nhiều, ảnh hưởng cực lớn, ngày thường không biết trốn ở đâu, hễ có chút động tĩnh là đột nhiên nhảy ra, trên báo chí lúc thì vạch trần người này, lúc thì phê phán người kia. Thấy trong sân nhà này hoa cỏ tươi tốt, liền lớn tiếng chửi rủa, nghe trên ban công nhà nọ tiếng chim hót hay, liền vung gậy gộc. Họ luôn tạo ra đủ loại mũ để người khác đội, trên mũ viết đủ loại tội danh do họ tùy ý bịa đặt. Nhóm người này của họ, khiến nhà văn Trung Quốc luôn ở trong sự sợ hãi, không thể viết ra được tác phẩm ra hồn.

Phát ngôn này của Ba Kim, nhanh chóng được báo chí phương Tây đưa tin. Vì vậy, ông bị gán tội danh "cung cấp đạn pháo cho thế lực đế quốc phản Hoa", chịu đủ sự bức hại trong "Cách mạng Văn hóa". Trong những ngày đen tối nhất đó, tôi đã nhiều lần đến thăm ông, nhìn thân hình gầy guộc mà bất khuất của ông, lần này đến lần khác tán thán từ trong lòng.

Tôi nghĩ, phát ra tiếng nói khác biệt hướng tới cường quyền chuyên chế tuy cũng cần dũng khí, nhưng đối tượng rõ ràng, lời lẽ ngắn gọn, dễ được người ta ghi nhớ, cũng dễ được minh oan, ngược lại không khó làm được, mà muốn đấu tranh với một luồng khí hung ác, đối phương cao giọng lớn tiếng, xưng là tự do ngôn luận, lại thường xuyên chuyển chủ đề, bản thân bị hun cho đen kịt toàn thân, còn không thể nói rõ phải trái với quần chúng, thật sự là khó trên cả khó. Thế nhưng, Ba Kim không biết khó mà lui.

Chỉ riêng điểm này, tôi coi Ba Kim là anh hùng văn hóa thực sự.

Sáu

Người làm văn hóa muốn không bị tổn thương, cũng có một vài con đường khác để đi, xung quanh nhiều người cũng thực sự đã đi như vậy. Nhưng, đó đã không còn là con đường văn hóa chân chính, họ, cũng không còn là người làm văn hóa theo nghĩa nghiêm ngặt nữa.

Cảnh tượng này, làm sao có thể khiến tôi lạc quan được đây?

Tuy nhiên, đôi khi tôi lại nảy sinh một chút lạc quan mơ hồ, cảm thấy luồng khí hung ác này chỉ sẽ gây tổn thương chứ không thể chôn vùi văn hóa Trung Hoa.

Lý do là, sau khi lặp đi lặp lại việc chải chuốt hành trình phát triển của văn hóa Trung Hoa, tôi hình thành một ấn tượng sâu sắc: một nền văn hóa lớn, là phong cách sống và giá trị tinh thần của một nhóm người khổng lồ, nó thấm đẫm giữa từng làn khói bếp, từng ánh đèn nhà. Sức sống lâu dài của văn hóa Trung Hoa, không phải dựa vào sự nuôi dưỡng và cưng chiều của chính thức, cũng không phải dựa vào sự thương thảo và tranh chấp của văn đàn, mà dựa vào sự sùng kính và bảo vệ của đông đảo người Hoa, mới duy trì được. Linh hồn của nó, chính là đại đạo thiên hạ "chỉ ư chí thiện".

Nhà tư tưởng Pháp Diderot từng nói, sức sống cuối cùng của một nền văn hóa vĩ đại, nhất định sẽ không phải là phồn hoa tinh xảo. Nó sẽ không phải là khu vườn hoàng gia được tỉa tót quá mức, mà là những tảng đá chơ vơ nơi ven biển đầy gai góc; nó sẽ không phải là đài phun nước lễ hội trong hồ ngự uyển của cung đình, mà là trận cuồng phong bão tố nơi núi rừng đêm khuya; nó sẽ không phải là cuộc tranh luận kịch liệt của những cái miệng nổi tiếng trong salon, mà là cái ôm chia biệt của cặp vợ chồng tóc bạc; nó sẽ không phải là sự khảo cứu từ ngữ của học phủ Paris, mà là cuộc hành trình gian nan của người thủ lĩnh chân lấm tay bùn.

Phải, trong nhiều trường hợp, lại chính là những quần chúng không quá quen thuộc văn hóa mà lại sùng kính văn hóa, đã bảo vệ được tôn nghiêm của văn hóa Trung Hoa từ cảm giác lớn, nét vẽ thô.

Khi tôi còn nhỏ, nông dân không biết chữ trong thôn nhìn thấy một mảnh giấy có chữ trên đường, dù là một góc báo cũ, cũng tuyệt đối không giẫm lên. Họ nhất định sẽ cúi người nhặt lên, nâng niu trên tay, cung cung kính kính đi đến bên cạnh một cái lò đốt hương ở cửa miếu, đốt đi. Trên lò đốt hương khắc bốn chữ: Kính tích tự chỉ (Kính trọng và tiết kiệm giấy có chữ).

Ngư dân thôn lân cận ra khơi đánh cá, nếu gặp mùa gió lớn, nhất định trước khi ra khơi phải đi một quãng đường rất xa, đến nhà một người đọc sách cầu xin một xấp lớn giấy có chữ, đè dưới đáy thuyền. Họ nói, trên đời không có thứ gì nặng hơn chữ viết, chính là dựa vào nó để đè nén gió sóng.

Chữ mà nông dân cúi người nhặt lên, chữ mà ngư dân đi xa cầu xin được, họ đều không biết, nhưng họ hiểu sự tôn trọng. Ngay cả không biết cũng tôn trọng, điều này cấu thành một luồng sức sống cuối cùng mà Diderot đã nói, tà không thể xâm phạm.

Đến bao giờ, con người có thể đối với văn hóa Trung Hoa bớt đi một chút việc bỏ gốc theo ngọn, bới lông tìm vết, mà thêm một chút việc nhặt nhạnh nơi đường bùn, tín nhiệm giữa sóng gió?

Tất nhiên, tôi ở đây nói đến nông dân và ngư dân, chỉ là muốn biểu đạt ý nghĩa biểu tượng mà họ chứa đựng trên người. Người mà tôi thực sự kỳ vọng, chỉ có thể xuất hiện vào khoảnh khắc văn hóa Trung Hoa bước những bước dài tiến về phía trước. Chỉ có người như vậy, mới có thể khiến những cái bẫy và luồng khí hung ác kia không cản được đường, cũng không đuổi theo kịp.

Bảy

Đến khoảnh khắc như vậy, văn hóa Trung Hoa sẽ biến thành hình dạng gì? Đó là điều chúng ta khó mà dự đoán được. Giống như chư tử tiên Tần không thể dự đoán văn hóa đời Đường, giống như học nhân cuối thời Thanh khó mà phác họa cảnh tượng ngày nay. Chỉ hy vọng, nó có thể hòa nhập thân thiết với văn minh toàn cầu, thỉnh thoảng lại lóe lên một chút cao quý tích lũy qua mấy ngàn năm.

Điều này không phải xuất phát từ sự khoe khoang, chỉ là vì tất cả các nền văn minh cổ đại chỉ còn lại duy nhất một nhánh này duy trì, nó nên gánh vác một chút nghĩa vụ mà thời gian đã giao phó. Nghĩa vụ mà thời gian giao phó, vừa là một sự hội tụ, vừa là một sự sàng lọc. Vì vậy, phức tạp nhất, cũng là đơn giản nhất.

Cuối cùng chỉ còn lại một ý niệm, đó là: đại ái và chí thiện đủ để cảm động toàn nhân loại. Như vậy, văn hóa Trung Hoa cũng đã trở thành người tham gia tích cực cho sự sinh tồn đầy thi vị, sinh tồn hài hòa của nhân loại. Ở ý nghĩa cuối cùng, tôi không cho rằng nó còn cần có những yêu cầu đặc thù nào khác.

Điểm bình một:

Đây là tự thuật văn hóa của tác giả. Ông kể lại quá trình hình thành niềm tin văn hóa của chính mình, vừa là sự bộc bạch tâm tư, vừa là sự tự biện hộ đanh thép. Tình yêu đối với văn hóa Trung Hoa, nỗi oán hận đối với cảnh ngộ của văn hóa, hòa quyện với lòng bi mẫn to lớn, hóa thành niềm kỳ vọng thiết tha phơi bày tiếng lòng của một người làm văn hóa chân chính. (Lão Ngu)

Điểm bình hai:

"Hành trình khổ ải" không dễ dàng, trong sự "mò mẫm", "tìm kiếm" xuyên suốt nỗi lo âu, bi mẫn, lương tri, đạo nghĩa, hoài bão, sứ mệnh... của tác giả. "Tìm kiếm" cái "chính tâm thành ý" đằng sau những đại từ của tác giả, rồi "mò mẫm" cái "cách vật trí tri" của tác giả. Tác giả tìm kiếm lịch sử văn hóa trong lòng mình, tôi thì thể hiện cách đọc của riêng mình, tác giả khơi dậy trí tưởng tượng văn hóa của tôi, tôi cũng gửi gắm vào việc khơi dậy trí tưởng tượng đọc của độc giả. (Mã Sách)

Điểm bình ba:

Hiện trạng của văn hóa Trung Hoa rốt cuộc là một hệ sinh thái như thế nào? Tác giả bằng trải nghiệm và cảm nhận của chính mình đã tiết lộ sự thăng trầm của văn hóa trong thời đương đại.

Tác giả ngay khi đặt bút đã lý trí thể hiện thái độ đối với văn hóa Trung Quốc đương đại, đó là "có một vài sự thấu cảm tương đối tích cực", chỉ ra một cách nhạy bén rằng "đây là một kiểu sinh thái văn minh đến muộn đang vội vã khỏa lấp sau nhiều năm chiến loạn". Văn hóa lại đón nhận sự quan tâm, đón nhận tự do, nhưng "văn hóa trong quá trình chuyển đổi xã hội lại ngày càng tụt hậu, ngày càng mê loạn, ngày càng mất đi uy tín công chúng". Tác giả đặt ra tầng tầng nghi vấn, vạch trần điểm yếu rằng văn hóa trong quá trình phát triển đã gặp phải một "cái bẫy lớn", không chỉ khiến "cả một đoạn lịch sử văn hóa Trung Quốc tốt đẹp, bị nó giam cầm", mà còn "từng lớp từng lớp nhà sáng tạo văn hóa chân chính bị cuốn vào trong đó không thoát ra được". Nhưng tác giả đối với điều này lại không hề tuyệt vọng, "đôi khi tôi lại nảy sinh một chút lạc quan mơ hồ", đó là sự sùng kính và bảo vệ của đông đảo quần chúng đối với văn hóa. Tác giả vung bút lớn thực hiện sự phản tư tinh tế khác với những kiến giải khác về văn hóa đương đại, tình chân thực, lý cắt nghĩa, dẫn chứng xác thực. (Hồ Kiệt)

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 14 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Dư Thu Vũ

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.