Hành Trình Khám Phá Trung Hoa

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bản mẫu của lịch sử

❊ ❊ ❊

Một

Trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, người khiến tôi ngưỡng mộ thì nhiều, người khiến tôi cảm động lại rất ít.

Điều này rất tự nhiên. Bởi lẽ văn nhân suy cho cùng cũng chỉ là văn nhân, họ có thể viết ra không ít những câu chuyện cảm động lòng người, nhưng bản thân họ lại hiếm khi có được những câu chuyện như vậy.

Đôi khi dường như cũng xuất hiện những câu chuyện như thế, ví như có văn nhân xả thân cứu giá, có văn nhân thà chết không chịu khuất phục, nhưng điều này lại không liên quan nhiều đến lịch sử văn hóa. Khi họ làm những việc đó, họ đã bước vào lịch sử chính trị và lịch sử quân sự với thân phận trung thần hoặc thủ tướng, chứ không phải với thân phận văn nhân để thúc đẩy lịch sử văn hóa.

Những nhân vật vừa có thể lay động lịch sử văn hóa Trung Quốc, lại vừa có thể lay động những giọt lệ của chúng ta, họ đang ở đâu?

Còn có nhân vật nào khiến chúng ta cảm động hơn Mặc Tử và Khuất Nguyên không?

Có. Ông ấy tên là Tư Mã Thiên.

Tôi đã sớm khẳng định ông là nhân vật đầu tiên trong lịch sử văn hóa Trung Quốc khiến tôi cảm động, thế nhưng lại luôn khó lòng diễn tả được mức độ cảm động ấy.

Độc giả có lẽ sẽ nghĩ, điểm cảm động của Tư Mã Thiên chẳng phải là việc ông dùng thân hình tàn tật sau hình phạt mà viết nên một tác phẩm lịch sử quan trọng hay sao, sao lại luôn khó diễn tả chứ?

Đúng vậy, nội dung tôi muốn bày tỏ còn sâu xa hơn nhiều.

Hai

Hôm nay tôi muốn mạo hiểm một chút, thử diễn tả điểm cảm động sâu xa nhất của Tư Mã Thiên, và cố tình đặt nó lên đầu bài viết này, phạm vào điều đại kỵ là tuyệt đối không được "từ sâu sang cạn" trong viết văn, mong chư vị độc giả hãy cố gắng nhẫn nại.

Tôi cho rằng điểm cảm động sâu xa nhất của Tư Mã Thiên bao gồm ba tầng bậc sau.

Thứ nhất, Tư Mã Thiên đã khiến tất cả người Trung Quốc trở thành "người trong lịch sử".

Sử Ký với tư cách là một "bản mẫu" không thể vượt qua, đã một bước vang danh, trở thành lệ thường cho các thế hệ người làm sử hơn hai nghìn năm sau tự giác bắt chước. Do đó, chính ông đã khiến dân tộc Trung Hoa hình thành nên sở thích lịch sử, sứ mệnh lịch sử và quy phạm lịch sử xuyên suốt từ trước tới sau, trở thành nhóm cộng đồng văn minh hiếm hoi trên thế giới luôn có sử để lần theo, lấy sử làm chỗ dựa để lập thân.

Xét theo một ý nghĩa nào đó, bản thân ông dù đã qua đời từ lâu, lại chính là tổng chủ biên của toàn bộ "Nhị thập ngũ sử". Ông đã biến lịch sử hai nghìn năm trên mặt giấy và trên mặt đất thành một bộ thông sử thống nhất.

Ông khiến vương hầu tướng lĩnh, du hiệp thương buôn, văn nhân mặc khách qua các thời đại, khi làm bất cứ việc đại sự nào cũng đều nghĩ đến ngọn bút sử to lớn treo lơ lửng phía sau lưng họ. Ông đã ban cho lịch sử hỗn loạn một ánh nhìn ổn định về công lý, khiến thứ lịch sử này không bị đứt đoạn giữa những âm thanh ồn ào. Nền văn minh Trung Hoa có thể duy nhất kéo dài tới tận ngày nay, có thể thản nhiên coi những chuyện cũ nghìn năm trước như ngày hôm qua hay ngày kia trên cuốn lịch nhà mình, tất cả đều liên quan đến ông. Tư Mã Thiên đã trao cho mỗi người Trung Quốc một "gia phả" hữu hình hoặc vô hình, khiến đại đa số họ không trở thành những kẻ con cháu bất hiếu triệt để.

Thứ hai, Tư Mã Thiên lấy truyền ký nhân vật làm chủ cốt để viết sử, mở ra một bộ sử Trung Quốc "dĩ nhân vi bản" (lấy con người làm gốc).

Đây lại là một kỳ tích kinh ngạc nữa, bởi lịch sử của các dân tộc khác đa phần lấy niên đại sự kiện làm manh mối, các nhân vật chỉ là những người tham gia sự kiện, gọi thì tới, đuổi thì đi. Tư Mã Thiên đã đảo ngược lại, lấy từng cá nhân làm nòng cốt, để các sự kiện phải gọi thì tới, đuổi thì đi.

Đây không phải là một phương pháp tùy tiện, mà là một quan niệm táo bạo. Trong mắt ông, mọi sự kiện đều như dòng nước trôi qua trên sông, chỉ có thiện ác, khí độ, tính cách của nhân vật mới là thứ mãi mãi được hậu thế các đời trải nghiệm. Lịch sử thực sự sâu sắc không phải là sự học thuộc lòng những sự kiện đã qua giữa thầy trò các đời, mà là sự thấu hiểu, tiếp nhận, lựa chọn, truyền bá của hậu thế đối với tiền nhân. Những nhân vật nổi tiếng được Tư Mã Thiên mô tả trong Sử Ký, từ lâu đã trở thành "nguyên mẫu" của văn hóa Trung Quốc, tức là một kiểu mô thức tinh thần và mô thức hành vi, lan tỏa lâu đời, cuối cùng hợp thành những bộ phận quan trọng trong nhân cách tập thể của người Trung Quốc.

Lựa chọn coi trọng con người hơn sự kiện này, khiến nhà sử học Tư Mã Thiên có thể "cứu thiên nhân chi tế, thông cổ kim chi biến, thành nhất gia chi ngôn" (nghiên cứu giới hạn giữa trời và người, thông suốt sự thay đổi của cổ kim, thành lời nói của một nhà), do đó đồng thời sở hữu tố chất của nhà văn học và nhà triết học.

Tuy nhiên quan trọng hơn cả là, lựa chọn này của ông đã khiến lịch sử Trung Quốc vốn lẽ ra phải nguội lạnh luôn giữ được thân nhiệt và hơi thở của con người. Chế độ chuyên chế độc tài kéo dài của Trung Quốc thường áp dụng hàng loạt chính sách bạo ngược phản nhân tính, nhưng nhờ có quan niệm lịch sử lấy con người làm gốc, phạm vi và thời gian áp dụng những chính sách bạo ngược này đã bị kiềm chế. Nhân luân chi thường, tình người phẩm hạnh, mãi mãi nắm giữ một cách chân thực từng con hẻm, ngàn mái nhà.

Thứ ba, khi ông tạo dựng nên truyền thống "lấy sử lập thân", "lấy người làm gốc" cho văn hóa Trung Quốc, bản thân ông đang phải chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề khó mà nói ra lời.

Ông vì vài câu ngôn luận bình thường mà mắc tội, bị xử "Cung hình", còn gọi là "Hủ hình", tức là bị cắt bỏ bộ phận sinh dục. Lúc đó ông ba mươi tám tuổi, với tư cách là một đại học giả tuổi tác không còn trẻ, đối mặt với tai họa kinh khủng như vậy, hầu như không ai là không chọn cái chết, nhưng chính tại cửa tử sinh này, sự nghịch lý khiến tôi nảy sinh nỗi cảm động to lớn đã xuất hiện——

Ông quyết định sống tiếp, dùng những năm tháng phi nhân tính của mình để mài giũa thứ lịch sử lấy con người làm gốc, dùng những ngày tháng tàn dư của mình để chải chuốt thiên thu vạn đại của Trung Quốc, dùng nỗi nhục nhã nặng nề của mình để đổi lấy sự tôn nghiêm đáng có của dân tộc, dùng thân thể đã mất đi tính dục của mình để hô gọi ngọn gió hùng tráng, mạnh mẽ của đất trời.

Hơn nữa, ông đã làm được từng điều một, ông đã làm được tất cả, ông thực sự đã làm được!

Tôi nghĩ, nói đến đây, tôi đã phác họa được phần nào điểm cảm động sâu xa nhất của Tư Mã Thiên. Thế nhưng, vẫn không thể trút hết nỗi lòng của mình.

Tôi thường đứng trước tủ sách "Nhị thập ngũ sử" chiếm gần kín một bức tường mà thẫn thờ rất lâu. Nghĩ đến những thế hệ vàng qua sắt mã, vương đạo bá đạo, tiếng phố ca đồng đều hội tụ ở đây, mà điểm khởi đầu của tất cả sự hội tụ đó lại là một người đàn ông như vậy: gương mặt tái nhợt, ánh mắt mất đi vẻ quang thái.

Tôi còn thường hay lơ đãng trước những lời lẽ hùng hồn, những khát vọng mãnh liệt liên quan đến văn hóa Trung Hoa, nghĩ đến nguồn gốc của thứ khí thế cuồn cuộn này——đó là thời Hán, những đêm đông cô độc lạnh lẽo thấu xương.

Văn nhân Trung Quốc các đời tuy đều đọc thuộc lòng Sử Ký, nhưng tĩnh tâm suy nghĩ lại cảm thấy không có mặt mũi nào đối diện với ngọn đèn dầu không biết đã tắt vào năm nào, tháng nào sau năm 90 trước Công nguyên.

Tôi đã vô số lần đến Tây An, rất nhiều độc giả địa phương luôn hỏi tôi tại sao không viết một bài về Tây An, tôi luôn ấp úng khó nói, trong lòng lại luôn nghĩ đến Long Môn bên dòng Hoàng Hà cuồn cuộn ở phía đông bắc Tây An——quê hương của Tư Mã Thiên. Tôi biết ở Hàn Thành còn có mộ và đền thờ Tư Mã Thiên, nhưng lại không thể lường trước được liệu có quá nhiều dấu vết hiện đại khiến tôi thất vọng hay không, nên không dám đến. Nhưng tôi nghĩ, sớm muộn gì cũng sẽ đến một lần.

Năm đó đi khảo sát các nền văn minh nhân loại khác vài vạn cây số trở về, từng đến trước lăng Hoàng Đế bái tế, trong bài tế văn tôi viết có câu "bẩm cáo thủy tổ, thử hành thành hĩ" (bẩm báo với tổ tiên, chuyến đi này đã thành). Ngày hôm sau qua thác Hổ Khẩu, trên dưới Hoàng Hà băng cứng như đá, tôi cũng hướng về Long Môn ở phía nam mà mặc niệm câu trong bài tế văn. Bởi vì theo tôi thấy, Hoàng Đế cần được bẩm báo, Tư Mã Thiên cũng cần được bẩm báo.

Thậm chí có thể nói, Tư Mã Thiên chính là một "quân chủ văn hóa" không gì sánh nổi. Sự cung kính của tôi đối với ông còn vượt xa những vị hoàng đế thời Tần Hán và Đại Đường.

Ba

Trước khi phải chịu nỗi nhục nhã ê chề, Tư Mã Thiên là một nhà du hành kiệt xuất, chân đi vạn dặm.

Uyên bác, khỏe mạnh, hiếu kỳ, ham học, tận dụng mọi cơ hội để khảo sát thiên hạ, ông chắc chắn là học giả trẻ tuổi đi xa nhất thời bấy giờ. Ông dùng bước chân và đôi mắt của mình để làm cho những điển tịch từng đọc trở nên sống động. Ông dùng không gian bao la để bắt lấy thời gian xa xăm. Ông lấy lộ trình du ngoạn cá nhân làm lưới, vớt lên những báu vật nghìn năm chìm dưới đáy nước.

Vì vậy, muốn đọc cuốn Sử Ký dưới ngòi bút của ông, trước hết phải đọc được quãng đường dưới chân ông.

Quãng đường, vừa đo lường thể chất văn hóa, lại vừa đo lường trách nhiệm văn hóa.

Tư Mã Thiên bắt đầu mạn du (du ngoạn) từ năm hai mươi tuổi, năm đó có lẽ là năm 115 trước Công nguyên. Ở đây xuất hiện một tranh cãi học thuật: rốt cuộc ông sinh năm nào? Về điều này, trước đây luôn có những quan điểm khác nhau. Đến thời cận đại, các đại học giả như Vương Quốc Duy và Lương Khải Siêu đều chủ trương ông sinh năm 145 trước Công nguyên, cho đến nay vẫn được sử dụng. Nhưng cũng có những nhà nghiên cứu hiện đại như Lý Trường Chi, Triệu Quang Hiền... cho rằng nên lùi lại mười năm, tức năm 135 trước Công nguyên. Tôi đã đối chiếu kỹ lưỡng các khảo chứng, quyết định từ bỏ kết luận của Vương Quốc Duy, Lương Khải Siêu, tán thành ý kiến thứ hai.

Trong chuyến du ngoạn bắt đầu năm hai mươi tuổi đó, Tư Mã Thiên đã đi đến những nơi nào? Để thuận tiện cho độc giả, tôi xin dùng địa danh hiện nay để sắp xếp lại——

Xuất phát từ Tây An, qua Đan Phượng (Thiểm Tây), Nam Dương (Hà Nam), Giang Lăng (Hồ Bắc), đến Trường Sa (Hồ Nam), rồi đi về phía bắc viếng dòng Mịch La nơi Khuất Nguyên tự trầm.

Sau đó, dọc theo sông Tương xuôi nam, đến Cửu Nghi Sơn (Ninh Viễn, Hồ Nam). Lại qua sông Nguyên, đến Trường Giang rồi đi về phía đông, đến Cửu Giang (Giang Tây), leo núi Lư Sơn. Lại xuôi theo Trường Giang đi về phía đông, đến Thiệu Hưng (Chiết Giang), thăm huyệt mộ của Đại Vũ.

Từ Chiết Giang đến Tô Châu (Giang Tô), xem Ngũ Hồ, rồi vượt sông đến Hoài Âm (Giang Tô), thăm cố địa của Hàn Tín. Sau đó đi về phía bắc đến Sơn Đông, đến Khúc Phụ, cung kính tham quan di tích Khổng Tử. Lại đến Lâm Truy thăm cố đô nước Tề, đến Trâu Thành thăm núi Trâu Trạch, rồi đi về phía nam đến Đằng Châu tham quan phong địa của Mạnh Thường Quân.

Tiếp tục đi về phía nam, đến Từ Châu, Bái Huyện, Phong Huyện (Giang Tô), cũng như Túc Châu (An Huy), bái thăm những cố địa khởi nghĩa của Trần Thắng, Ngô Quảng cũng như nơi tranh chấp Hán - Sở. Những nơi này thu hoạch lớn nhất, cảm nhận sâu sắc nhất, nhưng vì nơi nào cũng nghèo khó, đường sá không yên, thường xuyên bị chặn trở, bước chân gian nan.

Sau khi thoát khỏi khốn cảnh, đi đến Hoài Dương (Hà Nam), thăm cố địa của Xuân Thân Quân. Lại đến Khai Phong (Hà Nam), thăm cố đô nước Ngụy thời Chiến Quốc, sau đó quay về Trường An.

Chuyến du ngoạn này, tiêu tốn khoảng hơn hai năm thời gian. Theo điều kiện giao thông thời đó, coi là nhanh. Chúng ta có thể tưởng tượng thần thái của chàng thanh niên hăng hái sải bước giữa những di tích lịch sử. Chàng dùng thể lực thời thanh xuân đuổi theo bước chân của tổ tiên, căn bản không để bất cứ gian khổ nào vào mắt. Đặc biệt là ở những cố địa tranh chấp Hán - Sở, gặp phải rất nhiều khó khăn, nhưng cũng vì tâm trí đặt ở thời cổ đại nên rất hứng thú. Từ toàn bộ tác phẩm sau này của ông có thể thấy, thứ ông hấp thụ trên mảnh đất cằn cỗi chính là vạn trượng hào khí, thiên lý hùng phong.

Đây là thời đại Hán Vũ Đế, sự mạnh mẽ cường tráng là mốt của cả dân tộc. Vị học giả trẻ tuổi ngay từ khi sinh ra đã nghe thấy tiếng sóng dữ của Hoàng Hà này, hầu như đã hoàn thành chuyến khảo sát văn hóa này với tâm thế của một kiếm khách vô địch. Từ tốc độ, bước chân và trạng thái phấn khích của ông, cũng có thể suy đoán sự cảm ngộ của ông đối với toàn bộ văn hóa Trung Hoa.

Sau chuyến du ngoạn này, ông nhận được một chức quan rất nhỏ——Lang trung, cần phải hộ tống Hán Vũ Đế đi tuần du rồi. Dù đôi khi chỉ là làm công việc canh gác cho hoàng đế, hầu hạ xe giá, nhưng dù sao cũng được coi là gần gũi hoàng đế, trong mắt người khác thì khá vẻ vang. Còn Tư Mã Thiên vui mừng là vì có thể mượn danh nghĩa hộ tống để tiếp tục đi xa. Sau này, triều đình để an ổn các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam, cũng từng phái những viên quan trẻ tuổi thân cường lực tráng như ông đi sứ, ông lại càng đi xa hơn nữa.

Do đó, chúng ta cần tiếp tục sắp xếp lộ trình của ông.

Hai mươi ba đến hai mươi bốn tuổi, ông hộ tống Hán Vũ Đế đi tuần du, đến Phượng Tường (Thiểm Tây), Hạ Huyện, Vạn Vinh (Sơn Tây), Huỳnh Dương, Lạc Dương (Hà Nam), Lũng Huyện (Thiểm Tây), Thanh Thủy (Cam Túc), Cố Nguyên (Ninh Hạ), quay về núi Cam Tuyền, Thuần Hóa (Thiểm Tây).

Hai mươi lăm tuổi, ông đi sứ các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam như Tứ Xuyên, Vân Nam.

Hai mươi sáu tuổi, ông vừa đi sứ Tây Nam trở về, lại hộ tống Hán Vũ Đế đi tuần du núi Thái Sơn (Sơn Đông), Xương Lê, Lư Long (Hà Bắc), Ngũ Nguyên (Nội Mông). Hai mươi bảy tuổi, lại đến Lai Châu (Sơn Đông), Bộc Dương (Hà Nam).

Hai mươi tám tuổi, ông thăng làm Thái sử lệnh, hộ tống Hán Vũ Đế đến Phượng Tường (Thiểm Tây), Cố Nguyên (Ninh Hạ), Trác Châu, Úy Huyện (Hà Bắc), Ninh Viễn (Hồ Nam), Tiềm Sơn (An Huy), Hoàng Mai (Hồ Bắc), Tông Dương (An Huy), Giao Nam (Sơn Đông), lại đến Thái Sơn.

Khi tôi sắp xếp những lộ trình du lịch thời thanh niên của Tư Mã Thiên, vừa tra cứu bảng địa danh cổ kim, vừa vẽ tới vẽ lui trên bản đồ, cuối cùng không khỏi kinh ngạc, ông thực sự đã đi khắp mọi nơi có thể đặt chân đến thời bấy giờ. Thời kỳ đó, nhờ hùng tài đại lược, nỗ lực trị quốc của Hán Vũ Đế, tình hình kinh tế và diện mạo xã hội ở khắp nơi đều có bước tiến lớn, cảm quan trên đường của Tư Mã Thiên đại khái là tốt; tất nhiên, cũng nhìn thấy vô số vấn đề mà sau này ông chỉ trích gay gắt trong Sử Ký.

Đây là sự gặp gỡ giữa vùng đất của Hán Vũ Đế và ánh nhìn của Tư Mã Thiên, cả hai bên đều ẩn chứa một sự vĩ đại không cần nói cũng biết. Chỉ cần là vùng đất của Hán Vũ Đế, bất cứ bậc trí giả nào nhìn thấy đều sẽ phấn chấn, huống chi là ánh nhìn của Tư Mã Thiên; chỉ cần là ánh nhìn của Tư Mã Thiên, bất cứ khung cảnh nào cũng sẽ trở nên sâu xa rộng lớn, huống chi là vùng đất của Hán Vũ Đế.

Tư Mã Thiên đã bắt đầu viết sách, đồng thời ông còn bận rộn quản lý và cải cách thiên văn lịch pháp. Hán Vũ Đế thì bận rộn mở mang cương thổ tây bắc, và không ngừng chinh chiến với Hung Nô, cả triều đình đều bị cuốn vào tiếng vó ngựa như sóng trào.

Ngay trong bầu không khí như vậy, Tư Mã Thiên bước vào tuổi ba mươi bảy đầy xui xẻo, tức năm Thiên Hán thứ hai, năm 99 trước Công nguyên.

Bốn

Cuối cùng cũng phải nói về sự kiện rất không muốn nói đó.

Người khác đã nói rất nhiều lần, tôi muốn dùng cách của riêng mình để nói, cố gắng ngắn gọn một chút.

Đây là một câu chuyện bi thảm xảy ra trong thời đại anh hùng.

Hung Nô không nghi ngờ gì là mối đe dọa lớn nhất của nhà Hán, đôi bên chiến chiến hòa hòa, khó có sự tin tưởng. Sau khi Hán Vũ Đế đầy khí phách lên nắm quyền, đối với chính sách cầu hòa bằng cách gả con gái nhà Hán cho Hung Nô hết lần này đến lần khác trước đây cảm thấy vô cùng nhục nhã, liên tiếp xuất binh đánh Hung Nô và thường xuyên giành thắng lợi, và trong chiến tranh đã để mọi người thấy được những vị tướng kiệt xuất là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh. Hung Nô trên bề mặt trở nên thuần phục, nhưng lại không ngừng gây chuyện. Hán Vũ Đế sao có thể dung nhẫn? Bèn phái tướng quân Lý Quảng Lợi dẫn đại quân kỵ binh chinh phạt Hung Nô. Lúc này lại đứng ra một vị tướng tên là Lý Lăng, cháu nội của danh tướng lịch sử Lý Quảng, ông tuyên bố chỉ cần năm nghìn bộ binh là có thể đánh bại Hung Nô, và đã được Hán Vũ Đế chuẩn thuận. Lý Lăng sau khi xuất chiến, hết lần này đến lần khác lấy ít thắng nhiều, chiến quả lẫy lừng, nhưng cuối cùng gặp phải vòng vây, cô lập không có viện trợ, bất đắc dĩ phải đầu hàng.

Hán Vũ Đế triệu tập quan viên bàn luận việc này, mọi người đều dậu đổ bìm leo, chỉ trích Lý Lăng. Khi hỏi đến Tư Mã Thiên, ông cho rằng chiến công của Lý Lăng đã vượt xa khả năng của binh lực mà ông có, ông đã hết lần này đến lần khác đánh bại kẻ thù, lúc này chỉ là sa vào tuyệt cảnh mới đưa ra lựa chọn đó. Dựa vào phẩm hạnh của ông từ trước đến nay, tin rằng rất nhanh sẽ quay về báo đáp triều đình nhà Hán.

Hán Vũ Đế vừa nghe liền nổi giận, cho rằng Tư Mã Thiên không chỉ biện hộ cho tướng bại trận, mà còn ám chỉ chủ lực của Lý Quảng Lợi không đắc lực, vì vậy ra lệnh xử tử Tư Mã Thiên.

Tại sao không được ám chỉ chủ lực của Lý Quảng Lợi? Bởi vì em gái của Lý Quảng Lợi là Lý phu nhân, người được Hán Vũ Đế sủng ái nhất. Lý phu nhân mất sớm, trước khi lâm chung đã gửi gắm Hán Vũ Đế chăm sóc anh trai mình cho tốt. Hán Vũ Đế vì nỗi nhớ Lý phu nhân, nên cũng với sự nhạy cảm tột độ mà bảo vệ Lý Quảng Lợi. Tất cả những điều này, đều là những gì Tư Mã Thiên không hề nghĩ tới khi trả lời câu hỏi của Hán Vũ Đế.

Nói là xử tử, nhưng không thi hành ngay. Pháp luật thời đó có quy định, tử hình cũng còn có cách cứu, cách thứ nhất là dùng năm mươi vạn tiền để chuộc thân, cách thứ hai là dùng Hủ hình thay cho tử hình.

Gia đình Tư Mã Thiên nghèo khó, căn bản không lấy ra nổi số tiền lớn như vậy. Chức quan của ông quá thấp, lại không nhận được sự giúp đỡ của những nhân vật có quyền thế. Bạn bè trước kia, đến lúc này đều trốn đi thật xa, sợ lây tai họa cho mình. Ngay cả họ hàng cũng đều giả vờ như chưa từng xảy ra chuyện này, không ai muốn góp tiền để cứu mạng ông. Lúc này, Tư Mã Thiên đành "độc dữ pháp lại vi ngũ, thâm u linh ngữ chi trung" (một mình làm bạn với lại xử án, ở trong ngục sâu tăm tối).

Tư Mã Thiên trong ngục lặng lẽ chờ đợi một hồi, cũng như chẳng chờ được gì. Ông hiểu rất rõ rằng, lựa chọn của mình chỉ có hai: chết, hoặc chấp nhận Hủ hình.

Chết là đơn giản nhất, tự nhiên nhất. Trong thời đại tràn ngập khí thế mở mang bờ cõi, khí thế chinh chiến giết chóc đó, mọi người nhìn cái chết khá tùy tiện. Tư Mã Thiên trước kia hộ tống Hán Vũ Đế đi tuần du, thường thấy các đại quan thời đó vì không chuẩn bị tốt việc nghênh giá mà tự sát, giống như việc buồn bực tự tát vào đầu mình vậy, đơn giản biết bao, các quan viên xung quanh cũng không cho là lạ, ví dụ như Hà Đông thái thú và Lũng Tây thái thú thời đó đều chết như vậy. Lần này tin tức Lý Lăng đầu hàng truyền đến, quan viên báo cáo chiến công của Lý Lăng cách đó không lâu cũng tự sát. Theo thống kê, trong hơn hai mươi năm trước sự kiện Lý Lăng, trong năm vị thừa tướng mà Hán Vũ Đế sử dụng, có bốn vị thuộc về cái chết không tự nhiên. Vì vậy, mọi người đều dự đoán Tư Mã Thiên chắc chắn sẽ chọn cái chết thống khoái, mà không ngờ ông lại chọn Hủ hình, chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề để sống tiếp.

Lựa chọn ngoài ý muốn, chắc chắn có lý do ngoài ý muốn. Sự trình hiện đầy đủ của lý do này, cần đến hàng nghìn hàng trăm năm thời gian.

Hủ hình cũng không thi hành ngay, Tư Mã Thiên vẫn bị giam trong ngục. Đến năm sau, Hán Vũ Đế tâm tư hơi động, muốn đón Lý Lăng từ phía Hung Nô trở về. Nhưng nghe được từ miệng một tù binh rằng, Lý Lăng đang giúp Hung Nô luyện binh. Việc này lại một lần nữa chọc giận Hán Vũ Đế, lập tức ra lệnh giết gia đình Lý Lăng, và thi hành Hủ hình với Tư Mã Thiên.

Vừa đẫm máu làm xong mọi việc, lại có tin truyền đến——tù binh đó nhầm rồi, người giúp Hung Nô luyện binh không phải Lý Lăng, mà là một người khác họ Lý.

Năm

Tư Mã Thiên bị giam trong ngục hơn ba năm, năm 96 trước Công nguyên ra tù.

Thời đại đó quả thật có chút kỳ lạ, Tư Mã Thiên vừa ra tù lại được thăng quan, hơn nữa còn thăng lên chức Trung thư lệnh không hề nhỏ. Hán Vũ Đế dường như không coi việc chịu hình, giam cầm ra gì, thậm chí ông không phân biệt kẻ tội phạm và quan viên, cảm thấy hai bên là có thể thay phiên nhau luân chuyển.

Không ít vị quân chủ hùng tài đại lược thích chơi trò đại giáng đại thăng này, họ cảm nhận được niềm vui thu túng quyền lực trong trò chơi này.

Thăng quan thì có chút việc công, nhưng Tư Mã Thiên lúc này, toàn bộ tâm trí đều dồn vào việc viết lách.

Theo lời tự thuật của ông trong "Báo Nhậm An thư", lúc đó tinh thần của ông đã xảy ra thay đổi cực lớn, vẻ hăng hái của ngày xưa không còn tìm thấy nữa.

"Bộc dĩ khẩu ngữ ngộ tao thử họa, trọng vi hương đảng lục tiếu, ô nhục tiên nhân, diệc hà diện mục phục thượng phụ mẫu chi khâu mộ hồ? Tuy lũy bách thế, cấu di thậm nhĩ! Thị dĩ trường nhất nhật nhi cửu hồi, cư tắc hốt hốt nhược hữu sở vong, xuất tắc bất tri sở như vãng. Mỗi niệm tư sỉ, hãn vị thường bất phát bối triêm y dã!" (Ta vì lời nói mà gặp phải tai họa này, lại còn bị làng xóm cười nhạo, làm ô nhục tổ tiên, còn mặt mũi nào mà lên mộ cha mẹ nữa? Dù trăm đời cũng vẫn nhơ nhuốc! Cho nên ruột gan một ngày chín lần đau thắt, ở nhà thì ngẩn ngơ như mất mát gì, ra ngoài thì không biết đi đâu. Mỗi khi nghĩ đến nỗi sỉ nhục này, mồ hôi không khi nào không vã ra ướt đẫm cả áo).

Đoạn tự thuật này thông tục như văn bạch thoại, không cần giải thích nữa. Tóm lại, ông thường ở trong trạng thái thần hồn nát thần tính, không thể thoát khỏi nỗi nhục nhã mãnh liệt. Người càng cao quý càng sẽ như vậy.

Trong những lần vùng vẫy tinh thần đó, cái cuối cùng chiến thắng luôn là suy tư về giá trị cuộc sống. Ông biết, thời đại đó vì mọi người coi cái chết quá bình thường, nên thản nhiên cầu chết tuy dễ dàng nhưng giống như mất đi một sợi lông trong chín con bò (cửu ngưu nhất mao), hoặc như con kiến chết đuối trong giọt nước, thật sự không đáng nhắc tới. So sánh mà nói, chỉ sau khi làm được những việc có giá trị rồi mới chết, thì mới khác biệt hoàn toàn. Chính vì nghĩ đến đây, ông đã nói một câu mà bây giờ ai cũng biết: "Nhân cố hữu nhất tử, hoặc trọng vu Thái Sơn, hoặc khinh vu hồng mao, dụng chi sở xu dị dã." (Con người ai cũng có một cái chết, hoặc nặng tựa Thái Sơn, hoặc nhẹ tựa lông hồng, do mục đích sử dụng khác nhau).

Trong lòng ông, thứ thực sự nặng tựa Thái Sơn chính là Sử Ký. Ông sống trong nhục nhã, chính là để tạo nên và gánh vác thứ trọng lượng này.

Sự cúi đầu của con người có hai khả năng, một là sự phục tùng thực sự, một là đang thử luyện tư thế gánh vác Thái Sơn, nhưng nhìn qua cũng giống như phục tùng.

Tư Mã Thiên có lẽ hoàn thành Sử Ký vào năm bốn mươi sáu tuổi. Theo Vương Quốc Duy khảo chứng, thiên cuối cùng là "Hung Nô liệt truyện", đó là năm 90 trước Công nguyên hoàn thành.

Chúng ta nhớ rằng, một trong những nguyên nhân khiến Tư Mã Thiên gặp họa, là do khi biện hộ cho Lý Lăng có khả năng "ám chỉ" tướng Lý Quảng Lợi mà Hán Vũ Đế che chở không đắc lực. Ngay năm 90 trước Công nguyên, bản thân Lý Quảng Lợi cũng đầu hàng Hung Nô. Tư Mã Thiên đã bình thản viết việc này vào "Hung Nô liệt truyện", ông cảm thấy, một sự nghi vấn liên quan đến mình đã hạ màn, ông đã có thể ngừng bút.

Sau đó, không còn bất kỳ tin tức nào về ông nữa. Rốt cuộc ông sống bao lâu, chết như thế nào, chết ở đâu, đều không rõ ràng.

Có học giả từ những cách nói trong các tác phẩm như "Hán thư cựu nghi" của Vệ Hoằng, "Tây Kinh tạp ký" của Cát Hồng và "Diêm thiết luận" của Hoàn Khoan... mà phán đoán rằng, Tư Mã Thiên cuối cùng vẫn vì già mà còn oán trách nên bị hạ ngục và giết chết. Nhưng theo tôi thấy, những tài liệu này quá đơn giản và mơ hồ, chưa đủ để tin tưởng. Tất nhiên, đơn giản và mơ hồ cũng có thể xuất phát từ lòng nhân từ, không muốn mọi người phải nhận lấy nỗi đau buồn thứ hai của Tư Mã Thiên.

Ông, cứ như vậy không một tiếng động, không một dấu vết mà biến mất.

Ông đã viết biết bao câu chuyện đặc sắc về các nhân vật lịch sử, câu chuyện của bản thân lại không có kết cục.

Có lẽ, đây mới thực sự là đại kết cục. Ông biết đã có Sử Ký, không cần phải sắp đặt một nghi thức kết thúc. Ông biết chỉ cần lịch sử vẫn chưa kết thúc, thì Sử Ký và ông đều không thể kết thúc.

Sáu

Bài viết đã có thể kết thúc. Bất chợt lại nghĩ ra một ý nữa, lại lề mề vài câu.

Nhiều năm qua tôi luôn bị hỏi viết tản văn chịu ảnh hưởng của ai sâu sắc nhất, tôi từng thành thật trả lời là "Tư Mã Thiên", liền lập tức bị người hỏi cho là sự hài hước vô duyên.

"Chúng tôi hỏi là tản văn cơ mà, sao ông lại lôi ra một nhà sử học cổ đại?"

Tôi không biết giải thích thế nào, sau này gặp câu hỏi tương tự thì cũng không trả lời nữa.

Tuổi càng lớn, đọc càng nhiều, nếu tự hỏi tâm đắc nhất với nhà tản văn nào, câu trả lời của tôi vẫn không thay đổi.

Tản văn cái gì cũng có thể viết, nhưng cảnh giới cao nhất chắc chắn liên quan đến lịch sử. Điều này là bởi, bản thân lịch sử quá giống tản văn, không thể không khiến những nhà tản văn thực sự phải động lòng.

Lịch sử không có vần điệu, không có hư cấu, không có mở đầu và kết thúc; nhưng lịch sử có khí tượng, có tình tiết, có thu túng, có nhân quả, có lượng lớn không gian tự do cần vừa đi vừa than, vừa kể vừa nghị luận, có vô số mảnh vỡ sáng ngời không cần cố ý kết nối nhưng luôn lấp lánh khắp nơi, đây không phải tản văn thì là gì? Và cũng chỉ có thể là tản văn, không phải thoại bản, không phải truyền kỳ, không phải sách luận, không phải tạp kịch.

Vì lịch sử vốn là như vậy, Tư Mã Thiên cũng đã tìm được phương thức viết sử tốt nhất. Ông một mạch dùng chủ thể trần thuật ngôi thứ ba để thản nhiên nói, nhưng lại khác với vẻ lạnh như băng của các tác phẩm lịch sử thông thường. Ông nói một cách đầy biểu cảm, đôi khi tán thưởng, đôi khi tâm đắc, đôi khi hoài niệm, đôi khi tế lễ, đôi khi phẫn nộ, đôi khi châm biếm, đôi khi khinh bỉ. Nhưng tất cả điều này, đều chỉ ẩn hiện giữa mày mắt môi răng của ông, mà không làm thay đổi tính liên tục của giọng điệu trần thuật.

Đôi khi, trong trần thuật của ông xuất hiện những tình tiết khá hoàn chỉnh, có nhân vật, có tính cách, có chi tiết, có giọng điệu, có môi trường, giống như từng mẩu thoại bản tiểu thuyết. Nhưng, ông tuyệt đối không thỏa mãn với sự kỳ vọng thế tục của mọi người đối với tình tiết câu chuyện, tuyệt đối không rơi vào sự múa mép khua môi của văn học xướng hát, bước đi của trần thuật vẫn kinh thiên vĩ địa, tuyệt đối không có chút hiềm nghi nào về việc khoa trương câu khách.

Đôi khi ông bắt buộc phải bình luận, ngoài phần "Thái sử công viết" ở cuối mỗi thiên, cũng sẽ vỗ bàn chỉ điểm ngay giữa chừng khi đang trần thuật, nhưng lại điểm đến là dừng, tiếp tục nói sự việc. Sự việc có nhẹ nặng xa gần, ông như vung mây cầu vồng, tiện tay nhặt lại tùy tay gạt đi, không làm vướng bận.

Như vậy, dưới ngòi bút của ông đã xuất hiện tổ hợp lớn với đủ loại sắc thái, đủ loại phong thái, đủ loại ý tứ, đủ loại tình cảnh. Minh quân, hiền tướng, ác lại, mưu sĩ, nghĩa hiệp, thích khách, mỗi người kéo theo một giai điệu nhân sinh tươi sáng, tạo thành bản giao hưởng phong phú về thiên đạo nhân tâm, nhân chính chí đức. Đây chính là "Đại tản văn văn hóa lịch sử" thực sự.

Cấu trúc tản văn kiểu này của Sử Ký như mây như biển, so sánh mà nói, ngay cả Đường Tống bát đại gia cũng có vẻ cắt xén quá mức, ý đồ quá lộ liễu, không tránh khỏi nhỏ nhen.

Nếu hỏi: Dùng tản văn viết sử, có phù hợp với khoa học lịch sử không? Câu trả lời của tôi là: Vì bản chất của lịch sử là trạng thái tản văn chứ không phải trạng thái luận văn, cho nên, càng dùng hình thái tương tự để nắm bắt, thì càng phù hợp. Nếu không, sẽ giống như bắt mây thuần biển, ai cũng mệt mỏi.

Lại hỏi: Lấy Sử Ký làm văn bản mẫu tản văn, có phải là quy mô thất độ? Câu trả lời của tôi là, viết trời có thể lấy một góc của nó, nhưng tất phải cảm nhận trước khí tượng đầy trời; vẽ đất có thể chọn một góc, cũng tất phải nhìn quanh bốn phía đất đai bát ngát. Văn bản mẫu của tản văn lịch sử nên rộng mở hơn tản văn thường rất nhiều, mới có thể thoát khỏi kỹ xảo vụn vặt mà đạt được thần vận hùng vĩ.

Ngoài nội dung, cơ sở của tản văn là ngôn ngữ. Ở điểm này, Tư Mã Thiên cũng xứng đáng là một cây bút nghìn năm có một.

Ngòi bút của Tư Mã Thiên, là sự thoát khỏi gian khổ đối với thứ ngôn ngữ đang thịnh hành xung quanh ông. Trước ông, văn đàn tràn ngập phong cách từ phú nồng đậm. Lấy Mai Thừa, Tư Mã Tương Như làm đại diện, theo đuổi sự phô trương và xa xỉ trong văn học. Đến thời Tư Mã Thiên, phong cách này càng diễn càng liệt. Dường như là để hô ứng với phong thái đại quốc và cục diện giàu có do Hán Vũ Đế khai sáng, ngay cả tản văn cũng đua nhau theo đuổi sự công lệ, chỉnh tề, trống rỗng, phóng túng, thậm chí còn dẫn kinh cứ điển, mài giũa âm tiết. Tuy quả thật không thiếu văn vẻ, nhưng luôn hoa mỹ mà không thực, làm bộ làm tịch. Xu hướng này phát triển về sau, trở thành biền văn thời Lục triều quá chú trọng trang sức, đối ngẫu, thanh luật, dùng điển, khiến đến thời Đường, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên họ còn phải phát động một phong trào để phản đối.

Biết được môi trường văn tự của Tư Mã Thiên, mới có thể hiểu được sự sạch sẽ, mộc mạc, linh động trong ngòi bút của ông, chứa đựng sự đột phá lớn biết bao. Ông đặc biệt giống như né tránh dịch bệnh mà né tránh kiểu câu đối ngẫu chỉnh tề, nỗ lực đạt được những câu tản văn tự nhiên, hiểu rõ như lời nói, so le trắc trở. Ông lại còn phải tôi luyện những câu tản văn này thành giống như thông tục mà thanh nhã, sinh động hoạt bát, thật sự đã nắm bắt được bí quyết cơ bản của viết tản văn. Ông còn không để văn ngôn cổ đại xuất hiện dưới hình thái khó hiểu, gồ ghề trong bài viết của mình, mà bắt buộc phải sửa thành dễ hiểu trôi chảy, phù hợp với người đương thời đọc. Chúng ta nếu thấy một câu chỉnh tề, đối xứng, bài bỉ nào trong sách của ông, cơ bản có thể khẳng định không phải xuất phát từ tay ông. Ví dụ như các chuyên gia hậu thế thấy trong bài văn nào đó có một đoạn dùng bốn chữ làm vần, đều nhất trí khẳng định là người đời sau chêm vào.

Nói đến đây, tôi thật sự không thể che giấu nỗi bi ai hiện đại tích tụ từ lâu. Thời đại chúng ta, cách xa Hán, Lục triều đã quá xa xôi, không biết từ lúc nào đột nhiên dấy lên một loại biền văn đương đại không ra làm sao——chỉ biết theo đuổi sự chỉnh tề sắp xếp của những lời sáo rỗng trống rỗng, văn vẻ tất nhiên kém xa biền thể cổ đại, nhưng cũng luôn không sợ lặp lại mà nói một cách lưu loát. Có một lần tôi được mời đi tham dự lễ kỷ niệm của một trường đại học, quan viên đến chúc mừng thế mà có năm người hoàn toàn lặp lại một câu mở đầu giống hệt nhau: "Kim thu thập nguyệt, quế tử phiêu hương, sính sính học tử, hoan tụ nhất đường" (Tháng mười mùa thu vàng, hương quế bay bay, bao nhiêu học sinh, vui vẻ tụ họp). Sau đó lại có một vị quan viên chỉ đổi "Kim thu thập nguyệt" thành "Kim phong tống sảng" (gió vàng đưa mát), mười hai chữ phía sau vẫn giống hệt nhau. Tôi muốn cười lớn mà không thể không che miệng, bởi vì mọi người xung quanh đều thấy đây mới giống bài văn hay.

Có lần tôi trên truyền thông khơi gợi người trẻ viết văn ít dùng thành ngữ, tính từ, câu đối ngẫu và câu bài bỉ, quay về với tự sự chất phác. Đây là ý kiến thường thức biết bao, thế mà nghe đâu gây ra một phen xôn xao, đều nói thiếu thành ngữ, tính từ, câu đối ngẫu và câu bài bỉ, thì lấy đâu ra "tính văn học"? Mọi người thế mà đều không biết, cái gọi là "tính văn học" không giống người bình thường nói chuyện này, thực ra là "hình thái ngụy văn học" thấp kém nhất. Người Trung Quốc đã thoát khỏi hai nghìn năm, đến thời Đường lại thoát khỏi một lần dữ dội, đến thời Ngũ Tứ lại thoát khỏi một lần triệt để. Hơn nữa, thể văn mỗi lần bị thoát khỏi đều tốt hơn bộ đang thịnh hành hiện nay nhiều.

Tôi nghĩ, mọi người vẫn nên đọc Sử Ký nghiêm túc hơn, ngoài việc nhận thức Tư Mã Thiên trên phương diện lịch sử học, còn nên nhận thức Tư Mã Thiên trên phương diện văn học.

Đêm qua viết bài này lúc nghỉ ngơi, từ trên giá sách lấy cuốn "Tư Mã Thiên luận cảo" của Nhiếp Thạch Tiều tiên sinh xuống lật xem, không ngờ cái nhìn đầu tiên đã thấy một đoạn văn, không khỏi tâm đắc mà mỉm cười. Ông nói:

Thành tựu tản văn cổ đại nước ta cao nhất là thời Hán, thành tựu tản văn thời Hán cao nhất là văn học truyền ký, thành tựu văn học truyền ký cao nhất là Sử Ký.

Quan điểm này, khá hợp ý tôi.

Đến đây, tôi thật sự có thể dùng vài câu kết thúc bài viết này: Sử Ký, không chỉ là bản mẫu của lịch sử Trung Quốc, mà còn là bản mẫu của văn học Trung Quốc. Nhìn qua nó chỉ có sự khác biệt lớn với thơ trong văn học, nhưng Lỗ Tấn nói rồi, so với "Ly Tao", nó chỉ là "vô vận" (không vần) mà thôi.

Vị vĩ nhân hai nghìn năm trước gom văn sử vào một lò này, thực ra cũng chính là gom chân, thiện, mỹ cùng luyện lại, luyện trong những đêm tối không chân, không thiện, không mỹ đó.

Lò luyện chính là ngọn đèn dầu nhỏ đó.

Chẳng lẽ, nó thực sự đã tắt rồi sao?

Điểm bình một:

Câu chuyện Tư Mã Thiên phẫn mà viết Sử Ký đã quá quen thuộc. Những sinh mệnh vĩ đại không phải chỉ sống vì bản thân mình, ông có sứ mệnh thiêng liêng truyền thừa văn hóa. Tư Mã Thiên thông qua lịch sử lấy con người làm trung tâm, viết nên tạo hình tinh thần của người Trung Quốc. Sử Ký chính là bản mẫu tính cách của dân tộc Trung Hoa. (Lão Ngu)

Điểm bình hai:

Bài viết này có điểm độc đáo trong việc bình luận về Tư Mã Thiên, sau đó bàn về mối quan hệ giữa tản văn và lịch sử, xướng đạo tự sự chất phác, và lấy Sử Ký làm văn bản mẫu mực của đại tản văn văn hóa lịch sử. Tác giả tự đặt tiêu chuẩn cao cho mình, "xoa nắn mặt đất" "tìm kiếm Trung Hoa", vốn là lấy Sử Ký của Tư Mã Thiên làm thầy. (Mã Sách)

Điểm bình ba:

Tư Mã Thiên dựa vào Sử Ký mà đạt được vị thế văn hóa không thể lay chuyển của mình, là bản mẫu của những người làm văn hóa hậu thế. Sự kiên nghị và trầm dũng khi đối diện với tai ương của ông, dù gặp phải Hủ hình, nhưng "dùng thân thể đã mất đi tính dục của mình để hô gọi ngọn gió hùng tráng của đất trời", đây là điều đáng quý biết bao? Ông treo cao ngọn bút sử chính nghĩa, thị phi công tội, trước khi chết và sau khi chết, trao cho mỗi người một "gia phả" hữu hình hoặc vô hình. Sử Ký là bản mẫu của văn hóa ngôn ngữ Hán. Nền kinh phồn thịnh (phồn thịnh) thời Hán mang lại sự thỏa mãn và say mê cực lớn cho văn nhân nhàn rỗi, thế là Hán phú đẹp đẽ, phô trương, lan tỏa được thịnh hành, nhưng Sử Ký không vì thời thịnh thế mà bị luỵ, độc thủ với văn từ mộc mạc, sạch sẽ, linh động của mình, hiển lộ văn phong có gì nói nấy, sinh động hoạt bát độc đáo của bản thân, dự báo một nét bút dày dặn cho phong trào cổ văn Hàn - Liễu hậu thế, nó là bản mẫu văn hóa ngôn ngữ xứng đáng. (Xa Chí Bân)

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 14 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Dư Thu Vũ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.