Một
Đất đai làm chứng: Tổ tiên chúng ta vốn gần gũi với thơ ca hơn chúng ta rất nhiều.
Điều này không chỉ nói đến thời đại của Lý Bạch, Đỗ Phủ, mà còn sớm hơn rất nhiều. Ít nhất, khi Chư tử bách gia còn đang bôn ba khắp lưu vực Hoàng Hà, họ đã sớm được bao bọc trong những làn điệu thơ ca rồi.
Dù là ngồi xe bò, xe ngựa, hay đi bộ, trong lòng họ thường xuyên vang vọng "Thi tam bách thiên", tức là những câu thơ trong "Kinh Thi". Đây không phải xuất phát từ niềm yêu thích đặc biệt của họ đối với thơ ca, mà là xuất phát từ phong thái chung của toàn bộ tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ. Hơn nữa, phong thái này đã kéo dài rất lâu, rất lâu.
Từ đó có thể thấy, điểm khởi đầu tinh thần của tổ tiên chúng ta rất cao. Khi lực lượng sản xuất còn ở mức cực thấp, chưa kịp thúc đẩy mọi thứ, thì đã "lấy thơ làm kinh" rồi. Điều này thực sự đáng kinh ngạc. Thử nghĩ xem, khi chúng ta đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực suốt mấy nghìn năm, chẳng phải càng ngày càng khao khát có một ngày có thể từ đuổi theo vật chất mà chuyển sang cư ngụ một cách đầy thi vị, một lần nữa mong chờ cảnh giới "lấy thơ làm kinh" hay sao?
Vậy nên, "lấy thơ làm kinh", vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu của chúng ta. Hai chữ "Kinh Thi", thật sự có thể tóm lược được khởi đầu và kết thúc của nền văn minh Trung Hoa.
Những bài thơ lưu truyền vào thời đó, có lẽ còn nhiều hơn số lượng được thu thập trong "Kinh Thi" rất nhiều.
Tư Mã Thiên trong "Sử ký" nói rằng, Khổng Tử đã san định hơn ba nghìn bài cổ thi xuống còn hơn ba trăm bài. Điều này nghe có vẻ không đúng lắm, bởi vì "Luận ngữ" thường xuyên nhắc đến "Thi tam bách thiên", nhưng lại chưa bao giờ đề cập đến việc san định thơ, học trò và những người cùng thời với Khổng Tử cũng không hề nhắc đến. Mãi cho đến hơn ba trăm năm sau mới xuất hiện ghi chép kiểu này, cứ cảm thấy có chút kỳ lạ. Hơn nữa, có tài liệu chỉ ra rằng, khi Khổng Tử còn là một đứa trẻ, quy mô của "Kinh Thi" đã hình thành. Khổng Tử lúc trưởng thành có lẽ đã chỉnh sửa và biên tập phần âm nhạc trong đó, khiến nó gần với nguyên bản hơn.
Tuy nhiên, dù là ai tuyển chọn, dù là chọn ba trăm từ ba nghìn, hay ba trăm từ ba vạn, thì việc cơ số lựa chọn của "Kinh Thi" rất lớn là điều không thể nghi ngờ.
Bản thân tôi luôn rất thích "Kinh Thi". Trước đây khi giới thiệu với sinh viên trên lớp, không ít sinh viên thường vì một chữ "Kinh" mà chùn bước. Tôi luôn bảo với chúng rằng, ở đó có một loại tình vị nhân gian được hái từ đất đai thôn dã, giống như mùi của những đống lúa mì vừa mới gặt xong vậy, gợi cảm đến khó tả, thế nhưng chẳng ai có thể tưởng tượng được luồng hơi thở tươi mới này lại đến từ hàng nghìn năm trước.
Tôi thích những "thư cưu, hoàng điểu", "kiêm gia, bạch lộ" của nó; thích những "tập tập cốc phong, phi phi vũ tuyết"; thích những "tĩnh nữ kỳ thù, y nhân tại thủy"... mà thích hơn cả chính là việc nó dùng những câu thơ Hán ngắn gọn nhất, trong sáng nhất để diễn tả những hỉ nộ ái ố thanh tao nhất.
Trong những câu thơ này, ẩn chứa phong tục, tình cảm, nỗi oán than của nhân dân, bao hàm cả lễ nghi, đạo đức, lịch sử, cấu thành một cuốn sách giáo khoa xã hội phong phú. Cuốn sách giáo khoa này lại đẹp đẽ và êm tai đến vậy, rất tự nhiên khơi gợi nên một niềm ngâm vịnh phổ biến và lâu dài. Ngâm ở phương Nam, ngâm ở phương Bắc, tụng qua trăm năm, tụng qua nghìn năm. Thế là, nó cũng đúc kết vào nhân cách tập thể của dân tộc.
Mỗi lần ngâm vịnh "Kinh Thi", tôi lại liên tưởng đến một giấc mộng: Trong bóng đêm mờ ảo, một đám người ngựa trở về sơn trại, phải hát vài câu mật khúc đã ước định mới được mở cửa. "Kinh Thi" chính là mật khúc để dân tộc Trung Hoa trở về nhà trong đêm tối, một người gọi, một người đáp, là biết ngay người nhà.
Ai là người sáng tác "Kinh Thi"? Có lẽ là một tập thể khổng lồ rải rác khắp các tầng lớp trong lưu vực Hoàng Hà. Những tác phẩm này, dù là nhạc ca các nơi tiến cống, hay dân ca được triều đình thu thập, đều được gia công chỉnh lý qua từng lớp, vì thế mà trở thành một loại hình sáng tác tập thể, rất ít thi nhân cá nhân để lại tên tuổi. Điều này cũng có nghĩa là, "Kinh Thi" đánh dấu một thời đại thi ca thiếu vắng thi nhân cá nhân.
Đây là một bản hợp xướng lâu đời, một giọng ca đẹp của tập thể. Đây là sự phối hợp rộng khắp, sự cộng hưởng bao la. Ở đây hiện lên từng hình tượng được khắc họa, nhưng lại rất khó tìm thấy chân dung của người khắc họa.
Người kết thúc cục diện này là một người đàn ông đến từ lưu vực sông Trường Giang.
Hai
Khuất Nguyên, vừa sinh ra đã không dẫm chân lên mảnh đất của "Kinh Thi".
Sự tiến lùi và tranh đấu của dân tộc Trung Hoa trong giai đoạn đầu trên phương diện địa lý, nói ra thì quá dài dòng, tôi xin đơn giản hóa thành văn minh Hoàng Hà và văn minh Trường Giang. Hai con sông lớn này, không nghi ngờ gì nữa, chính là hai động mạch chủ của nền văn minh nông nghiệp Trung Hoa, nhưng trong một thời gian lịch sử rất dài, văn chương của văn minh Hoàng Hà nhiều hơn hẳn.
Dù là tập đoàn Hoa Hạ lấy Hoàng Đế, Viêm Đế làm nhân vật chính và phái sinh ra thủy tổ của người Hạ, Thương, Chu, hay là tập đoàn Đông Di xuất hiện những Thái Hạo, Thiếu Hạo, Si Vưu, Hậu Nghệ, Bá Ích, Cao Dao..., về cơ bản đều hoạt động trong lưu vực Hoàng Hà. Từ đó khẳng định Hoàng Hà là dòng sông mẹ của dân tộc Trung Hoa, hoàn toàn không sai.
Lưu vực Trường Giang từng hoạt động tập đoàn Miêu Man đại diện bởi Phục Hy, Nữ Oa, nhưng về mức độ văn minh và thực lực đều không thể sánh ngang với tập đoàn Hoa Hạ, cuối cùng quả thật đã bị đánh bại. Những điều chúng ta thấy trong sử tịch như Nghiêu chế phục Nam Man thế nào, Thuấn thay đổi phong tục phương Nam ra sao, Vũ hoàn thành cuộc chinh chiến cuối cùng như thế nào..., đều chứng minh quá trình văn minh Hoàng Hà dùng ưu thế để thống trị văn minh Trường Giang.
Tuy nhiên, sự thống trị ưu thế này của văn minh Hoàng Hà, không đủ để tiêu giải văn minh Trường Giang. Bởi vì tầng đáy của bất kỳ nền văn minh nào, đều liên quan đến môi trường địa lý, khí hậu sinh thái, phong tục nghìn đời, vĩ đại như Nghiêu, Thuấn, Vũ cũng chưa chắc thay đổi được. May thay là như vậy, văn minh Trung Hoa mới không đi đến sự đơn điệu trong khói lửa chinh phục và bị chinh phục.
Vốn đắm chìm trong phong tục vu thuật (phù thủy) thần bí kỳ dị, văn minh Trường Giang không quen với những luận chính trị và triết lý quá rành mạch. Nhân vật đại diện đầu tiên của nó không phải là bá chủ, không phải danh tướng, không phải thánh hiền, mà là thi nhân, đây là một điều tất yếu.
Vị thi nhân này không chỉ sinh ra bên bờ Trường Giang, mà còn sinh ra tại Tam Hiệp - nơi hiểm trở nhất, kỳ diệu nhất, huyền bí nhất và có tính khái quát nhất của vạn dặm Trường Giang, lại càng có một ý nghĩa tượng trưng.
Tôi nhiều lần đi thuyền qua Tam Hiệp, lần nào cũng đầy thành kính tìm kiếm nơi sinh của Khuất Nguyên. Tôi biết, đây là điểm giao thoa mà tự nhiên và nhân văn sau vô số lần thương lượng mới tìm được.
Nếu nói, "Kinh Thi" từng biến lễ nghi dân gian ấm áp thành hòa âm suốt mấy trăm năm, an ủi những ly loạn nhân luân và mất mát thế tình ở lưu vực Hoàng Hà, thì sứ mệnh của Khuất Nguyên hoàn toàn khác biệt. Ông chỉ là một cá nhân, không có hòa âm. Ông độc hành, từ chối sự an ủi. Tâm ông ở chín tầng trời, không ở thế tình...
Ông có quá nhiều, quá nhiều điểm khác biệt, mà mỗi điểm khác biệt đều liên quan đến dòng sông bên cạnh, mảnh đất dưới chân ông.
Hãy thử nghĩ về Tam Hiệp Trường Giang xem, nơi đó khác biệt quá lớn so với lưu vực Hoàng Hà. Nơi đó núi hiểm đường hẹp, giao thông bất tiện, rất khó hình thành hành động tập thể khổng lồ và diễn ngôn thống nhất. Nơi đó cây cối um tùm, vật sản phong phú, bất kỳ góc nào cũng có thể đáp ứng nhu cầu sinh tồn của một người, vì thế cũng có khả năng để ông đối diện với núi sông, tĩnh tâm đối mặt với tâm hồn. Nơi đó mây mờ sóng cuộn, tựa tiên tựa ảo, rất có khả năng khơi gợi những ý tưởng thần thoại kỳ lạ. Nơi đó hoa nở hoa tàn, vật gì cũng có thần, rất khó khiến người ta không tự thương thân, mượn cảnh giãi bày, cảm vật đau lòng. Nơi đó dòng sông chảy xiết, sóng vỗ vách đá, lại dễ gợi mở người ta dù vẻ ngoài nhu thuận nhưng chí tại nghìn dặm, trăm lần gãy không quay đầu.
So sánh mà nói, lưu vực Hoàng Hà hùng hồn, thương mang lại không có nhiều kỳ thú, nhiều che giấu, nhiều tự túc, nhiều cá tính đến thế. Vì vậy, từ Hoàng Hà đến Trường Giang, bản hợp xướng nhỏ kiểu "Kinh Thi" cũng biến thành khúc độc ngâm nơi vách đá kiểu Khuất Nguyên.
Nếu nói, "Kinh Thi" lần đầu tiên cho chúng ta biết thế nào là thơ, thì Khuất Nguyên lần đầu tiên cho chúng ta biết thế nào là thi nhân.
Thế là, chúng ta thấy Khuất Nguyên bước tới, đội mũ hoa, đeo trường kiếm, mặc trang phục kỳ lạ, treo ngọc bội tinh xảo, sắc mặt cao quý mà tiều tụy, ánh mắt mê man mà xa xăm. Một dáng vẻ như vậy xuất hiện ở lưu vực Hoàng Hà nơi Chư tử bách gia đang bôn ba bụi bặm là điều không thể tưởng tượng nổi, nhưng hãy chú ý, đây chính là thi nhân vĩ đại đầu tiên xuất hiện với tư cách cá nhân trong lịch sử Trung Quốc. "Kinh Thi" viết thơ giữa khói bếp vạn nhà, Khuất Nguyên viết thơ lên chính thân tâm mình.
Thực ra Khuất Nguyên khi tham chính du lịch cũng từng đến lưu vực Hoàng Hà, thậm chí còn đến Tắc Hạ học cung nơi bách gia hội tụ (theo tôi khảo chứng, có lẽ là năm 311 trước Công nguyên), tất nhiên lúc đó không phải ăn vận thế này. Thân phận lúc đó của ông là quan lại và học giả văn hóa nước Sở, từ ánh mắt đến tư thái đều lý tính hóa, tập thể hóa, chính trị hóa. Các học giả bách gia gặp ông ở Tắc Hạ học cung có lẽ sẽ cảm thấy vị khách phương xa này phong phong độ phiên phiên (phiên phiên), cử chỉ vô cùng chú trọng, nhưng không biết rằng đây là đại diện quan trọng nhất của văn minh Trường Giang, và sớm muộn gì cũng sẽ dùng cách họ không thể lường trước được để đại diện cho phạm vi lớn hơn, bao gồm cả họ trong đó.
Tư cách đại diện không thể tranh cãi, bởi vì dù nước Sở có thể tranh cãi, Trường Giang có thể tranh cãi, quan điểm chính trị có thể tranh cãi, học phái có thể tranh cãi, nhưng thơ, không thể tranh cãi.
Ba
Tôi luôn cảm thấy, rất nhiều nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc đều nghĩ sai về chuyện của Khuất Nguyên từ tận gốc rễ.
Mọi người đều đang than thở cho hoạn lộ không đắc chí của ông, tiếc cho ông bị bài xích trên chính đàn, oán trách những người thống trị nước Sở lạnh nhạt với ông. Những nhà nghiên cứu văn học này quên mất một vấn đề cơ bản nhất: Nếu ông luôn đắc chí nơi triều đình, được quân chủ trọng dụng, không bị bài xích, thì trên thế giới này liệu có còn một Khuất Nguyên đáng để mỗi cuốn văn học sử Trung Quốc đều dành ra chuyên chương chuyên tiết để cung kính thuật lại hay không?
Người làm văn hóa Trung Quốc luôn thích dùng chính trị để đóng khung văn hóa, để văn hóa trở thành vật phái sinh của chính trị. Họ không biết rằng: Một người ngâm vịnh vì mũ miện mà âm á (câm) tiếng hát, mới là người thực sự đáng than thở; một thi nhân vì công danh mà đánh mất thi tình, mới là người thực sự khiến người ta tiếc nuối; một thiên tài vì chính vụ mà rơi vào tầm thường, mới là người thực sự cần oán trách. Mà nếu ngay cả văn học sử cũng mất đi tọa độ văn học, thì cần phải cộng cả than thở, tiếc nuối, oán trách lại với nhau rồi.
Cho đến tận hôm nay, rất nhiều tác phẩm luận văn học sử vẫn thích gọi Khuất Nguyên là "thi nhân ái quốc". Đây chính là đặt một khái niệm chính trị lên trước định vị văn học. "Ái quốc"? Khuất Nguyên đứng trên lập trường nước Sở thời bấy giờ để phản đối nước Tần, là vì muốn bảo vệ mảnh đất, văn hóa và hình thức chính quyền nuôi dưỡng sự sống của chính mình, tất nhiên là hợp tình hợp lý, nhưng cái gọi là "quốc" ở đây không phải là "quốc gia" theo nghĩa thông thường, chúng ta không nên trộn lẫn khái niệm. Dưới con mắt hậu thế, lúc bấy giờ nơi thực sự dính dáng đến "quốc gia" khá gần, ngược lại chính là nước Tần, bởi vì chính nó là kẻ sẽ thống nhất Trung Quốc, sản sinh ra quan niệm quốc gia theo nghĩa nghiêm ngặt, hình thành nên cái mà Lương Khải Siêu gọi là "Trung Quốc của Trung Quốc". Làm sao chúng ta có thể đem những yêu cầu đối kháng gặp phải trong quá trình thống nhất Trung Quốc, lại nói thành là "ái quốc" cơ chứ?
Có người có lẽ sẽ biện giải, đây chỉ là phản ánh quan niệm của nước Sở thời bấy giờ, tại nơi đó. Thế nhưng, người gọi Khuất Nguyên là "ái quốc" là người hiện đại. Người hiện đại làm sao có thể không biết, Khuất Nguyên với tư cách là thi nhân đã sớm không còn thuộc về thời bấy giờ, nơi chốn đó nữa rồi. Đem những nhân tố mau mục nát và nhân tố vĩnh hằng vò lại thành một cục, đem những nhân tố cục bộ và nhân tố phổ quát kéo mạnh lại với nhau, mà lại luôn nâng cao những nhân tố mau mục nát, cục bộ, đó chính là điểm mù của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa.
Người dân thường tốt hơn họ nhiều, mỗi năm đến Tết Đoan Ngọ vì tưởng nhớ Khuất Nguyên mà gói bánh chưng, đua thuyền rồng, hoàn toàn không phân biệt vùng miền. Dù là nơi từng bị nước Sở xâm lược lúc bấy giờ, hay nơi diệt vong nước Sở, đều đang tưởng nhớ. "Quốc giới" năm xưa sớm đã bị những câu thơ đả thông, căn bản không tồn tại yêu ghét chính trị nữa. Những chiếc bánh chưng đó, những chiếc thuyền rồng đó, là dâng cho thi nhân. Người dân Trung Quốc dẫu có hào phóng đến đâu, cũng sẽ không đem sự thành kính suốt hai nghìn năm dâng cho một kiểu người khác.
Người dân hiểu hơn người làm văn hóa: Văn hóa không biên giới, văn hóa vô giá.
Văn hóa, xin đừng tự ti.
Trong vô số tác phẩm cùng loại, tôi chỉ tôn sùng bộ "Trung Quốc văn học sử" do Chương Bồi Hằng và Lạc Ngọc Minh chủ biên về phân tích Khuất Nguyên. Trong sách chỉ ra, Khuất Nguyên có chủ trương chính trị tốt đẹp, từng nhận được sự tin tưởng cao độ của Sở Hoài Vương, nhưng do xuất thân quý tộc lại thiếu niên đắc chí, khi tham gia hoạt động chính trị biểu hiện ra đặc điểm lý tưởng hóa, tình cảm hóa và tự tin, thiếu khả năng xoay xở, khó hòa hợp với môi trường. Tất cả những điều này, trong khi gây ra bi kịch nhân sinh cũng đã tạo nên văn học ưu tú.
Thế này mới nói đúng. Chính những trở ngại trên chính trị đã chỉ dẫn đường đi cho văn học. Điểm đặt chân nên là văn học.
Cách nói của tôi có lẽ sẽ triệt để hơn một chút: Những ngày đó, Trung Quốc cuối cùng đã đi đến điểm cao nơi nên có nền văn học cá tính, vì thế có một sức mạnh thần bí phái một người tên Khuất Nguyên đi lĩnh hội đủ loại rèn luyện tâm lý. Để ông đích thân trải nghiệm một loạt mâu thuẫn và chia rẽ, ví dụ như tin tưởng và bị vu khống, cao quý và lạc lõng, thiên quốc và mặt đất, thần du và bất lực, lìa quốc và nhớ nhung, chờ đợi và bất lực, tự yêu và tự diệt, vân vân, sau đó lại dùng chính sinh mạng mình luyện những nghịch lý này thành cái đẹp, hiển thị ra cho nhân gian một tọa độ cao nhất: Thế nào là thơ hạng nhất, thế nào là thi nhân hạng nhất.
Nói đơn giản, đây là một quy trình cần thiết dẫn tới huy hoàng.
Rút đi bất kỳ bậc thang nào, thì không thể đạt tới mục tiêu, bất kể những bậc thang đó gây ra bao nhiêu mệt mỏi và đau khổ cho người leo. Dù là tiểu nhân phỉ báng, đồng liêu liếc mắt, thế nhân nghi hoặc, cũng không thể thiếu.
Thậm chí, đối với việc ông tự trầm xuống sông Mịch La, cũng không cần phải ném vào đó sự thấu hiểu quá mức chính trị hóa và bi thương kiểu thị dân. Quách Mạt Nhược cho rằng, Khuất Nguyên là nhìn thấy quân đội nước Tần công phá Dĩnh đô nước Sở mới bi phẫn tự sát, là "tuẫn quốc nạn". Tôi cảm thấy điều này e là có một chút sai lệch với tình hình thực tế. Khuất Nguyên tự trầm là mấy năm trước khi Dĩnh đô bị công phá, thời gian không đúng lắm. Còn có một số người cho rằng là những gian thần tặc tử trong triều đình nước Sở không muốn để Khuất Nguyên sống, bức chết ông. Ở nghĩa rộng nói như vậy cũng không phải không được, nhưng nhất định phải dệt nên một câu chuyện mưu sát thì lại không có chứng cứ cụ thể.
Tôi cho rằng, ông đưa ra lựa chọn tự trầm có những nhân tố sâu sắc hơn. Tất nhiên có sự bi phẫn đối với hiện thực, nhưng cũng có sự ngộ ra đối với sinh mệnh, sự quy y đối với tự nhiên. Giữa núi sông đắm chìm trong truyền thống thần thoại vu phong, trầm giang là một nghi thức tế lễ bi tráng. Sau khi ông trầm giang, dân chúng chuyển ngày tế lễ Đông Quân trước đây sang tên ông, những hoạt động như gói bánh chưng, đua thuyền rồng đã nói ở trên chính là một phần của nghi thức tế lễ.
Nói thật, tôi thực sự không nghĩ ra Khuất Nguyên còn có cách nào tốt hơn để làm dấu chấm hết cho sinh mạng. Các nền văn minh khác trên thế giới, phải đến thời cận đại mới có không ít thi nhân triết gia hạng nhất đưa ra lựa chọn như vậy. Heidegger khi giải thích hiện tượng này đã nói, một người đối với việc hình thành, cảnh ngộ, bệnh tật suy tàn của sinh mệnh chính mình đều không thể kiểm soát, thứ duy nhất có thể kiểm soát chính là kết thúc sinh mệnh như thế nào.
Khi tôi đi du lịch Bắc Âu, biết được ở đó hằng năm có không ít người cao nhã sống cô độc trong biệt thự rừng lạnh chọn cách tự sát. Tôi nhìn ánh hoàng hôn rực rỡ mà ban ngày ngắn ngủi để lại cho vùng bình nguyên xám xịt, lại liên tưởng đến Khuất Nguyên. Tiếc là ở đó quá cô quạnh, trăm dặm khó thấy bóng người, không thể mơ tưởng đến hương gạo và tiếng nước bừng bừng khắp bốn phương vào đầu hè ở vùng Hồ Tương lưu vực Trường Giang.
Cách nghĩ này có phải đã vượt quá thời đại? Thi nhân Mỹ Whitman nói, cái gọi là thi nhân, chính là kiểu người dung hòa quá khứ, hiện tại và tương lai làm một. Tất nhiên, điều Whitman nói là thiểu số những thi nhân vĩ đại thực sự.
Vì thế, trong người Khuất Nguyên vốn đã bao hàm cả hôm nay và ngày mai.
Bốn
Chỉ cần nhắc đến Khuất Nguyên, thì luôn không thể không gần gũi với tác phẩm của ông, ngay cả một lần cũng không nên bỏ lỡ.
Ở đây gặp phải một nan đề: Tác phẩm của Khuất Nguyên vô cùng thâm sâu, mà dân chúng năm nào cũng tế lễ Khuất Nguyên thì đông không đếm xuể, chúng ta có thể bắc vài nhịp cầu giữa những điều này không?
Chính vì mục đích này, thế kỷ hai mươi đã từng xuất hiện không ít phiên bản "Kim dịch" (dịch sang tiếng hiện đại). Hầu như tất cả các bản dịch hiện đại đều sử dụng thể thơ, nhưng đáng tiếc là "hệ thống vận vị" giữa Sở Từ và thơ hiện đại hoàn toàn khác nhau, rất khó tạo ra mối quan hệ chuyển đổi mà cả hai bên đều hài lòng. Thường là, câu thơ dịch hiện đại quá chỉnh tề rườm rà, làm mất đi khí vận tổng thể của nguyên tác. Điều này giống như trưng bày một món đồ đồng đẹp đẽ nhất, tuyệt đối không được dùng vẻ đẹp hiện đại lấp lánh châu báu để soi chiếu, mà chỉ nên cung cấp cho nó một nền vải bố mộc mạc nhất.
Tôi rất muốn làm một thí nghiệm nhỏ, dùng văn xuôi hiện đại để biểu đạt tác phẩm của Khuất Nguyên một phen. Tránh né vô số chướng ngại văn cổ, tránh né quy trình nghiêm ngặt từng đoạn từng câu, chỉ là vẽ một đường nét đại khái, coi như trao cho người tế lễ phổ thông một cây gậy chống.
Vậy thì, hãy thử bắt đầu từ "Ly tao" xem sao.
Ta là hậu duệ của Cổ đế Cao Dương thị, sinh vào một ngày tốt lành, cha đặt cho ta một cái tên hay. Ta vừa có mỹ chất trời sinh, lại coi trọng việc tu dưỡng năng lực ngày sau, còn thích đeo hương thảo lan thu bên mình.
Nhật nguyệt vội vàng không giữ được, xuân đi thu tới chẳng ngừng bước. Ta chỉ thấy cỏ cây tàn úa, ta chỉ sợ người đẹp xế chiều. Sao không nhân lúc đương xuân xa lánh vấy bẩn, sao không sửa đổi quy củ trước mắt? Vậy thì cưỡi ngựa hay phi nước đại đi, ta nguyện là người tiên phong mở đường.
Ta biết thánh quân cổ đại luôn đồng hành cùng chúng phương, ta biết Nghiêu Thuấn đường đường vì đi con đường chính đạo mà thông suốt suốt dọc đường, Kiệt Trụ cuồng loạn vì muốn đi đường tắt mà bước chân khốn cùng. Vì vậy, ta chỉ chín tầng trời làm chứng, ta ngày thường bận rộn bôn ba trước sau, không sợ thân mình gặp họa, chỉ lo gia quốc đi nhầm đường. Thế nhưng, tấm lòng tốt của ta không được thấu hiểu, ngược lại còn chuốc lấy lời gièm pha và đố kỵ.
Ngươi chẳng phải sớm đã hẹn ta gặp nhau lúc hoàng hôn sao, tại sao lại có sự thay đổi? Ta chẳng phải sớm đã gieo hoa thơm cỏ lạ sao, tại sao cũng tỏa ra mùi dị hợm? Chúng nhân đang thi nhau tham lam, tâm đáy đều chứa đầy đố kỵ. Trong môi trường như thế này, ta chỉ sợ cho đến già, vẫn chưa kịp tu danh lập thân.
Sáng uống sương Mộc Lan, tối ăn cánh hoa cúc thu, chỉ cần tin vào sự tốt đẹp trong tâm, thì đói kém tiều tụy thì đã sao? Ta luôn dài thở lau lệ, đau xót cho dân sinh gian nan. Dù từ sáng đến tối vừa bị nhục mạ vừa bị xua đuổi, ta dù chín chết vẫn không hối hận.
Ưng tước không thể hợp bầy, phương viên không thể chồng lên. Ta chỉ hận không nhìn rõ đường, đứng lặng hồi lâu quyết định quay về. Ta để ngựa mình dạo bước nơi Lan Cao, nghỉ chân nơi Tiêu Khâu, tự mình lại thay lại trang phục trước lúc xuất phát. Ta như quá khứ lấy lá sen làm áo, lấy phù dung làm xiêm, đội mũ cao, đeo trường kiếm, rồi ngẩng đầu nhìn bốn phương. Ta lại có những đồ trang sức rực rỡ, ta lại ngửi thấy từng luồng hương thơm.
Chị đại (Đại tỷ) khuyên bảo ta lặp đi lặp lại: "Cha của Đại Vũ vì quá cương trực mà chết nơi đồng hoang Vũ Sơn, đệ học thức lại có tu dưỡng như vậy, tại sao cũng phải kiên trì cô độc đến thế? Mọi người bên cạnh đều mọc đầy cỏ dại, tại sao đệ cứ khăng khăng giữ mình trong sạch? Dân chúng không thể nghe lời giải thích của đệ, có ai thấu hiểu được tình cảm của đệ? Thế nhân đều đang cấu kết, tại sao đệ lại không nghe lời khuyên?"
Chị à, ta chỉ biết lời dạy của thánh hiền cổ đại, không thể tự phóng túng, không thể trái đạo thường. Ta chỉ biết hoàng thiên vô tư, lấy đức làm đầu. Có lẽ thật nên thở than ta sinh không gặp thời, hái một bó cỏ huệ để lau nước mắt, nhưng nước mắt sớm đã làm ướt áo ta, ta trải áo trên đất quỳ gối cáo: Ta đã biết con đường chính đạo cần đi, đó là cưỡi rồng cỡi phượng bay lên chín tầng mây.
Sáng sớm xuất phát từ Thương Ngô, chiều tối đã đến Côn Lôn. Ta muốn dừng lại chút ít trên ngọn núi thần này, ngẩng đầu nhìn đã thấy hoàng hôn mờ mịt. Thái dương ơi người đi chậm chút, đừng vội vã lặn về phía núi Yêm Tư ở phương Tây. Đường phía trước dài lại xa, ta sẽ trên dưới mà tìm tòi.
Ta uống ngựa ở Thiên Trì, lại từ thần mộc bẻ xuống cành lá phẩy động ánh mặt trời, tạm thời tự tại tiêu diêu nơi thiên quốc. Ta muốn để Nguyệt Thần làm tiên phong, để Phong Thần đi theo phía sau, rồi mới đi động viên thần điểu. Ta lệnh phượng hoàng ngày đêm bay lượn, ta lệnh vân nghê dọc đường tùy tùng, cả đội ngũ tan tan hợp hợp, trên trên dưới dưới một mảnh náo nhiệt.
Cuối cùng đến Thiên môn, ta xin người canh giữ của Thiên Đế mở Thiên môn, thế nhưng, hắn lại tựa vào bên cửa nhìn bằng ánh mắt lạnh lùng. Mặt trời đã lặn núi, ta vừa kết dây U Lan vừa đứng lặng hồi lâu vô cùng phiền não. Người nhìn xem thế sự vẩn đục thế nào, ngay cả những điều tốt đẹp nhất cũng bị đố kỵ hủy hoại.
Rạng sáng hôm sau ta vượt qua Thần Hà, lên đồi cao buộc ngựa, ngẩng đầu nhìn bốn phía lại rơi lệ: Trên đồi cao, thần nữ trong lòng ta vẫn chưa tìm thấy.
Ta vội vàng bẻ một bó cành Quỳnh từ Xuân Cung, nhân lúc hoa tươi chưa tàn, cầm nó đi tìm kiếm nhân gian. Ta tháo dây đeo nhờ người đi tìm Lạc Thần, con gái của Cổ đế Phục Hy, nhưng nàng ấp a ấp úng lại tự mệnh danh cao quý, nói tối muốn đến nơi khác ở, sáng sớm lại muốn đi xa tắm tóc. Cậy vào nhan sắc kiêu ngạo như vậy, suốt ngày dạo chơi không hiểu lễ nghi, ta quay đầu đi tìm kiếm nơi khác, lại nhìn thấy mỹ nữ Giản Địch từng nuôi dưỡng tộc Thương. Ta để chim Trĩ làm mai, nhưng tình hình có vẻ không tốt. Chim cu gáy ngược lại là miệng lưỡi linh hoạt, nhưng nó thật quá nhẹ dạ. Cuối cùng tìm đến phượng hoàng đi đưa lễ vật, nhưng muộn rồi, vị đế vương tên Cao Tân kia đã đến trước ta rồi. Trong lòng ta còn có hai cô nương họ Diêu bên cạnh vua nhà Hạ, nhưng nghĩ lại người mai mối đều quá ngốc, sự việc vẫn là không đáng tin...
Giai nhân các đời đều hư ảo, quân chủ hiền minh lại ngủ mộng đảo điên. Tình hoài của ta có thể dãi bày cùng ai, ta làm sao nhẫn nại đến khi sinh mệnh kết thúc?
Ta bói lên trời: "Mỹ mỹ tất hợp, ai mà không mộ? Cửu Châu rộng lớn, lẽ nào chỉ có nơi này mới có giai nhân?"
Lời bói đáp: "Mau chóng ra đi, đừng nghi hoặc nữa. Thiên hạ nơi nào không cỏ thơm, hà tất cứ mãi hoài niệm nơi cũ!"
Phải rồi, người ở đây nhét đầy ngải thảo bên thắt lưng, lại khăng khăng nói không thể đeo U Lan trên người; người ở đây đổ đầy phân đất vào túi thơm, lại khăng khăng nói Thân Tiêu không có hương thơm. Ngay cả ưu khuyết của cỏ cây cũng không phân biệt được, họ làm sao có thể thưởng thức ngọc quý?
Tuổi chưa già, vẫn còn xuân quang, nhưng ta sợ hãi biết bao tiếng kêu của chim đỗ quyên đột nhiên vang lên, tuyên bố mùa hoa tàn đã đến, trăm cỏ mất hương thơm. Thực ra, mọi thứ vốn dĩ vô thường, U Lan ta vừa khen ngợi, cũng dần dần biến thành ngải thảo; Thân Tiêu ta vừa đồng thuận, cũng càng lúc càng trở nên hoang đường. Thời tục đã thành trào lưu, ai có thể giữ được phong thái ban đầu? U Lan, Thân Tiêu còn như thế, các loại hoa cỏ khác càng có thể tưởng tượng được. Chỉ có ngọc bội của ta vẫn còn cao quý, ta phát hiện mọi người đều đang cố ý che lấp ánh hào quang của nó, ta lo tiểu nhân cuối cùng sẽ làm tổn thương nó.
Ta quyết định vẫn phải hướng mặt về phía Côn Lôn. Chọn ngày lành tháng tốt, lấy cành Quỳnh và vụn ngọc làm lương khô.
Vẫn là phượng hoàng tung cánh, vân nghê bay lượn, nghìn ngựa phi nước đại, giao long dựng cầu. Vượt qua Lưu Sa, Xích Thủy, vòng qua núi Bất Chu chỉ thẳng Tây Hải... Đột nhiên ta buông dây cương làm chậm tốc độ, thần tư xa xăm nhớ lại khoảng thời gian vui vẻ tấu Cửu Ca, nhảy Thiều Vũ.
Ta đã thăng hoa trên chín tầng trời huy hoàng, lại vẫn còn ngoảnh đầu nhìn từ trên cao trông ngóng cố hương. Ngay cả người hầu của ta cũng lộ vẻ bi thương, ngay cả ngựa của ta cũng cong người không chịu bước về phía trước.
Ài, thôi đi! Đã quốc trung không ai hiểu ta, ta lại hà tất hoài niệm cố hương? Đã không thể thi hành mỹ chính, ta tạm lấy tiền nhân Bành Hàm làm gương!
Dùng văn xuôi nông cạn như vậy để biểu đạt "Ly tao", có lẽ sẽ khiến các chuyên gia Sở Từ không vui. Thế nhưng, ta hiểu độc giả của mình, họ dù có tu dưỡng văn cổ rất tốt, một khi bị ta dẫn vào hệ thống đối thoại khẩu ngữ hiện đại, thì cũng không quá muốn thay đổi bước chân cổ đại trong cùng một bài văn, dù chỉ là một đoạn nhỏ. Đây cũng là sự khác biệt lớn giữa văn xuôi và luận văn học thuật. Sự biểu đạt nông cạn như vậy tất nhiên sẽ mất mát nhiều thứ, nhưng lại có khả năng lưu giữ một luồng khí, tức là xu thế tổng thể của logic thi hóa.
Năm
Ít nhất cũng coi như đã gần gũi một cách thông tục được một lần nhỉ.
Từ đó có thể biết, bắt đầu từ Khuất Nguyên, tâm thế cơ bản của văn nhân Trung Quốc đã thay đổi, đã có nhiều hơn những diễn ngôn cá nhân. Mặc dù trong đó cũng liên quan đến dân sinh và quân chủ, nhưng điểm xuất phát và kết thúc của toàn bộ diễn ngôn lại đều là chính mình. Dựa vào tâm mình, nói lời mình, nói cho mình nghe. Người khác nghe được, không phải bản nguyện, vì thế cũng không thể có mảy may tranh cãi với người khác.
Cái tôi này, vô cùng mạnh mẽ lại vô cùng yếu đuối. Mạnh mẽ đến mức trời đất đều là chính mình, mặc sức dọc ngang; yếu đuối đến mức gió sương cũng thành kẻ địch, sợ hãi thời tiết thay đổi, thậm chí không thể chịu nổi tiếng chim hót hoa rơi, hương thảo già đi.
Cái tôi như vậy vừa đứng lên, văn hóa Trung Quốc không còn là văn hóa Trung Quốc trước kia nữa.
Mưu quyền đế vương có thể làm hại ông, nhưng không thể kiểm soát ông; Nho gia Đạo gia có thể nuôi dưỡng ông, nhưng không thể cứu rỗi ông. Tiếng nói phát ra từ một sinh mệnh cô độc đa sầu đa cảm dường như vô lực thay đổi quốc kế dân sinh, nhưng khiến mỗi người nghe được đều sẽ cúi đầu suy nghĩ về sinh mệnh của chính mình.
Vì thế, ông vẫn cô độc nhưng lại không còn cô độc, ông vì đánh thức những mật khu tâm hồn từ lâu bị chôn vùi bởi diễn ngôn chung của mọi người mà tạo ra hiệu ứng chấn động mạnh mẽ. Ông khiến rất nhiều người Trung Quốc chuyển chiến trường nhân sinh vào nội tâm, dần dần lĩnh ngộ ở đó mới có thơ và văn học đích thực, vì thế, ông cũng từ rìa văn hóa bước vào trung tâm.
Bắt đầu từ Khuất Nguyên, việc văn nhân Trung Quốc bị đố kỵ chịu vu khống, sẽ trở thành một chủ đề xuyên suốt hơn hai nghìn năm. Hơn nữa, tất cả sự cao quý và tốt đẹp, cũng đều sẽ sản sinh từ chủ đề này.
Tại sao Khuất Nguyên hy vọng thái dương đừng quá vội vã lặn về phía Tây ở núi Yêm Tư? Tại sao lo lắng tiếng chim đỗ quyên kêu? Tại sao tuyên bố phải trên dưới mà tìm tòi? Tại sao thề dù chín chết vẫn không hối hận? Bởi vì một khi bị đố kỵ vu khống, thời gian và con đường sinh mệnh đều bị tước đoạt, ông phải dốc hết sức lực cuối cùng để tranh giành. Sự chia ly và không nỡ của ông, cũng đều liên quan đến điều này. Quy trình tinh thần này của Khuất Nguyên, đã bị lịch sử văn hóa Trung Quốc sau đó lặp lại hàng nghìn lần, mặc dù thường lặp lại một cách không đặc sắc lắm.
Bắt đầu từ Khuất Nguyên, văn học Trung Quốc mở ra thế đối đầu gần gũi của hai tầng ý tượng. Một bên là đố kỵ, lời dèm pha, đảng nhân,Quần tiểu (quần tiểu), chó lợn, tham lam, vẩn đục, lưu tục, phân rác, tiêu ngải; một bên là người đẹp, U Lan, cúc thu, thanh bạch, trung chính, tìm tòi, bay lượn, tu năng, Côn Lôn, phượng hoàng. Thế đối đầu này, có tả thực, càng là tượng trưng, thi nhân liền sinh tồn giữa hai bên, vì thế luôn luôn ở trong mài nạn mà theo đuổi, lại ở trong theo đuổi mà mài nạn. Thi nhân vốn dĩ tất nhiên muốn đặt mình vào bên người đẹp, U Lan, nhưng bên kia luôn gắng sức kéo ông, khiến ông không thể không cả đời ở trong giãy giụa.
Sự giãy giụa của Khuất Nguyên gợi mở độc giả hậu thế, người thường đều có giãy giụa về vật chất và giãy giụa về sinh lý, nhưng giãy giụa của thi nhân không ở đó. Sự giãy giụa của Khuất Nguyên càng nói cho văn học Trung Quốc biết, thế nào là cao quý trong giãy giụa, thế nào là giãy giụa trong cao quý.
Sự cao quý của Khuất Nguyên từ trong ra ngoài không đâu không có, nhưng điểm xuất phát của nó lại là nỗi đau sau khi gánh vác sứ mệnh. Dùng nỗi đau trực tiếp nấu thành cao quý dường như không thể tin nổi, Khuất Nguyên đã cung cấp khuôn mẫu sớm nhất.
Khuất Nguyên không giống như Chư tử bách gia luôn biểu hiện ra đại đạo trong tâm, bình tĩnh thong dong, không kinh không ngạc. Ngược lại, ông có quá nhiều kinh ngạc, quá nhiều bất lực, quá nhiều không nỡ, vì thế lại đi kèm với quá nhiều nước mắt và tiếng thở than. Ông rất lạ lùng tại sao U Lan lại biến thành Tiêu Ngải, ông càng không hiểu tại sao người đẹp luôn khó gặp, minh quân luôn không tỉnh. Ông càng kinh ngạc tại sao chúng nhân lại thích tin đồn nhảm đến thế, lại lạnh nhạt với người hiền lương đến thế... Tóm lại, ông có quá nhiều nghi vấn, quá nhiều băn khoăn. Ông từng viết "Thiên vấn" nổi tiếng, thực ra trong lòng chôn giấu nhiều hơn những "Thế vấn" và "Nhân vấn". Ông là người đặt câu hỏi, chứ không phải người giải đáp, đây cũng là sự khác biệt lớn giữa ông và Chư tử bách gia.
Hơn nữa, không giống sự lưu đày chủ động của Chư tử bách gia, Khuất Nguyên còn mở ra một kiểu lưu lạc bị động của đại văn nhân. Trong bị động lại không mất đi sự tự do hữu hạn và văn tài vô hạn, vì thế cũng mở ra lịch sử văn hóa biếm quan (quan bị giáng chức) của Trung Quốc.
Từ đó có thể thấy, Khuất Nguyên đã tạo ra định vị nào đó cho thơ, tạo ra định vị nào đó cho văn học, cũng tạo ra định vị nào đó cho thi nhân và văn nhân.
Thế nhưng xin thứ lỗi cho tôi nói thẳng, vị Khuất Nguyên mà gần như ai ai ở Trung Quốc cũng biết này, hơn hai nghìn năm qua vẫn cứ cô tịch.
Mặc dù có rất nhiều người bắt chước, nhưng lại luôn khó đạt được thần thái của ông. Một số văn nhân trong trải nghiệm và tinh thần có sự gặp gỡ cục bộ với ông, nhưng cuối cùng lại lỡ mất cơ hội. Còn như hình thái cái tôi, hình thái chia rẽ, hình thái giãy giụa, hình thái cao quý và hình thái nghi vấn mà ông khai sáng, trong văn học Trung Quốc phần lớn đều đã mất mát.
Đây là một đề tài nặng nề mà mọi người đều đang né tránh, trong bài văn này cũng không kịp thuật lại chi tiết. Tôi chỉ có thể mượn một câu ngắn xuất hiện lặp đi lặp lại trong "Chiêu hồn" của Khuất Nguyên, để tạm kết thúc chủ đề lần này——
Hồn hề quy lai!
Điểm bình một:
Thạc sĩ văn học, CEO của một website văn học nói, Khuất Nguyên là một người không thành công, tại sao ông không xây dựng mối quan hệ tốt với Sở Vương nhỉ, như thế ông đã có khả năng trở thành CEO văn học, thay vì trầm giang cho cá ăn rồi! Trong thời đại con người trở thành công cụ của sự "thành công" của chính mình, tài phú là vua, cuộc sống thi tính gần như là danh từ đồng nghĩa với xa xỉ. Thi nhân vì có lời trong lòng mà tự cách ly. (Lão Ngu)
Điểm bình hai:
Thi nhân là gì? Là "phẫn thanh" (angry youth) cô độc. "Ly tao" là gì? Là u phẫn, lao tao (oán than). Nếu đời không có Khuất Nguyên, có lẽ sẽ không có cách nói kiểu "phẫn nộ xuất thi nhân". Sự tráng khoát điêu đứng của Lý Bạch, sự bi phẫn trầm uất của Đỗ Phủ đang tích cực hưởng ứng "Ly tao". Quan trọng nhất, Khuất Nguyên đã gieo xuống hạt giống ưu hoạn, bi mẫn cho văn nhân hậu thế, nhưng cũng rất có thể đã gieo xuống hạt giống màu mè. (Mã Sách)
Điểm bình ba:
Hôm nay, chúng ta cảm nhận rõ ràng thơ ca giống như cầu vồng trên trời, khiến người ta ngưỡng mộ sùng bái, mà lại xa không thể với tới. Tác giả nói cho chúng ta biết, "Kinh Thi" chính là viết giữa khói bếp vạn nhà, viết trong tiếng bước chân của bách tính, đều ở bên cạnh chúng ta, đều ở trong mắt, trong đáy lòng chúng ta.
Thế nhưng sự diễm lệ kỳ diệu của cuộc sống, không thể móc ra được thi tâm của mỗi người. Hoa nở hoa tàn, vạn vật có tình, dòng sông chảy xiết, sóng vỗ vách đá, chỉ những người tĩnh tâm đối mặt tâm hồn, độc ngộ núi sông, thần tư ngao du, mới có thể trở thành chủ nhân của thơ. Khuất Nguyên chính là người ngâm xướng nơi vách đá như vậy, "Nguyễn Tương lưu bất tận, Khuất tử oán hà thâm". Lịch sử quyết liệt ghi nhớ Sự tráng mỹ mỹ (tráng mỹ) trên dưới tìm tòi của Khuất Nguyên, cũng từng ghi lại sự mất ngủ bất hủ trong "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Tịch đời Đường. Từ đó suy ra: Tại sao chúng ta không thể gần gũi với thơ như tổ tiên? Tại sao chúng ta lại càng ngày càng ít có những tình cảm sâu sắc mà hoa mỹ? Phồn vinh vật chất lẽ nào là kẻ thù của linh hồn? Hồn hề quy lai, Khuất Nguyên đang "chiêu hồn", tác giả cũng đang gào thét. (Xa Chí Bân)