Trong lúc Frank lái xe, tôi đã nhai ngấu nghiến hết một đoạn cam thảo đỏ dài đến gần hai mét, và hẳn sẽ ăn thêm được cả hai mét nữa nếu vẫn còn.
“Cô chờ ở đây.” Frank bảo tôi khi xe tấp lại bên đường đất nhỏ chạy bên hông nhà ông – một trong dãy các xe moóc bên một lùm cây hoang mạc. “Tôi sẽ vào báo với Annette có cô đến.”
Mấy phút sau họ cùng nhau bước ra. Annette dáng đẫy đà, tóc muối tiêu, nhìn vẻ mặt là biết bà ấy có phần nghi ngờ và không chào đón tôi. “Cô chỉ có thế này thôi à?” Bà cằn nhằn khi Frank kéo cái ba lô của tôi từ xe tải ra. Tôi theo họ vào trong, ở đó Frank lập tức biến ngay vào trong phòng tắm.
“Cứ tự nhiên như ở nhà nhé.” Annette nói, tôi đồ rằng nghĩa là tôi nên ngồi vào bàn ăn gần sát bếp trong khi bà ấy làm cho tôi ít thức ăn. Chiếc ti vi om sòm nằm ở góc xa của cái bàn, tiếng to đến mức gần như chẳng nghe thấy gì. Một câu chuyện khác về vụ xét xử O. J. Simpson. Tôi ngồi xem cho đến tận khi Annette đến và đặt đĩa thức ăn xuống trước mặt tôi, rồi tắt ti vi đi.
“Suốt ngày O. J thế này O. J thế kia.” Bà nói. “Bọn trẻ con đang chết đói ở châu Phi thì chẳng thấy đâu. Cô ăn đi.” Bà chỉ vào thức ăn của tôi.
“Cháu sẽ chờ ạ.” Tôi nói, giọng bình thường để cố che đi cơn thèm. Tôi nhìn xuống đĩa thức ăn. Một ụ đầy những xương sườn hun khói, ngô đóng hộp và xa lát khoai tây. Tôi định đứng dậy để đi rửa tay, nhưng lại sợ làm thế sẽ trì hoãn bữa tối. Chẳng vấn đề gì. Cái khái niệm phải rửa tay trước khi ăn giờ đã xa lạ với tôi chẳng khác nào chương trình tin tức trên ti vi.
“Ăn đi!” Annette ra lệnh, đặt một cốc nhựa đầy dâu tây Kool-Aid trước mặt tôi.
Tôi xúc một thìa đầy xa lát khoai tây tọng vào mồm. Ngon tới sững sờ luôn.
“Cô là sinh viên à?”
“Vâng.” Tôi nói, hy vọng kỳ cục rằng bà ấy trông tôi giống sinh viên thật, mặc dù tôi bẩn thỉu và bốc mùi. “Đã từng ạ. Cháu tốt nghiệp được bốn năm rồi ạ.” Tôi nói, rồi ăn một miếng nữa, nhận ra rằng thực ra đó là một lời nói dối. Mặc dù tôi đã hứa với mẹ vào những ngày cuối đời của bà rằng sẽ lấy bằng cử nhân, nhưng tôi đã không làm thế. Mẹ ra đi vào ngày thứ hai trong kỳ nghỉ mùa xuân, và tôi đã quay trở lại trường học vào ngày thứ hai tiếp theo. Tôi đã lê lết qua hết các lớp học của kỳ học cuối cùng đó với nỗi khổ đau, nhưng cuối cùng không nhận được bằng vì thiếu mất một thứ: bài luận dài năm trang cho lớp tiếng Anh trung cấp. Bài luận ấy hoàn toàn không khó, nhưng khi tôi cố gắng viết, tôi chỉ có thể nhìn vào màn hình máy tính trống trơn. Tôi bước qua bục sân khấu với mũ đội đầu và áo choàng cử nhân và nhận một cuộn giấy nhỏ người ta trao cho, nhưng khi tôi mở ra, nó thông báo điều mà tôi đã biết: rằng nếu không hoàn thành bài luận đó, tôi sẽ không có bằng cử nhân. Tôi chỉ có khoản nợ tiền trợ cấp học đại học, mà theo như tính toán, tôi sẽ phải trả dần cho đến tận năm 43 tuổi mới xong.
Sáng hôm sau, Frank cho tôi xuống ở một cửa hàng tiện ích trên đường cao tốc, sau khi hướng dẫn tôi đi nhờ đến một thị trấn tên là Ridgecrest. Tôi ngồi ở hiên trước của cửa hàng cho đến khi một gã giao khoai tây chiên đến và đồng ý khi tôi xin đi nhờ, mặc dù công ty quy định là không được cho người đi nhờ. Tên anh là Troy, anh bảo thế khi tôi leo lên chiếc xe tải khổng lồ. Anh lái xe khắp miền nam California này năm ngày một tuần, giao những gói khoai tây chiên đủ các thể loại. Anh kết hôn với cô người yêu từ hồi cấp ba đến nay đã được 17 năm, lúc đó anh 17 tuổi.
“17 năm tự do ngoài lồng, và 17 năm trong lồng.” Anh nói đùa, mặc dù trong giọng nói lộ vẻ nuối tiếc. “Tôi có thể làm bất cứ thứ gì để đổi vị trí với cô.” Anh nói khi chúng tôi đã lái xe đi. “Tôi là một tâm hồn tự do chưa bao giờ dám để mình tự do.”
Troy thả tôi xuống Cửa hàng Thiết Bị Ngoài Trời của Todd. Đích thân ông Todd đã tháo hết cái bếp của tôi ra, lau chùi nó, lắp một bình lọc ga mới, bán cho tôi đúng loại ga nó cần, rồi để tôi bật thử để chắc chắn là cái bếp đã dùng được. Tôi mua thêm băng dính và băng 2nd Skin để dán vào phần bị thương rồi đến một nhà hàng, gọi một cốc mạch nha sô cô la và bánh kẹp pho mát với khoai tây chiên. Cảm giác y như bữa ăn tối hôm trước: miếng nào cũng ngon đến rụng rời. Sau đó, tôi đi bộ khắp thị trấn khi những chiếc xe hơi lướt qua, những khuôn mặt của lái xe và hành khách quay lại nhìn tôi với cái nhìn tò mò, tọc mạch. Tôi đi qua những cửa hàng bán thức ăn nhanh và những đại lý xe hơi, không chắc là nên giơ ngón tay cái lên để xin đi nhờ hay qua đêm ở Ridgecrest và ngày hôm sau quay về đường mòn PCT. Khi tôi đang đứng gần một ngã tư và cố gắng tìm đường, một người đàn ông trông lôi thôi lếch thếch đạp xe dừng lại bên cạnh tôi. Ông ta cầm một túi giấy nhăn nhúm.
“Cô đang rời thị trấn hả?” Ông ta hỏi.
“Có thể ạ.” Tôi nói. Chiếc xe đạp quá nhỏ so với ông ta – xe này cho mấy cậu nhóc con chứ không phải cho một người đàn ông – khung xe vẽ vời những ngọn lửa sặc sỡ.
“Cô định đi hướng nào?” Ông ta hỏi. Người ông ta nặng mùi đến mức tôi suýt phát ho, mặc dù tôi đoán rằng người tôi cũng nặng mùi chẳng kém. Sau bữa tối hôm trước tôi đã tắm rửa ở chỗ Frank và Annette, nhưng quần áo đang mặc thì vẫn là đồ bẩn.
“Có thể tối nay tôi ở lại một nhà nghỉ.” Tôi bảo ông ta.
“Đừng!” Ông ta gầm lên. “Tôi làm thế xong rồi họ tống tôi vào tù đấy.”
Tôi gật đầu, té ra ông ta nghĩ tôi giống ông ta. Một kẻ du đãng. Một kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Không phải là một cô sinh viên, thậm chí đã-từng-là-sinh-viên. Tôi còn không cố giải thích cho ông ta biết về con đường mòn PCT.
“Cô cầm lấy này.” Ông nói, đưa cho tôi cái túi giấy. “Đây là bánh mì và xúc xích hun khói. Cô có thể làm bánh kẹp.”
“Cảm ơn, tôi không lấy đâu.” Tôi nói, vừa thoái thác lại vừa thấy cảm động với lời đề nghị của ông.
“Cô từ đâu đến?” Ông hỏi, chần chừ không muốn đạp xe đi.
“Minnesota.”
“Ơ!” Ông kêu lên, khuôn mặt nhọ nhem toét ra một nụ cười. “Cô là chị em của tôi. Tôi quê Illinois, Illinois với Minnesota là hàng xóm đấy.”
“Ừm, gần là hàng xóm thôi ạ – vẫn có Wisconsin ở giữa cơ mà.” Tôi nói, và ngay lập tức thấy hối tiếc vì không muốn làm ông mất hứng.
“Nhưng thế vẫn là hàng xóm rồi.” Ông nói, giơ tay ra, hạ xuống thấp để tôi có thể đập tay với ông.
Tôi đập tay với ông ấy.
“Chúc may mắn!” Tôi nói khi ông đạp xe đi.
Tôi đi bộ đến một cửa hàng tạp hóa và đi tới đi lui những lối đi trong cửa hàng trước khi động vào bất cứ thứ gì, lóa mắt với núi đồ ăn ở đó. Tôi mua vài thứ để bù lại chỗ thức ăn tôi đã ngốn hết khi không thể nấu ăn được, và đi dọc một con đường đông đúc xe qua lại cho đến tận khi tìm được một chỗ trông có vẻ như là nhà nghỉ rẻ nhất trong thị trấn.
“Tôi tên là Bud.” Người đàn ông sau quầy nói khi tôi hỏi phòng. Ông có vẻ mặt của người ti tiện và húng hắng ho kiểu người hút thuốc lá. Xương quai hàm bạnh ra ở hai bên khuôn mặt nhăn nheo. Khi tôi nói với ông chuyện đi bộ trên đường mòn PCT, ông khăng khăng muốn giặt quần áo cho tôi. “Chỉ cần ném vào máy với ga giường với khăn tắm thôi mà. Có gì đâu!” Ông nói khi tôi từ chối.
Tôi vào phòng, cởi đồ, mặc quần áo đi mưa, mặc dù đó là một ngày tháng sáu nóng nực; rồi quay trở lại khu lễ tân và đưa đống quần áo bẩn chẳng nhiều nhặn gì cho Bud, hơi ngượng ngùng và cảm ơn ông ta lần nữa.
“Tại tôi thích cái vòng tay của cô. Nên tôi mới hỏi giúp cô.” Bud nói. Tôi kéo tay áo mưa lên và chúng tôi nhìn nó. Nó là cái vòng cườm bạc đã phai màu, chiếc vòng POW/MIA mà Aimee đã đeo vào cổ tay tôi khi chúng tôi chia tay nhau trên một con đường Minneapolis mấy tuần trước.
“Xem cái vòng này là từ ai nào.” Ông với tay qua quầy và chộp lấy cổ tay tôi, xoay nhìn nó rồi đọc to mấy chữ: “William J. Crockett” xong thả tay tôi ra. Aimee đã tìm hiểu và nói cho tôi biết William J. Crockett là ai: một phi công chỉ mới qua sinh nhật lần thứ 26 được hai tháng thì máy bay của anh bị bắn hạ ở Việt Nam. Cô ấy đã đeo chiếc vòng tay ấy nhiều năm trời mà chưa từng tháo ra. Kể từ lúc cô ấy đưa nó cho tôi, tôi cũng chưa tháo ra lần nào. “Tôi cũng là cựu binh chiến tranh Việt Nam, nên tôi hay để ý những thứ như thế này. Cũng tại thế nên tôi cho cô ở cái phòng duy nhất có bồn tắm của chúng tôi.” Bud nói. “Tôi ở đó hồi năm 63, mới có 18 tuổi. Nhưng giờ thì tôi phản đối chiến tranh. Tất cả các thể loại chiến tranh. Phản đối 100%. Trừ mấy trường hợp nhất định.” Có một điếu thuốc đang cháy dở trong một cái khay nhựa gần đó, Bud cầm lên nhưng không đưa lên miệng. “Tôi đoán cô biết năm nay tuyết rơi rất nhiều ở Sierra Nevada chứ hả.”
“Tuyết ấy ạ?” Tôi hỏi.
“Năm kỷ lục đấy. Chỗ nào cũng tuyết. Có văn phòng Quản lý Nhà đất trong thị trấn đấy, hay cô gọi mà hỏi xem tình hình thời tiết thế nào.” Ông nói và hít một hơi. “Một hoặc hai tiếng nữa sẽ có quần áo sạch cho cô.”
Tôi trở lại phòng, tắm rồi ngâm người trong bồn. Sau đó, tôi kéo tấm phủ ga giường ra rồi nằm trên ga giường. Phòng tôi ở không có điều hòa nhiệt độ nhưng tôi vẫn thấy mát mẻ. Tôi cảm thấy khoan khoái chưa từng có trong đời, khi giờ đây con đường mòn đã dạy tôi rằng tôi có thể phải chịu đựng cảm giác khủng khiếp như thế nào. Tôi ngồi dậy, lục lọi ba lô, rồi quay trở lại giường và đọc cuốn Khi tôi nằm chết trong khi những lời nói của Bud về tuyết rơi dày cứ luẩn quẩn trong đầu.
Tôi biết tuyết. Gì thì gì tôi cũng lớn lên ở Minnesota. Tôi đã xúc tuyết, lái xe trên tuyết, và nặn tuyết để ném. Tôi đã thấy tuyết qua cánh cửa sổ nhiều ngày trời rơi xuống thành chồng rồi nằm cứng trên mặt đất hàng tháng liền. Nhưng tuyết ở đây lại khác. Tuyết bền bỉ phủ lấy Sierra Nevada đến mức dãy núi này được đặt tên theo nó – trong tiếng Tây Ban Nha, Sierra Nevada nghĩa là “xứ tuyết”.
Thật buồn cười là từ đầu tôi đã đi bộ trên xứ tuyết ấy rồi – những ngọn núi cằn cỗi tôi đã qua kể từ khoảnh khắc đặt chân lên con đường PCT về lý thuyết chính là một phần của Sierra Nevada. Nhưng chúng không phải là High Sierras – vùng mỏm núi và vách đá hoa cương hùng vĩ bên ngoài đồng cỏ Kennedy mà nhà văn, cũng là người leo núi chuyên nghiệp, John Muir hơn 100 năm trước đã có chuyến thám hiểm nổi tiếng và hết lời ca ngợi nó. Trước chuyến đi này, tôi chưa từng đọc sách của Muir về Sierra Nevada nhưng tôi biết ông là người sáng lập nên câu lạc bộ Sierra. Ông đã cứu vớt Sierra Nevada khỏi bàn tay của những người chăn cừu, hoạt động khai mỏ, du lịch phát triển và nhiều sự xâm phạm khác của xã hội hiện đại – công việc đó đã trở thành đam mê cả đời ông. Nhờ có ông và những người ủng hộ mà phần lớn Sierra Nevada vẫn còn là vùng đất hoang dã cho đến ngày nay. Vùng đất hoang dã mà bây giờ rõ ràng tuyết đang vây mọi lối.
Tôi không hoàn toàn ngạc nhiên. Các tác giả trong cuốn sách hướng dẫn đã cảnh báo về tuyết ở High Sierras, và tôi đã chuẩn bị tinh thần rồi. Hoặc ít nhất là trước khi bắt đầu chuyến đi, tôi đã tin chuẩn bị như thế này là đủ: tôi mua một cái rìu phá băng, và gửi nó trong hộp cứu trợ tôi sẽ lấy khi đến vùng Đồng cỏ Kenedy. Tôi đã giả định thỉnh thoảng mới cần đến cái rìu ấy, cho những đoạn đường cao nhất. Cuốn sách hướng dẫn đảm bảo với tôi rằng trong một năm bình thường, hầu như tuyết sẽ tan hết trước thời điểm tôi leo đến High Sierras – khoảng cuối tháng sáu đầu tháng bảy. Nhưng đó có phải là một năm bình thường hay không thì tôi chẳng nghĩ tới mà tìm hiểu.
Tôi tìm thấy một cuốn danh bạ điện thoại ở bàn đầu giường và lật giở, rồi nhấn số đến văn phòng địa phương ở Phòng Quản lý Nhà đất.
“Ồ, đúng rồi, có rất nhiều tuyết ở đó.” Người phụ nữ đó trả lời. Cô không biết số liệu cụ thể như thế nào, cô bảo tôi thế, nhưng biết chắc chắn đây là năm tuyết rơi kỷ lục ở Sierras. Khi tôi nói rằng tôi đang đi bộ trên PCT, cô ấy bảo sẽ cho tôi đi nhờ đến đó. Tôi gác máy, cảm thấy nhẹ nhõm vì không phải vẫy tay đi nhờ xe hơn là lo lắng vì tuyết rơi. Tuyết hãy còn xa xôi lắm.
Người phụ nữ tốt bụng ở Phòng Quản lý Nhà đất chở tôi quay trở lại con đường mòn, tới một chỗ gọi là đèo Walker vào buổi chiều hôm sau. Nhìn cô ấy lái xe đi rồi, tôi cảm thấy vừa dạn dĩ vừa có chút tự tin hơn so với chín ngày trước khi mới bắt đầu hành trình. Những ngày trước đó, tôi bị một con bò Texas sừng dài vây đuổi, bị xây xát và thâm tím khắp người vì ngã và các kiểu tai nạn, và phải rẽ đường sang một con đường hẻo lánh để vòng qua một ngọn núi sắp bị cho nổ tung. Tôi đã đi qua những chặng dài hoang mạc, đi lên rồi đi xuống không biết bao nhiêu là núi đồi, và đã trải qua nhiều ngày không nhìn thấy một bóng người nào. Bàn chân tôi chai cứng, người tôi trầy trợt cho đến khi chảy máu, và chẳng phải chỉ mang mỗi cái thân tôi qua những chặng dài hoang vu khấp khểnh mà còn phải thồ cả cái ba lô nặng quá nửa trọng lượng của tôi. Và tôi đã làm tất cả chỉ có một mình.
Cũng đáng đấy chứ? Tôi đã nghĩ vậy khi đi bộ xuyên qua khu cắm trại mộc mạc gần đèo Walker và tìm được một nơi để dựng lều. Lúc ấy đã muộn nhưng trời vẫn còn sáng, khi đó đã là tháng sáu, tuần cuối cùng của mùa xuân. Tôi dựng lều và nấu bữa ăn nóng sốt đầu tiên trên con đường mòn này bằng cái bếp mới được sửa – hạt đậu khô và gạo – và tôi nhìn ánh sáng đang nhạt màu dần trên bầu trời như một màn phô sắc tuyệt vời trên các đỉnh núi, cảm tưởng mình là người may mắn nhất trên đời. Nơi đó cách đồng cỏ Kennedy hơn 83 cây số, cách chỗ lấy nước đầu tiên của tôi gần 26 cây.
Sáng ra, tôi lại chất ba lô, nước nôi lại được tiếp đầy đủ, rồi băng qua cao tốc 178. Con đường tiếp theo vắt ngang qua Sierra Nevada là khoảng 241 km theo đường chim bay về phía bắc, gần Đồng cỏ Tuolumne. Tôi đi dọc theo đoạn lên dốc lởm chởm của đường mòn PCT trong cái nắng nóng của buổi sáng, nhìn quanh đâu đâu cũng thấy núi, khi xa khi gần – núi Scodies ở gần về hướng nam, núi El Paso xa xa bên phía đông, và Vùng Hoang Dã Dome hướng tây bắc, chắc tôi sẽ đến được đó trong mấy ngày nữa. Với tôi, bọn chúng trông giống nhau cả thôi mặc dù mỗi núi vẫn có vẻ hơi khác biệt. Tôi đã quen được với việc lúc nào cũng nhìn thấy núi trước mặt; chỉ hết tuần vừa rồi, tầm nhìn của tôi đã thay đổi. Tôi đã điều chỉnh để nhìn toàn cảnh nhiều cây số vô tận; tôi đã quen với nhận thức rằng tôi đang đi bộ trên mặt đất ở chính cái nơi nó gặp bầu trời. Đó là chỏm núi.
Nhưng tôi hầu như không nhìn lên. Từng bước từng bước, mắt tôi dán xuống con đường cát sỏi, thỉnh thoảng trượt chân khi tôi leo lên rồi lại leo xuống. Cái ba lô rên rỉ ỉ ôi theo mỗi bước chân, âm thanh phát ra từ cái chỗ cách tai tôi có vài phân.
Khi leo bộ, tôi cố gắng bắt mình không được nghĩ về những cơn đau – ở hai vai và lưng trên, chân và hông – nhưng cũng chẳng cố được lâu. Ngang qua sườn núi phía đông của ngọn Jerkins, tôi dừng lại nhiều lần để thu vào mắt toàn cảnh rộng lớn dưới chân mình: hoang mạc trải ra mênh mông tới ngút ngàn. Đến chiều, tôi dừng lại ở một khu đá lở. Tôi nhìn lên ngọn núi và quét mắt xuống theo vạt núi lở. Một “dòng sông” đầy những hòn đá to bằng nắm tay, biến dạng và góc cạnh, choán chỗ một con đường hẳn đã từng bằng phẳng và chỉ rộng chưa tới một mét mà bất cứ người bình thường nào cũng có thể bước qua. Và tôi thậm chí còn không phải là một người bình thường. Tôi là một người với cái ba lô trời đánh thánh vật cồng kềnh và thậm chí còn không có cả một cái gậy leo núi để giữ thăng bằng. Chẳng hiểu tại sao tôi có thể quên không mang theo gậy leo núi, trong khi lại nhớ mang theo cưa gấp. Không thể tìm thấy cái gậy nào – những cái cây thấp lè tè rải rác và khẳng khiu quanh tôi đều vô dụng. Chẳng làm gì khác được, ngoài việc cứ thế mà tiến lên.
Chân tôi run lẩy bẩy khi nửa như ngồi xổm để vượt qua chỗ đá, sợ là cái tư thế đứng lom khom còn xa mới gọi là đứng thẳng tôi vẫn mang suốt chặng đường vừa qua sẽ khiến lũ đá kia bực bội mà hè nhau trượt thêm xuống dưới núi, cuốn tôi đi cùng. Tôi ngã một lần, tì mạnh lên đầu gối, và rồi đứng dậy tiếp tục vượt qua đoạn đá còn lại thậm chí còn chán ngắt buồn tẻ hơn nữa, nước trong túi bướu lạc đà trên lưng óc ách theo mỗi bước chân. Đến được phía bên đống đá lở, tôi thấy nhẹ nhõm đến nỗi chẳng đếm xỉa gì đến cái đầu gối chảy máu đang đau nhói nữa. Thế là xong rồi, tôi nghĩ thầm với lòng biết ơn sâu sắc, nhưng tôi đã lầm.
Chiều đó tôi phải vượt qua thêm ba chỗ đá lở nữa.
Tối ấy, tôi dựng lều trên một con đèo yên ngựa cao giữa núi Jenkins và núi Owen. Người tôi đau như dần vì cố sức, mặc dù tôi chỉ đi thêm được có gần 14 cây số. Tôi đã thầm nhiếc móc mình vì không đi nhanh hơn được, nhưng bây giờ, đờ đẫn ngồi trên chiếc ghế cắm trại, xúc thức ăn vào miệng từ chiếc nồi nóng đặt trên đất ở giữa hai chân, tôi chỉ thấy biết ơn vô hạn là mình đã đi xa được chừng ấy. Tôi đang ở độ cao hơn 2.100 m so với mặt nước biển, bầu trời trùm lên quanh tôi. Đằng tây là ánh tà dương nhạt dần trên mặt đất nhấp nhô, phô bày mười sắc thái da cam lẫn hồng, phía tây là thung lũng hoang mạc như trải dài ngút ngàn tầm mắt.
Dãy Sierra Nevada là một khối đơn độc trồi lên khỏi vỏ Trái đất. Dốc phía tây của nó chiếm 90% diện tích, các đỉnh dần thoải xuống những thung lũng màu mỡ và cuối cùng tìm đường đến đường bờ biển California. Gần hết chiều dài của nó song song với PCT gần 322 km về phía tây. Dốc phía đông thì hoàn toàn khác: vách dốc thẳng đứng, lao thẳng xuống một thảo nguyên hoang mạc bao la chạy hết về phía lòng chảo Đại Bồn địa ở Nevada. Trước đó tôi mới chỉ nhìn thấy Sierra Nevada duy nhất một lần, khi đó tôi đã về phía tây với Paul sau khi chúng tôi rời khỏi New York mấy tháng. Chúng tôi hạ trại ở Thung lũng Chết và ngày hôm sau lái xe hàng tiếng đồng hồ qua một vùng hẻo lánh đến mức cảm tưởng như nó chẳng thuộc về hành tinh này. Cho đến giữa ngày, Sierra Nevada đã xuất hiện ở phía chân trời phía tây – một bức tường sừng sững trắng toát trồi lên khỏi mặt đất. Bây giờ thì, ngồi trên đoạn đèo yên ngựa cao này, tôi gần như không thể gợi được hình ảnh ấy nữa. Tôi không đứng quay lưng lại với bức tường ấy nữa. Tôi đang đứng trên sống lưng của nó. Tôi nhìn ra ngoài vùng đất trong niềm ngây ngất đã bị phá đổ, quá mệt mỏi để dù chỉ là ngồi dậy và bước vào lều, cứ thế nhìn bầu trời đang đi vào tối. Phía trên tôi, Mặt trăng đang lên sáng rỡ và phía dưới tôi, ở tít xa là ánh sáng nhấp nháy từ các thị trấn Inyokern và Ridgecrest. Im lặng khủng khiếp. Sự trống vắng như đặc thành một khối nặng. Tôi nghĩ thầm, mày lao đầu đến đây. Đây chính là điều mày nhận được.
Cuối cùng tôi cũng đứng dậy và sửa soạn vào lều đi ngủ. Tôi nhận ra rằng đây là lần đầu tiên trên con đường này, tôi đã không mặc chiếc chiếc áo ngoài nhẹ có mũ trùm đầu khi Mặt trời lặn. Tôi thậm chí còn không mặc cái áo sơ mi dài tay. Dù ở độ cao hơn 2.100 m, trời cũng chẳng lạnh chút nào. Tối đó, tôi cảm ơn trời đất vì hơi ấm khoan khoái trên cánh tay trần của mình, nhưng đến mười giờ sáng hôm sau, lòng biết ơn ấy bốc hơi mất.
Cái nóng nung người dữ dội đã sấy khô người tôi.
Đến trưa, nhiệt độ khắc nghiệt và con đường trơ trụi dưới Mặt trời đến mức tôi thật sự lo sợ không biết mình có sống sót nổi hay không. Trời nóng đến mức cách duy nhất để tôi có thể tiếp tục đi là cứ đi mười phút lại nghỉ năm phút. Lúc nghỉ, tôi tu ừng ựng chai nước cũng nóng rẫy như trà mới đun. Khi đi, tôi lại không thôi rên rỉ, như thể làm như thế sẽ mát mẻ phần nào, nhưng chẳng có gì thay đổi. Mặt trời vẫn chiếu cái nhìn cháy bỏng nghiệt ngã xuống người tôi, không một mảy may quan tâm liệu tôi còn sống hay đã chết. Những bụi cây xác xơ và những cái cây rải rác vẫn thản nhiên bám trụ ở đó, như chúng đã luôn luôn thế và sẽ luôn luôn thế.
Tôi là một hòn sỏi. Tôi là một cái lá. Tôi là một cành cây gai góc. Tôi chẳng là gì đối với chúng còn chúng thì lại là tất cả với tôi.
Tôi ngồi nghỉ ở trong bất cứ bóng râm nào gặp được, ảo mộng từng chi tiết về một dòng nước lạnh. Nhiệt độ khắc nghiệt đến mức dấu ấn của nó trong ký ức tôi chẳng nhiều nhặn gì hơn một thứ âm thanh: tiếng rền rĩ thê lương như nhạc đưa đám bủa quanh tâm là cái đầu tôi. Bất kể đủ khó khăn phải chịu đựng trên đường, cho đến lúc ấy tôi chưa từng nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Nhưng bây giờ, chỉ mới được có mười ngày, tôi đã xong đời. Tôi đã muốn thoái lui.
Tôi lê lết theo hướng bắc để tới đồng cỏ Kennedy, giận dữ với chính mình vì đã nghĩ đến chuyện ngu ngốc này. Ở đâu đó, người ta đang tận hưởng những bữa thịt nướng và những ngày thư thái, thơ thẩn bên hồ và đánh giấc khoan thai. Họ có những cục đá và nước chanh và những căn phòng hai mươi mốt độ. Tôi biết những người đó. Tôi yêu quý những người đó. Tôi cũng ghét những người đó, vì họ đang ở quá xa tôi, còn tôi thì gần chết trên một con đường mà thậm chí chẳng ai từng nghe về nó. Tôi sẽ bỏ cuộc. Bỏ, bỏ, bỏ, tôi lầm rầm với bản thân khi rên rỉ, và đi và nghỉ (mười phút, năm phút, mười phút, năm phút). Tôi sẽ đến được đồng cỏ Kennedy, lấy hộp tiếp tế, ăn mọi thanh kẹo mà tôi đã gói ghém, và rồi bắt nhờ một chuyến xe đến bất cứ thị trấn nào mà người cho tôi đi nhờ xe sẽ đến. Tôi sẽ đến một bến xe buýt và từ đó đi bất cứ đâu.
Alaska, tôi quyết định ngay tức thì. Vì Alaska chắc chắn có đá lạnh.
Khi cái ý nghĩ bỏ cuộc đã an bài, tôi nghĩ ra một lý do khác để cổ xúy cho niềm tin rằng toàn bộ chuyến đi bộ qua đường mòn PCT này là một ý tưởng ngu ngốc đến kỳ dị. Tôi đã lên kế hoạch đi bộ để có thể ngẫm lại về cuộc đời tôi, để nghĩ về mọi thứ đã khiến tôi tan vỡ và khiến tôi trở về chính tôi thêm lần nữa. Nhưng sự thực là, ít nhất là cho đến lúc này, tôi chỉ bị toàn những đớn đau thể xác thường trực bủa lấy. Từ lúc bắt đầu đi, những vật vã trong đời tôi chỉ đôi lúc thoảng qua tâm trí. Tại sao, tại sao cơ chứ, tại sao mẹ tôi lại qua đời? Làm sao tôi có thể sống và vui vẻ khi không có mẹ? Gia đình tôi, từng gắn bó và mạnh mẽ nhường ấy, lại có thể tan vỡ mau lẹ và lặng lẽ như vậy ngay lúc tang thương vì cái chết của mẹ? Tôi đã làm gì khi phụ bạc cuộc hôn nhân với Paul – một người chồng mạnh mẽ, ngọt ngào và yêu tôi thắm thiết? Tại sao tôi lại để bản thân mình rơi vào chốn mịt mùng sầu thảm với ma túy, Joe và tình dục với những người đàn ông xa lạ?
Đây là những câu hỏi nặng như đá tảng trong lòng tôi suốt mùa đông rồi mùa xuân, khi tôi chuẩn bị cho chuyến đi bộ qua đường mòn Pacific Crest này. Những câu hỏi mà tôi không ngừng than van và đào xới đến từng chi tiết đau đớn trong nhật ký. Tôi đã định đánh dấu chấm hết cho tất cả những câu hỏi ấy khi đi bộ trên PCT này. Tôi đã tưởng tượng những buổi thiền định bất tận mỗi bình minh hoặc khi lặng nhìn ra xa mặt hồ trông như pha lê trên núi. Tôi đã nghĩ đến cảnh mình lau những dòng nước mắt của nỗi muộn phiền được giải tỏa và niềm vui mới đến trong mỗi ngày của cuộc hành trình. Thay vào đó, tôi lại chỉ than thở, và than thở chẳng phải vì trái tim tôi đau đớn. Mà là vì chân tôi đau, lưng tôi đau và những vết xây xát vẫn còn chưa khô miệng ở hông tôi cũng đang đau nhói. Rồi suốt tuần thứ hai trên đường mòn cũng vậy – khi mùa xuân đang ở ngay trên điểm giao thoa chính thức chuyển sang mùa hè – tôi đã than thở vì nóng đến mức cứ nghĩ đầu mình sẽ nổ tung ra mất.
Khi tâm trí không vướng bận càu nhàu về những đau đớn thể xác, tôi lại thấy trong đầu mình không ngừng tua đi tua lại các bài hát và nhạc quảng cáo chẳng theo nhịp nhạc nào cả, như thể có một đài truyền thanh pha trộn các bài hát trong đầu tôi. Nổi lên giữa thinh không yên lặng ấy, não bộ tôi đã đáp lại bằng những điệu nhạc vụn vỡ mà tôi đã nghe trong suốt quãng đời đã qua – mấy mẩu bài hát mà tôi yêu thích và những đoạn nhạc quảng cáo ồn ã khiến tôi chực phát rồ. Tôi đã dành hàng giờ để cố gắng đẩy những quảng cáo Doublemint Gum và Burger King ra khỏi đầu, rồi dành cả một buổi chiều để cố nhớ lại dòng tiếp theo trong một bài hát của nhóm Uncle Tupelo bắt đầu là “Rơi ra ngoài cửa sổ. Rón rén trên một nếp gấp thảm sàn...” Hay dành trọn một ngày để cố lắp ráp tất cả các từ của bài Something About What Happens When We Talk (Về những gì xảy ra khi chúng ta nói chuyện) của Lucinda William.
Với đôi chân như lửa đốt, da thịt xây xát, các thớ cơ và khớp xương ê ẩm, ngón tay xước da khi bị con bò rượt đuổi đang đau nhoi nhói vì bị nhiễm trùng nhẹ, đầu cứ vo vo những mảnh nhạc ngẫu nhiên, đến cuối ngày thứ mười nóng như thiêu của chuyến đi, tôi cũng bò được vào trong một lùm cây bông gòn râm mát và những cây liễu mà cuốn sách hướng dẫn gọi là Lạch Cây Tùng Tây Ban Nha. Không giống nhiều nơi khác mà cuốn sách đã liệt kê với cái tên đánh lừa người ta bằng từ con lạch, Lạch Cây Tùng Tây Ban Nha có một con lạch thật, hoặc ít nhất đối với tôi một con lạch như thế là đủ – vài cm nước hắt sáng lung linh qua mấy hòn đá dưới đáy lạch tôi tối. Ngay lập tức, tôi tháo ba lô và giày, cởi quần áo, mình trần ngồi trong lạch nước nông choèn mát mẻ, vã nước tung tóe lên mặt lên đầu. Mười ngày đi đường, tôi chưa từng nhìn thấy một ai khác, bởi vậy tôi nằm ườn ra đấy mà không phải lo có ai đó đến, hơi xây xẩm vì phấn khích khi ra sức bơm nước lạnh qua bình lọc nước và uống hết chai này đến chai khác.
Sáng hôm sau tôi thức giấc bên âm thanh êm ả của lạch Cây Tùng Tây Ban Nha, nằm ươn mình trong lều, nhìn lên bầu trời đang dần sáng qua cái nóc lều mắt lưới. Tôi ăn granola và đọc cuốn sách hướng dẫn để chuẩn bị cho con đường phía trước. Cuối cùng thì tôi cũng đứng dậy và đi vào con lạch, ngâm mình trong đó thêm một lần cuối cùng, hưởng thụ sự xa xỉ của thiên nhiên. Mới có chín giờ sáng nhưng trời đã nóng, và tôi sợ phải rời khỏi bóng râm dọc con lạch này. Nằm ngâm mình trong mười phân nước, tôi quyết định sẽ không đi qua đồng cỏ Kennedy nữa. Với tốc độ này thì còn lâu tôi mới đến nơi được. Cuốn sách hướng dẫn có nói đến một con đường sẽ vắt qua đường mòn trong vòng hơn 19 cây số nữa. Ở đó, tôi có thể làm như lần trước: đi xuôi con đường đó cho đến khi tìm được người cho đi nhờ. Chỉ có điều lần này tôi sẽ không quay trở lại nữa.
Lúc chuẩn bị rời đi, tôi nghe thấy tiếng ồn ào ở phía nam. Tôi quay lại và nhìn thấy một người đàn ông có râu quai nón, vai đeo ba lô và đang trên đường mòn tiến đến. Cây gậy leo núi của anh ta nghe rõ từng tiếng theo mỗi bước chân trên nền đất cứng.
“Xin chào!” Anh ta kêu to lên và mỉm cười. “Hẳn cô là Cheryl Strayed.”
“Vâng.” Tôi nói giọng run run, ngạc nhiên vì nhìn thấy một người khác, và cũng ngạc nhiên y như thế vì nghe thấy anh ta gọi tên tôi.
“Tôi nhìn thấy tên cô trong cuốn sổ nhật ký lữ hành.” Anh ta giải thích khi thấy vẻ mặt của tôi. “Tôi đã theo dấu cô nhiều ngày rồi.” Tôi nhanh chóng cảm thấy quen với việc giữa vùng hoang vu mà người ta đến chỗ tôi với vẻ thân quen như thế; sổ nhật ký lữ hành có tác dụng như một kiểu thư tin tức cộng đồng cho cả một mùa hè dài. “Tôi là Greg.” Anh ta nói, bắt tay tôi trước khi chỉ vào cái ba lô của tôi. “Có đúng là cô đeo cái của nợ này không?”
Chúng tôi ngồi xuống bóng râm nói chuyện về những nơi chúng tôi sẽ đến, những nơi chúng tôi đã từng qua. Anh 40 tuổi, làm kế toán ở Tacoma, Washington. Ở anh toát lên đúng vẻ dân kế toán: cẩn trọng và câu nệ. Anh đã ở trên PCT từ đầu tháng năm, bắt đầu ngay từ chỗ con đường bắt đầu là biên giới Mexico, và anh định đi thẳng đến Canada hoàn toàn đi bộ. Anh là người đầu tiên tôi gặp mà đang làm đúng cái việc tôi cũng đang làm, mặc dù hành trình của anh dài hơn rất nhiều. Anh không cần tôi giải thích đang làm cái gì ở ngoài này. Anh ấy hiểu.
Khi chúng tôi nói chuyện, tôi vừa cảm thấy hân hoan vì có bạn đồng hành, vừa bị thoái chí vì ngày càng nhận ra Greg là một giống loài hoàn toàn khác với tôi: anh chuẩn bị cực kỳ tỉ mỉ kỹ càng, còn tôi thì không; anh thao thao bất tuyệt những điều về con đường mòn mà thậm chí tôi còn chẳng biết là có tồn tại. Anh đã lên kế hoạch cho chuyến đi này nhiều năm trời, thu thập thông tin bằng cách hỏi chuyện những người đã đi PCT trong những mùa hè trước, và tham gia vào những buổi mà anh gọi là cuộc hội thảo về đi bộ “đường dài”. Anh liến láu nói về khoảng cách, độ cao và nói cực chi tiết về cái được cái hại của những khung sườn ba lô bên trong so với bên ngoài. Greg nhắc đi nhắc lại về một người đàn ông tên là Ray Jardine mà tôi chưa từng nghe tới – một huyền thoại đi bộ đường dài mà anh kể tôi nghe với giọng điệu cung kính. Jardine là chuyên gia và bậc thầy lão luyện biết tất cả mọi thứ về PCT, đặc biệt là cách đi bộ mà không cần vác theo đống đồ nặng trịch. Anh hỏi tôi về cái bình lọc nước, về lượng protein tôi nạp vào người mỗi ngày, và về nhãn hiệu đôi tất tôi đang mang. Anh muốn biết tôi đã chữa trị những chỗ phồng rộp thế nào và trung bình mỗi ngày tôi đi được bao nhiêu cây số. Trung bình mỗi ngày Greg đi được hơn 35 km. Buổi sáng hôm đó anh đã đi được 11 cây số mà tôi đã phải vật vã đi nguyên một ngày hôm trước.
“Đúng là vất vả hơn là tôi nghĩ.” Tôi thú nhận, lòng nặng trĩu khi biết tôi còn tệ hơn cả thể loại to xác ngớ ngẩn mà ban đầu đã tự liệt mình vào. “Cố lắm thì tôi cũng chỉ đi được tầm 18, 19 cây thôi.” Tôi nói như đúng rồi.
“Ờ, chắc chắn rồi.” Greg nói, không hề ngạc nhiên. “Lúc đầu tôi cũng thế đấy. Đừng lo. May ra thì tôi đi được 23, 24 cây xong rồi mệt phờ râu trê. Mà đấy là tôi còn tập luyện trước rồi đấy. Cứ cuối tuần lại làm một chuyến, thử đi bộ đeo ba lô đầy ặc hoặc kiểu thế. Nhưng ở ngoài này thì khác. Phải vài tuần người cô mới quen để đi được nhiều.”
Tôi gật đầu, cảm thấy được an ủi hơn rất nhiều, bởi câu trả lời ấy hơn là bởi sự hiện diện của Greg. Mặc dù rõ là anh đẳng cấp hơn hẳn tôi, nhưng anh cùng kiểu với tôi. Tôi không chắc liệu anh có cảm nhận như thế về tôi hay không. “Buổi tối anh để đồ ăn ở đâu?” Tôi thỏ thẻ hỏi, e dè trước với câu trả lời của anh.
“Thường thì tôi ngủ với chúng.”
“Tôi cũng vậy.” Tôi thở phào. Trước khi lên đường tôi đã có ý định cẩn thận treo đồ ăn lên cây vào mỗi tối, như lời khuyên của tất cả những người lữ hành dày dạn. Cho đến lúc này tôi thường bị kiệt sức đến mức còn không nghĩ đến chuyện đó. Thay vì thế, tôi để túi đồ ăn trong lều với mình – chính cái nơi người ta cảnh báo không nên để đồ ăn – rồi lấy nó làm gối kê hai cái chân sưng phồng.
“Tôi lôi thức ăn vào trong lều luôn.” Greg nói thế, và có gì đó trong tôi le lói lên một chút. “Những người lang thang chỗ hoang dã làm thế. Họ chỉ không kể ra với ai thôi, vì nếu gấu mà đến vì chỗ đồ của họ xong vồ lấy ai đó thì họ đi đời luôn. Đến chỗ nào có nhiều người qua lại hơn, chỗ mấy con gấu quen với con người rồi ấy, tôi sẽ treo đồ ăn lên. Nhưng đến lúc ấy hãy hay, giờ tôi chả lo gì về thức ăn cả.”
Tôi gật đầu vẻ rất tự tin, hy vọng anh nghĩ rằng tôi biết cách treo túi đồ ăn trên một cái cây để cho gấu không đụng đến được thật.
“Mà có khi chúng ta còn chẳng đến được những chỗ đó ấy chứ.” Greg nói.
“Ơ thế à?” Tôi nói, mặt đỏ bừng vì cái ý nghĩ vô cớ rằng làm thế nào đó anh lại đoán được ý định bỏ cuộc của tôi.
“Bởi vì tuyết.”
“À vâng. Tuyết. Tôi cũng nghe thấy bảo có tuyết.” Trong cái nóng như rang này tôi đã quên khuấy mất vụ tuyết rơi. Đối với tôi lúc này, Bud, người phụ nữ ở BLM, ngài Todd và người đàn ông cố dúi cho tôi túi bánh mì cùng xúc xích hun khói chỉ như một giấc mơ xa xăm lắm rồi.
“Cả Sierra ngập tuyết rồi.” Greg nói, y như những lời của Bud. “Rất nhiều người bỏ cuộc hoàn toàn vì lớp tuyết kỷ lục năm nay. Rất khó đi qua.”
“Ồ.” Tôi nói, trong lòng vừa hãi hùng vừa nhẹ nhõm – bây giờ thì tôi đã có cái cớ để biện minh cho việc mình bỏ cuộc. Tôi muốn đi bộ hết đường mòn PCT, nhưng tôi không thể! Tuyết ngập lút đầu người!
“Đến đồng cỏ Kennedy chúng ta sẽ phải lên kế hoạch.” Greg nói. “Tôi sẽ đến trước cô mấy ngày, khi cô đến nơi thì tôi đang ở đó rồi và chúng ta sẽ tìm cách.”
“Hay đấy.” Tôi nói khẽ, không nỡ cho anh hay rằng khi anh đến được đồng cỏ Kennedy thì tôi đã ở trên một chuyến xe buýt đến Anchorage rồi.
“Chúng ta sẽ gặp tuyết ở phương bắc, rồi từ đấy trở đi là vài trăm cây số vùi trong tuyết.” Anh đứng dậy rồi nhẹ nhàng lăng cái ba lô lên vai. Đôi chân lông lá của anh trông như thể những cái cột trên một bến thuyền ở hồ Minnesota. “Chúng ta đã chọn nhầm năm để đi PCT.”
“Chắc thế.” Tôi nói khi cố gắng nâng cái ba lô và quàng tay qua dây đeo một cách thản nhiên, giống như Greg đã làm, như thể tôi chỉ cần ước ao không bị giễu cợt thôi là các cơ bắp cũng tự nhiên mạnh lên gấp đôi được. Nhưng cái ba lô quá nặng và tôi vẫn không thể làm nó suy suyển được phân nào lên khỏi mặt đất.
Anh bước đến giúp tôi đỡ nó lên. “Cái ba lô này nặng quá.” Anh nói khi chúng tôi đánh vật để chất nó lên lưng tôi. “Nặng hơn cái của tôi nhiều.”
“Gặp anh tôi vui lắm.” Tôi nói khi đã đeo được cái ba lô lên, cố gắng trông như không phải đang còng lưng cố đứng thẳng, mà là đang nghiêng về đằng trước có chủ đích hẳn hoi. “Tôi chưa từng thấy ai đi trên đường này ngoài anh ra. Tôi tưởng là phải có nhiều người hơn thế cơ.”
“Không nhiều người đi PCT đâu. Năm nay thì chắc chắn càng không, với lượng tuyết kỷ lục thế này. Nhiều người biết thế nên đã hoãn đến năm sau.”
“Tôi đang phân vân không biết có nên làm theo thế không.” Tôi hỏi, hy vọng anh sẽ nói rằng đó là một ý tưởng tuyệt vời: quay trở lại vào năm sau.
“Từ trước đến giờ, tôi mới chỉ gặp mỗi cô là phụ nữ đi một mình ở chốn này và cũng là người phụ nữ duy nhất tôi nhìn thấy trong sổ nhật ký. Bá đạo đấy.”
Tôi cố nặn ra một nụ cười đáp lại.
“Cô sẵn sàng chưa?” Anh hỏi.
“Sẵn sàng!” Tôi nói, giọng phấn chấn hơn thực tế. Tôi đi theo anh ta, đi nhanh nhất có thể để không bị tụt lại, nhịp bước chân cùng với tiếng lanh canh của chiếc gậy leo núi anh mang. Khoảng 15 phút sau đó, khi chúng tôi đến một khúc cua gấp, tôi dừng lại uống một ngụm nước.
“Greg!” Tôi gọi với theo anh. “Anh đi trước đi.”
Anh dừng bước và quay đầu lại: “Chỉ còn khoảng 48 cây nữa là đến đồng cỏ Kennedy rồi mà.”
“Vâng.” Tôi nói, gật đầu yếu ớt. Buổi sáng hôm sau, hẳn anh sẽ đến đó rồi. Còn nếu tôi tiếp tục, thì chắc phải mất đến ba ngày.
“Lên trên sẽ mát hơn đấy.” Greg nói. “Đừng lo quá. Cô còn non nhưng lại rất cứng cỏi. Và cứng cỏi là cái cần thiết nhất ngoài này. Không phải ai cũng có thể làm được như cô đâu.”
“Cảm ơn.” Tôi nói, cảm động đến mức cổ họng như nghẹn lại.
“Hẹn gặp cô trên đồng cỏ Kennedy.” Anh nói, và bắt đầu bước đi.
“Đồng cỏ Kennedy nhé!” Tôi gọi với theo anh, giọng quả quyết hơn thực thấy trong lòng.
“Ta sẽ lên kế hoạch vượt tuyết nhé.” Anh nói trước khi đi khỏi tầm mắt.
Tôi đi trong cái nóng của ngày hôm đó với một niềm quyết tâm mới. Được niềm tin tưởng của Greg khích lệ, tôi không nghĩ đến chuyện bỏ cuộc thêm một lần nào nữa. Khi tôi đi, đầu óc tôi cứ xoáy vào cái rìu phá băng mà tôi đã để trong hộp tiếp tế. Cái rìu-được-cho-là-của-tôi. Nó có màu đen và màu bạc, trông nguy hiểm, một phía là lưỡi kim loại dài hơn 60 cm, phía bên kia là một lưỡi ngắn hơn và sắc hơn. Tôi đã mua nó, mang nó về nhà, và đặt nó vào cái hộp dán nhãn Đồng cỏ Kennedy, mặc định là khi đến được Đồng cỏ Kennedy tôi đã biết cách sử dụng nó rồi – tức là theo cách thần kỳ nào đó đã hóa thân thành một chuyên gia leo núi thực thụ rồi.
Cho đến lúc này, tôi đã biết nhiều thứ hơn. Con đường mòn đã hạ bệ tôi. Chưa từng tập dùng rìu phá băng, khả năng tôi sẽ bị cái rìu đó xuyên thủng người còn cao hơn cái kỳ vọng có thể dùng nó để tránh bị trượt khỏi vách núi. Hôm đó, trong lúc nghỉ ngơi bên đường, giữa cái nóng hơn 40 độ, tôi lật qua những trang sách hướng dẫn xem nó có nói gì về cách sử dụng rìu phá băng không. Không. Nhưng phần đi bộ qua vùng tuyết phủ có nói rằng cả móc sắt và rìu phá băng đều cần thiết, cũng như kiến thức vững về cách sử dụng la bàn, “sự thận trọng cảnh giác với những cơn tuyết lở,” và “nhiều giác quan cho việc leo núi”.
Tôi đóng ập cuốn sách lại và tiếp tục bước đi giữa cái nóng thiêu đốt tới Vùng Hoang dã Dome, hướng tới đồng cỏ Kennedy, ở đó tôi hy vọng Greg sẽ dạy tôi một khóa học cấp tốc để biết cách dùng rìu phá băng. Tôi chẳng biết nhiều về Greg, thế nhưng anh đã trở thành ngọn lửa dẫn đường cho tôi, là ngôi sao Bắc Đẩu dẫn lối. Nếu anh làm được thì mình cũng làm được – tôi đã quyết liệt nghĩ vậy. Anh chẳng cứng cỏi gì hơn tôi. Chẳng ai cứng cỏi hơn mình, tôi nhủ thầm, dù không tin vào điều ấy. Cái ý nghĩ ấy đã thành lời kinh cầu của tôi trong những ngày hôm đó; khi tôi dừng lại trước một chuỗi đường cua ngoằn ngoèo tiếp theo hoặc trượt dài theo những con dốc chùn đầu gối, khi những mảng thịt ở chân tróc da cùng với đôi tất, hay khi nằm một thân một mình trong lều vào ban đêm, tôi vẫn tự hỏi, thường là thành tiếng: Ai cứng cỏi hơn mình?
Và ngay cả khi tôi hoàn toàn biết rằng chẳng đời nào điều ấy là sự thật, câu trả lời vẫn luôn luôn là một, rằng: Chẳng ai cả.
Khi tôi đi, đất đai chầm chậm chuyển từ hoang mạc thành rừng cây, cây cao hơn và tươi tốt hơn, dễ thấy nước ở những lòng sông suối nông hơn, các cánh đồng đầy hoa dại. Trên hoang mạc cũng có hoa, nhưng ít phong phú, trông lạ hơn và kết thành tràng kiểu cách. Những bông hoa dại tôi gặp lúc này là những cụm hoa thân thuộc hơn, bung nở thành những tấm chăn sáng rỡ hoặc viền theo hai bên đường mòn rợp bóng. Nhiều bông hoa tôi thấy quen quen, cùng loài hoặc có họ với những loài nở rộ vào mùa hè ở Minnesota. Khi đi qua chúng, cảm giác về sự hiện diện của mẹ rõ ràng đến mức tôi như thấy hẳn là mẹ đang ở đó; có lúc tôi còn dừng lại để nhìn quanh tìm mẹ rồi mới có thể bước tiếp.
Vào buổi chiều gặp Greg, tôi nhìn thấy con gấu đầu tiên trên đường mòn, dù thực tế là tôi nghe thấy nó trước: tiếng khịt mũi nặng nề không lẫn vào đâu được khiến tôi dừng phắt lại. Nhìn lên, tôi thấy một con vật to như cái tủ lạnh đứng trên đường bằng bốn chân, cách tôi chưa tới chục mét. Cái lúc mắt tôi và mắt con gấu chạm nhau, mặt cả hai đều lộ vẻ hoảng hốt.
“GẤU!” Tôi kêu lên, với ngay lấy cái còi khi con gấu quay đầu bỏ chạy, cái mông ục ịch của nó nảy tưng tưng trong ánh mặt trời khi cái còi của tôi hoét hoét mấy tiếng đinh tai.
Phải mất vài phút tôi mới định thần lại được để tiếp tục bước đi. Ngoài chuyện là giờ tôi phải đi theo đúng hướng con gấu đã bỏ chạy, tâm trí tôi còn quay cuồng với ý nghĩ dường như nó không phải là gấu đen. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều gấu đen trước kia; vùng rừng phía bắc Minnesota đầy loại gấu này. Thường thì, tôi làm chúng giật mình trong khi đi bộ, hoặc khi chạy trên con đường đầy sỏi nơi tôi lớn lên. Nhưng những con gấu đen ấy khác với con gấu tôi vừa nhìn thấy. Chúng màu đen. Đen như hắc ín. Đen như đất trồng được đóng gói trong những cái túi to ở cửa hàng bán đồ làm vườn. Con gấu này không giống với bất kỳ con gấu nào trong số đó. Lông nó màu nâu vỏ quế, vài chỗ màu vàng.
Tôi bắt đầu bước đi thật thận trọng, cố gắng thuyết phục mình rằng chắc chắn con gấu đó không phải là gấu xám Bắc Mỹ hay gấu nâu – họ hàng hung dữ hơn của bọn gấu đen. Tất nhiên là không phải. Tôi biết là không thể. Những con gấu đấy không còn sống ở California nữa; chúng đều đã bị giết hết vài năm trước. Thế nhưng tại sao con gấu mà tôi nhìn thấy lại rành rành là rất… không đen như thế?
Tôi cầm cái còi suốt một tiếng đồng hồ, sẵn sàng thổi nó lên trong khi vẫn ngân nga hát để khiến cho cái con gấu to như cái tủ lạnh thuộc-loài-gì-cũng-được kia không giật mình nếu chạm trán lần nữa. Tôi rống lên những giai điệu dự phòng cũ – những bài hát mà tuần trước đó tôi đã dùng khi cứ ngỡ rằng có con sư tử núi đang rình mò mình – hát những bài Twinkle, twinkle, little star ... và bài Country roads, take me home... bằng cái giọng quả cảm giả vờ, rồi để cho đài phát thanh tự do lải nhải những bản pha trộn trong đầu và hát những đoạn linh tinh chắp ghép những bài mà tôi muốn nghe. “A mulatto, an albino, a mosquito, my libido. YEAHH!” (Một người da trắng lai đen, một người bạch tạng, một con muỗi, dục vọng của tôi).
Chính vì mải hát mà tôi suýt giẫm phải một con rắn chuông, không nhận ra cái âm thanh đang ngày càng to ấy là tiếng của một cái chuông. Và không phải chỉ là một cái chuông cũ kỹ hú họa nào, mà là một cái chuông gắn vào đuôi của một con rắn to bằng cẳng tay tôi.
“Á!” Tôi thét lên khi mắt đập vào hình ảnh một con rắn đang cuộn mình cách đó có khoảng một mét. Nếu tôi có thể nhảy thì tôi đã nhảy bắn lên rồi. Tôi nhảy mà chân tôi không rời mặt đất. Thay vào đó, tôi trườn xa khỏi cái đầu nhỏ bè bè của con rắn kia, tru lên vì hoảng. Phải đến mười phút đằng đẵng trôi qua tôi mới có thể lấy hết can đảm để bước vòng qua nó một đoạn khá xa, toàn thân run bần bật.
Cả ngày còn lại tôi đi rất chậm, mắt dò xét cả mặt đất và phía chân trời, hãi sợ với bất kỳ âm thanh nào, trong khi vẫn lầm rầm tự nhủ: Mình không sợ. Tôi run rẩy, không thể không cảm thấy biết ơn mỗi khi nhìn thấy mấy con vật cùng quanh quẩn chốn này với tôi, nơi tôi bắt đầu cảm thấy có phần tí xíu nào đó giống nơi của mình. Tôi nhận ra là mặc dù có vất vả, nhưng khi đến được cuối chặng đầu tiên của hành trình, tôi bắt đầu cảm thấy một niềm thương mến bừng nở dành cho PCT. Ba lô của tôi, vẫn nặng thế, bắt đầu giống như người bạn đồng hành sống động hẳn hoi. Nó chẳng còn là con bọ Volkswagen Beetle ngu ngốc mà tôi còng lưng đau đớn vác lên trong phòng nghỉ ở Mojave mấy tuần trước nữa. Nó đã có một cái tên: Quái Vật.
Tôi nói đến nó bằng những lời tử tế. Tôi ngạc nhiên là tất cả những gì tôi cần để có thể tồn tại lại được chứa vỏn vẹn trong cái ba lô này. Và, ngạc nhiên hơn hết thảy, là tôi còn có thể mang nó. Là tôi có thể chịu đựng cái sự không thể chịu đựng ấy. Những nhận thức ấy về thể trạng và đời sống vật chất của tôi chẳng cách nào đừng xâm lấn đến địa hạt của cảm xúc và tinh thần. Thật là kinh ngạc khi cuộc sống phức tạp của tôi lại có thể được đơn giản hóa như thế. Tôi bắt đầu nghĩ rằng, có lẽ không dành những ngày trên con đường mòn để trầm tư về nỗi buồn trong đời cũng là một cách hay, có lẽ bằng cách buộc mình phải chú tâm vào nỗi đau thể xác thì nỗi đau tinh thần trong tôi cũng sẽ phai dần đi. Cuối tuần thứ hai của chuyến đi, tôi nhận ra kể từ khi bắt đầu hành trình, tôi chưa từng rơi một giọt nước mắt nào.
Trước ngày tới được Đồng cỏ Kenedy, tôi đi những cây số cuối cùng đến một khoảng đất bằng và hẹp. Ở đó tôi dựng lều qua đêm trong nỗi đau đớn quen thuộc nay đã trở thành người bạn đồng hành mọi lúc mọi nơi. Tôi thở phào khi nhìn thấy một cái cây đổ lớn quây làm ranh giới chỗ tôi dựng lều. Cái cây đã chết từ lâu, thân cây chuyển màu xám và phẳng, vỏ bị tróc nhiều năm trước. Nó làm thành cái ghế dài phẳng cao cao, tôi ngồi lên và có thể dễ dàng tháo cái ba lô ra. Ngay khi thoát được cái ba lô, tôi nằm vật ra cái cây như thể nó là một cái ghế sô pha – quả là một sự xoa dịu so với mặt đất phía dưới. Cái cây này đủ rộng để nếu nằm im tôi có thể nghỉ ngơi ở đó mà không bị lăn rơi sang bên nào. Thật tuyệt vời. Tôi nóng, khát, đói, và mệt mỏi, nhưng tất cả những thứ đó chẳng là gì nếu so với cái đau đang bừng bừng ở những chỗ phỏng phần lưng trên. Tôi nhắm mắt lại, thở khoan khoái.
Mấy phút sau, tôi cảm thấy có cái gì đó trên chân. Tôi nhìn xuống, thấy kiến đen bâu đầy chân, cả một đội quân kiến, làm thành một đường ngoằn ngoèo từ một cái lỗ trên thân cây và bu lại trên người tôi. Tôi nhảy ra khỏi thân cây, hét to hơn cả khi gặp con gấu và con rắn chuông, đập mấy con kiến vô hại, nín thở với nỗi sợ hãi không giải thích nổi. Và không chỉ có sợ mấy con kiến này, mà sợ tất cả mọi thứ. Sợ một thực tế là tôi không thuộc về thế giới này cho dù tôi có một mực khăng khăng thế nào đi nữa.
Tôi nấu bữa tối rồi chui vào lều ngay khi có thể, từ lúc trời còn lâu mới tối, đơn giản chỉ là để được ở bên trong, cho dù ở bên trong chỉ có nghĩa là được bao bọc quanh bằng một lớp nylon mỏng. Trước khi bắt đầu chuyến đi này, tôi đã tưởng tượng mình sẽ ngủ trong lều chỉ phòng khi mưa gió, tôi đã nghĩ hầu hết các tối tôi sẽ nằm trong túi ngủ trên tấm bạt hoặc ngủ dưới các vì sao. Nhưng điều đó, cũng như nhiều điều khác, tôi đã sai. Mỗi tối, tôi tha thiết được chui vào lều, để ít nhất cũng được cảm thấy rằng có gì đó đang bao bọc tôi khỏi phần còn lại của thế giới, giữ cho tôi an toàn nhưng không phải khỏi sự nguy hiểm mà khỏi chính sự mênh mông của nó. Tôi thích bóng tối lờ mờ, âm ẩm trong lều, thích cảm giác thân thuộc ấm cúng từ cái cách tôi sắp xếp mấy đồ vật của mình ra xung quanh tôi mỗi tối.
Tôi kéo cuốn Khi tôi nằm chết ra, đeo cái đèn đội đầu, và đặt túi đồ ăn ở dưới bắp chân trong khi lẩm nhẩm cầu nguyện rằng con gấu tôi gặp hôm đó – con gấu đen, tôi đã nhấn mạnh như vậy – sẽ không đâm bổ vào lều để lấy mất đồ ăn.
Khi tôi tỉnh dậy vào mười một giờ vì tiếng tru của sói đồng cỏ, ánh sáng từ cái đèn đội đầu đã tắt; cuốn tiểu thuyết của Faulkner vẫn để mở trên ngực.
Buổi sáng, tôi gần như không đứng dậy được. Chẳng phải chỉ riêng sáng ngày thứ 14 đó. Cả tuần qua đã như vậy, một núi ngày càng nhiều các vấn đề và đau đớn khiến tôi không thể nào đứng dậy hoặc đi lại giống người bình thường lúc mới chui ra khỏi lều. Cứ như thể đột nhiên tôi biến thành một bà lão, khập khiễng bước vào ngày mới. Cho tới lúc đó, tôi đã mang được Quái Vật đi qua hơn 160 km gập ghềnh và đôi khi là những vùng dốc đứng. Nhưng cứ mỗi khi ngày mới bắt đầu, tôi lại không thể chịu đựng được nổi cả trọng lượng của chính mình; chân tôi mềm nhũn ra và sưng phồng vì đã cố sức vào ngày hôm trước; đầu gối thì cứng đơ đến mức không đi bình thường nổi.
Sau khi tôi tha thẩn chân trần quanh lều xong và đã gói ghém chuẩn bị lên đường, trên đường mòn xuất hiện hai người đàn ông từ phía nam tiến lại. Giống như Greg, họ gọi tên tôi trước khi tôi kịp nói bất cứ lời nào. Họ là Albert và Matt. Hai cha con đến từ Georgia, họ đi toàn bộ con đường mòn này. Albert 52 tuổi, còn Matt 24. Cả hai đều đã từng trong đội Hướng đạo Eagle Scout và trông họ đúng dáng như vậy. Họ chân thành, thẳng băng và chính xác y như trong quân đội, trái ngược với vẻ ngoài từ bộ râu quai nón hoa râm, bắp chân bờ những bụi đường, và một mùi nồng nặc cách xa cả mét rưỡi cũng ngửi thấy vây quanh mỗi bước chân họ tiến.
“Ôi trời ơi.” Albert lẩm nhẩm khi nhìn thấy Quái Vật. “Cô đã nhét cái gì vào đấy vậy, cô gái? Nhìn như kiểu có mọi thứ, trừ mỗi cái bồn rửa bát.”
“Toàn đồ đi bụi thôi.” Tôi nói, đỏ bừng mặt vì ngượng. Ba lô của họ chỉ to bằng nửa ba lô của tôi.
“Đùa cô thôi.” Albert tử tế nói. Chúng tôi nói chuyện với nhau về đoạn đường nóng cháy da cháy thịt đã bỏ lại sau lưng và đoạn đường băng giá phía trước. Khi chúng tôi nói chuyện, tôi có cảm giác như lúc gặp Greg: mừng quýnh lên khi được ở cạnh họ, cho dù nói chuyện với họ chỉ khiến tôi nhận ra mình đã thiếu sót như thế nào khi chuẩn bị đồ cho chuyến đi này. Tôi có thể cảm thấy ánh mắt họ nhìn tôi, đọc được suy nghĩ của họ khi chuyển từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, khi họ quan sát cái ba lô nặng một cách lố bịch và kiến thức nông cạn của tôi, trong khi cũng thừa nhận tôi phải gan dạ biết chừng nào mới đi xa tận đến đây được. Matt là một gã trai cao lớn, thân hình như thể hậu vệ, mái tóc đỏ nâu xoăn nhẹ chờm qua tai và lông chân óng vàng trên hai bắp chân to lực lưỡng. Cậu ta chỉ trẻ hơn tôi có hai tuổi, nhưng có vẻ thẹn thùng đến mức tôi cứ nghĩ cậu ta như trẻ con, để cha đóng vai chính trong cuộc nói chuyện với tôi còn mình thì đứng dạt bên cạnh.
“Xin cho tôi hỏi câu này,” Albert hỏi, “một ngày nóng như này thì cô đi tiểu bao nhiêu lần?”
“Ừm... Tôi cũng chẳng để ý nữa. Có cần phải đếm không?” Tôi hỏi, lại một lần nữa cảm thấy cái danh dân phượt giả mạo bị bóc toạc ra. Tôi hy vọng họ đã không dựng lều đủ gần để nghe thấy tiếng tôi la thất thanh khi gặp lũ kiến tối hôm trước.
“Lý tưởng thì bảy lần.” Albert quả quyết. “Đấy là quy tắc từ xưa của hướng đạo sinh, nhưng nóng như thế này, lại không sẵn nước trên đường, cộng thêm việc quá ráng sức nữa, may mắn thì được ba lần.”
“A, tôi cũng thế.” Tôi nói, dù sự thực là có lần trong vòng 24 giờ – giữa cái nóng khủng khiếp – tôi đã không đi một lần nào cả. “Tôi gặp một con gấu ở phía nam chỗ này.” Tôi nói để chuyển chủ đề. “Một con gấu nâu, tất nhiên đó là một con gấu đen nhưng trông lại nâu nâu. Ý tôi là về màu sắc ấy.”
“Ở vùng dưới này nếu có gấu thì chỉ là gấu màu quế thôi.” Albert nói. “Tôi nghĩ là bị phai màu do nắng vùng California.” Ông ta vỗ vào cái vành mũ. “Chúng tôi sẽ gặp cô trên đồng cỏ Kennedy. Rất vui được gặp cô.”
“Có một người khác đi trước tôi, tên là Greg.” Tôi nói. “Tôi gặp vài ngày trước, anh ấy nói sẽ vẫn ở đó.” Tim tôi nhảy tưng tưng lên khi nói đến tên của Greg, chẳng vì lý do nào khác ngoài việc đây là người duy nhất tôi biết trên con đường mòn này.
“Tôi theo anh ấy được một đoạn dài rồi, nên nếu gặp được thì tốt quá,” Albert nói. “Có một cặp khác đằng sau chúng ta. Chẳng mấy mà họ bắt kịp đâu.” Ông ta nói, rồi quay đầu nhìn xuống con đường mòn theo hướng chúng tôi vừa đến. “Hai đứa tên là Doug và Tom, cũng tầm tuổi cô. Chúng bắt đầu không lâu trước cô, về phía nam một chút.”
Tôi vẫy tay chào Albert và Matt rồi ngồi lại vài phút, suy nghĩ về sự hiện diện của Doug và Tom, và rồi tôi đứng dậy, dành nhiều giờ tiếp theo rảo bước thật nhanh, với một mục tiêu duy nhất là không để họ bắt kịp trước khi tôi đến được đồng cỏ Kennedy. Tất nhiên tôi mong gặp họ đến chết đi được – nhưng tôi muốn gặp họ như là một người phụ nữ đã để họ phải hít bụi đường của mình chứ không phải người phụ nữ mà họ vượt qua. Giống như Greg, Albert và Matt đã bắt đầu đi từ biên giới Mexico và cho đến lúc này đã dạn dày kinh nghiệm, có thể đi được khoảng 32 cây số một ngày. Nhưng Doug và Tom thì lại khác. Giống như tôi, họ bắt đầu chỉ mới gần đây trên đường mòn PCT – bắt đầu không lâu trước cô, Albert đã nói thế, và chỉ về phía nam một chút. Những lời của ông cứ tua đi tua lại trong đầu tôi, như thể việc tua lại chúng sẽ vắt ra thêm được chút ý nghĩa và chi tiết nào đó. Như thể nhờ chúng tôi có thể thấy rõ mình đang đi nhanh hơn hay chậm hơn so với Doug và Tom như thế nào. Như thể câu trả lời cho câu hỏi đó là chìa khóa cho sự thành công hay thất bại trong việc này – việc khó khăn nhất mà tôi từng làm.
Tôi đứng lại khi ý nghĩ đó nảy ra trong đầu, rằng đi bộ PCT là điều khó khăn nhất đời tôi. Ngay lập tức, tôi sửa lại ý nghĩ đó. Chứng kiến mẹ mất và phải sống mà không có mẹ, đó mới là điều khó khăn nhất. Rời bỏ Paul và hủy hoại hôn nhân và cuộc đời chúng tôi chỉ vì lý do đơn giản và không thể lý giải rằng tôi cảm thấy tôi phải làm thế – đó cũng là một điều khó khăn. Nhưng đi bộ ngang qua con đường mòn PCT khó theo một kiểu khác: nó khiến cho những điều khó khăn nhất kia trở nên bớt khó khăn hơn một chút. Thật lạ lùng, nhưng lại là sự thật. Và có lẽ, bằng cách nào đó tôi đã biết như vậy ngay từ đầu. Có lẽ niềm thôi thúc mua cuốn sách hướng dẫn từ nhiều tháng trước đã ra tay cứu vớt đầu tiên, giúp túm lại sợi chỉ đời tôi đã bị cắt đứt trước đó.
Tôi có thể cảm thấy nó đang hiện diện sau tôi – sợi chỉ cũ mà tôi đã đánh mất, sợi chỉ mới mà tôi đang xe lại – khi tiếp tục đi vào buổi sáng hôm đó, đôi lúc có thể thấy được những đỉnh núi tuyết của dãy High Sierras. Khi tôi bước đi, tôi không nghĩ đến những đỉnh núi tuyết ấy. Thay vào đó, tôi nghĩ đến những gì tôi sẽ làm khi chiều hôm ấy sẽ đến được cửa hàng bách hóa trên đồng cỏ Kennedy, tưởng tượng đến từng chi tiết cái kỳ diệu của những thứ mà tôi sẽ mua để ăn và uống – nước chanh lạnh, những thanh kẹo và đồ ăn vặt mà bình thường tôi hiếm khi ăn. Tôi tưởng tượng khoảnh khắc được đặt tay lên chiếc hộp tiếp tế đầu tiên, đối với tôi nó chính là một cột mốc vĩ đại, một minh chứng rành rành rằng ít nhất thì tôi đã đi xa được đến đó. Xin chào. Tôi nói với chính mình trong niềm phấn khích khi hình dung ra những gì tôi sẽ nói khi đến được cửa hàng đó. Tôi là người đi bộ qua đường mòn PCT đến đây để lấy đồ tiếp tế. Tên tôi là Cheryl Strayed.
Cheryl Strayed, Cheryl Strayed, Cheryl Strayed – chẳng hiểu sao lưỡi tôi vẫn cứ ngại ngần khi uốn lên hai từ này với nhau. Cheryl vốn là tên gốc của tôi, nhưng Strayed thì tôi mới thêm vào – là tên chính thức của tôi chỉ kể từ tháng tư, khi Paul và tôi đệ đơn xin ly hôn. Paul và tôi dùng tên họ của nhau khi chúng tôi kết hôn, nên tên của mỗi người đã dài thành bốn âm tiết với một dấu gạch nối. Tôi chưa bao giờ thích nó. Nó quá phức tạp và rườm rà. Hiếm khi có ai đó đọc đúng được, và ngay cả tôi cũng bị vấp không ít lần. Cheryl Gạch nối-Gạch nối, một ông già cộc cằn mà tôi từng làm việc cho đã gọi tôi vậy, vì cái tên thực của tôi làm ông ta xoắn hết lưỡi, và tôi cũng không thể không đồng ý với ông ta được.
Trong thời gian nhiều tháng trời tôi và Paul sống ly thân nhưng vẫn còn dùng dằng chưa biết có nên ly hôn hẳn không, chúng tôi đã ngồi cùng nhau xem xét kỹ càng rồi tự hoàn thiện bộ hồ sơ thủ tục ly hôn chuẩn đã đặt hàng qua điện thoại, như thể việc cầm chúng trên tay sẽ giúp chúng tôi quyết định được điều nên làm. Lật giở qua bộ giấy tờ ấy, chúng tôi thấy một câu hỏi về tên của mỗi người sau khi ly hôn. Dòng bên dưới câu hỏi để trắng trơn. Tôi rất ngạc nhiên khi biết là chúng tôi có thể viết bất cứ thứ gì lên dòng đó. Có thể là bất cứ ai. Lúc đó chúng tôi cười phá lên, nghĩ ra những cái tên mới nghe hết sức khôi hài cho mình – tên của các ngôi sao điện ảnh, các nhân vật hoạt hình, hay các kiểu ghép từ lạ lùng mà thực ra chẳng phải tên tuổi gì sất.
Nhưng sau đó, khi tôi một mình ở nhà, dòng để trống kia cứ vướng mãi trong tim tôi. Chắc chắn là nếu ly hôn Paul tôi sẽ chọn một cái tên mới cho mình. Tôi không thể tiếp tục là Cheryl Gạch nối-Gạch nối nữa, tôi cũng không thể quay lại cái tên hồi cấp ba và trở thành đứa con gái ngày xưa nữa. Bởi vậy trong những tháng tôi và Paul còn lửng lơ chưa ly dị, chưa chắc chắn hướng đi cho cả hai, tôi ngẫm nghĩ mãi về cái tên họ của mình, lượt đi lượt lại trong đầu những từ nghe hợp với Cheryl và danh sách những nhân vật trong tiểu thuyết mà tôi thích. Chẳng có cái tên nào hợp cả, cho đến một ngày nọ, bỗng từ strayed nảy ra trong đầu tôi. Ngay lập tức, tôi tra từ điển và biết rằng nó là cái tên dành cho mình. Các phân nghĩa của nó nói chính xác về cuộc đời tôi và cũng nghe có vẻ hợp vần nữa: lang thang khỏi một lối đi đúng, chệch khỏi con đường thẳng, bị lạc, trở nên hoang dã, không có cha hoặc mẹ, không có nhà, di chuyển vô mục đích tìm kiếm cái gì đó, đi chệch hướng hoặc lạc lối.
Tôi đã đi chệch hướng, đã lạc lối, đã lang thang, và đã trở nên hoang dã. Tôi lấy cái tên này làm tên mới không bởi nó gọi tên những khía cạnh tiêu cực trong tình cảnh cuộc đời tôi, mà bởi cho dù trong những ngày đen tối nhất của mình – chính những ngày tôi đang đặt tên – tôi đã nhìn thấy sức mạnh của đêm tối. Trên thực tế, nhìn ra điều đó, rằng tôi đã lạc lối và là một kẻ lạc lối, rằng từ những nơi hoang tàn mà sự lạc lối mang tôi đến, tôi đã biết những thứ mà trước đây tôi không biết.
Cheryl Strayed – tôi viết đi viết lại cái tên ấy kín một trang giấy trong sổ, giống một cô nàng đang cảm nắng một cậu bạn mà cô ta mong được lấy làm chồng. Chỉ có điều cậu trai ấy không tồn tại. Tôi là cậu trai của riêng tôi, trồng một cái rễ ngay chính trung tâm nơi chẳng có cội rễ gì của chính mình. Tuy vậy, tôi vẫn còn phân vân. Lấy một từ trong từ điển và tuyên bố nó là của mình – tôi cứ thấy lừa đảo thế nào đó, thấy một chút trẻ con hoặc ngớ ngẩn, chưa nói đến là một chút đạo đức giả. Trong nhiều năm tôi đã thầm cười nhạo hội bạn trong nhóm hippy, nhóm nghệ sĩ, nhóm thuận tay trái của tôi, bởi họ dùng những cái tên họ tự nghĩ ra. Những Jennifer và Michelle trở thành Sequoia và Mặt trăng; những Mike và Jason thì trở thành Sồi và Kế. Tuy vậy tôi vẫn lấy cái tên đó, kể với vài người bạn về quyết định của mình, yêu cầu họ bắt đầu gọi tôi bằng cái tên mới để tôi thử cảm giác xem sao. Tôi đã làm một chuyến đi đường bộ và mỗi lần gặp một cuốn sổ nhật ký lữ hành, tôi lại ký tên Cheryl Strayed, tay hơi run run với một cảm giác tội lỗi mơ hồ, như thể đang giả mạo chữ ký trên tờ ngân phiếu.
Cho đến lúc tôi và Paul quyết định nộp thủ tục ly hôn, tôi đã quen cái tên mới đủ để viết nó vào dòng kẻ bỏ trống mà không có chút do dự gì. Tôi lại bị đắn đo ở những dòng khác: những dòng kẻ bất tận để chúng tôi ký vào, chính thức xóa sổ cuộc hôn nhân. Tôi đã bối rối hơn rất nhiều khi phải điền vào đó. Không hẳn là tôi muốn ly hôn. Cũng không hẳn là tôi không muốn ly hôn. Tôi tin tưởng vào hai điều này như nhau: rằng ly hôn với Paul là việc làm đúng, và rằng nếu ly hôn tôi sẽ hủy hoại điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời mình. Ở thời điểm đó, cuộc hôn nhân của tôi giống như chính con đường mòn này vào cái khoảnh khắc khi tôi nhận ra ở cả hai hướng đều có thể có con bò nọ. Tôi đơn giản chỉ cứ thế mà tin, rồi dấn mình theo cái hướng mà tôi chưa từng đi đến.
Chúng tôi ký giấy tờ ly hôn vào một ngày tháng tư, ở Minneapolis trời đang đổ tuyết, những bông tuyết rơi theo luồng gió xoáy, phủ khắp thành phố. Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua một cái bàn với Val, người quen của cả hai chúng tôi và tình cờ làm sao lại là một công chứng viên. Chúng tôi ngắm tuyết từ một cái cửa sổ rộng trong văn phòng của chị ấy ở trung tâm thành phố, thỉnh thoảng pha trò. Tôi mới chỉ gặp Val vài lần; chỉ biết một số thông tin linh tinh mơ hồ về chị. Chị ấy dễ thương, thẳng tính, người nhỏ đến khó tin; già hơn chúng tôi ít nhất là một giáp. Tóc chị ấy chỉ dài độ hai phân rưỡi, màu vàng sáng, chỉ trừ một lọn dài hơn nhuộm màu hồng và rủ xuống giống như một cái cánh nhỏ phía trên mắt. Tai chị viền đầy những hoa tai bạc, và một đám hình xăm màu sắc sặc sỡ phủ khắp như là cánh tay áo.
Vậy đấy, thế nhưng chị ấy có một công việc thực sự trong một văn phòng thực sự ở trung tâm với một cái cửa sổ rộng lớn và thêm vào đó lại còn có cả quyền cấp giấy phép. Chúng tôi chọn chị làm thủ tục ly hôn vì muốn giải quyết gọn lẹ. Chúng tôi muốn nó được suôn sẻ. Chúng tôi muốn tin rằng mình vẫn là những người lịch sự và tử tế. Rằng mọi điều chúng tôi nói với nhau sáu năm trước đều đã là sự thật. Bọn mình đã nói gì nhỉ? Trước đó vài tuần, chúng tôi đã hỏi nhau, nửa tỉnh nửa say trong căn hộ của tôi, ở đó chúng tôi đã quyết định sẽ kết thúc chuyện này một lần cho xong.
“Đây rồi!” Tôi la lên sau khi bới chỗ giấy tờ và tìm thấy lời thề đám cưới mà chúng tôi viết ra cho nhau, ba trang giấy ngả màu được ghim lại. Chúng tôi đã đặt hẳn một cái tiêu đề cho nó: The Day the Daisies Bloomed (Ngày những bông cúc nở). “Ngày những bông cúc nở!” Tôi hú lên và chúng tôi cười ngặt nghẽo, tự cười mình, cười cái con người hồi xưa của mình. Và rồi tôi đặt lại bản thề thốt ấy lên đống giấy tờ mà tôi đã tìm ra, không thể nào đọc tiếp được nữa.
Chúng tôi đã kết hôn khi còn quá trẻ, quá nông nổi, thậm chí các bố các mẹ còn hỏi sao chúng tôi không cứ sống cùng nhau thôi là được. Làm sao chỉ cứ sống cùng nhau được, cho dù tôi mới 19 còn anh 21. Chúng tôi yêu nhau điên cuồng, tin rằng phải làm cái gì đó thật điên cuồng để thể hiện điều đó, bởi vậy chúng tôi làm cái điên cuồng nhất là kết hôn. Nhưng ngay cả khi lấy nhau rồi, chúng tôi vẫn không nghĩ mình đã là những người đã có gia đình – chúng tôi sống chỉ một vợ một chồng nhưng không hề có ý định ổn định cuộc sống. Chúng tôi gói ghém xe đạp vào hộp và bay sang Ireland cùng với chúng, ở đó một tháng thì tôi bước sang tuổi 20. Chúng tôi thuê một căn hộ ở Galway rồi đổi ý, chuyển về Dublin, tìm được công việc cho cả hai ở nhà hàng – anh ấy làm trong một tiệm pizza còn tôi trong một quán cà phê cho người ăn chay. Bốn tháng sau, chúng tôi chuyển tới London và đi bộ trên các con đường, nghèo khổ đến mức phải chong mắt tìm xem có đồng xu nào rơi trên vỉa hè hay không. Cuối cùng thì chúng tôi cũng quay về nhà, và không lâu sau mẹ tôi mất và chúng tôi đã làm tất cả mọi thứ đã làm để dẫn tới nơi này, tới văn phòng của Val.
Paul và tôi nắm chặt tay nhau bên dưới bàn, theo dõi Val kiểm tra cẩn thận những giấy tờ ly dị đúng chuẩn mà chúng tôi tự hoàn thành. Chị ấy xem một trang rồi trang tiếp theo và cứ thế cứ thế đến hết 50 hay 60 trang gì đó, để chắc chắn là mọi thứ đều đúng. Trong khi Val làm việc đó, trong tôi như bừng lên tình cảm thủy chung, kề vai sát cánh cùng Paul chống lại bất cứ lời phản đối nào từ chị ấy, như thể chúng tôi đang đệ đơn để được ở cùng nhau trong suốt phần đời còn lại thay vì điều ngược lại là ly tán như lúc này.
“Tất cả có vẻ ổn.” Cuối cùng chị ấy nói, cười ý nhị với chúng tôi. Và rồi chị ấy lại lật lật những tờ giấy ấy, lần này thì nhanh vèo vèo, đóng dấu công chứng to uỵch lên một vài trang và chuyển cả tá những trang khác qua bàn cho chúng tôi ký.
“Em yêu anh ấy.” Tôi buột miệng khi chúng tôi gần như đã xong, mắt tôi giàn giụa nước. Tôi đã nghĩ đến việc kéo tay áo lên cho chị ấy nhìn thấy miếng gạc vuông che hình xăm con ngựa mới cứng của tôi để chứng minh, nhưng cuối cùng chỉ cứ thế mà lắp bắp. “Ý em là, không phải chúng em không yêu nhau, em nói chỉ để chị biết thế thôi. Em yêu anh ấy và anh ấy yêu em...” Tôi nhìn Paul, chờ đợi anh cắt lời tôi và đồng tình và tuyên bố tình yêu của anh ấy, nhưng anh chỉ lặng im. “Chỉ để chị biết thế thôi.” Tôi lặp lại. “Để chị sẽ không hiểu sai đi.”
“Chị biết.” Val nói, gạt lọn tóc hồng sang bên nên tôi có thể thấy mắt chị sốt ruột nhìn đống giấy tờ rồi nhìn tôi và rồi lại nhìn xuống đống giấy tờ.
“Và tất cả là lỗi của em.” Tôi nói, giọng tôi lớn dần và run rẩy. “Anh ấy chẳng làm gì cả. Chỉ có em. Em đã tự làm tim mình tan vỡ.”
Paul với sang tôi và nắn nắn chân tôi, an ủi. Tôi không thể nhìn anh ấy. Nếu nhìn anh tôi sẽ khóc. Chúng tôi đã cùng nhau thống nhất chuyện này, nhưng tôi biết nếu tôi quay sang anh và đề nghị rằng chúng tôi hãy quên chuyện ly hôn đi rồi quay trở về với nhau, anh sẽ đồng ý. Nhưng tôi không quay sang anh. Có gì đó bên trong tôi gầm gừ như một cái máy mà tôi đã khởi động lên nhưng không thể bắt nó dừng lại. Tôi hạ tay xuống và đặt lên tay Paul lúc này đang ở trên chân tôi.
Đôi khi chúng tôi cùng nhau tự hỏi liệu mọi chuyện có thành ra kiểu khác không nếu một điều gì đó là thật thực ra lại không phải là sự thật. Ví như, nếu mẹ tôi còn sống, liệu tôi sẽ vẫn cứ lừa dối anh không? Hay nếu tôi không lừa dối anh thì anh có lừa dối tôi không? Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu chẳng có gì xảy ra – nếu mẹ không mất và không ai lừa dối ai thì liệu chúng tôi vẫn cứ ly hôn đơn giản vì đã kết hôn quá trẻ không? Chúng tôi không thể biết, nhưng chúng tôi sẵn sàng mở lòng để biết. Vẫn gần gũi thân thiết như hồi còn bên nhau, chúng tôi thậm chí còn gần nhau hơn nữa trong khoảng thời gian dùng dằng, cuối cùng cũng giãi bày mọi điều, những lời dường như chẳng thể nói ra trước đó, chúng tôi đã nói đến tận cùng, nói về mọi thứ đẹp đẽ và xấu xí và thành thực.
“Qua hết cái mớ này rồi thì giờ mình nên ở lại với nhau mới phải.” Tôi nửa đùa nửa thật khi bừng tỉnh đau đớn trong lần thảo luận gan ruột, héo tim cuối cùng – lần này chúng tôi phải thực sự quyết định có ly hôn hay không. Chúng tôi đang ngồi trên ghế sô pha trong bóng tối của căn hộ, đã trò chuyện suốt cả buổi chiều đó và cho đến tận tối mịt, đến khi Mặt trời đã lặn thì cả hai đều rã rời đến mức không thể đứng lên mà bật điện.
“Em hy vọng một ngày nào đó anh có thể làm như vậy với một người khác.” Tôi nói khi thấy anh không trả lời, cho dù cái ý nghĩ về một người nào khác ấy như đang đâm thủng tim tôi.
“Anh cũng hy vọng em như thế.” Anh nói.
Tôi ngồi trong bóng tối bên cạnh anh, rất muốn tin rằng tôi có thể tìm được tình yêu như đã có với anh một lần nữa, chỉ có điều lần tới tôi sẽ không phá hủy nó. Nhưng dường như điều đó là không thể. Tôi nghĩ về mẹ tôi. Nghĩ về cái ngày cuối cùng của cuộc đời mẹ với bao nhiêu thứ kinh khủng xảy ra như thế nào. Những thứ nhỏ nhặt, nhưng kinh khủng. Tiếng lảm nhảm ú ớ kỳ quái của mẹ tôi. Máu dồn ứ đen đặc ở cánh tay bị liệt của mẹ. Cái cách bà van xin một thứ gì đó dẫu cho thứ đó chẳng phải vui sướng gì. Cầu xin bất cứ điều gì chưa chớm thành niềm vui; cầu xin những thứ thậm chí chúng tôi còn chẳng gọi tên nổi. Tôi đã tin rằng đó là những ngày tồi tệ nhất, nhưng vào khoảnh khắc mẹ qua đời, tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để lấy lại những ngày ấy. Một ngày nhỏ nhoi, khủng khiếp và huy hoàng nối sau một ngày khác. Với Paul có lẽ cũng vậy, tôi nghĩ khi ngồi bên cạnh anh trong cái đêm chúng tôi quyết định ly hôn. Có lẽ khi chúng tôi đã xong xuôi đôi ngả, tôi lại cũng muốn những ngày kinh khủng ấy quay trở lại.
“Em đang nghĩ gì vậy?” Anh hỏi nhưng tôi không trả lời. Tôi chỉ ngả người sang để bật điện.
Chúng tôi có thể lựa chọn gửi hoặc không gửi giấy tờ ly hôn đi. Tôi cùng Paul bước ra ngoài tòa nhà, cùng đi trong tuyết và đi trên vỉa hè cho đến khi chúng tôi tìm thấy một hòm thư. Sau đó, chúng tôi dựa lưng vào bức tường gạch lạnh giá của một tòa nhà rồi hôn nhau, khóc và thì thầm những lời tiếc nuối, nước mắt chúng tôi hòa vào với nhau.
“Chúng ta đang làm gì thế này?” Sau một lúc Paul hỏi tôi.
“Nói lời tạm biệt.” Tôi nói. Tôi định rủ anh cùng quay trở lại căn hộ của tôi như chúng tôi đã làm vài lần trong cả năm trời ly thân, cùng nhau ngã xuống giường suốt một buổi tối hoặc một buổi chiều, nhưng tôi không có lòng dạ nào.
“Tạm biệt.” anh nói.
“Tạm biệt.” tôi nói.
Chúng tôi đứng gần sát nhau, mặt đối mặt, hai tay tôi nắm chặt vạt áo khoác phía trước của anh. Tôi có thể cảm thấy vẻ hung tợn lầm lì của tòa nhà ở một bên; bầu trời xám và những con đường trắng toát như thể một con quái vật khổng lồ đang say ngủ ở bên còn lại; và chúng tôi ở giữa, cùng nhau cô độc trong một đường hầm. Những bông tuyết đang tan chảy trên tóc anh và tôi muốn với lên chạm vào chúng, nhưng tôi đã không làm thế. Chúng tôi đứng đó chẳng nói một lời, nhìn vào mắt nhau như thể đây là lần cuối cùng.
“Cheryl Strayed.” Anh nói sau một lúc lâu, cái tên mới của tôi cất lên từ miệng anh nghe sao quá lạ lẫm.
Tôi gật đầu và buông áo anh ra.