Nếu phải vẽ một tấm bản đồ mô tả hơn bốn năm dài từ ngày mẹ mất đến thời điểm tôi bắt đầu chinh phục đường mòn Pacific Crest, hẳn nó sẽ là những đường nét lộn xộn đủ hướng – như cây pháo bông nổ lách tách trong ngày Độc Lập – với Minnesota hiển nhiên ở vị trí trung tâm. Tới Texas rồi quay về. Tới New York rồi quay về. Tới New Mexico, Arizona, Nevada, California và Oregon rồi lại quay về. Tới Wyoming rồi quay về. Tới Portland, Oregon và quay về. Tới Portland và quay về một lần nữa. Và một lần nữa. Nhưng những đường nét ấy chẳng nói lên điều gì. Tấm bản đồ chỉ ra mọi nơi tôi từng đến, nhưng không cho thấy mọi cách tôi đã gắng để ở lại. Nó cũng không kể về những tháng ngày sau khi mẹ mất, tôi đã gắng gượng rồi thất bại ra sao trong nỗ lực thay mẹ gắn kết mọi người trong gia đình. Hay việc tôi đã đấu tranh để bảo vệ hôn nhân của mình như thế nào; dù cùng lúc, tôi cũng đang giết chết nó bằng những lời dối trá. Nó sẽ chỉ hệt như cây pháo bông đang cháy kia, những tia sáng chói cứ thế bắn tóe đi.
Đêm trước khi tới thị trấn Mojave, California để bắt đầu hành trình PCT, tôi đã tạt qua Minnesota lần cuối. Tôi thậm chí còn kể cho mẹ, dù bà không thể nghe thấy đi chăng nữa. Tôi ngồi giữa đám hoa trong mảnh rừng trên khu đất của chúng tôi, nơi dượng Eddie, Paul, chị em tôi và tôi đã trộn tro của mẹ vào đất, dựng lên bia mộ. Tôi giải thích với bà rằng tôi sẽ không còn ở gần đây để chăm nom phần mộ của bà nữa. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ chẳng có ai làm điều đó. Cuối cùng, tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác, đành để mộ mẹ lại với um tùm cỏ dại; những cành cây đổ và những quả thông rụng. Mặc cho tuyết rơi, hay bất cứ thứ gì, kiến, hươu nai, gấu đen hay ong đất muốn làm với bà. Tôi nằm xuống giữa tro tàn của mẹ, giữa những bông nghệ tây và thủ thỉ Vậy cũng ổn thôi. Rằng tôi đã đầu hàng. Rằng từ khi mẹ mất, mọi chuyện đã đổi thay. Những chuyện mẹ chẳng thể tưởng tượng hay đoán nổi. Những lời thật trầm và kiên định. Tôi đau lòng như thể ai đó đang bóp cổ tôi, và như cả cuộc đời tôi phụ thuộc vào những lời này. Mẹ mãi luôn là mẹ của con, nhưng con phải đi. Tôi nói. Dù sao thì, mẹ sẽ chẳng ở lại đây, trên những trảng hoa này nữa. Con sẽ đưa mẹ tới một nơi khác. Nơi duy nhất con có thể chạm vào mẹ. Trong trái tim con.
Ngày tiếp theo, tôi rời xa Minnesota mãi mãi. Tôi sẽ đi PCT.
Đó là tuần đầu tiên của tháng sáu. Tôi đến Portland bằng chiếc xe tải nhỏ Chevy Luv đời 1979, chất cả tá hộp đầy đồ ăn khô và đồ dùng cần thiết để mang theo. Tôi dành cả mấy tuần trước đó để sắp xếp đồ đạc, ghi tên người nhận từng chiếc hộp là chính tôi, địa chỉ nhận là các điểm dừng dọc PCT như hồ Echo; Soda Springs; thác Burney và thung lũng Seiad mà tôi chưa từng tới. Tôi để chiếc xe tải và những chiếc hộp ấy ở chỗ Lisa, bạn tôi, ở Portland. Cô ấy sẽ gửi chúng qua đường bưu điện cho tôi trong suốt mùa hè. Rồi tôi bay tới Los Angeles, đi nhờ xe anh trai của một người bạn tới Mojave.
Chúng tôi tới thị trấn khi chiều tối. Mặt trời lặn dần xuống dãy Tehachapi phía sau chúng tôi chừng 20 km về phía tây. Đó là những đỉnh núi tôi sẽ leo vào ngày mai. Thị trấn của Mojave nằm ở độ cao hơn 800 m so với mực nước biển, mặc dù tôi lại có cảm giác giống như mình đang ở đáy của thứ gì đó hơn: các biển hiệu trạm xăng, nhà hàng và nhà nghỉ vẫn vươn cao hơn những cái cây cao nhất.
“Anh dừng ở đây là được rồi.” Tôi nói với người đàn ông đã chở tôi từ Los Angeles tới, tay chỉ biển hiệu đèn neon kiểu cổ ghi NHÀ NGHỈ WHITE cùng chữ TI VI màu vàng phía trên và chữ CÒN PHÒNG màu hồng phía dưới. Nhìn tòa nhà có vẻ cũ kỹ, tôi đoán đây là nơi rẻ nhất trong thị trấn. Một nơi hoàn hảo cho tôi.
“Cảm ơn đã cho em đi nhờ xe.” Tôi nói khi xe vừa đỗ.
“Không có gì đâu.” Anh đáp và nhìn tôi. “Em chắc là ổn chứ?”
“Vâng.” Tôi nói, chẳng mấy tự tin. “Em từng du lịch một mình nhiều lắm.” Tôi dỡ hành lý xuống xe, một chiếc ba lô và hai túi nhựa đầy cỡ lớn. Tôi vốn định xếp mọi thứ trong túi vào ba lô trước khi rời Portland, nhưng lại không có thời gian, nên đành mang tất cả tới đây. Tôi sẽ chuẩn bị mọi thứ trong phòng.
“Chúc may mắn.” Anh nói.
Tôi nhìn anh lái xe đi. Không khí oi bức có vị như bụi đất, làn gió khô khốc thổi tóc bay vào mắt. Bãi đỗ xe trải toàn đá sỏi màu trắng được đổ xi măng. Nhà nghỉ là một dãy dài các cửa chính và cửa sổ rủ những tấm rèm cũ kỹ. Tôi đeo ba lô trên vai, tay xách mấy túi đồ. Cảm giác thật lạ lùng khi chỉ còn lại những thứ này. Tôi đã nghĩ mình sẽ hồ hởi lắm, vậy mà giờ đột nhiên lại thấy lòng thật trống trải biết bao. Tôi đã dành cả sáu tháng trước đó để hình dung về khoảnh khắc này; nhưng giờ đây, khi chỉ còn cách PCT chừng 20 km, mọi thứ lại trở nên kém rực rỡ hơn, như thể tôi đang ở trong một giấc mơ, nơi mọi dòng suy nghĩ trôi chậm lại, nơi ý chí chiến thắng bản năng. Vào thôi! Tôi phải nhắc chính mình rồi mới có thể bước về phía nhà nghỉ. Đặt một phòng nào.
“18 đô-la.” Một người phụ nữ lớn tuổi đứng sau quầy nói. Bà ta nhìn về phía sau cánh cửa kính nơi tôi vừa bước vào và thô lỗ nhấn mạnh: “Trừ khi cô có bạn đồng hành. Hai người thì nhiều hơn.”
“Cháu không có bạn.” Tôi nói, mặt đỏ ửng. Tôi thường chỉ đỏ mặt khi nói thật mà lại cảm giác như đang nói dối. “Anh ấy chỉ đưa cháu đến đây thôi.”
“Vậy thì 18 đô-la,” bà ta đáp, “nhưng nếu một người nữa tới cùng, cô sẽ phải trả thêm.”
“Sẽ không có người nào tới cùng hết.” Tôi lấy 20 đô từ túi quần soóc và đẩy qua mặt quầy. Bà ta nhận lấy rồi trả lại tôi hai đô cùng tờ khai để điền thông tin với một cây bút gắn bàn. “Cháu đi bộ, nên không thể điền vào mục xe hơi được.” Tôi nói và chỉ vào tờ phiếu, mỉm cười thân thiện nhưng bà ta không đáp lại. “Cháu cũng không có địa chỉ cụ thể nào. Cháu đang đi, nên cháu…”
“Thế thì điền nơi mà cô sẽ quay trở về.” Bà ta nói.
“À, vấn đề là thế đấy. Cháu không chắc cuối cùng mình sẽ ở đâu vì…”
Bà ta gắt lên: “Vậy thì tên bố mẹ, nhà ở đâu cũng được.”
“Được thôi,” tôi nói và ghi địa chỉ của dượng Eddie. Dẫu thực tế, trong bốn năm kể từ khi mẹ mất, mối quan hệ giữa hai chúng tôi đã nặng nề và xa cách đến nỗi khó có thể coi ông vẫn là cha dượng của tôi. Tôi không có “nhà”, dẫu ngôi nhà chúng tôi xây vẫn còn đó. Leif, Karen và tôi vẫn là chị em ruột thịt, nhưng lại hiếm khi gặp nhau; cuộc sống cũng khác biệt quá nhiều. Paul và tôi đã hoàn tất thủ tục ly hôn vào tháng trước; sau khi khổ sở ly thân suốt một năm dài. Có vài người bạn thân mà đôi khi tôi vẫn coi như thể người nhà, nhưng những mối gắn kết ấy là không chính thức và đôi khi gián đoạn. Một giọt máu đào hơn ao nước lã, khi tôi lớn lên, mẹ vẫn thường nói thế; còn tôi thì hay cãi lại bà. Nhưng điều đó đúng hay sai cũng không còn quan trọng nữa. Tất cả mọi người đều đã rời xa tầm với của tôi.
“Cháu gửi này.” Tôi nói với người phụ nữ, đẩy tờ khai qua quầy, dẫu bà ta mất một lúc mới quay sang phía tôi. Bà ta đang xem bản tin buổi chiều qua chiếc ti vi nhỏ đặt trên bàn sau quầy. Tin gì đó về vụ xét xử O. J. Simpson.
“Cô có nghĩ hắn ta phạm tội không?” Bà hỏi, mắt vẫn dán chặt vào chiếc ti vi.
“Có vẻ là vậy, nhưng quá sớm để kết luận, cháu đoán thế. Chúng ta đâu đã có đủ bằng chứng.”
“Hắn chắc chắn có tội!” Bà ta quát lên.
Cuối cùng, bà ta cũng đưa chìa khóa cho tôi. Tôi đi qua bãi đỗ xe, đến một cánh cửa ở tít cuối dãy nhà, mở cửa phòng và bước vào trong; tôi đặt đồ xuống rồi ngồi lên chiếc giường êm ái. Tôi đang ở giữa hoang mạc Mojave, vậy mà căn phòng này lại ướt át lạ lùng; bốc mùi thảm ẩm mốc và thuốc sát trùng Lysol. Một hộp máy thông gió bằng kim loại trắng thu lu trong góc phòng ầm ĩ khởi động – đó là một chiếc máy tạo hơi mát chạy khoảng vài phút rồi tự tắt với một tiếng loảng xoảng ghê rợn chỉ càng làm tăng cảm giác cô quạnh, vật vờ trong tôi.
Tôi đã nghĩ đến chuyện ra ngoài và tìm cho mình một kẻ để cặp kè. Với tôi, chuyện đó quá sức dễ dàng. Mấy năm trước thực sự là bữa tiệc lạc thú của những cuộc tình một đêm, hai đêm và ba đêm chóng vánh. Trò mơn trớn với những kẻ ơ hờ ấy giờ đây thật nực cười làm sao, nhưng tôi vẫn khao khát cái cảm giác khi cơ thể ai đó đè nặng lên người tôi, lấp đi tất cả mọi nỗi niềm nghĩ suy khác trong tôi. Tôi đứng dậy, rũ bỏ cơn thèm muốn đang rền rỉ đói khát trong đầu: Mình có thể đến một quán bar. Mình có thể để gã nào đó mời một cốc. Rồi chỉ chớp nhoáng thôi là có thể cùng gã quay trở lại đây.
Nhưng sau tất cả cơn thèm muốn ấy là nỗi khát khao được gọi cho Paul. Anh giờ đã là chồng cũ nhưng vẫn là người bạn tốt nhất của tôi. Trong mấy năm sau khi mẹ qua đời, tôi càng cố kéo bản thân lánh xa anh bao nhiêu lại càng dựa vào anh bấy nhiêu. Giữa những khoảng đắn đo câm lặng của tôi về cuộc hôn nhân, chúng tôi đã hạnh phúc bên nhau, đã từng, theo những cách kỳ quặc, là một cặp hạnh phúc.
Cái hộp thông gió trong góc phòng lại tự bật lên và tôi đến trước nó, để luồng không khí lạnh cóng phả vào hai cẳng chân trần. Tôi vẫn mặc nguyên bộ quần áo từ tối hôm trước, lúc rời khỏi Portland, thứ nào cũng mới toanh. Đó là bộ đồ đi bộ đường dài và mặc nó trên người tôi cảm thấy hơi lạ lẫm, như thể mình trở thành một người khác. Tôi đi đôi tất len bên trong đôi giày đi bộ, có những lỗ xỏ dây kim loại. Quần soóc màu xanh lính thủy với những cái túi trông thật ngầu cài lại bằng miếng dính Velcro. Quần lót làm từ vải đặc biệt nhanh khô và một cái áo phông trơn trắng mặc bên ngoài áo lót thể thao.
Tôi đã tiết kiệm tiền trong cả mùa đông và mùa xuân để mua bộ đồ này cùng với nhiều thứ khác. Tôi đã cố tăng ca ở quán ăn nơi tôi phục vụ bàn. Lúc mới mua, bộ quần áo này chẳng có vẻ xa lạ với tôi. Mặc dù khi ấy tôi cũng có chút bon chen vào cuộc sống chộn rộn chốn đô thị, nhưng người ngoài vẫn dễ dàng nhận ra tôi là kiểu người thích ở ngoài trời. Xét ra, tuổi niên thiếu của tôi đã lăn lộn qua những cánh rừng vùng Minnesota. Nếu có đi nghỉ thì cả nhà tôi sẽ đi cắm trại, và những chuyến đi chơi của tôi cùng Paul, cùng bạn bè hay một mình cũng đều thế cả. Tôi đã từng ngủ sau xe tải, cắm trại ngoài trời trong công viên và rừng quốc gia nhiều lần đến nỗi không thể nào đếm nổi. Nhưng bây giờ, ở đây, chỉ có ngần này quần áo, đột nhiên tôi cảm thấy như một kẻ lọc lừa. Trong sáu tháng kể từ khi quyết định dấn thân vào hành trình PCT, ít nhất một tá lần tôi đã giải thích tại sao chuyến đi này lại là một ý tưởng hay ho và tôi thích hợp với thử thách này như thế nào. Nhưng giờ đây, một mình trong căn phòng của nhà nghỉ White, tôi biết chẳng thể phủ nhận cái thực tế là mình đang vô cùng chông chênh.
“Có lẽ em nên thử một chuyến đi ngắn hơn đã,” Paul đã gợi ý vậy khi tôi kể với anh ý định của mình trong một cuộc nói chuyện chúng-ta-có-nên-li-dị nhiều tháng trước đó.
“Tại sao?” Tôi nổi quạu. “Anh không nghĩ là em có thể làm được à?”
“Không phải thế.” Anh nói. “Chỉ là theo như anh biết thì em chưa bao giờ phượt bụi như vậy.”
“Em đã đi rồi chứ!” Tôi giận dữ nói, mặc dù anh ấy đúng: tôi chưa đi như thế bao giờ. Dù trước đó đã từng làm những việc mà tôi tự thấy rất liên quan đến phượt bụi, nhưng tôi chưa bao giờ thực sự đeo ba lô sau lưng, cuốc bộ giữa thiên nhiên hoang dã và qua đêm ở đó cả. Chưa một lần nào cả.
Mình chưa từng đi bộ đường dài bao giờ! Lúc này đây, tôi đã nghĩ đến điều ấy với một chút hài hước ảo não. Bất giác tôi nhìn sang chiếc ba lô và những cái túi nhựa mà tôi đã vác đi suốt từ Portland, bên trong là những thứ còn nguyên bao bì. Chiếc ba lô xanh rì màu lá rừng và điểm xuyết chút màu đen, thân ba lô có ba ngăn rộng, những cái túi bên hông nhét đầy giẻ và túi bóng, phồng lên như những cái tai to. Nó đứng đó, hai ngăn nhựa lạ mắt phình ra ngang đáy làm bệ đỡ. Lạ lùng thay, chỉ cần nó tự đứng được như thế mà không đổ nghiêng sang bên như những chiếc túi khác cũng khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào. Tôi đi đến chỗ cái ba lô và sờ vào nó như thể đang xoa đầu một đứa trẻ. Một tháng trước, người ta nhất mực khuyên tôi trước khi bắt đầu hành trình nên xếp đồ vào ba lô và vác đi thử. Tôi đã định làm thế trước khi rời Minneapolis, và tôi cũng định làm thế ngay khi đến được Portland. Nhưng tôi đã không làm. Cuộc đi bộ thử của tôi là vào ngày mai – ngày đầu tiên của tôi trên con đường mòn.
Tôi lôi cái còi màu da cam từ một chiếc túi nhựa, bên ngoài túi đựng hùng hồn tuyên bố đây là “kẻ to mồm nhất quả đất”. Tôi xé túi đựng ra rồi tóm lấy cái dây màu vàng, vòng qua cổ, như thể tôi là một huấn luyện viên. Tôi có định đeo nó như thế trong chuyến đi bộ này không ấy hả? Nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng quả tình tôi không biết nữa. Tôi đã mua cái còi to mồm nhất thế giới này mà chẳng cân nhắc kỹ càng, giống như khi mua nhiều thứ khác. Tôi tháo nó ra rồi buộc vào ba lô, để nó có thể đung đưa qua vai tôi khi tôi cuốc bộ. Như thế tôi có thể tiện tay với lấy được ngay khi cần.
Mình có cần cái còi này không? Tôi ngồi phịch xuống giường, tự thấy nhu nhược, chán chường. Đã qua giờ ăn tối lâu rồi, nhưng tôi bồn chồn đến mức chẳng thấy đói, nỗi cô đơn giống như một tiếng thịch khó chịu đã xâm chiếm hết gan ruột tôi rồi.
“Cuối cùng thì em cũng có được thứ em muốn.” Paul nói với tôi khi chúng tôi chia tay ở Minneapolis mười ngày trước.
“Là cái gì?” Tôi hỏi.
“Được ở một mình.” Anh đáp và mỉm cười, dù tôi chỉ có thể gật đầu mà không chắc lắm.
Tôi đã từng muốn như thế, dù không hẳn hoàn toàn là một mình. Dường như không thể gọi tên được những điều tôi muốn có trong tình yêu. Chương cuối cuộc hôn nhân của tôi là một quá trình dằng dặc, bắt đầu bằng một bức thư đến sau cái chết của mẹ một tuần, mặc dù khởi nguồn của lá thư ấy đã có từ trước đó rất lâu.
Đó không phải là bức thư gửi cho tôi. Mà gửi cho Paul. Lúc đó, dù vẫn buồn đau trong nỗi mất mát còn quá mới, nhưng tôi vẫn hăm hở lao vào phòng ngủ và trao thư cho anh khi nhìn thấy địa chỉ người gửi. Bức thư đến từ trường New School ở thành phố New York. Ở một đoạn đời khác – mới ba tháng trước chứ đâu xa, khi tôi còn chưa biết mẹ mắc ung thư – tôi đã giúp anh nộp hồ sơ cho chương trình Tiến sĩ ngành Triết học Chính trị. Hồi giữa tháng một, cái ý tưởng sống ở thành phố New York như thể là niềm hạnh phúc lớn lao nhất thế gian. Nhưng giờ đây, vào cuối tháng ba – khi Paul xé phong bì và reo lên thông báo đã trúng tuyển, khi tôi ôm anh và tỏ vẻ hân hoan chúc mừng – thì tôi lại cảm thấy bản thân như bị chia cắt làm hai nửa. Đó là tôi của thời điểm trước khi mẹ mất và tôi hiện tại, cuộc đời trước kia ngự như một vết bầm trên thân thể. Con người thực của tôi nằm dưới đó, phập phồng dưới tất cả những điều mà tôi từng nghĩ là mình biết. Rằng tôi sẽ lấy được bằng cử nhân và mấy tháng sau chúng tôi có thể chuyển đi. Rằng chúng tôi sẽ thuê một căn phòng ở East Village hay Park Slope – những nơi mà tôi chỉ mới tưởng tượng và đọc về chúng. Rằng tôi sẽ mặc chiếc áo cánh dơi sành điệu với mũ len siêu dễ thương và đôi giày cao cổ cực chất khi trở thành một nhà văn, lãng mạn, tay trắng như những nhân vật anh hùng, đả nữ trong văn học.
Giờ đây tất cả những chuyện đó đã trở thành không thể, bất kể bức thư kia có nói gì đi nữa. Mẹ đã mất. Mẹ đã mất. Mẹ đã mất. Mọi thứ tôi hình dung về bản thân đều đã tan biến theo hơi thở cuối cùng của mẹ.
Tôi không thể rời Minnesota. Gia đình tôi cần tôi. Ai có thể bên Leif cho đến khi em ấy trưởng thành? Ai sẽ ở đó an ủi dượng Eddie trong nỗi cô đơn? Ai sẽ nấu bữa tối lễ Tạ Ơn và tiếp tục truyền thống gia đình? Phải có ai đó gắn kết những gì còn lại của gia đình. Và “ai đó” ấy phải là tôi. Tôi nợ mẹ ít nhất là điều đó.
“Anh có thể đi còn em ở lại.” Tôi nói với Paul khi anh cầm bức thư. Và tôi lặp lại nhiều lần nữa khi chúng tôi nói về chuyện đó vào những tuần tiếp theo, ngày càng thêm quả quyết. Một phần trong tôi vô cùng hãi sợ cảnh phải rời xa anh; một phần khác lại chỉ mong anh cứ đi như vậy. Nếu anh đi, cánh cửa hôn nhân của chúng tôi sẽ tự đóng lại mà không cần một cú đạp nào từ tôi cả. Tôi sẽ tự do và lỗi chẳng thuộc về tôi. Tôi yêu anh, nhưng lúc kết hôn tôi bốc đồng và mới 19 tuổi; còn lâu mới đủ chín chắn để gắn cuộc đời mình với một ai khác, dẫu người đó đáng mến đến chừng nào. Dù chẳng bao lâu sau khi lấy nhau tôi đã bị hấp dẫn bởi những người đàn ông khác, nhưng tôi vẫn giữ kẽ với họ. Song tôi không thể làm thế được nữa. Nỗi đau đã bịt mất khả năng kiềm chế của tôi. Tôi biện minh rằng cuộc đời đã từ chối tôi nhiều thứ. Tại sao tôi lại phải từ chối chính bản thân mình cơ chứ?
Mẹ mất được một tuần thì tôi đã hôn một gã trai khác. Và một gã khác nữa vào tuần tiếp theo. Tôi chỉ mơn trớn với họ và những người đến sau – tôi thề thốt không bước qua ranh giới tình dục vốn vẫn có một ý nghĩa nào đó với tôi. Nhưng tôi vẫn biết tôi đã sai khi dối lừa như thế. Tôi cảm thấy như bị sập bẫy, loay hoay vì không thể rời bỏ khỏi Paul hay giữ sự thủy chung, bởi vậy tôi chờ đợi anh rời bỏ tôi và chuyển đi học một mình, cho dù tất nhiên là anh sẽ không đồng ý.
Anh bảo lưu một năm và chúng tôi ở lại Minnesota để tôi có thể gần gia đình mình, mặc dù cái sự ở gần ấy cũng chẳng giúp được gì nhiều trong năm đầu sau khi mẹ mất. Hóa ra là tôi chẳng thể kéo mọi người lại gần nhau. Tôi không phải là mẹ. Chỉ đến khi mẹ mất rồi tôi mới nhận ra bà là ai: một nguồn năng lượng diệu kỳ ở vị trí trung tâm, giữ cho tất cả chúng tôi hiện hữu quanh mẹ với một quỹ đạo bền chặt. Không có mẹ, dượng Eddie dần trở thành một người xa lạ. Leif, Karen và tôi bị cuốn đi theo cuộc sống của mỗi người. Tôi đã vật vã cưỡng lại, rồi cuối cùng cũng phải vật vã chấp nhận sự thực rằng: không có mẹ, chúng tôi chẳng còn là chúng tôi ngày xưa nữa; chúng tôi trôi dạt mỗi người một phương nổi nênh lặn ngụp với nỗi đau khổ của riêng mình, kết nối với nhau bằng một sợi dây mỏng manh nhất. Tôi chưa bao giờ làm bữa tối Tạ Ơn mà tôi đã định. Đến lễ Tạ Ơn, tám tháng sau khi mẹ mất, tôi đã nói về “gia đình” như một cái gì đó xưa lắm.
Bởi vậy tôi đã rất vui mừng khi cuối cùng Paul và tôi cũng chuyển đến thành phố New York, một năm sau thời điểm đã định. Ở đó, lẽ ra tôi có thể có một cuộc đời mới. Tôi sẽ thôi dan díu với đàn ông. Tôi sẽ không đau đớn buồn khổ nữa. Tôi sẽ không giận dữ nghĩ về tổ ấm mà tôi từng có nữa. Tôi sẽ trở thành một nhà văn sống ở thành phố New York. Tôi sẽ đi dạo loanh quanh với đôi bốt cực ngầu và chiếc mũ len siêu dễ thương.
Tôi đã chẳng đi theo con đường đó. Tôi vẫn là tôi như cũ: vẫn là người đàn bà phập phồng giấu mình dưới vết bầm của cuộc đời trước đó, chỉ khác là tôi đang ở một nơi mới thôi.
Ban ngày, tôi viết truyện; tối đến tôi phục vụ bàn rồi ôm ấp hôn hít với một trong hai người đàn ông mà tôi đều không vượt quá giới hạn. Chúng tôi mới sống ở New York một tháng thì Paul bỏ học tiến sĩ, chuyển sang học guitar. Sáu tháng sau, chúng tôi cùng nhau rời đi, trở lại Minnesota chóng vánh trước khi lên đường cho một chuyến vừa đi vừa làm việc kéo dài nhiều tháng trên khắp miền tây, làm một vòng bát ngát đi qua cả Grand Canyon và Thung lũng Chết, Big Sur và San Francisco. Chuyến đi kết thúc vào cuối xuân, chúng tôi dừng lại ở Portland và tìm việc trong những nhà hàng. Lúc đầu chúng tôi ở với bạn tôi là Lisa trong căn hộ bé tí xíu của cô ấy, sau đó tới ở một trang trại cách thành phố16 km, chăm sóc một con dê, một con mèo và một đàn gà chọi, đổi lại chúng tôi được ở đó miễn phí cả mùa hè. Chúng tôi kéo tấm nệm từ xe tải ra, đặt vào phòng khách và ngủ ở đó, dưới khung cửa sổ lớn trông ra vườn cây phỉ. Chúng tôi thường đi dạo khá lâu, hái dâu và làm tình với nhau. Mình có thể làm được. Tôi nghĩ. Mình có thể là vợ của Paul.
Nhưng lại một lần nữa tôi đã nhầm. Dường như tôi chỉ có thể là con người vốn dĩ trước đây. Chỉ là lúc này tôi còn tồi tệ hơn cả thế. Thậm chí tôi còn không nhớ nổi người đàn bà trong tôi trước khi đời mình tách làm hai nửa. Khi sống ở ngôi nhà trang trại nhỏ bé bên rìa Portland đó, vài tháng sau lần giỗ thứ hai của mẹ, tôi đã không còn lo lắng gì về chuyện bước qua ranh giới nữa. Khi Paul nhận việc ở Mineapolis và phải quay trở lại Minnesota giữa mùa lũ gà ấp trứng, tôi ở lại Oregon và “chơi” ngay bạn trai cũ của người đàn bà là chủ nhân đàn gà này. Tôi làm tình với một gã đầu bếp ở nhà hàng nơi tôi được nhận công việc phục vụ bàn. Tôi ngủ với một tay mát-xa, kẻ đã cho tôi một miếng bánh kem chuối và một chầu mát-xa miễn phí. Cả ba người bọn họ không thọ với tôi quá năm ngày.
Cảm giác của tôi lúc đó hẳn giống với những người tự cắt tay mình. Chẳng đẹp đẽ gì nhưng sạch sẽ. Chẳng hay ho, nhưng không hề hối tiếc. Tôi đang cố gắng tự chữa lành vết thương. Cố gắng gột bỏ cái xấu để lại trở nên tốt đẹp như xưa. Cố gắng tự cứu mình khỏi chính mình. Cuối mùa hè, khi trở lại Minneapolis để sống với Paul, tôi tin rằng mình đã làm được điều đó. Tôi nghĩ mình đã đổi khác, đã tốt hơn, đã êm thấm. Và tôi thực đã như vậy trong một khoảng thời gian, suốt mùa thu năm đó và bước sang năm mới. Rồi tôi lại sa vào một cuộc tình khác. Tôi biết tôi đã đi đến tận cùng giới hạn. Tôi không thể chịu nổi chính mình. Cuối cùng, tôi phải nói với Paul những lời sẽ đâm toạc cuộc đời tôi. Chẳng phải rằng tôi không yêu anh. Mà rằng tôi cần được ở một mình, mặc dù tôi không biết tại sao.
Mẹ đã mất được ba năm.
Chúng tôi đã cùng nức nở trên sàn nhà sau khi tôi nói hết những chuyện phải nói. Ngày hôm sau, Paul chuyển ra ngoài. Rồi dần dần, chúng tôi nói với bạn bè rằng chúng tôi đang ly thân. Chúng tôi nói hy vọng mọi chuyện rồi sẽ êm xuôi. Chúng tôi sẽ không cần thiết phải ly hôn. Đầu tiên họ đều không tin – ai cũng nói chúng tôi có vẻ rất hạnh phúc. Tiếp đến, họ nổi khùng – không phải với cả hai chúng tôi mà chỉ với mình tôi. Một trong những người bạn thân nhất đã rạch đôi bức ảnh của tôi, rồi gửi cho tôi. Một cô bạn khác thì ve vãn Paul. Khi tôi đau đớn và phát ghen vì điều đó, một người bạn khác đã nói thế là đáng đời tôi: tôi xứng đáng nhận vị thuốc đắng của chính mình. Công bằng mà nói, tôi chẳng có lý gì để mà phản đối, nhưng trái tim tôi vẫn nát tan. Nằm một mình trên chiếc đệm của hai đứa, tôi thấy mình đang lơ lửng trong nỗi đớn đau.
Ly thân được ba tháng, chúng tôi vẫn dùng dằng trong đau khổ. Tôi vừa không muốn quay lại với Paul lại vừa không muốn ly hôn. Tôi muốn phân thân để có thể làm được cả hai. Paul đang hẹn hò với một hai người gì đó, nhưng tôi thì hoàn toàn cô độc. Tôi đã đập nát cuộc hôn nhân của chúng tôi vì tình dục, và giờ thì tình dục lại là thứ tôi thờ ơ nhất.
“Cậu cần thoát khỏi cái nơi Minneapolis quái quỷ này.” Bạn tôi, Lisa, đã nói thế vào một trong những đêm tâm sự gan ruột của chúng tôi. “Hãy đến Portland với tớ.”
Chỉ trong vòng một tuần, tôi đã nghỉ việc bồi bàn, chất đồ lên chiếc xe tải, và lái thẳng về phía tây, khởi hành trên đúng con đường mà một năm sau đó tôi đã băng qua để đến với cung đường Pacific Crest.
Khi đến được Montana, tôi biết mình đã làm đúng – vùng đất xanh lá mênh mông trải tới hàng cây số qua kính chắn gió ở xe tôi, và bầu trời thì còn xa hơn nữa. Thành phố Portland thoắt biến mất khỏi tầm nhìn. Đây có thể là cuộc trốn chạy ngọt ngào của tôi, dù chỉ là trong một khoảng thời gian ngắn. Tôi đã nghĩ mình sẽ bỏ lại sau lưng những rắc rối.