CÔ GÁI DUY NHẤT TRONG RỪNG

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7 - CÔ GÁI DUY NHẤT TRONG RỪNG

❊ ❊ ❊

Cheryl Strayed?” Người phụ nữ ở cửa hàng bách hóa đồng cỏ Kennedy hỏi tôi, không một nụ cười. Khi tôi gật đầu hồ hởi thì cô ấy quay đi và biến mất vào phía sau mà không nói thêm một lời nào khác.

Tôi ngó quanh, say sưa nhìn chỗ thực phẩm đóng gói và đồ uống, vừa phấn khích mường tượng tới những thứ tôi sắp ngốn sạch trong vài giờ tới, vừa thấy nhẹ nhõm vì cái ba lô không còn đeo bám trên người nữa mà bây giờ đang nằm ngoài hiên cửa hàng.

Tôi đã ở đây. Tôi đã đến được trạm dừng chân đầu tiên. Cứ như thể một phép màu. Tôi thảng mong gặp Greg, Matt, và Albert ở cửa hàng, nhưng chẳng thấy họ đâu. Cuốn sách hướng dẫn nói khu đất cắm trại cách đây gần năm cây số và tôi đồ rằng sẽ tìm thấy họ ở đó, cùng cả Doug và Tom. Nhờ tôi ráng sức, nên họ đã không bắt kịp tôi. Đồng cỏ Kennedy là một rừng thông khá rộng cùng cây xô thơm và các đồng cỏ ở độ cao gần 1.900 m so với mực nước biển trên con sông Nam Fork Kern. Đây không phải là một thị trấn mà đúng hơn là một khu dân cư vùng biên viễn trải khắp vài kilômét, có một cửa hàng bách hóa, một nhà hàng tên là Grumpie’s và một khu cắm trại hoang sơ.

“Của cô đây.” Người phụ nữ nọ quay trở lại với cái hộp của tôi và đặt nó lên quầy. “Chỉ có một cái hộp duy nhất mang tên con gái. Thế nên tôi biết là của cô.” Cô ấy đưa cho tôi qua quầy. “Thêm cái này nữa.”

Trong tay cô ấy là một tấm bưu thiếp. Tôi cầm lấy và đọc: Anh hy vọng em đã đi được đến đây, nét chữ nguệch ngoạc quen thuộc. Một ngày nào đó anh muốn là bạn trai không nghiện ngập của em. Anh yêu em. Joe. Mặt bên kia là một bức hình khách sạn Bãi biển Sylvia trên bờ biển Oregon, nơi chúng tôi đã từng ở cùng nhau. Tôi nhìn chăm chú vào tấm hình thật lâu, một chuỗi cảm xúc như những cơn sóng lòng ập lên người tôi: biết ơn vì lời nói của một người mà tôi biết, hoài nhớ đến Joe, thất vọng vì chỉ có một người duy nhất viết cho tôi, và tan vỡ, một cách vô lý, rằng người ấy lại không phải là Paul.

Tôi mua hai chai nước chanh Snapple, một cái Butterfinger cỡ lớn và một túi Doritos rồi đi ra ngoài, ngồi ở bậc trước, nghiến ngấu những thứ vừa mua trong khi đọc đi đọc lại tấm bưu thiếp. Sau một hồi, tôi để ý thấy một cái hộp ở góc cổng nhét đầy thức ăn cho dân phượt hầu hết đã được đóng gói. Phía trên cái hộp là một bảng viết tay:

Hộp MIỄN PHÍ cho dân phượt PCT!!!

Để lại những gì bạn không cần!

Lấy những gì bạn cần!

Một cái gậy trượt tuyết dựng ngay sau cái hộp, đúng thứ tôi cần. Đó là cái gậy đúng kiểu dành cho công chúa: trắng bóc với dải lụa chỗ tay nắm bằng nylon màu hồng kẹo cao su. Tôi cầm nó đi thử mấy bước. Tầm cao hoàn hảo. Nó sẽ giúp tôi không chỉ băng qua tuyết mà còn qua rất nhiều khúc suối cạn và những chỗ lở đá chắc chắn đang đợi tôi ở phía trước.

Một giờ sau, tôi cùng cây gậy đi dọc con đường đất chạy vào một đường vòng quanh khu cắm trại, tìm Greg, Matt và Albert. Đó là một chiều chủ nhật tháng sáu, nhưng nơi đây gần như trống trơn. Tôi đi qua một người đàn ông đang chuẩn bị đồ câu cá và một cặp đôi với một thùng bia ướp lạnh cùng bộ loa thùng, cuối cùng đến được một chỗ dựng lều có một người đàn ông tóc xám ở trần với một cái bụng to rám nắng đang ngồi đọc sách ở cái bàn ngoài trời. Ông ta nhìn lên khi tôi tiến đến.

“Hẳn cô là Cheryl trứ danh với cái ba lô khổng lồ.” Ông ta gọi tôi.

Tôi phá lên cười tỏ ý xác nhận.

“Tôi là Ed.” Ông ta bước tới bắt tay tôi. “Mấy anh bạn của cô ở đây. Họ vừa bắt xe đến cửa hàng – chắc cô trượt mất họ lúc trên đường tới đây – nhưng họ bảo tôi chờ cô đến. Cô có thể dựng lều ngay chỗ kia nếu cô muốn. Bọn họ cắm trại ở đây cả – Greg, Albert, với cậu con trai.” Ông ta ra hiệu về phía những cái lều xung quanh. “Chúng tôi đã cá xem ai đến trước. Cô hay hai cậu trai từ phía đông đi sau cô.”

“Ai thắng?” Tôi hỏi.

Ed nghĩ một thoáng. “Không ai cả.” Ông ta nói, và phá lên cười. “Chẳng ai đặt cược cho cô cả.”

Tôi ghé Quái Vật lên chiếc bàn, tháo ra, và để nó ở đấy, để khi phải đeo lại tôi sẽ không phải trình diễn màn nâng tạ hòng cất nó lên từ mặt đất.

“Chào mừng tới tệ xá của tôi.” Ed nói, tay chỉ một cái xe moóc nhỏ có cái mái bằng bạt trải rộng ra ở một bên, một cái bếp dã chiến tạm thời ở bên dưới. “Cô đói không?”

Chỗ đó không có nơi tắm rửa, nên trong khi Ed làm bữa trưa cho tôi, tôi đi bộ ra sông để rửa ráy mà vẫn mặc nguyên quần áo. Sau tất cả những vùng đất khô cằn mà tôi đã băng qua, dòng sông này giống như một cú sốc với tôi vậy. Con sông Nam Fork Kern không phải là một dòng sông hú họa nào đó. Nó hung dữ, tự tung tự tác, băng giá và gầm gào, bằng chứng khá rõ ràng của những trận tuyết nặng nề ở vùng núi cao kia. Ngay cả ở chỗ nước chỉ ngập đến mắt cá chân, dòng chảy cũng rất nhanh và xiết, bởi vậy tôi đi xuôi xuống bờ sông cho đến khi tìm thấy một vùng nước xoáy gần bờ và lội ra. Bàn chân tôi phát đau vì nước lạnh và cuối cùng trở nên tê dại. Tôi cúi xuống làm ướt mái tóc cáu bẩn của mình và té nước vào trong áo để rửa ráy thân người. Trong người tôi như có một luồng điện với chút men ngọt ngào và vinh quang khi đến được nơi; lấp đầy bởi những nỗi háo hức được trò chuyện trong mấy ngày sắp tới.

Tắm xong, tôi bước lên bờ rồi đi ngang qua đồng cỏ rộng, ẩm ướt và mát mẻ. Tôi có thể nhìn thấy Ed từ đằng xa, và khi bước đến tôi thấy ông di chuyển từ bếp dã chiến đến cái bàn ngoài trời với nhiều đĩa thức ăn trên tay, các chai nước sốt cà chua và mù tạt và những lon Coca. Tôi mới chỉ biết ông có vài phút trước, thế nhưng, giống như những người đàn ông khác từng gặp, tôi nhanh chóng thấy ông thật thân thuộc, như thể tôi có thể tin tưởng ông gần như trong bất cứ chuyện gì. Chúng tôi ngồi đối diện qua bàn và ăn trưa trong khi ông kể cho tôi nghe về ông. Ông đã 50 tuổi, là một nhà thơ nghiệp dư và đi ngao du theo mùa, không con cái và đã ly hôn. Tôi cố ăn theo tốc độ thong thả của ông ấy, nhìn ông ấy đưa thức ăn vào miệng rồi mới làm theo, đúng như cái cách tôi đã cố theo kịp tốc độ bước đi của Greg mấy ngày trước, nhưng rút cuộc tôi chẳng thể làm được. Tôi đói cồn đói cào. Tôi ngấu nghiến hai cái xúc xích, một núi đậu nướng cao ngất và một núi khoai tây cao ngất khác chỉ trong nháy mắt và rồi ngồi đó đói cồn cào, chỉ ước có thêm nữa để ăn. Trong khi đó Ed cứ nhẩn nha giải quyết bữa trưa, ngừng lại một chút để mở cuốn sổ ra, đọc to những bài thơ mà ông vừa sáng tác vào ngày hôm trước. Ông kể là hầu hết thời gian trong năm, ông sống ở San Diego, nhưng cứ mỗi mùa hè lại dựng lều ở đồng cỏ Kennedy để gặp gỡ những người đi bộ qua PCT khi họ ngang qua đây. Trong ngôn ngữ của giới đi bộ qua PCT, ông ấy được gọi là thiên thần đường mòn, nhưng cho đến lúc ấy tôi chẳng hề biết điều đó. Thậm chí tôi còn chẳng biết có hẳn một thứ biệt ngữ cho dân PCT.

“Nhìn này, các anh em, chúng ta thua cược cả rồi!” Ed la lên với mấy người đàn ông khi họ từ cửa hàng trở về.

“Tôi không thua!” Greg phản đối khi anh đến gần và bóp vai tôi. “Tôi đặt cửa chỗ cô mà, Cheryl.” Anh khăng khăng thế, mặc dù những người khác phủ nhận ngay.

Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn cắm trại, nói chuyện về con đường mòn, và sau một lúc tất cả bọn họ đều rút đi đánh một giấc ngủ trưa – Ed về cái xe của ông ấy; Greg, Albert và Matt về lều của họ. Tôi ngồi lại bàn, sung sướng đến mức không ngủ được, lục lọi đồ đạc trong cái hộp mà tôi đóng gói mấy tuần trước. Những thứ bên trong mang thứ mùi của một thế giới xa thật xa, một thế giới mà tôi đã ngự trong khoảng đời khác, mùi của hương trầm Nag Champa đã từng lan tỏa khắp căn hộ của tôi. Những cái túi khóa zip và những túi đồ ăn vẫn còn bóng bẩy và nguyên vẹn. Chiếc áo phông vẫn thơm mùi nước giặt hương hoa nhài mà tôi đã mua một lố ở cửa hàng tiện ích gần nơi sinh sống tại Minneapolis. Cái bìa hoa lá của cuốn The complete stories (Những câu chuyện hoàn tất) của Flannery O’Connor vẫn còn thẳng thớm.

Từ “thẳng thớm” ấy chẳng thể dùng để tả cuốn Khi tôi nằm chết của Faulkner được, hay đúng hơn là chẳng thể tả cái phần mỏng dính của cuốn sách còn lại trong ba lô được. Tôi đã xé bỏ bìa và tất cả các trang đã đọc vào tối hôm trước rồi đốt trong một cái khay nhôm nhỏ mang theo để kê dưới bếp chống tia lửa bắn ra. Tôi nhìn cái tên của Faulkner biến mất trong ngọn lửa, thấy như có chút báng bổ vậy – chưa bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện đốt sách cả – nhưng tôi tha thiết mong được làm nhẹ đống đồ của mình. Tôi đã làm y như thế với những phần trong cuốn Đường mòn Pacific Crest Trail, tập 1: California mà tôi đã đi qua.

Thật đau đớn khi phải làm như vậy, nhưng bắt buộc phải thế. Trong cuộc sống đời thường trước khi đi PCT, tôi vốn đã rất yêu những cuốn sách, nhưng trên con đường mòn này, chúng thậm chí còn có ý nghĩa lớn lao hơn. Chúng là thế giới mà tôi có thể vùi mình vào khi thế giới mà tôi đang thực sự sống trở nên quá đơn côi hay khắc nghiệt hay khó có thể chịu đựng nổi. Mỗi tối khi dừng chân, tôi đều vội vã làm cho xong các thao tác dựng lều, đun nước và nấu nướng bữa tối để sau đó có thể yên vị vào cái ghế ở mái hiên lều với xoong thức ăn nóng kẹp chặt giữa hai đầu gối. Một tay tôi cầm thìa xúc thức ăn còn tay kia cầm sách, đọc trong ánh sáng của đèn đeo đầu khi trời đã tối. Tuần đầu tiên, tôi thường kiệt sức đến mức đọc chưa nổi quá một hoặc hai trang thì đã ngủ mất, nhưng khi đã khỏe mạnh hơn, tôi đọc được nhiều hơn, khát khao được chạy trốn khỏi nỗi buồn chán. Và mỗi sáng, tôi đốt hết những gì đã đọc vào tối hôm trước.

Khi tôi cầm tập truyện ngắn còn mới tinh của O’Connor, Albert từ trong lều thò ra. “Tôi trông như thể cô có thể bỏ đi một vài thứ đấy.” Ông nói. “Cần tôi giúp không?”

“Thực sự là,” tôi nói, mỉm cười ảo não với ông, “có chứ ạ.”

“Được rồi, thế thì đây là những thứ tôi muốn cô làm: chỉ xếp những đồ mà cô sẽ dùng để đi bộ trong đoạn đường tiếp theo, rồi ta sẽ xem xét từ chỗ đồ đó.” Rồi ông đi về phía bờ sông, tay cầm một bàn chải đánh răng không có tay cầm – rõ ràng là ông đã bẻ gãy nó đi cho đỡ nặng.

Tôi bắt tay vào việc, phân loại đồ mới với đồ cũ, cảm giác như đang làm một bài kiểm tra mà thế nào tôi cũng trượt. Khi tôi làm xong thì Albert cũng quay lại và cẩn thận dỡ đồ của tôi ra. Ông đặt mỗi thứ vào một trong hai chồng – một chồng cho lại vào ba lô của tôi, chồng kia thì cho vào cái hộp tiếp tế giờ đã rỗng không mà tôi có thể gửi trả về nhà hoặc để vào hộp đồ PCT miễn phí đặt ở cổng ra vào cửa hàng bách hóa đồng cỏ Kennedy để người khác có thể dùng lại. Lần lượt chui vào cái hộp là chiếc cưa gấp và cái ống nhòm siêu nhỏ và đèn nháy sáng megawatt cho chiếc máy ảnh mà tôi còn chưa dùng đến. Tiếp tới, Albert gạt sang một bên cái lăn khử mùi mà tôi đã đánh giá quá cao hiệu quả của nó, cái bàn dao cạo tôi mang đi với ý định mơ hồ để cạo lông chân và lông dưới cánh tay và – cái này khiến tôi xấu hổ nhất – một xấp bao cao su bự chảng tôi đã quẳng vào bộ sơ cứu.

“Cô thật sự cần những thứ này à?” Albert hỏi, cầm bịch bao cao su lên. Albert, ông bố thuộc đội hướng đạo sinh Eagle của Georgia, với chiếc nhẫn cưới lóe lên dưới ánh mặt trời, người đã cắt tay cầm của bàn chải đánh răng, nhưng chắc chắn là mang một cuốn kinh bỏ túi trong ba lô. Ông nhìn tôi, khuôn mặt đanh lại như một chiến binh, trong khi những cái túi nhựa màu trắng của tá bao cao su siêu mỏng không bôi trơn hiệu Trojan kêu lách nhách khi trải ra như một dải cờ đuôi nheo từ tay ông.

“Không.” Tôi nói, cảm thấy như sắp chết được vì xấu hổ. Ý nghĩ về việc làm tình giờ nghe thật nực cười, mặc dù lúc đóng gói đồ đạc tôi lại nghĩ về nó như một viễn cảnh hết sức hợp lý, hồi ấy tôi chẳng có khái niệm gì rằng đi bộ qua đường mòn Pacific Crest sẽ khiến cho cơ thể của tôi thành ra thế nào. Tôi chưa được ngắm lại mình lần nào kể từ khi ở nhà nghỉ ở Ridgecrest, nhưng sau khi những người đàn ông đã đi ngủ hết, tôi tranh thủ ngó mặt mình qua một tấm gương gắn bên cạnh chiếc xe moóc của Ed. Trông tôi cháy nắng và bẩn thỉu, mặc dù tôi vừa mới dầm mình ở dòng sông. Tôi gầy xọp đi, và mái tóc vàng đậm sáng ra chút xíu, xẹp xuống hay bồng lên bởi tất cả những mồ hôi khô kết, nước sông và bụi bẩn.

Tôi trông chẳng giống một người phụ nữ có thể cần đến những 12 cái bao cao su.

Nhưng Albert không dừng lại để xoáy vào những thứ như thế – rằng tôi có làm tình hay không, hay tôi có xinh đẹp hay không. Ông tiếp tục, giật lấy cái ba lô của tôi, căn vặn nghiêm khắc trước mỗi lần thảy một thứ đồ khác vào trong chồng đồ bỏ đi mà trước đó tôi tưởng rằng nhất thiết phải mang theo. Gần như lần nào ông ấy cầm một thứ đồ lên, tôi cũng gật đầu đồng ý là nên bỏ, dù tôi đã không bỏ cả hai cuốn Những câu chuyện hoàn tất và cuốn sách yêu quý và còn mới cứng Giấc mơ về một ngôn ngữ chung. Tôi cũng giữ lại cuốn sổ nhật ký mà tôi đã ghi lại mọi điều đã làm vào mùa hè năm đó. Và khi Albert quay đi, tôi xé một cái bao cao su cuối cùng trong dải bao cao su cuộn tròn to bự mà ông vất bên cạnh, bí mật đút vào trong túi sau quần soóc.

“Vậy sao cô lại đến đây?” Albert hỏi khi đã xong việc. Ông ngồi trên cái ghế dài của bàn cắm trại, hai bàn tay to lớn khoanh trước ngực.

“Để đi bộ trên đường mòn PCT?” Tôi hỏi.

Ông ta gật đầu và theo dõi khi tôi đẩy vô vàn các thứ chúng tôi đồng ý giữ lại vào trong ba lô. “Tôi sẽ nói cho cô biết tại sao tôi lại đi chuyến đi này.” Ông ấy nói nhanh, trước khi tôi có thể trả lời. “Đó là giấc mơ cả đời tôi. Khi tôi nghe nói về con đường này tôi đã nghĩ: Vậy là giờ mình đã có việc để mà thích làm trước khi về với Chúa.” Ông đấm nhẹ nắm tay lên mặt bàn. “Thế còn cô, cô gái? Tôi có một giả thuyết là hầu hết mọi người đều có một lý do. Phải có cái gì đó lôi kéo họ tới đây.”

“Cháu không biết.” Tôi ngần ngại. Tôi không định nói cho người đàn ông Georgia năm mấy tuổi thuộc đội hướng đạo sinh Đại Bàng ngoan đạo này tại sao tôi lại quyết định đi bộ một mình trong rừng suốt ba tháng trời, cho dù đôi mắt ông có nhấp nháy dịu dàng đến mức nào khi mỉm cười đi nữa. Những thứ đã dụ dỗ tôi đi bộ qua con đường mòn này với ông ấy sẽ hết sức gây sốc, với tôi thì mơ hồ; và với cả hai chúng tôi, chúng chỉ cho thấy toàn bộ những nỗ lực này thực chỉ là trò mới nông nổi làm sao.

“Chủ yếu vì,” tôi nói, “cháu nghĩ chắc đi thế này cũng vui.”

“Cô gọi đây là vui hả?” Ông hỏi, và cả hai chúng tôi cười ngất.

Tôi quay sang dựa vào Quái Vật, luồn tay tôi qua hai quai. “Xem nó nhẹ được bao nhiêu.” Tôi nói và ôm chặt nó. Nâng nó lên khỏi bàn, tôi ngỡ ngàng thấy sao nó có thể nhẹ đến thế, cho dù đã thêm cái rìu phá băng mới và đồ lương ăn cho 11 ngày tới. Tôi cười rạng rỡ với Albert: “Cảm ơn ạ!”

Ông lặng lẽ cười đáp lại, lắc lắc đầu.

Tôi hân hoan bước đi thử một đoạn trên con đường đất vòng quanh khu cắm trại, lưng vẫn đeo ba lô. Ba lô của tôi vẫn là to nhất trong số này – đi một mình, tôi phải mang hết số đồ mà những người đi theo cặp có thể chia ra, và tôi không có sự tự tin hay những kỹ năng mang đồ nhẹ như Greg – nhưng so với cái ba lô trước khi Albert giúp tôi loại bỏ bớt, giờ nó nhẹ đến nỗi tôi còn cảm tưởng có thể nhảy lên được. Đi được một nửa đoạn đường vòng, tôi dừng lại và nhảy cẫng lên.

Được có độ hai phân rưỡi, nhưng ít nhất thì tôi cũng nhảy được.

“Cheryl?” Một giọng nói vang lên ngay lúc đó. Tôi nhìn lên và thấy một anh chàng đẹp trai vai đeo ba lô đang đi về phía mình.

“Doug?” Tôi hỏi lại, và đã đoán đúng. Cậu ta đáp lại bằng hai cánh tay vẫy vẫy và huýt lên mừng vui, rồi tiến thẳng đến chỗ tôi và kéo tôi lại để ôm.

“Chúng tôi đọc thấy chữ cô viết trong sổ đăng ký và cố gắng bắt kịp cô.”

“Và tôi đây rồi.” Tôi lắp bắp, hơi bất ngờ trước sự nồng nhiệt và vẻ đẹp trai của cậu ta. “Chúng ta dựng lều hết ở đằng kia.” Tôi ra dấu về phía sau tôi. “Chúng tôi có một nhóm. Bạn của anh đâu?”

“Anh ấy sẽ đến nhanh thôi.” Doug nói, và lại huýt lên lần nữa, chẳng vì cái gì cả. Cậu ấy nhắc tôi nhớ đến tất cả những chàng trai vàng mà tôi biết trong đời – với vẻ đẹp trai kinh điển, nhận thức một cách quyến rũ về vị thế cao hơn hẳn người khác của mình, tự tin rằng thế giới này là của cậu và cậu an toàn trong nó, mà chưa từng bao giờ nghĩ khác đi. Đứng bên cạnh cậu ta, tôi có cảm giác bất cứ khoảnh khắc nào cậu ta cũng có thể với lấy tay tôi và cùng tôi nhảy dù từ trên một vách núi, cười phá lên khi nhẹ nhàng vỗ cánh xuống.

“Tom!” Doug gầm lên khi một bóng người thấp thoáng trên đường. Cả hai chúng tôi cùng đi về phía cậu ta. Ngay từ xa, tôi đã có thể nói rằng Tom khác Doug một trời một vực cả về hình thức lẫn tinh thần – to xương, nhợt nhạt, đeo một cặp kính. Nụ cười rón rén lướt qua khuôn mặt cậu ta khi chúng tôi đến gần trông đầy thận trọng và hơi khó tin.

“Xin chào.” Cậu ta nói với tôi khi chúng tôi đến đủ gần rồi bắt tay tôi.

Trong vài phút ngắn ngủi để di chuyển đến chỗ lều của Ed, chúng tôi sôi nổi trao đổi thông tin về bản thân như mình là ai, quê ở đâu. Tom 24; Doug 21. Những kẻ máu xanh New England, chắc mẹ tôi sẽ gọi họ như vậy, tôi biết ngay cả trước khi họ kịp kể cho tôi nghe – với mẹ điều đó chỉ có nghĩa rằng về cơ bản là họ giàu có và đến từ đâu đó ở phía đông Ohio và bắc D.C. Chỉ cần mấy ngày tiếp theo thôi là tôi sẽ biết tất cả mọi điều về họ. Bố mẹ họ là bác sĩ phẫu thuật, là thị trưởng, là giám đốc tài chính. Cả hai bọn họ đã theo học ở một trường nội trú sang chảnh nổi tiếng đến mức thậm chí đến tôi cũng biết tên. Họ đi nghỉ dưỡng ở Nantucket trên hòn đảo riêng ngoài khơi Maine và nghỉ kỳ nghỉ mùa xuân ở Vail. Thế nhưng giờ thì tôi chẳng cần biết gì về những điều đó, rằng làm thế nào mà cuộc sống của họ và cuộc sống của tôi lại có thể xa lạ với nhau đủ đường như thế. Tôi chỉ biết rằng theo những cách đặc biệt nào đó, họ là những người cùng giống loài gần gũi nhất của tôi. Họ không phải là những cái đầu cực kỳ hiểu biết, là các chuyên gia đi phượt hay là những kẻ biết tuốt về PCT. Họ không đi bộ hết cả quãng đường từ Mexico đến, cũng chẳng dành đến cả thập kỷ để chuẩn bị cho chuyến đi này. Và thậm chí còn hay hơn thế, những dặm đường mà họ bỏ lại đằng sau cũng khiến họ trầy vi tróc vảy gần như tôi vậy. Nhưng vì đi cùng nhau nên họ không phải trải qua nhiều ngày không gặp một bóng người nào. Ba lô của họ cũng không to lắm, mà tôi nghi ngờ rằng có cả cái cưa gấp trong đó. Nhưng trong một thoáng nhìn xoáy vào mắt Doug, cho dù cậu vẻ có tự tin và thoải mái bao nhiêu, tôi vẫn có thể nói ngay rằng cậu ta đang phải chịu đựng cái gì đó. Khi Tom bắt lấy tay tôi, tôi có thể đọc được chính xác nét mặt của cậu ta. Nó nói rằng: TÔI PHẢI THÁO CÁI ĐÔI GIÀY QUÁI QUỶ NÀY RA NGAY MỚI ĐƯỢC.

Chẳng mấy chốc, cậu ta đã làm vậy. Cậu ta ngồi trên chiếc ghế dài bên cái bàn cắm trại của Ed, sau khi chúng tôi đến chỗ cắm lều và những người đàn ông đã quây quần quanh bàn để giới thiệu nhau. Tôi nhìn Tom cẩn thận lột tất bẩn ra, những miếng vải nhung mặc lâu ngày và những mảng thịt tróc ra cùng chúng. Chân cậu ta trông cũng như chân tôi: trắng ởn và lồi lõm những vết thương rỉ máu, đậy điệm bởi những miếng da bị tróc nhưng vẫn còn toòng teng đau đớn với những miếng thịt rồi sẽ chết từ từ, một cái chết rất PCT. Tôi tháo ba lô và mở một cái túi, lôi ra bộ sơ cứu của mình.

“Cậu đã thử những cái này chưa?” Tôi hỏi Tom, chìa ra hai miếng 2nd Skin – may mắn là tôi đã gói ghém thêm vào hộp tiếp tế. “Những cái này đã cứu sống tôi,” tôi giải thích, “tôi không biết mình có thể đi được tiếp không nếu không có chúng, thật đấy.”

Tom chỉ ngước lên nhìn tôi tuyệt vọng và gật đầu mà không nói thêm gì. Tôi để hai miếng 2nd Skin lên cái ghế dài bên cạnh cậu ta.

“Cứ lấy đi nếu cậu thích.” Tôi nói. Nhìn chúng nằm trong túi bọc màu xanh mờ mờ đục, tôi nhớ đến cái bao cao su ở túi sau. Tôi băn khoăn không biết Tom có mang cái nào đi không; Doug có mang đi không nhỉ; liệu suy cho cùng thì việc tôi mang theo chúng có đúng là ngớ ngẩn không. Có Tom và Doug ở đây khiến cho tôi cảm thấy mình bớt ngớ ngẩn đi một chút.

“Chúng tôi nghĩ tất cả chúng ta sẽ đi lên quán Grumpie lúc sáu giờ.” Ed nói, mắt nhìn đồng hồ. “Chúng ta còn vài tiếng nữa. Tôi sẽ lái xe đưa tất cả đi bằng xe tải của tôi.” Ông nhìn Tom và Doug. “Trong lúc đó, tôi muốn cho các cậu ăn chút gì đó.”

Hội đàn ông ngồi ở bàn cắm trại, ăn khoai tây chiên và đậu nướng lạnh của Ed, nói chuyện về việc tại sao họ lại mang theo đồ này đồ kia và cái được cái hại của mỗi thứ. Ai đó lôi ra một cỗ bài và thế là cuộc bài bạc bắt đầu. Greg lật qua lật lại cuốn sách hướng dẫn ở cuối bàn, gần chỗ tôi. Tôi đứng cạnh cái ba lô của mình, vẫn còn kinh ngạc với sự hóa thân của nó. Các túi lúc trước đó chỉ muốn bung ra mà giờ có cả những khoảng ọp ẹp nho nhỏ.

“Bây giờ cô đích thực là một Jardi-Nazi.” Albert nói, giọng trêu đùa khi thấy tôi đang chăm chú vào cái ba lô. “Đó là những nguyên tắc của Ray Jardine, nói nếu cô không biết. Họ có quan niệm vô cùng đặc biệt về trọng lượng của ba lô.”

“Đó là người đàn ông mà tôi đã kể với cô,” Greg thêm vào.

Tôi vui vẻ gật đầu, cố gắng che giấu sự thờ ơ của mình. “Tôi sẽ đi chuẩn bị để ăn tối.” Tôi nói, và thong thả đi về mé khu cắm trại. Tôi dựng trại lên và rồi bò vào trong, trải rộng cái túi ngủ và đặt mình lên đó, chong mắt nhìn cái trần lều màu xanh lá cây, trong khi lắng nghe tiếng rì rầm nói chuyện của những người đàn ông và thỉnh thoảng lại thấy nổ ra những tràng cười. Tôi chuẩn bị ra ngoài ăn hàng với sáu người đàn ông, và rầu rĩ nhận ra chẳng có gì để mặc ngoại trừ những thứ trên người: một cái áo phông choàng ngoài áo lót thể thao và quần soóc, và bên trong cái quần soóc thì chẳng mặc gì luôn. Tôi nhớ ra chiếc áo sơ mi còn mới nguyên trong hộp tiếp tế và ngồi dậy, mặc nó vào. Toàn bộ phần lưng cái áo tôi đã mặc suốt từ hồi còn ở Mojave bây giờ ố một màu vàng xỉn nâu vì liên tục tắm đẫm mồ hôi. Tôi cuộn tròn nó lại và đặt nó ở góc lều. Tôi sẽ vất nó đi khi đến cửa hàng sau. Những thứ quần áo duy nhất khác mà tôi còn là đồ tôi mang đi để mặc lúc lạnh. Tôi nhớ ra sợi dây chuyền tôi đã đeo cho đến khi nóng quá không thể chịu đựng được nữa; tôi tìm thấy nó trong một cái túi khóa zip giữ bằng lái xe và tiền bạc rồi đeo nó vào. Đó là một cái hoa tai nhỏ bằng ngọc lam và bạc của mẹ tôi. Tôi đã đánh mất chiếc còn lại, bởi vậy tôi đã lấy kìm biến chiếc còn lại thành mặt dây chuyền của một chuỗi dây bạc tinh tế. Tôi mang nó theo vì nó là của mẹ tôi; có nó bên mình tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa, nhưng bây giờ tôi thích có nó đơn giản vì tôi cảm thấy xinh đẹp hơn khi đeo. Tôi luồn tay vào mái tóc, cố gắng sửa sang trông cho dễ coi hơn. Tôi dùng cái lược bé xíu của mình, nhưng cuối cùng thì tôi cũng từ bỏ và vén tóc ra sau tai.

Tôi biết, cứ để mình được trông như thế này, cảm thấy như này và bốc mùi như thế này, lại là một điều hay. Suy cho cùng, tôi là cô gái duy nhất ở trong rừng như lời Ed nói. Chỉ có mình tôi với một đám đàn ông. Trong hoàn cảnh hiện tại trên con đường mòn này, tôi thấy mình cần trung hòa giới tính với những người đàn ông tôi gặp bằng cách trở thành một trong số họ ở những khía cạnh khả thi nhất.

Trong đời mình, tôi chưa bao giờ làm như thế, chưa bao giờ tiếp xúc với đàn ông với vẻ thờ ơ như thể mình chính là một trong số họ như thế. Ngồi trong lều trong khi những người đàn ông kia chơi bài, tôi cảm thấy đây là một việc chẳng dễ dàng gì. Suy cho cùng, tôi đã luôn là một cô gái, quen thuộc và dựa dẫm vào những quyền năng mà sự nữ tính ban tặng cho tôi. Đè nén những quyền năng đó khiến tôi thấy nhức nhối trong lòng. Trở thành một trong những người đàn ông kia có nghĩa là tôi không thể tiếp tục là cô gái rất giỏi thể hiện mình giữa đám con trai nữa. Đó là phiên bản tôi đã lần đầu nếm thử từ hồi còn là đứa con nít 11 tuổi, đã thấy râm ran một luồng sức mạnh khi những gã trai lớn tuổi quay đầu lại để nhìn tôi hoặc huýt sáo hoặc nói Này bé con đáng yêu chỉ vừa đủ to để tôi có thể nghe thấy. Phiên bản mà tôi đã tự hào trong suốt những năm tháng cấp ba, khát khao cơ thể được mảnh khảnh, ra vẻ dễ thương và ngớ ngẩn để có thể nổi tiếng và được yêu chiều. Phiên bản mà tôi đã nâng niu suốt thời thanh xuân trong khi thử đủ các kiểu quần áo khác nhau – kiểu gái ngoan hiền, kiểu gái chất lừ, kiểu gái cao bồi, kiểu gái nổi loạn, kiểu gái mạnh mẽ. Phiên bản mà đằng sau mọi đôi bốt nóng bỏng hay những chiếc váy ngắn gợi cảm hay mái tóc chải chuốt là một cánh cửa bẫy dẫn đến phiên bản khác với bản chất của tôi nhất.

Bây giờ thì chỉ có một phiên bản. Trên con đường mòn PCT, tôi chẳng có lựa chọn nào ngoài việc nhập thân vào phiên bản này, để trưng ra cái khuôn mặt lôi thôi với toàn bộ thế giới rộng lớn. Thế giới đó, ít nhất là cho đến lúc này, bao gồm sáu người đàn ông.

“Cheryllll.” Giọng của Doug gọi tôi dịu dàng từ cách đó vài bước. “Chị trong đó à?”

“Ừ.” Tôi trả lời.

“Chúng tôi đi xuống sông đây. Đi với chúng tôi đi.”

“Được thôi.” Tôi nói, chẳng hiểu sao lại thấy cứ như được cưng nựng vậy. Khi tôi đứng dậy, túi bao cao su kêu lách nhách trong túi hậu. Tôi lấy ra rồi đút vào túi sơ cứu, sau đó bò ra khỏi lều, và đi bộ về hướng bờ sông.

Doug, Tom và Greg đang lội đến chỗ nông mà tôi rửa ráy vài giờ trước. Quá chỗ họ, nước giận dữ chảy xiết, xô ào lên những tảng đá to như cái lều của tôi. Tôi nghĩ đến chỗ tuyết mà tôi sớm phải đối mặt nếu tiếp tục đi với cái rìu phá băng mà tôi vẫn chưa biết cách sử dụng và cái gậy trượt tuyết màu trắng có đai nắm màu hồng xinh xinh đã tình cờ rơi vào tay tôi. Trước đó tôi vẫn chưa bắt đầu nghĩ đến những gì đang chờ trên con đường mòn. Tôi chỉ mới lắng nghe và gật đầu khi Ed nói với tôi rằng trong ba tuần ông ta cắm trại ở đây hầu hết những người đi bộ qua PCT đến được đồng cỏ Kennedy này đã chọn từ bỏ đoạn đường này vì lượng tuyết kỷ lục khiến con đường mòn cơ bản là không thể vượt qua trong gần như toàn bộ 600 đến 800 cây số phía trước. Họ đã bắt nhờ xe và đi xe buýt để nhập vào đoạn PCT ở xa về phía bắc, những chỗ có độ cao thấp hơn, ông ấy bảo tôi vậy. Một số người định cuối hè sẽ vòng trở lại đoạn đường mà họ đã bỏ qua; số khác thì cứ thế bỏ hẳn. Ông ta nói có một số người đã quyết từ bỏ cùng nhau, như Greg kể với tôi trước đó, họ quyết định đi PCT một lần khác, vào năm tuyết không kỷ lục thế này. Và một số ít hơn thì vẫn xông lên, quyết tâm vượt tuyết.

May mắn nhờ đôi xăng đan đi trong lều rẻ tiền, tôi lần được đường qua những tảng đá nằm dọc trên lòng sông để đi về phía hội đàn ông, nước lạnh đến thấu xương.

“Tôi có cái này cho chị.” Doug nói khi tôi đến được chỗ cậu. Cậu chìa tay về phía tôi, trong tay là một cái lông chim lấp lánh, dài khoảng 30 cm, đen đến mức như tỏa ánh xanh trong ánh mặt trời.

“Để làm gì vậy?” Tôi hỏi, với lấy cái lông chim từ tay cậu.

“Để lấy may.” Cậu nói, và chạm vào cánh tay tôi.

Khi cậu ta rút tay lại, chỗ mà tay cậu ta chạm vào như thành một vết bỏng vậy – tôi nhận ra trong 14 ngày qua mình đã ít động chạm biết bao, đã cô độc biết bao.

“Tôi đang nghĩ đến chuyện tuyết đây.” Tôi nói, tay nắm cái lông chim, giọng át đi dòng nước trên sông. “Những người đi đường vòng ấy? Tất cả bọn họ đều ở đây một hoặc hai tuần trước chúng ta. Giờ tuyết đã tan kha khá rồi, nên chắc sẽ ổn thôi.” Tôi nhìn Greg rồi nhìn lại cái lông chim màu đen, tay vuốt vuốt nó.

“Tháng sáu ở cao nguyên Bighorn lần đầu tiên tuyết ngập gấp đôi cùng kỳ năm ngoái.” Anh liệng một hòn sỏi. “Một tuần cũng không ăn thua đâu.”

Tôi gật đầu, như thể cũng biết cao nguyên Bighorn ở đâu, hoặc cũng hiểu lượng tuyết gấp đôi so với năm trước thì có nghĩa là gì vậy. Tôi thấy mình như một kẻ gian trá ngay cả khi đang thảo luận chuyện này, là linh vật giữa các cầu thủ, như thể họ là những phượt thủ PCT thực thụ còn tôi chỉ tình cờ mà có mặt ở đây thôi. Như thể bởi sự thiếu kinh nghiệm của tôi, bởi tôi không đọc một trang viết nào của Ray Jardine, bởi tốc độ chậm chạp buồn cười của tôi, và bởi niềm tin của tôi rằng đem theo một cái cưa gấp là hợp lý, tôi đã chẳng thực sự tự mình đi bộ suốt từ đèo Tehachapi đến đồng cỏ Kennedy, mà là người ta đưa tôi đến đây vậy.

Nhưng tôi đã đi bộ đến đây, và tôi chưa sẵn sàng từ bỏ việc nhìn thấy High Sierra. Đó là đoạn đường mà tôi hào hứng nhất, vẻ đẹp hoang sơ của nó được các tác giả trong cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California hết lời ca ngợi và được nhà tự nhiên học John Muir hóa thành bất tử trong cuốn sách viết một thế kỷ trước. Đó là phần núi non mà ông phong cho cái tên “Miền Sáng”. Dường như ngọn High Sierra với những đỉnh cao đến hơn 4.000 m, những cái hồ lạnh thấu và trong suốt, những khe núi sâu thẳm, chính là ý nghĩa của việc đi bộ qua đường mòn PCT ở California. Thêm nữa, đi vòng qua nó có thể làm đảo lộn cả lộ trình. Nếu phải bỏ qua High Sierra, tôi sẽ đến Ashland sớm hơn một tháng so với đã định.

“Nếu vẫn còn cách thì tôi vẫn muốn đi tiếp.” Tôi nói, ve vẩy cái lông chim theo một đường bay bướm. Chân tôi không còn đau nữa. Chúng đang râm rỉ đờ đi thư giãn trong nước lạnh.

“Ồ, chúng ta còn khoảng hơn 60 cây đi như chơi nữa rồi sẽ thực sự khó khăn – từ đây lên đến đèo Trail Pass.” Doug nói. “Ở đó có một đường giao với PCT và đi xuống một khu cắm trại. Ít nhất ta cũng có thể leo tới đó xem tình hình thế nào – xem xem có bao nhiêu tuyết ở đó – rồi nhảy cóc ở đó nếu muốn.”

“Greg, anh nghĩ thế nào?” Tôi hỏi. Anh ấy làm cái gì thì tôi làm cái đó.

Anh gật đầu. “Tôi nghĩ đó là một ý kiến hay.”

“Thế thì tôi cũng sẽ làm như vậy.” Tôi nói. “Tôi sẽ ổn thôi. Tôi có một cái rìu phá băng.”

Greg nhìn tôi. “Cô có biết dùng nó không vậy?”

Sáng hôm sau, Greg hướng dẫn tôi cách dùng rìu phá băng.

“Đây là cái cán.” Anh nói, đưa tay theo chiều dài của cái rìu. “Đây là cái mỏ.” Anh nói thêm, đặt một ngón tay vào phía đầu sắc nhọn. “Phía bên kia là cái đầu.”

Cán? Đầu? Mỏ? Tôi cố gắng không phát ốm lên như một đứa học sinh lớp tám trong lớp giáo dục giới tính, nhưng chẳng cách nào đừng được.

“Cái gì đây?” Greg hỏi, tay anh bao quanh cái cán rìu, nhưng tôi chỉ lắc đầu. “Có hai lưỡi.” Anh tiếp tục. “Lưỡi cùn là lưỡi vòm, để bổ vào băng lấy điểm tựa cho chân. Còn lưỡi kia là cuốc chim, để bám lại nếu bị trượt xuống vách núi.” Anh nói như thể tôi đã biết điều đó rồi, như thể anh chỉ đang tóm tắt lại những điểm cơ bản trước khi chúng tôi thực sự bắt đầu buổi học.

“Được rồi. Cái cán, cái đầu, cái mỏ, cái cuốc chim, cái lưỡi.” Tôi nói.

“Cái lưỡi vòm.” Anh sửa lại. “Có chữ vòm.” Chúng tôi đang đứng trên một bờ sông dốc, chỗ gần nhất chúng tôi tìm được để giả định một dốc băng đứng. “Bây giờ giả sử cô đang rơi.” Greg nói, lăng mình xuống dốc để thị phạm. Khi rơi xuống, anh bổ cái cuốc chim vào bùn. “Hãy bổ cái cuốc chim này thật lực, một tay nắm cái cán, tay kia nắm lấy cái đầu. Như thế này. Khi bám được vào rồi thì cố giữ vững.”

Tôi nhìn anh. “Nếu không giữ vững được thì sao?”

“Thì phải bám vào đây.” Anh trả lời, di chuyển hai tay trên cái rìu.

“Nếu tôi không bám được lâu như thế thì sao? Ý tôi là, tôi còn có ba lô và các thứ, với khéo tôi còn chả đủ khỏe để kéo một lần thôi ấy.”

“Cô phải cố thôi.” Anh nói với vẻ xuôi xị. “Nếu không thì cô sẽ trượt khỏi vách núi.”

Tôi thực hành ngay. Hết lần này đến lần khác, tôi lăng mình vào cái dốc ngày càng nhão bùn ấy, giả như đang trượt trên băng, và hết lần này đến lần khác tôi bổ cái cuốc chim vào đất trong khi Greg theo dõi, uốn nắn và phê bình kỹ thuật của tôi.

Doug và Tom ngồi gần đó, vờ như không chú ý. Albert và Matt nằm trên cái bạt chúng tôi trải ra cho họ bên dưới một bóng cây gần xe tải của Ed. Họ ốm đến mức chẳng đi đâu làm gì được ngoài việc thăm thú khu vệ sinh mỗi giờ vài lần. Họ ốm từ nửa đêm, chúng tôi đều bắt đầu tin là họ nhiễm giardia – một loại trùng roi khiến người bệnh vừa thổ vừa tả đến lả cả người, cần phải có thuốc đặc trị, và cũng có nghĩa là phải hoãn ít nhất một tuần đi bộ. Đó là lý do những phượt thủ PCT dành nhiều thời gian để nói về đồ lọc nước và nguồn nước, vì họ sợ chỉ sai một bước thôi là sẽ phải trả giá. Tôi không biết Matt và Albert đã ăn phải cái gì, nhưng tôi cầu trời là mình không dính phải cái đó. Đến chiều muộn hôm đó, tất cả chúng tôi đứng quanh họ khi họ nằm đó nhợt nhạt và lả đi trên tấm bạt, thuyết phục họ là đến nước này thì họ phải đến bệnh viện ở Ridgecrest đi thôi. Hai người ốm yếu đến mức chẳng phản đối được gì, họ nhìn chúng tôi khi chúng tôi gói ghém đồ đạc và chất ba lô của họ vào sau xe tải của Ed.

“Cảm ơn chú đã giúp cháu làm nhẹ cái ba lô.” Tôi nói với Albert khi chỉ còn hai chúng tôi, trước khi ông ấy rời đi. Từ chỗ cái tải làm giường nằm, ông ấy uể oải ngước mắt nhìn tôi. “Cháu không thể tự mình làm được nếu không có chú.”

Ông mỉm cười yếu ớt với tôi và khẽ gật đầu.

“Nhân tiện,” tôi nói, “cháu muốn kể chú nghe lý do cháu lại quyết định đi bộ qua PCT. Cháu vừa ly hôn. Cháu đã kết hôn rồi mới đây cháu ly hôn, mẹ cháu mất độ bốn năm trước – bà ấy mới 45 tuổi, đột ngột bị ung thư rồi mất. Đó là một khoảng thời gian khó khăn của đời cháu, cháu như đã lạc lối. Bởi vậy cháu...” Ông ấy mở to mắt nhìn tôi. “Cháu đã nghĩ đi thế này sẽ giúp cháu lấy lại cân bằng.” Tôi giơ tay làm một cử chỉ bối rối, nghẹn lời, khá ngạc nhiên thấy mình tuôn ra nhiều thế.

“Ồ, giờ thì cô đã có phương hướng rồi, đúng không?” Ông ấy nói, và ngồi dậy, khuôn mặt ông ấy bừng sáng, dù đang bị chứng tả hành hạ. Tôi leo lên thùng xe với mấy cái ba lô của hai cha con ông và cái hộp đồ mà tôi không còn dùng nữa rồi đi cùng họ đến cửa hàng bách hóa. Khi chúng tôi đến nơi, Ed dừng lại vài phút; tôi nhảy ra ngoài với cái hộp của mình, vẫy tay chào Albert và Matt, rồi la to: “Chúc may mắn!”

Tình thương mến thương như một cơn sóng ào lên trong tôi khi tôi nhìn họ lái xe đi. Ed sẽ quay về trong vài giờ nữa, nhưng gần như chắc chắn tôi sẽ không bao giờ gặp lại Albert và Matt nữa. Tôi sẽ đi vào High Sierra với Doug và Tom vào ngày hôm sau, buổi sáng đó sẽ phải nói lời tạm biệt với Ed và cả với Greg nữa – Greg ở lại đồng cỏ Kennedy thêm ngày nữa, và anh ấy chắc chắn sẽ bắt kịp tôi, nhưng sẽ chỉ như một chuyến viếng thăm chớp nhoáng thôi, rồi sau đó anh ấy cũng sẽ đi khỏi đời tôi.

Tôi đi đến cổng cửa hàng bách hóa và đặt mọi thứ vào hộp đồ miễn phí cho người đi phượt PCT, ngoại trừ cái cưa gấp, thiết bị flash công nghệ cao đặc biệt cho camera của tôi, và cái ống nhòm siêu nhỏ. Những cái đó tôi gói vào hộp tiếp tế cũ và gửi đến địa chỉ của Lisa ở Portland. Lúc dán kín cái hộp bằng cuộn băng dính mà Ed cho mượn, tôi cứ lấn cấn thấy thiêu thiếu cái gì.

Sau đó, khi tôi đi bộ trở lại chỗ cắm trại, tôi mới nhận ra đó là cái gì: cuộn bao cao su to bự.

Tất tần tật đều đã mất.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.