LOU KHÔNG CÒN LOU [4] NỮA!

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11 - LOU KHÔNG CÒN LOU [4] NỮA!

❊ ❊ ❊

Tôi đang đứng bên đường cao tốc ngay ngoài thị trấn Chester và cố gắng bắt xe đi nhờ, thì một người đàn ông lái một chiếc Chrysler LeBaron bạc tấp vào lề đường và bước ra khỏi xe. Suốt 15 tiếng trước đó, tôi đã đi được hơn 80 km với Stacy và Trina cùng con chó, từ thị trấn Belden đến một nơi gọi là Trại Stover. Nhưng chúng tôi chia tay nhau 10 phút trước khi một cặp đôi trong chiếc Honda Civic dừng lại, nói rằng họ chỉ đủ chỗ cho hai người nữa. “Chị đi đi”, “Không, em đi đi” chúng tôi cứ đùn đẩy như vậy cho đến khi tôi cương quyết nài nỉ thì Stacy và Trina mới lên xe, Odin luấn quấn đằng sau họ để ngồi bất cứ chỗ nào nó có thể, trong khi tôi đảm bảo với họ là tôi ổn cả.

Và tôi sẽ ổn, tôi nghĩ thế, khi người đàn ông lái chiếc Chrysler LeBaron đi đến chỗ tôi trên vệ đường rải sỏi, mặc dù tôi thấy bụng nhói lên khó chịu khi cố gắng đoán ra, trong một phần mấy giây, mục đích của anh ta là gì. Anh ta nhìn có vẻ tử tế, chắc hơn tôi vài tuổi. Anh ta là một anh chàng tốt bụng, tôi quyết định vậy, khi tôi liếc nhìn cái thanh chắn đầu xe. Trên đó dán một dòng chữ màu xanh HÃY TƯỞNG TƯỢNG RA ĐẬU XOẮN.

Có phải đã từng có một tên giết người hàng loạt tưởng tượng ra đậu xoắn?

“Chào anh.” Tôi nói lịch sự. Tôi đang cầm chiếc còi to mồm nhất thế giới, tay đã vô thức lần tìm nó trên đầu Quái Vật và xung quanh cái móc nhựa treo lủng lẳng ở khung ba lô. Tôi chưa sử dụng cái còi này thêm lần nào từ lần bị con bò đuổi, nhưng kể từ đó tôi đã không ngơi ý thức về vị trí của nó trong mối quan hệ với tôi, như thể nó không chỉ gắn vào với cái ba lô của tôi bằng một cái móc, mà có một cái móc khác vô hình gắn nó vào tôi.

“Chào cô.” Người đàn ông nói, và đưa tay ra bắt tay tôi, mái tóc nâu rủ qua mắt. Anh ta nói tên anh ta là Jimmy Carter, không họ hàng gì với ông tổng thống cả, và rằng anh ta không thể cho tôi đi nhờ xe được vì không có chỗ trong xe. Tôi nhìn xe anh ta và thấy là đúng như vậy. Từng cm ngoại trừ chỗ ngồi của tài xế đều đã lèn chặt báo chí, sách vở, quần áo, lon nước ngọt và những thứ hổ lốn khác chật ních đến tận cửa sổ. Nhưng anh ta băn khoăn liệu có thể trò chuyện với tôi được không. Anh ta nói mình là phóng viên cho một ấn phẩm tên là Hobo Times. Anh ta lái xe quanh đất nước để phỏng vấn “hội” sống đời lang thang du mục.

“Tôi không lang thang.” Tôi ngạc nhiên nói. “Tôi là người đi bộ đường dài.” Tôi thả cái còi ra và vươn tay ra đường, chĩa ngón tay cái lên trời hướng vào những chiếc xe tải vụt qua. “Tôi đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest.” Tôi giải thích, mắt nhìn liếc anh ta, mong anh ta chui đầu lại vào xe và biến đi. Tôi cần phải bắt nhờ hai chuyến xe trên hai con đường cao tốc khác nhau để đến được Ga Cũ và anh ta đang chẳng giúp ích gì cả. Tôi thì bẩn thỉu và quần áo thậm chí còn bẩn hơn, nhưng tôi vẫn là một phụ nữ đi một mình. Sự hiện diện của Jimmy Carter chỉ làm mọi thứ thêm phức tạp, có thể khiến những tay lái xe đi ngang qua thay đổi cách nhìn đang có lợi cho tôi. Tôi nhớ tôi đã phải đứng trên lề đường biết bao lâu khi cố bắt xe đi thành phố Sierra cùng với Greg. Có Jimmy Carter bên cạnh, sẽ chẳng có ai dừng lại.

“Vậy cô ở trên đường được bao lâu rồi?” Anh ta hỏi, lôi ra từ túi sau của chiếc quần nhung mỏng một cái bút và một cuốn sổ phóng viên nhỏ. Tóc anh ta bờm xờm và đã lâu không được gội. Phần tóc mái hết che đi rồi để lộ đôi mắt đen, tùy theo chiều gió thổi. Tôi thấy anh ta giống một người có bằng tiến sĩ về ngành gì đó hết sức cao siêu. Lịch sử nhận thức, có lẽ vậy, hoặc nghiên cứu so sánh diễn ngôn và xã hội.

“Tôi nói rồi. Tôi không lang thang trên đường.” Tôi nói và cười to. Dù đang tha thiết bắt được xe đi nhờ, tôi vẫn không thể không cảm thấy vui vui khi có Jimmy Carter ở đây làm bạn. “Tôi đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest.” Tôi nhắc lại, chỉ rất rõ ràng về cánh rừng sát cạnh con đường, dù thực tế là PCT còn cách chỗ chúng tôi đang đứng 14 cây rưỡi nữa về phía tây.

Anh ta nhìn tôi vô hồn, không hiểu. Lúc đó là giữa buổi sáng mà trời đã nóng, cứ đà này thì chỉ cần đến trưa là đã như thiêu rồi. Tôi băn khoăn liệu anh ta có ngửi thấy mùi bốc ra từ người tôi hay không. Tôi đã vượt quá cả cái ngưỡng có thể ngửi thấy mùi của chính mình rồi. Tôi lùi lại một bước và buông cánh tay xin đi nhờ xuống, đầu hàng thôi. Đứng bắt nhờ xe thế này, anh ta còn chưa rời đi thì tôi còn chịu chết.

“Đó là đường mòn Bảo tồn Quốc gia.” Tôi nói, nhưng anh ta cứ tiếp tục nhìn tôi vẻ kiên nhẫn, tay cầm cuốn sổ chẳng thấy dấu tích gì. Khi tôi giải thích với anh ta PCT là gì và tôi đang làm gì trên đó, tôi thấy Jimmy Carter không hẳn là xấu trai. Tôi băn khoăn liệu anh ta có thức ăn trong xe hay không.

“Vậy nếu cô đang đi bộ trên con đường hoang dã ấy, thì cô đang làm gì ở đây?” Anh ta hỏi.

Tôi nói với anh ta về việc đi vòng để tránh tuyết rơi dày ở vườn quốc gia Núi lửa Lassen.

“Cô ở ngoài đường bao lâu rồi?”

“Tôi đi con đường mòn này được khoảng một tháng rồi.” Tôi nói và quan sát khi anh ta viết điều đó vào giấy. Tôi chợt nhớ ra có lẽ tôi có phần tí ti đúng là một kẻ lang thang thật, với tất cả thời gian tôi đã đi nhờ và đi đường vòng, nhưng tôi không nghĩ nhắc đến chuyện đó là khôn ngoan.

“Cô đã ngủ ở nơi có mái che trên đầu bao nhiêu đêm trong tháng đó rồi?” Anh ta hỏi.

“Ba lần.” Tôi trả lời, sau một thoáng suy nghĩ – một đêm ở nhà Frank và Annette, hai đêm ở nhà nghỉ Ridgecrest và thành phố Sierra.

“Tất cả đồ cô có đây à?” Anh ta hỏi, hất đầu về chiếc ba lô và cây gậy của tôi.

“Vâng, ý tôi là tôi cũng có đồ dự trữ nữa, nhưng hiện giờ thì chỉ có thế.” Tôi đặt tay lên Quái Vật. Lúc nào tôi cũng thấy nó như là một người bạn, thậm chí còn hơn cả một người bạn nếu so với Jimmy Carter.

“Ồ thế, tôi phải nói cô là kẻ lang thang rồi!” Anh ta hoan hỉ nói, và hỏi tôi đánh vần tên họ của tôi.

Tôi đánh vần và rồi tôi ước gì đã không làm thế.

“Không đời nào!” Anh ta tuyên bố xanh rờn khi viết nó xuống giấy. “Đây có phải là tên thật của cô không?”

“Thật.” Tôi nói và quay đi, giả như đang tìm một chiếc xe, để anh ta không đọc được sự lưỡng lự trên nét mặt tôi. Im lặng khó xử cho đến khi một chiếc xe tải chở gỗ đi quanh khúc vòng và gầm rú lao qua, tỉnh bơ trước ngón tay cái khẩn nài của tôi.

“Vậy,” Jimmy Carter nói sau khi chiếc xe tải đi qua, “chúng ta có thể nói là cô là một người đi lang thang thực sự.”

“Tôi không nói thế.” Tôi lắp bắp. “Là một kẻ lang thang và là một người đi bộ là hai điều hoàn toàn khác nhau.” Tôi luồn cổ tay vào cái dây hồng của cây gậy tuyết và vạch xuống đất một đường chẳng ra hình thù gì. “Tôi không phải người chuyên đi bộ theo cái định nghĩa của anh về một người đi bộ.” Tôi giải thích. “Tôi giống một chuyên gia đi bộ hơn. Tôi đi 24 đến 32 cây một ngày, ngày này qua ngày khác, lên núi rồi xuống núi, cách xa hẳn đường, dân cư hay bất cứ thứ gì, đi nhiều ngày liền mà không thấy người nào khác cả. Có khi anh nên làm một bài báo về chuyện đó thì hơn.”

Từ trang ghi chép, anh ta đưa mắt lên nhìn tôi, tóc thổi tung trên gương mặt nhợt nhạt. Anh ta giống với quá nhiều người mà tôi biết. Tôi băn khoăn liệu anh ta có thấy tôi giống nhiều người anh ta đã gặp hay không.

“Tôi gần như chưa gặp một người lang thang nào là phụ nữ cả,” anh ta thì thầm như thể đang tâm sự một bí mật, “vậy nên chuyện này tuyệt vãi ra.”

“Tôi không phải là một người lang thang!” Tôi cự lại, lần này kịch liệt hơn.

“Rất hiếm gặp đàn bà lang thang.” Anh ta quả quyết.

Tôi bảo với anh ta rằng đó là vì phụ nữ có quá nhiều trở ngại nếu muốn thành những kẻ du mục. Rằng hầu như tất cả những người phụ nữ muốn làm kẻ du mục đều phải chôn chân trong một ngôi nhà nào đó với một bầy trẻ con cần bàn tay họ chăm sóc. Mà bố bọn chúng đã chiếm phần làm kẻ lang thang trên đường mất rồi.

“Ồ, tôi hiểu rồi.” Anh ta nói. “Thế ra cô là người bênh vực nữ quyền.”

“Vâng.” Tôi nói. Thật dễ chịu hơn hẳn khi có cái gì đó để đồng tình.

“Kiểu tôi thích đấy.” Anh ta nói, và viết vào cuốn sổ của anh ta mà không nói là anh ta thích kiểu gì.

“Nhưng chẳng liên quan đến chuyện này!” Tôi kêu lên. “Vì bản thân tôi không phải là kẻ du mục. Đây hoàn toàn là đúng luật, anh biết đấy. Những chuyện tôi đang làm ấy mà. Tôi không phải là người duy nhất đi bộ trên PCT. Người ta vẫn đi thế này suốt. Anh nghe về đường mòn Appalachian chưa? Cũng giống thế đấy. Ngay phía tây kia.” Tôi đứng nhìn anh ta viết, có vẻ nhiều hơn lời tôi nói ra.

“Tôi muốn chụp cô một bức.” Jimmy Carter nói. Anh ta đến chiếc xe hơi và lấy máy ảnh ra. “Mà cái áo trông hay đấy. Tôi thích Bob Marley. Tôi thích cái vòng tay của cô nữa. Nhiều người du mục là cựu binh chiến tranh Việt Nam, cô biết đấy.”

Tôi nhìn xuống cái tên William J. Crockett trên cổ tay tôi.

“Cười lên nào.” Anh ta nói, và nháy một pô. Anh ta nói tôi có thể tìm đọc bài viết của anh ta về tôi ở số mùa thu của Thời báo Hobo, cứ như thể tôi là bạn đọc thường xuyên không bằng. “Các bài báo được đăng trong tạp chí Harper’s.” Anh ta thêm vào.

“Harper’s á?” Tôi nói, chết điếng người.

“Đúng rồi, tờ tạp chí này...”

“Tôi biết Harper’s.” Tôi cắt ngang. “Và tôi không muốn ở trên Harper’s. Hay đúng hơn, tôi thực sự muốn trên Harper’s, nhưng không phải vì tôi là kẻ lang thang.”

“Tôi nghĩ cô không phải là một kẻ lang thang.” Anh ta quay sang mở thùng xe.

“Đúng thế, tôi không phải, chính thế nên sẽ rất tệ nếu đăng trên Harper’s, nghĩa là có khi anh không nên viết bài này vì...”

“Đây là gói chăm sóc du mục theo tiêu chuẩn.” Anh ta nói, đưa cho tôi một lon bia Budweiser lạnh và một túi đồ bằng nhựa trĩu cả xuống với những thứ ở trong.

“Nhưng tôi không phải là kẻ lang thang.” Tôi vặn lại lần cuối, bớt gay gắt hơn trước, sợ rằng nhỡ anh ta cuối cùng lại tin tôi thật và rồi mang cái gói đồ chăm sóc du mục theo tiêu chuẩn kia đi mất.

“Cảm ơn cô đã cho tôi phỏng vấn.” Anh ta nói, và đóng thùng xe lại. “Bảo trọng nhé.”

“Anh cũng thế nhé.” Tôi nói.

“Cô có một khẩu súng chứ hả. Ít nhất thì tôi mong là thế.”

Tôi nhún vai, không sẵn lòng thừa nhận khác đi.

“Tại vì, tôi biết là cô từ phía nam, nhưng giờ cô đi lên phía bắc, tức là cô sẽ sớm bước vào đất nước của Chân To.”

“Chân To á?”

“Đúng rồi. Cô biết Sasquatch chứ? Không phải chuyện bịa đâu. Từ đây lên đến biên giới rồi vào Oregon là cô ở trong địa phận hầu hết mấy vụ nhìn thấy Chân To mà người ta báo cáo lại.” Anh ta quay sang những cái cây như thể một người Chân To có thể xồ ra nhảy về phía chúng tôi thật vậy. “Rất nhiều người tin là Chân To có thật. Hội lang thang ấy – những người ở ngoài này này. Họ biết là có. Tôi nghe kể chuyện Chân To suốt.”

“À, tôi nghĩ là tôi ổn mà. Ít nhất thì đến lúc này.” Tôi nói và cười lớn, mặc dù trong bụng cũng thấy hơi chộn rộn. Trong vài tuần trước chuyến đi bộ này, tôi đã quyết định mình sẽ không sợ hãi điều gì cả, ấy là khi tôi nghĩ đến gấu, rắn, sư tử núi, và những người lạ gặp dọc đường. Tôi chưa bao giờ lo lắng về những quái vật lông lá đi hai chân giống người này.

“Nhưng chắc cô sẽ ổn thôi. Tôi sẽ không lo đâu. Nhiều lúc chúng để mặc cô đi. Nhất là nếu cô có một khẩu súng.”

“Đúng vậy.” Tôi gật đầu.

“Đi may mắn nhé!” Anh ta nói, rồi chui vào trong xe.

“Chúc anh… tìm được nhiều dân du mục nhé!” Tôi vẫy theo khi anh ta lái xe đi mất.

Tôi đứng ở đó một lúc, để mặc những chiếc xe đi qua mà chẳng buồn xin đi nhờ nữa. Tôi thấy cô đơn hơn bất cứ ai trên cả thế gian bao la này. Mặt trời như đổ lửa xuống người, dù tôi đã đội mũ. Tôi băn khoăn không biết Stacy và Trina đang ở đâu. Người đàn ông kia chỉ cho họ đi nhờ gần 20 km về phía đông, đến điểm giao nhau của con đường cao tốc tiếp theo chúng tôi sẽ phải bắt một chuyến đi nhờ khác, đưa chúng tôi theo hướng bắc rồi ngược về phía tây tới Ga Cũ, ở đó chúng tôi sẽ nhập lại với con đường PCT. Chúng tôi đã hẹn sẽ gặp nhau ở đó. Tôi thấy hơi tiếc vì đã khích lệ họ để tôi ở lại khi cái xe ấy đến. Tôi giơ ngón tay cái lên với một chiếc xe khác và chỉ khi nó đi qua rồi tôi mới nhận ra rằng cầm trong tay một lon bia như thế này thì không ổn lắm. Tôi ấn vỏ nhôm lạnh lên cái trán nóng hầm hập của mình và đột nhiên thèm được uống nó. Tại sao không nhỉ? Nếu để trong ba lô thì nó hết lạnh mất.

Tôi vác Quái Vật lên lưng, thong thả bước qua đám cỏ xuống một con mương và rồi lại đi lên, đi vào rừng. Theo cách nào đó, với tôi rừng như là nhà vậy, như thế giới của riêng tôi, theo cái cách mà thế giới của những con đường và thị trấn và xe cộ đã từng là của tôi. Tôi đi cho tới khi tìm thấy một bóng râm khá lớn. Rồi tôi ngồi xuống đất và bật lon bia. Tôi không thích bia – lon Budweiser ấy thật ra là lon bia đầu tiên tôi uống trong đời – nhưng tôi vẫn thấy nó ngon, chắc cũng giống như những người thích bia thấy ngon: lạnh, sắc, tươi và vừa độ.

Trong khi uống, tôi xem xét những thứ trong cái túi đồ bằng nhựa ấy. Tôi lấy mọi thứ bày ra trên mặt đất: một gói kẹo cao su bạc hà, ba gói giấy ướt, một gói giấy nhỏ có hai viên aspirin, sáu thanh kẹo bơ đường trong giấy gói màu vàng lấp lánh, một hộp diêm có đề Cảm ơn Steinberg Drug ngoài vỏ, một cây xúc xích Slim Jim gói trong túi chân không, một điếu thuốc lá trong hộp nhựa giả thủy tinh hình trụ, một cái dao cạo dùng một lần, và một lon đậu nướng lùn mập.

Tôi xử cái xúc xích Slim Jim trước, uống nốt chỗ Budweiser còn lại, và rồi ăn những chiếc kẹo bơ đường, ăn hết sạch sáu thanh, hết cái này đến cái khác, và rồi – vẫn đói, lúc nào cũng đói – chuyển sang lon đậu nướng. Tôi cạy nắp lon bằng cái mở lon vô dụng trên bộ dao quân dụng Thụy Sĩ, mỗi lần cạy ra chỉ được tí xíu, và rồi, quá lười để lục tìm cái thìa trong ba lô, tôi dùng luôn dao để xúc và ăn bằng lưỡi dao luôn – đúng kiểu dân lang thang.

Tôi trở lại con đường, hơi chếnh choáng do men bia. Tôi nhai hai miếng kẹo cao su bạc hà cho tỉnh táo, trong khi vui vẻ giơ ngón tay cái lên với bất cứ xe nào đi qua. Sau vài phút, một chiếc xe Maverick màu trắng tấp lại. Một người phụ nữ ngồi sau vô lăng với một người đàn ông ngồi bên cạnh và một người đàn ông khác cùng con chó ngồi ghế sau.

“Cô đi đâu?” Chị ta hỏi.

“Ga Cũ.” Tôi nói. “Hoặc ít nhất là đoạn giao đường 36 và 44.”

“Chúng tôi đi đường đó đấy.” Chị ta nói và bước ra khỏi xe, vòng ra đằng sau, mở cửa xe cho tôi. Chị trông khoảng 40 tuổi, tóc quăn màu vàng phai, mặt trông phù phù và có nhiều sẹo do mụn trứng cá. Chị ta mặc quần soóc bò cắt ngắn, đeo hoa tai vàng có hình bươm bướm và một cái áo yếm màu xám trông như thể làm bằng sợi gậy lau nhà. “Cái ba lô bá đạo đấy, nhóc.” Chị ta nói rồi cười khàn khàn.

“Cảm ơn, cảm ơn.” Tôi liên tục nói, lau mồ hôi trên mặt khi chúng tôi cùng nhau đẩy Quái Vật vào trong xe. Cuối cùng cũng xong, tôi leo lên ghế sau với con chó và người đàn ông. Con chó giống Eskimo tuyệt đẹp có đôi mắt màu xanh lơ, đứng trên chỗ sàn xe tí xíu ở trước ghế. Người đàn ông gầy còm, và tầm tuổi người phụ nữ, mái tóc đen tết lại thành một dải mỏng. Anh ta mặc áo vest da màu đen mà không mặc sơ mi bên trong, trên đầu buộc một cái khăn rằn màu đỏ theo kiểu dân lái xe mô tô.

“Chào.” Tôi thầm thì về phía anh ta khi vô vọng lần mò cái đai an toàn đã bị nhét dưới chỗ ngồi không thể nào lấy ra được, mắt tôi lướt qua những hình xăm của anh ta: hình một quả cầu kim loại lởm chởm gai nhọn đi theo một sợi xích trên một cánh tay và hình nửa phía trên của một người phụ nữ ngực trần với cái đầu ngửa ra vì đau đớn hoặc khoái cảm trên cánh tay bên kia; một từ Latin mà tôi không biết nghĩa bò ngang qua bộ ngực rám nắng của anh ta. Khi tôi bỏ cuộc không tìm đai an toàn nữa, con chó nghiêng qua và thèm thuồng liếm đầu gối tôi bằng cái lưỡi mềm và lạnh một cách lạ lùng.

“Mẹ kiếp, con chó này biết chọn gái đấy!” Người đàn ông nói. “Nó tên là Stevie Ray.” Anh ta nói thêm. Ngay lập tức con chó thôi liếm, ngậm miệng thật chặt, và nhìn tôi bằng đôi mắt viền đen lạnh giá, như thể nó biết người ta đang giới thiệu nó và muốn tỏ ra lịch sự. “Tôi là Nhện. Cô đã gặp Louise rồi đấy – cứ gọi cô ấy là Lou.”

“Chào!” Lou nói, bắt gặp ánh mắt tôi một giây trong gương chiếu hậu.

“Và đây là anh trai tôi, Dave.” Anh ta chỉ người đàn ông ngồi ở ghế hành khách phía trước.

“Chào.” Tôi nói.

“Thế còn cô? Cô có tên chứ?” Dave quay sang tôi hỏi.

“À, vâng – xin lỗi. Tôi là Cheryl.” Tôi mỉm cười, dù đang mơ hồ thấp thỏm về chuyến xe đặc biệt này. Giờ thì chẳng làm gì được. Chúng tôi đang đi rồi, gió nóng thổi bay tóc tôi. Tôi nựng Stevie Ray trong khi thăm dò Nhện qua khóe mắt. “Cảm ơn đã cho tôi đi nhờ,” tôi nói để che đi sự bồn chồn.

“Không có gì đâu gái.” Nhện nói. Một ngón tay giữa của anh ta đeo chiếc nhẫn gắn viên ngọc lam hình vuông. “Tất cả chúng tôi đều từng đi đường mà. Chúng tôi đều biết nó như thế nào. Tuần trước tôi vừa đi nhờ xe, nếu không bắt được cái xe nào thì chết mất, vậy nên nhìn thấy cô là tôi bảo Lou dừng lại. Mẹ kiếp, nhân quả cả đấy, cô biết chứ?”

“À.” Tôi nói, với tay vén tóc ra sau tai. Nó xơ xác và khô như rơm.

“Thế cô đang đi đâu đấy?” Lou hỏi tôi từ đằng trước.

Tôi nói một hồi về chuyện PCT, giải thích về con đường mòn và tuyết dày kỷ lục cùng chuyện phải đi nhờ xe đến Ga Cũ loằng ngoằng thế nào. Họ lắng nghe với sự tò mò vị nể xa xăm, cả ba người châm thuốc hút khi tôi nói.

Sau khi tôi kể xong, Nhện nói: “Để tôi kể cho cô nghe chuyện này, Cheryl. Tôi liên tưởng đến nó khi nghe cô nói chuyện. Hồi trước tôi có đọc một chút về động vật, có gã khoa học gia khốn kiếp này ở Pháp lúc đó là những năm 30 hay 40 hay là năm quái gì ấy, cố bắt bọn tinh tinh vẽ tranh, tranh nghệ thuật kiểu như nghiêm túc vãi đái ra, trưng trong bảo tàng hay mấy thứ cục cứt ấy. Gã này cứ thế cho mấy con tinh tinh xem mấy bức tranh, đưa cho cả bút chì để vẽ xong đến một hôm thì một con cũng vẽ được thật, nhưng không phải tranh nghệ thuật nhé. Nó vẽ cái gì, nó vẽ mấy cái thanh chuồng khốn nạn của nó. Cái chuồng khốn nạn của chính nó! Giời ơi, đó là chân lý, đúng không? Tôi có thể liên tưởng đến nó và tôi cá là cô cũng có thể liên tưởng được gái ạ.”

“Vâng.” Tôi nói nghiêm túc.

“Ai cũng liên tưởng được, cu ạ.” Dave nói, và anh ta quay lại từ chỗ ngồi để cùng với Nhện làm mấy nhịp bằng tay kiểu anh em đua xe kết nghĩa.

“Cô biết chuyện con chó này không?” Nhện hỏi tôi khi họ đã làm xong. “Tôi có nó đúng hôm Stevie Ray Vaughan chết. Chính thế nên nó có cái tên chó đẻ đấy.”

“Tôi thích Stevie Ray.” Tôi nói.

“Cô thích Texas Flood?” Dave hỏi tôi.

“Vầng.” Tôi nói, bồi hồi nghĩ về nó.

“Có ngay đây.” Nói đoạn, anh ta lôi ra một cái đĩa CD nhét vào cái đài đĩa giữa anh ta và Lou. Một lúc sau, thiên đường guitar điện của Vaughan ngập trong chiếc xe hơi. Tiếng nhạc với tôi giống như liều thuốc bổ dưỡng, như thức ăn, như tất cả mọi thứ tôi từng được hưởng mà bây giờ đã trở thành nguồn khoái cảm cho tôi vì tôi đã từng chối từ chúng. Tôi nhìn những cái cây vun vút lao qua, lạc trong bài hát “Love Struck Baby” (Yêu điên cuồng).

Khi bài hát kết thúc, Lou nói. “Chúng tôi cũng yêu nhau điên cuồng. Tuần tới chúng tôi sẽ cưới nhau.”

“Chúc mừng nhé!” Tôi nói.

“Em sẽ cưới tôi chứ, em yêu?” Nhện hỏi tôi, vuốt nhanh lên cái đùi để trần của tôi bằng mu bàn tay, cái nhẫn gắn đá cọ vào tôi.

“Đừng để ý cậu ta.” Lou nói. “Quân dê già nứng tình thôi ấy mà.” Chị ta cười và bắt gặp ánh mắt tôi trong gương xe.

Tôi cũng là một con dê già nứng tình, tôi nghĩ vậy trong khi con Stevie Ray chốc chốc lại liếm tay tôi và một Stevie Ray khác đang bắt đầu cuồng nhiệt thể hiện bài “Pride and Joy” (Niềm tự hào và vui sướng) hay đến mê ly. Chỗ Nhện động vào trên chân tôi nóng ran lên. Tôi ước là anh ta làm như thế lần nữa, mặc dù tôi biết như vậy thật lố lăng. Một bức thiệp có hình chữ thập treo lủng lẳng từ cần gương chiếu hậu, kế bên một máy lọc không khí hình cây thông Noel trông bạc màu, khi bức thiệp quay lật lại tôi thấy mặt bên kia là ảnh của một cậu bé con.

“Con chị đấy à?” Tôi hỏi Lou khi bài hát kết thúc, chỉ vào tấm gương.

“Đó là Luke bé nhỏ.” Chị ta nói, đưa tay ra búng nhẹ vào nó.

“Cháu có đến đám cưới không?” Tôi hỏi, nhưng chị không trả lời. Chị ấy chỉ vặn nhỏ nhạc xuống và tôi biết ngay rằng tôi đã lỡ lời.

“Cháu mất năm năm trước rồi, hồi tám tuổi.” Lúc sau Lou nói.

“Em rất tiếc.” Tôi nói. Tôi cúi về trước vỗ nhẹ vào vai chị ấy.

“Cháu đang đi xe đạp thì bị xe tải đâm,” chị ấy nói bình thản. “Cháu không mất ngay. Cháu cầm cự được một tuần trong bệnh viện. Không bác sĩ nào tin nổi là cháu lại không đi ngay.”

“Mẹ kiếp, nó là thằng cứng cỏi.” Nhện nói.

“Chắc rồi.” Lou nói.

“Giống như mẹ của nó.” Dave nói, nắm lấy đầu gối của Lou.

“Em rất rất tiếc.” Tôi nói lại lần nữa.

“Chị biết mà.” Lou nói trước khi vặn nhạc to lên. Chúng tôi đi mà không nói chuyện, chỉ nghe tiếng guitar điện của Vaughan gào thét suốt cả bài “Texas Flood”, trái tim tôi thắt lại khi nghe nó.

Mấy phút sau Lou kêu lên: “Chỗ giao đây rồi này.” Chị tấp vào, tắt động cơ rồi nhìn Dave. “Sao mấy ông con trai các anh không đưa Stevie Ray đi tè đi?”

Họ bước ra ngoài với tôi và đứng loanh quanh châm thuốc lá trong khi tôi lôi ba lô ra khỏi cốp xe. Dave và Nhện dẫn Stevie Ray vào những cái cây bên đường còn tôi và Lou đứng dưới một tán bóng râm gần chiếc xe hơi khi tôi oằn lưng cõng Quái Vật lên. Chị hỏi tôi có con không, tôi bao nhiêu tuổi, tôi có chồng không, hay đã từng có chồng không.

Không, 26, không và đã từng, tôi trả lời chị.

Chị nói, “Em xinh đẹp, nên làm gì thì em cũng ổn thôi. Chị thì lúc nào cũng được kêu là tốt tính. Chị chưa bao giờ xinh đẹp cả.”

“Đâu ạ.” Tôi nói. “Em nghĩ chị xinh đẹp mà.”

“Em nghĩ vậy á?” Chị hỏi tôi.

“Vâng.” Tôi nói, dù “xinh đẹp” không chính xác là từ mà tôi sẽ tả chị.

“Em nghĩ như vậy á? Cảm ơn nhé. Thường thì chỉ có Dave mới nghĩ như vậy.” Chị nhìn xuống chân tôi. “Em phải cạo lông đi, gái!” Chị ấy thốt lên, rồi phá ra cười cũng khàn khàn như lúc nói về cái ba lô to bự của tôi. “Không.” Chị nói, nhả khói ra. “Chị chỉ nói với em những thứ vớ vẩn. Chị nghĩ em thật ngầu thật đấy, em làm cái mà em muốn cả. Chẳng mấy gái làm được thế đâu, nếu em hỏi chị, tức là nói với xã hội và cái mớ kỳ vọng vào chúng ta là cút mẹ đi. Nếu nhiều phụ nữ làm như thế, đời chị em mình sẽ khá lên thôi.” Chị kéo một hơi thuốc và nhả thành một đường khói dài. “Nhưng mà, sau tất cả chuyện con trai chị chết thì thế nào? Sau chuyện đó xảy ra, chị cũng chết. Chết bên trong.” Chị vỗ lên ngực bằng bàn tay kẹp điếu thuốc. “Trông chị vẫn vậy, nhưng ở đây thì không còn như cũ nữa rồi. Ý chị là, sống thì vẫn phải sống thôi, nhưng Luke chết đã đem cả cuộc đời chị đi rồi. Chị cố gắng không thế, nhưng chẳng được. Đời đã khiến Lou không còn Lou nữa, và chị cũng chẳng tìm cách lấy lại. Em hiểu ý chị không?”

“Em hiểu mà.” Tôi nói, nhìn vào đôi mắt nâu nhạt của chị.

“Chị cũng nghĩ thế.” Chị nói. “Chị có cảm giác như thế.”

Tôi chào tạm biệt họ, cắt ngang qua ngã tư, bước đến con đường sẽ dẫn tôi đến Ga Cũ. Nhiệt độ lên cao đến mức có thể nhìn thấy sóng nhiệt bốc lên từ mặt đất. Khi lên đến con đường ấy, tôi nhìn thấy ba bóng dáng thấp thoáng đằng xa.

“Stacy!” Tôi la lên. “Trina!”

Họ nhìn thấy tôi và đưa cả cánh tay lên vẫy. Odin sủa lên mấy tiếng chào.

Chúng tôi cùng nhau đi nhờ một chuyến đến Ga Cũ – lại một ngôi làng nhỏ tí hin với vài tòa nhà cụm lại với nhau chứ không giống một thị trấn lắm. Trina tới bưu điện để gửi vài thứ về nhà trong khi Stacy và tôi ngồi chờ bà ở một quán cà phê có máy lạnh, uống sô đa và bàn về đoạn tiếp theo của con đường mòn. Đó là một lát cắt của Cao nguyên Modoc, gọi là vành đai Lạch Hat – hiu quạnh và nổi tiếng vì không có bóng râm và nguồn nước, một quãng đường huyền thoại trên một con đường mòn huyền thoại. Khô và nóng, năm 1987 nó bị một cơn hỏa hoạn thiêu rụi sạch sẽ. Theo như cuốn Đường mòn Pacifict Crest, tập 1: California, mặc dù không có nguồn nước đáng tin cậy nào từ Ga Cũ đến Lạch Rock Springs cách đó hơn 48 cây số, khi cuốn sách được in vào năm 1989, nhưng đội kiểm lâm đã định lắp đặt một téc nước gần nơi bị cháy ở một tháp canh lửa cũ, trong khoảng 24 km. Cuốn sách cũng lưu ý rằng thông tin này nên được kiểm chứng, và rằng cho dù có được lắp đặt thật thì những téc nước như vậy cũng không thể lúc nào cũng sẵn nước vì những vết đạn phá hoại.

Tôi hút lần lượt từng viên đá trong cốc nước ngọt, suy nghĩ về thông tin đó. Tôi đã để cái túi bướu lạc đà lại đồng cỏ Kennedy, bởi lẽ hầu hết các đoạn đường từ đó lên phía bắc đều có tương đối nước nôi. Để chuẩn bị bước vào vành đai Lạch Hat khô hạn, tôi đã định mua một bình nước rồi cột nó vào Quái Vật, nhưng vì lý do cả về tài chính lẫn sức khỏe, tôi mong là sẽ không phải làm như vậy. Tôi hy vọng được tiêu số tiền ít ỏi cuối cùng để mua thức ăn ở quán cà phê này hơn là mua một bình nước, chưa kể đến nỗi cực nhọc phải vác nó suốt một đoạn đường hơn 48 cây số qua con đường vành đai đó. Bởi vậy, tôi vui mừng và nhẹ nhõm đến suýt té ghế khi Trina từ bưu điện về thông báo rằng những người đi bộ về phía nam đã viết trong sổ nhật ký đường mòn là có téc nước mà cuốn hướng dẫn đã nói đến, và trong téc thì có nước.

Hoan hỉ, chúng tôi đi bộ tới một khu đất cắm trại cách đó một hơn 1,5 km và dựng lều bên cạnh nhau tối cuối cùng. Trina và Stacy sẽ đi tiếp vào ngày hôm sau nhưng tôi quyết định ở thêm, lại muốn đi một mình và cũng muốn cho bàn chân mình ngơi nghỉ, chúng vẫn còn đang hồi phục dần những vết phồng rộp do leo xuống hồi ở Ba Hồ.

Sáng hôm sau khi tôi tỉnh dậy, chỉ còn mình tôi ở khu cắm trại. Tôi ngồi trên bàn ngoài trời và uống trà nấu từ xoong trong khi đốt những trang cuối cùng của cuốn Tiểu thuyết. Vị giáo sư chế nhạo Michener đã đúng ở một số khía cạnh: ông không phải là William Faulkner hay Flannery O’Connor, nhưng tôi bị cuốn hút hoàn toàn vào cuốn sách của ông ấy, và cuốn hút không chỉ bởi cách viết. Chủ đề của nó đánh đúng vào tiếng lòng tôi. Đó là một câu chuyện về nhiều thứ, nhưng nội dung cốt lõi là về cuộc đời của một cuốn tiểu thuyết, được kể từ góc nhìn của tác giả, người biên tập, các nhà phê bình và độc giả của cuốn tiểu thuyết đó. Bất kể tất cả những thứ tôi đã làm trong đời mình, bất kể tất cả những phiên bản Cheryl mà tôi đã sống, có một phiên bản không bao giờ thay đổi: phiên bản tôi là một nhà văn. Tôi dự định một ngày nào đó sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời mình. Thật xấu hổ khi tôi vẫn chưa viết nó. Mười năm trước, tôi đã hình dung chắc chắn đến thời điểm này mình hẳn đã xuất bản được cuốn sách đầu tiên rồi. Tôi đã viết vài truyện ngắn và nghiêm túc thử viết một cuốn tiểu thuyết, nhưng chẳng tiến được bao xa để hoàn thiện thành một cuốn sách. Trong cái năm đầy xáo trộn vừa qua, dường như việc viết lách đã rời bỏ tôi mãi mãi, nhưng khi đi bộ, tôi có thể cảm thấy cuốn tiểu thuyết đó đang quay trở lại với tôi, thả giọng nói vào giữa những câu hát vụn vặt và những giai điệu quảng cáo trong tâm trí tôi. Buổi sáng đó ở Ga Cũ, khi tôi xé cuốn sách của Michener liền một lúc năm và mười trang để chúng có thể cháy lên, ngồi co mình cạnh đống lửa trong khu cắm trại để nhóm chúng lên, tôi đã quyết định bắt đầu. Dù sao thì tôi chẳng có việc gì để làm trong một ngày dài nắng nóng, vậy nên tôi ngồi ở cái bàn dã ngoại và viết một mạch cho đến tận khi chiều muộn.

Khi nhìn lên, tôi thấy một con sóc chuột đang nhai một cái lỗ trên cánh cửa lều mắt lưới để lấy túi thức ăn bên trong. Tôi đuổi nó đi, chửi thề nó trong khi nó chí chóe về phía tôi từ một cái cây. Lúc đó, quanh khu cắm trại đã đầy người: hầu hết các bàn dã ngoại đều đã có những thùng nước lạnh và những cái bếp Coleman; những xe tải nhỏ và những người đi cắm trại đang đậu lại những lề đường lát đá. Tôi lấy cái túi thức ăn ra khỏi lều và mang nó theo đến quán cà phê mà tôi đã ngồi cùng với Trina và Stacy chiều hôm trước, cách đó hơn một cây rưỡi. Tôi gọi một cái bánh kẹp, không quan tâm là tôi đang tiêu gần hết số tiền mình còn. Hộp tiếp tế tiếp theo ở Vườn quốc gia Thác Burney, cách đây gần 68 km, nhưng tôi có thể đến đó trong hai ngày, cuối cùng thì giờ tôi cũng có thể đi bộ xa hơn và nhanh hơn – tôi đã đi được hai ngày liền với tốc độ hơn 30 cây số một ngày khi đi khỏi Belden. Đã năm giờ chiều, trời hè như thế này thì chắc đến tận chín hoặc mười giờ tối mới tắt nắng, và tôi là khách hàng duy nhất trong quán, đang ngấu nghiến bữa tối.

Tôi rời nhà hàng, chẳng còn gì ngoài mấy đồng tiền lẻ trong túi. Tôi đi qua một trạm điện thoại trả trước và rồi quay trở lại, nhấc ống nghe lên, nhấn nút 0, trong lòng run rẩy cảm giác pha trộn giữa nỗi sợ hãi và háo hức. Khi người trực tổng đài giúp tôi nối cuộc gọi, tôi cho cô ấy số của Paul.

Anh nhấc máy sau hồi chuông thứ ba. Nghe thấy giọng anh, tôi bối rối đến mức không cất nổi hai tiếng Xin chào. “Cheryl!” Anh kêu lên.

“Paul!” Cuối cùng tôi cũng nói được, và trong một mớ lộn xộn vội vã tôi kể với anh tôi đang ở đâu và một vài chuyện tôi đã trải qua kể từ lần cuối gặp nhau. Chúng tôi nói chuyện trong gần một tiếng đồng hồ, cuộc nói chuyện tràn ngập yêu thương và chan chứa nỗi lòng, đầy khích lệ và tử tế. Dường như anh chẳng phải chồng cũ của tôi. Dường như anh là người bạn thân nhất của tôi. Tôi cúp máy, nhìn xuống túi đồ ăn dưới đất. Nó gần như trống trơn. Túi đồ ăn màu xanh trứng sáo và có hình ống, được làm từ một chất liệu gia công giống như cao su. Tôi nhấc nó lên, ôm thật chặt vào ngực và nhắm mắt lại.

Tôi trở lại lều và ngồi một lúc lâu bên cái bàn dã ngoại với cuốn Lồng chim mùa hè trong tay, lòng đầy xúc cảm đến mức không thể đọc nổi. Tôi nhìn những người đang làm bữa tối quanh tôi và rồi tôi nhìn bầu trời vàng vọt đang tan thành màu hồng, da cam và tím nhạt. Tôi nhớ Paul. Tôi nhớ cuộc sống của tôi. Nhưng tôi không muốn quay trở lại với cả hai. Cái khoảnh khắc kinh khủng tôi và Paul ngã xuống sàn nhà khi tôi thú nhận rằng mình đã phản bội thế nào cứ như những con sóng từng lớp từng lớp xô vào tôi, và tôi nhận ra rằng những lời tôi nói ấy không chỉ dẫn đến cuộc ly hôn mà còn dẫn đến chuyện này: tôi ngồi một mình ở Ga Cũ, California, bên cái bàn dã ngoại dưới bầu trời tráng lệ. Tôi không thấy buồn hay vui. Tôi không thấy tự hào hay xấu hổ. Tôi chỉ thấy tôi đã đúng khi đưa mình đến đây, dẫu cho tất cả những chuyện sai trái tôi đã làm.

Tôi đến chỗ Quái Vật và lấy ra một điếu thuốc trong cái hộp giả kính mà Jimmy Carter đã đưa cho tôi lúc sớm ngày. Tôi không hay hút thuốc, nhưng vẫn bóc cái hộp ra, ngồi lên bàn dã ngoại và châm thuốc. Tôi đã ở trên đường mòn PCT nhỉnh hơn một tháng. Cảm giác vừa như đã thật lâu rồi lại vừa như mới bắt đầu. Giống như tôi vẫn còn là người đàn bà với trái tim thủng lỗ, nhưng cái lỗ ấy đã nhỏ đi một phần xíu xiu.

Tôi kéo một hơi và nhả khỏi, nhớ lại sáng hôm đó mình đã cảm thấy cô đơn hơn bất cứ ai trên thế gian rộng lớn này sau khi Jimmy Carter lái xe đi như thế nào. Có thể tôi đúng là cô đơn hơn bất kỳ ai trên cả thế gian bao la này.

Có thể thế lại hay. 

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.