ĐIỂU HỌC

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8 - ĐIỂU HỌC

❊ ❊ ❊

Đồng cỏ Kennedy được mệnh danh là cửa ngõ của High Sierra, và ngay từ buổi sớm tôi đã đi xuyên qua cái cửa ngõ đó. Doug và Tom đi cùng tôi chừng nửa cây số đầu, nhưng rồi tôi dừng lại, bảo họ đi trước vì tôi còn phải lấy đồ trong ba lô. Chúng tôi ôm và chúc nhau mạnh giỏi, nói lời tạm biệt mãi mãi hoặc trong 15 phút nữa, nào ai biết được. Tôi dựa vào một tảng đá để giảm bớt một phần trọng lượng của Quái Vật khỏi lưng, và nhìn họ đi xa dần.

Họ đi rồi, tôi thấy thật buồn, dù cũng phần nào nhẹ nhõm khi nhìn bóng họ lẫn vào trong rừng cây tối. Tôi không cần lấy gì trong ba lô cả; tôi chỉ muốn ở một mình. Lúc nào tôi cũng cảm thấy cô độc mới thực là chỗ dành cho mình, như thể đấy không phải là một trạng thái mà đúng hơn là một căn phòng nơi tôi có thể náu mình và sống thật với bản thân. Sự cô độc gần như tuyệt đối trên con đường PCT đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ ấy. Cô độc không còn là một căn phòng nữa, mà là cả thế giới rộng lớn này, và giờ thì tôi cô độc trong thế giới ấy, chiếm lĩnh nó theo cách tôi chưa từng làm trước đây. Sống trong sự thênh thang này, thậm chí còn chẳng có mái nhà che trên đầu, tôi cảm thấy thế giới vừa rộng lớn hơn lại vừa nhỏ bé. Cho đến lúc này, tôi thực sự chưa thấu hiểu sự mênh mông của thế giới – thậm chí còn chưa hiểu một kilômét thì rộng thế nào – cho đến khi mỗi kilômét đều được tính bằng vận tốc đi bộ. Thế nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là sự gắn bó lạ lùng chẳng biết tôi có từ lúc nào với con đường, là cái cách những cây thông pinon, những bông hoa hầu vương mà sáng nay tôi đi qua, hay những dòng suối nông choèn tôi đã lội, trở nên thân thuộc và như quen biết tôi từ trước, mặc dù tôi chưa từng đi qua hay lội qua chúng trước đây.

Tôi đã đi trong cái mát mẻ của buổi sáng, hòa nhịp với tiếng gõ lích kích của cây gậy trượt tuyết màu trắng mới có, cảm nhận sức nặng lắc qua lắc lại của Quái Vật tuy đã nhẹ bớt nhưng vẫn nặng nề một cách lố bịch. Hồi sáng nay lúc khởi hành, tôi đã nghĩ rằng chắc lần này sẽ khác, rằng việc đi bộ này sẽ dễ dàng hơn. Bởi gì thì gì, cái ba lô đã nhẹ hơn nhiều rồi, không chỉ nhờ cuộc thanh trừng của Albert mà còn vì tôi không phải mang hơn hai chai nước mỗi lần đi nữa, giờ tôi đã đến cung đường ít khô hạn hơn. Nhưng mới đi được có một tiếng rưỡi tôi đã phải dừng lại nghỉ, những cơn đau nhức quen thuộc lại nổi lên. Nhưng tôi lại thấy cơ thể trở nên dẻo dai hơn một chút, y như lời Greg đã cam đoan.

Đó là ngày đầu tiên của tuần thứ ba, chính thức là mùa hè – tuần cuối cùng của tháng sáu – và bây giờ tôi không chỉ đang ở trong một mùa khác, mà còn là ở một đất nước khác, leo lên cao hơn ở vùng hoang dã Nam Sierra. Trong vòng gần 65 cây số từ đồng cỏ Kennedy đến đèo Trail, tôi sẽ leo từ độ cao chỉ hơn 1.859 m lên đến gần 3.353 m so với mực nước biển. Thậm chí ngay trong cái nóng của buổi chiều đầu tiên trở lại đường mòn ấy, tôi đã có thể cảm nhận cái rìa không khí lạnh chắc chắn sẽ bao bọc lấy tôi khi đêm xuống. Bây giờ thì chắc chắn là tôi đang ở Sierra – Miền Sáng dấu yêu của Muir. Tôi bước đi bên dưới những tán cây tối vĩ đại phủ bóng lên những cây nhỏ hơn dưới chúng, rồi qua những thảm cỏ rộng lớn đầy hoa dại; tôi bò qua những con suối đang mùa tuyết tan, thận trọng bước từ tảng đá bấp bênh này đến tảng bấp bênh khác, lấy cây gậy trượt tuyết làm chân chống. Bước đi dò dẫm thế xem ra Sierra Nevada khó lòng vượt qua được. Tôi cứ thế bước đi mãi. Chỉ những khi vừa qua một đoạn đường vòng và phóng tầm mắt nhìn lên lại thấy thêm những đỉnh núi trắng phía trước, tôi mới nghi ngờ về khả năng của mình, và chỉ những khi tôi nghĩ mình còn phải đi bao xa nữa, tôi mới mất niềm tin rằng mình có thể đến nơi.

Dấu chân của Doug và Tom thỉnh thoảng xuất hiện trên con đường hết bụi lại bùn, đến giữa chiều tôi đã bắt kịp họ đang ngồi bên một con suối, nét mặt hai người lộ vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi đi lên. Tôi ngồi cạnh họ và bơm nước. Chúng tôi nói chuyện một lúc.

“Tối nay chị nên cắm trại với chúng tôi, nếu chị theo kịp.” Tom nói trước khi họ tiếp tục lên đường.

“Tôi đã bắt kịp các cậu rồi đấy thôi.” Tôi trả lời và chúng tôi cùng cười phá lên.

Tối đó tôi đến vạt đất trống nhỏ nơi họ dựng lều. Sau bữa tối, họ chia sẻ hai lon bia mang từ đồng cỏ Kennedy, cho tôi uống ké mấy hớp khi chúng tôi ngồi trên đất cuộn mình trong quần áo. Ngồi uống bia, tôi băn khoăn ai trong hai người bọn họ đã lấy 11 cái bao cao su Trojan không chất bôi trơn mỏng dính tôi mua ở Portland mấy tuần trước. Chắc hẳn phải là một trong hai người này.

Ngày hôm sau, khi đang đi một mình, tôi gặp một trảng tuyết rộng phủ trên một con dốc hơi nghiêng, lớp băng cứng khổng lồ xóa sạch lối mòn. Nó giống như chỗ lở đá lần trước, chỉ là hãi hùng hơn, một con sông băng thay vì một dòng sông đá. Nếu bị trượt trong khi cố gắng băng quá nó, tôi sẽ trượt xuống một bên núi và va vào những phiến đá ở tít dưới kia, hoặc tệ hơn là rơi xa xuống tận chỗ mà chẳng ai biết là gì. Nhìn từ chỗ tôi đứng thì chắc là rơi vào khoảng không. Nếu tôi không cố gắng vượt qua nó, thì tôi phải trở về đồng cỏ Kennedy. Đó cũng không hoàn toàn là một ý kiến tồi. Thế nhưng tôi đã đến đây rồi.

Tệ thật, tôi nghĩ. Quá tồi tệ là đằng khác. Tôi lôi cái rìu phá băng ra và cân nhắc tình thế của mình, nghĩa là đứng ở đó nhiều phút liền chỉ để xốc lấy tinh thần. Tôi có thể nhận ra Doug và Tom đã đi qua chỗ này, họ để lại những hố lồi lõm trên tuyết. Tôi nắm cái rìu phá băng như Greg đã dạy rồi đặt chân vào một trong những hố đó. Sự tồn tại của chúng khiến mọi thứ vừa khó khăn hơn vừa dễ chịu hơn. Tôi không phải lấy cuốc chim mổ hốc đặt chân cho mình, nhưng mấy cái hốc ấy có vị trí hết sức kỳ quặc, trơn trượt và đôi khi lại quá sâu, khiến đôi giày của tôi mắc kẹt bên trong và tôi hẳn sẽ mất thăng bằng và ngã, cái rìu phá băng thì vướng víu đến nỗi tôi cảm thấy nó giống gánh nặng hơn là công cụ hỗ trợ. Chặn lại. Tôi không ngừng nghĩ vậy khi tưởng tượng mình sẽ làm gì với cái rìu này nếu như bị trượt xuống. Tuyết ở đây khác với tuyết ở Minnesota. Có những chỗ nhiều băng hơn là bông tuyết, lèn chặt đến mức làm tôi nhớ đến những lớp tuyết đông cứng lại trong tủ lạnh. Những chỗ khác thì dễ đi hơn, nhiều tuyết tan hơn vẻ bề ngoài.

Tôi không nhìn xuống bờ đá bên dưới cho đến khi đã đến được bờ tuyết bên kia và đứng trên con đường bùn lầy, run rẩy nhưng vui mừng. Tôi biết cuộc dạo chơi nho nhỏ này chỉ là một ví dụ cho những gì ở phía trước. Nếu tôi không chọn cách bỏ con đường này ở đèo Trail để tránh tuyết, thì tôi sẽ sớm đến đèo Forester Pass, ở độ cao hơn 4.000 m, điểm cao nhất của con đường PCT. Và nếu tôi không trượt xuống một bên núi trong khi vượt qua con đèo, thì nhiều tuần tiếp theo tôi sẽ chẳng làm gì ngoài băng qua toàn tuyết là tuyết. Ở đó tuyết hẳn khủng khiếp hơn đoạn đường tôi vừa qua, nhưng chỉ đoạn đường này cũng đủ khiến tôi nhìn nhận thực tế hơn những gì đang chờ mình phía trước. Nó nói với tôi rằng tôi chẳng có cách nào ngoài việc đi đường vòng. Tôi còn chưa chuẩn bị sẵn sàng để đi trên PCT trong một năm bình thường, huống chi là một năm tuyết đổ dày gấp đôi gấp ba so với năm trước. Kể từ năm 1983, chưa có mùa đông nào tuyết đổ nhiều như năm ngoái, và chắc trong cả chục năm nữa cũng chẳng có.

Thêm nữa, đâu phải chỉ có mỗi tuyết là đáng lo. Còn cả những thứ khác liên quan đến tuyết: những con sông con suối cực kỳ nguy hiểm mà tôi phải lội qua một mình, những mức nhiệt độ sẽ đẩy tôi vào nguy cơ giảm nhiệt sâu, và thực tế là tôi sẽ phải dựa dẫm chủ yếu vào bản đồ và la bàn ở những đoạn dài mà con đường này bị phủ tuyết – tất cả lại càng khốn khó hơn khi tôi chỉ có một thân một mình. Tôi không có đồ chuyên dụng cần thiết; tôi không có kiến thức và kinh nghiệm. Và vì tôi đi một mình, tôi không được phép sai sót dù chỉ một lần. Nếu nhảy cóc như hầu hết những người khác thì tôi bỏ mất cái huy hoàng của High Sierra. Nhưng nếu cứ bám theo con đường mòn này, tôi sẽ mạo hiểm cả mạng sống của mình.

“Tôi sẽ đi đường vòng ở đèo Trail.” Tôi nói với Doug và Tom khi chúng tôi ăn bữa tối. Tôi đã đi bộ cả ngày một mình – đánh dấu một ngày thứ hai đi được hơn 24 cây số nữa – nhưng đã bắt kịp họ lần nữa khi họ dựng lều. “Tôi sẽ leo lên Sierra City và quay trở lại đường mòn ở đó.”

“Chúng tôi quyết định đi tiếp.” Doug nói.

“Chúng tôi đã nói về chuyện này và chúng tôi nghĩ rằng chị nên đi cùng chúng tôi.” Tom nói.

“Đi cùng các cậu?” Tôi hỏi, thò đầu ra từ cái áo khoác đen sụ. Tôi đang mặc trên người mọi thứ quần áo tôi có, nhiệt độ xuống thấp đến gần như đóng băng. Những vạt tuyết bao quanh chúng tôi bên dưới những tán cây ở những điểm khuất ánh nắng mặt trời.

“Chị đi một mình không an toàn chút nào.” Doug nói.

“Chẳng ai trong chúng tôi dám đi một mình.” Tom nói.

“Nhưng chẳng an toàn cho bất cứ ai trong chúng ta nếu đi dưới tuyết. Đi cùng nhau hay đi một mình cũng thế.” Tôi nói.

“Chúng tôi muốn thử,” Tom nói.

“Cảm ơn nhé.” Tôi nói. “Tôi rất cảm động khi các cậu rủ tôi, nhưng tôi không thể.”

“Tại sao không thể?” Doug hỏi.

“Vì mục đích của tôi trong chuyến đi này là tôi phải đến đây và đi một mình.”

Chúng tôi im lặng một lúc sau đó, ăn bữa tối, mỗi người tay đeo găng, ôm một cái xoong ấm đầy gạo hoặc đỗ hoặc mì. Tôi thấy thật buồn khi phải từ chối họ. Không phải chỉ vì tôi biết điều đó có nghĩa là tôi đang chọn đi đường vòng để tránh High Sierra, mà còn vì dù đã nói muốn đi chuyến này một mình nhưng tôi vẫn thấy ấm áp khi có họ đồng hành. Ở gần Tom và Doug buổi tối, tôi thôi không phải nói với chính mình Mình không sợ mỗi khi nghe tiếng một cành cây khô rơi trong đêm tối hoặc tiếng gió gầm gào như có chuyện gì xấu sắp xảy ra. Nhưng tôi không ở đây để giữ cho mình khỏi phải nói Mình không sợ. Tôi nhận ra mình đến đây để nhìn trừng trộ vào nỗi sợ, để nhìn trừng trộ vào mọi thứ, đúng vậy – mọi thứ tôi đã làm với chính mình và mọi thứ tôi đã phải hứng chịu. Tôi sẽ không thể làm được chuyện đó nếu cứ bám riết lấy một ai đó.

Sau bữa tối, tôi nằm trong lều với cuốn Những câu chuyện hoàn tất của Flannery O’Connor trên ngực, kiệt sức đến mức không giơ nổi cuốn sách lên. Kiệt sức không chỉ bởi lạnh và mệt do đi bộ ban ngày: ở độ cao này, không khí loãng hơn. Thế nhưng tôi lại chẳng thể ngủ. Trong trạng thái như thể mộng du, tôi đã nghĩ việc đi vòng để tránh High Sierra có nghĩa là gì. Cơ bản là nó phá tan mọi thứ. Tất cả những kế hoạch mà tôi đã vạch ra, những gì tôi đã vẽ ra tường tận đến từng hộp tiếp tế và từng bữa ăn trong cả mùa hè. Giờ thì tôi nhảy hơn 720 km đường mòn đã định đi. Tôi sẽ đến Ashland vào đầu tháng tám thay vì giữa tháng chín.

“Doug?” Tôi gọi vọng ra bóng tối, lều của cậu ta chỉ cách lều của tôi một cánh tay.

“Ơi?”

“Tôi đang nghĩ, nếu đi vòng, tôi có thể đi toàn bộ Oregon vậy.” Tôi lăn người để hướng mặt về phía lều của cậu ta, nửa mong cậu ta đến nằm cạnh trong lều của tôi – hay bất cứ ai cũng được. Đó là cảm giác khao khát và trống rỗng y như hồi ở nhà nghỉ Mojave khi tôi ước có một người bạn tình. Chẳng phải ai đó để yêu. Chỉ là có ai đó để đè lên thân mình. “Cậu có biết đoạn qua Oregon dài bao nhiêu không?”

“Khoảng hơn 800 cây.” Cậu trả lời.

“Tuyệt vời.” Tôi nói, tim đập rộn ràng với ý tưởng đó trước khi nhắm mắt lại và chìm vào giấc ngủ sâu.

Chiều hôm sau, Greg bắt kịp tôi ngay trước khi tôi đến đoạn đèo Trail Pass Trail, con đường ra khỏi PCT của tôi.

“Tôi sẽ đi vòng.” Tôi miễn cưỡng phải nói với anh.

“Tôi cũng thế.” Anh nói.

“Thật không?” Tôi hỏi mà lòng đầy nhẹ nhõm và hân hoan.

“Từ đây lên tuyết phủ quá dày,” Greg nói, chúng tôi phóng mắt nhìn quanh chỗ rừng thông đuôi cáo đang quặn thân trong gió giữa những tảng đá bên đường; những ngọn núi và chỏm núi hiện ra cách hàng kilômét dưới bầu trời xanh trong vắt. Điểm cao nhất trên con đường mòn chỉ còn cách hơn 56 cây số. Đỉnh của ngọn Whitney, đỉnh cao nhất của lục địa châu Mỹ, còn gần hơn, ngoặt một khúc ngắn khỏi PCT.

Chúng tôi cùng nhau đi hơn ba km theo đường mòn đèo Trail tới khu vực dã ngoại và cắm trại ở đồng cỏ Horseshoe, bắt kịp Doug và Tom và đi nhờ xe đến Lone Pine. Tôi không có kế hoạch đến đó. Một vài người đi PCT có hộp tiếp tế gửi đến Lone Pine, nhưng tôi có kế hoạch đi một lèo đến thị trấn Độc Lập, cách hơn 80 cây số nữa về phía bắc. Tôi vẫn còn đủ thực phẩm cho vài ngày nữa, nhưng khi đến thị trấn tôi lập tức tới một cửa hàng tạp phẩm để nạp thêm đồ ăn cho mình. Tôi cần đủ đồ ăn để tồn tại trong đoạn đường ngót 155 cây số khi đi đường vòng từ thành phố Sierra đến thị trấn Belden. Cuối cùng, tôi thấy một cái bốt điện thoại trả trước. Tôi gọi cho Lisa và để lại tin nhắn vào máy trả lời tự động của nó, giải thích kế hoạch mới nhanh nhất có thể. Tôi nhờ Lisa gửi ngay lập tức cái hộp tiếp tế có đề địa chỉ thị trấn Belden và giữ lại tất cả những hộp còn lại cho đến khi tôi báo chi tiết về hành trình mới của mình.

Khi gác máy, tôi cảm thấy chênh vênh và trống trải, bớt hào hứng về việc được ở trong thị trấn hơn là tôi tưởng. Tôi đi bộ dọc con đường cái cho đến khi tìm thấy mấy ông bạn.

“Chúng tôi đang quay trở lại.” Doug nói, mắt chúng tôi gặp nhau. Ngực tôi như thắt lại khi ôm cậu và Tom chào tiễn biệt. Tôi yêu quý họ, nhưng trên tất thảy, tôi đang lo lắng.

“Các cậu có chắc là muốn đi lên chỗ tuyết đó chứ?” Tôi hỏi.

“Chị có chắc là không muốn đi không?” Tom đáp lời.

“Chị vẫn còn bùa may mà.” Doug nói, chỉ cái lông chim đen tuyền mà cậu tặng tôi hôm ở đồng cỏ Kennedy. Tôi đã cài nó vào khung Quái Vật, ngay phía trên vai phải.

“Để có chút gì đó nhớ về cậu.” Tôi nói và chúng tôi cùng phá lên cười.

Sau khi họ đi rồi, tôi đi bộ với Greg tới cửa hàng tiện lợi to gấp đôi bến xe buýt Greyhound của thị trấn. Chúng tôi đi qua các quán bar tự quảng cáo mình là những salon và cửa hiệu Miền Tây Xưa Cũ, với những chiếc mũ cao bồi, tranh đóng khung vẽ những gã đàn ông trên lưng ngựa lồng được trưng ra trên cửa sổ trước.

“Cô xem High Sierra của Humphrey Bogart bao giờ chưa?” Greg hỏi.

Tôi lắc đầu.

“Phim làm ở đây đấy. Với rất nhiều phim khác nữa. Toàn phim về miền Tây.”

Tôi gật đầu, không lấy làm ngạc nhiên. Vùng đất này đúng thật là cứ như từ phim Hollywood – một vùng thảo nguyên bao phủ cây xô thơm, cằn cỗi hơn, không có cây cối, toàn đá với một tầm nhìn xa ngút mắt. Những đỉnh núi trắng của Sierra Nevada về phía tây cắt hình rõ rệt trên nền trời, như một mặt tiền nguy nga tráng lệ, gần như là không thực với tôi.

“Chuyến của chúng ta kìa.” Greg nói, tay chỉ một chiếc xe buýt Greyhound lớn ở khu đỗ xe của cửa hàng khi chúng tôi đến.

Nhưng anh đã lầm. Chúng tôi sau đó mới té ra rằng chẳng có chuyến xe buýt nào đến Sierra City cả. Tối đó, chúng tôi sẽ phải bắt một chuyến xe buýt và đi bảy tiếng đồng hồ tới Reno, Nevada, rồi bắt một chuyến một tiếng đồng hồ tới Truckee, California. Từ đó, chúng tôi chẳng có lựa chọn nào ngoài việc xin đi nhờ hơn 72 cây số cuối cùng tới thành phố Sierra. Chúng tôi mua hai chiếc vé một chiều với một ôm đồ ăn vặt rồi ngồi trên vỉa hè ấm áp bên hông chỗ đỗ xe của cửa hàng tiện lợi để chờ xe buýt tới. Chúng tôi đánh bay hết mấy túi khoai tây chiên và những lon nước ngọt trong khi nói chuyện. Chúng tôi nói mãi về chủ đề đường mòn Pacific Crest, một lần nữa bàn về đồ du lịch bụi và lượng tuyết kỷ lục, rồi tới những quan điểm và thực tiễn về hành lý “siêu nhẹ” của Ray Jardine cùng những tín đồ của ông ta – những người đã hiểu đúng hoặc hiểu sai linh hồn đằng sau những quan điểm và thực tiễn ấy – rồi cuối cùng chúng tôi nói về bản thân mình. Tôi hỏi anh về công việc và cuộc sống ở Tacoma. Anh không có thú cưng và không có con cái, có bạn gái đã hẹn hò được một năm. Cô ấy cũng là dân chuyên du lịch bụi lúc nào cũng thèm lên đường. Cuộc đời của anh rõ ràng là đã định sẵn và có cân nhắc cả. Đối với tôi nó có vẻ vừa buồn chán vừa thú vị. Tôi không biết anh nghĩ về cuộc đời tôi như thế nào.

Rốt cuộc chúng tôi cũng lên được xe buýt đến Reno. Nó gần như trống không, chẳng có hành khách. Tôi đi theo Greg đến giữa xe. Chúng tôi chọn một cặp ghế ngồi đối diện nhau qua lối đi lại.

“Tôi sẽ ngủ một chút.” Anh nói khi chiếc xe chuyển bánh trên đường cao tốc.

“Tôi cũng thế.” Tôi nói, mặc dù tôi biết là không phải như vậy. Kể cả khi kiệt sức tôi cũng không bao giờ ngủ được trên bất kỳ phương tiện nào đang di chuyển, và lúc này thì tôi thì đang không kiệt sức. Tôi thấy tim mình như được thắp lên khi được quay trở lại thế giới. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ trong khi Greg ngủ. Chẳng người nào quen tôi quá một tuần biết được tôi đang ở đâu. Mình đang trên đường đến Reno, Nevada, tôi thoáng chút băn khoăn. Tôi chưa bao giờ ở Reno. Dường như đó là nơi ngớ ngẩn nhất mà tôi có thể đến lúc này, với kiểu ăn mặc như thế này, bẩn thỉu như một con cẩu, tóc thì khô bết như một cái túi vải bao bố. Tôi vét sạch các túi rồi đếm những tờ tiền và đồng xu, lấy đèn pin đeo đầu nhìn. Tôi có 44 đô-la và 75 xu. Tim tôi như chìm nghỉm khi nhìn vào số tiền khiêm tốn ấy. Cho đến lúc này, tôi đã tiêu nhiều tiền hơn dự định. Tôi không lường trước những lần dừng ở Ridgecrest và Lone Pine, hay vé xe buýt đến Truckee. Tôi sẽ có thêm tiền nhưng phải đến tận hơn một tuần nữa, khi lấy được hộp tiếp tế tiếp theo ở thị trấn Belden, mà chỗ đó cũng chỉ có 20 đô-la. Greg và tôi đã thống nhất sẽ thuê phòng một đêm trong một nhà nghỉ ở thành phố Sierra để lấy lại sức sau nhiều chuyến đi dài, nhưng tôi có cảm giác nao nao rằng mình sẽ phải tìm một chỗ mà dựng lều thay vì thuê nhà nghỉ.

Tôi chẳng thể làm được gì. Tôi không có thẻ tín dụng. Đơn giản là tôi sẽ phải xoay xở bằng những gì mình đang có. Tôi nguyền rủa chính mình vì không đút thêm tiền vào những cái hộp, nhưng cũng đúng lúc đó nhận ra là tôi không thể. Chỗ tiền đút vào mấy hộp tiếp tế là tất cả số tiền tôi có. Tôi đã dành dụm toàn bộ số tiền típ trong cả mùa đông và mùa xuân, đã bán đi kha khá đồ đạc có giá trị của mình. Và với số tiền đó, tôi đã mua toàn bộ số thức ăn đặt vào những cái hộp cùng toàn bộ dụng cụ được dàn ra trên giường ở nhà nghỉ Mojave, và tôi đã viết một tờ séc cho Lisa để trang trải chi phí gửi những cái hộp và một tờ séc khác cho bốn tháng tiền nợ học phí đến tận năm 43 tuổi tôi mới trả hết cho tấm bằng mà tôi không có. Còn lại là toàn bộ số tiền tôi có thể tiêu trên PCT.

Tôi đút tiền lại vào túi, tắt đèn pin, và nhìn qua cửa sổ hướng về phía tây, cảm thấy một nỗi khó chịu buồn bã. Tôi nhớ nhà, nhưng tôi không biết liệu đó là nhớ cuộc đời trước đây tôi từng có hay là nhớ PCT. Tôi gần như không nhìn ra cái bóng tôi tối của Sierra Nevada in trên nền trời mờ ánh trăng. Nó lại giống một bức tường không thể xuyên qua mà tôi đã thấy vài năm trước khi lần đầu tiên trong lúc lái xe với Paul, nhưng giờ đây tôi chẳng còn thấy nó không thể xuyên thủng được nữa. Tôi có thể tưởng tượng ra chính mình trên bức tường đó, trong nó, là một phần của nó. Tôi biết cái cảm giác mỗi lúc tiến tới nó thêm một bước. Tôi sẽ quay lại ngay khi đi khỏi thành phố Sierra. Tôi đang đi vòng qua High Sierra – bỏ qua Sequoia và vườn quốc gia thung lũng Kings và Yosemite, đồng cỏ Tuolumne và đường mòn John Muir và vùng hoang dã Desolation và nhiều thứ khác nữa – nhưng tôi vẫn sẽ đi thêm 160 cây số nữa ở vùng Sierra Nevada, trước khi đi vào dãy Cascade.

Đến khi xe buýt vào ga ở Reno lúc bốn giờ sáng, tôi đã chẳng ngủ một phút nào. Greg và tôi có một giờ đồng hồ rỗi rãi trước khi chuyến tiếp theo chuyển bánh đến Truckee, bởi vậy chúng tôi thất thểu đi vào một casino nhỏ giáp tường với bến xe, ba lô vẫn cột chặt trên lưng. Tôi quá mệt còn thần kinh thì căng thẳng, nhấp ngụm chè Lipton nóng hổi từ một cái cốc Styrofoam. Greg chơi bài xì dách và thắng ba đô. Tôi móc ra ba đồng 25 xu từ trong túi, nhét cả ba vào một cái máy đánh bạc và thua sạch.

Greg mỉm với tôi một nụ cười khô khan kiểu tôi-đã-bảo-với-cô-rồi-mà, như thể anh biết thế nào tôi cũng thua.

“Ô, anh không biết đấy thôi,” tôi nói, “tôi đã từng ở Vegas một lần – chỉ là đi ngang qua cách đây vài năm – và tôi nhét một đồng nickel vào rồi thắng 60 đô đấy nhé.”

Trông anh chẳng có vẻ gì là bị ấn tượng cả.

Tôi đi vào trong phòng vệ sinh nữ. Khi tôi đánh răng trước một tấm gương dưới ánh đèn tuýp bên trên cái bồn rửa, một người phụ nữ nói: “Tôi thích cái lông chim của cô,” tay chỉ vào cái lông chim trên ba lô tôi.

“Cảm ơn.” Tôi nói, mắt chúng tôi gặp nhau trong gương. Trông cô ấy nhợt nhạt, mắt nâu và mũi to, tóc tết dài sau lưng. Cô mặc một chiếc áo phông bạc phếch, một cái quần jean cắt vá và đi một đôi xăng đan hiệu Birkenstock. “Bạn tôi cho tôi đấy.” Tôi nói nhếu nháo khi kem đánh răng tràn ra miệng. Hình như đã rất lâu rồi kể từ lần cuối tôi nói chuyện với một người phụ nữ.

“Chắc là lông quạ.” Cô nói, một ngón tay khẽ khàng chạm vào nó. “Một con quạ mỏ thuôn hoặc một con quạ mỏ quặp, biểu tượng của sự trống rỗng.” Cô thêm vào bằng một giọng bí ẩn.

“Trống rỗng?” Tôi hỏi, đầy thất vọng.

“Đó là điều hay mà.” Cô nói. “Đó là nơi mọi thứ sinh ra, nơi mọi thứ bắt đầu. Hãy nghĩ về cái lỗ đen đã hút năng lượng rồi giải phóng năng lượng ấy ra dưới dạng một cái gì đó mới mẻ và tràn đầy sinh khí như thế nào.” Cô dừng lại, nhìn tôi đầy ẩn ý. “Bồ cũ của tôi là dân điểu học.” Cô giải thích, giọng bớt vẻ thanh khiết hơn. “Anh ấy nghiên cứu họ quạ. Luận văn của anh ấy nói về các loài quạ và vì tôi có bằng thạc sĩ Ngôn ngữ Anh nên tôi phải đọc cái thứ khỉ ấy đâu như chục lần, bởi vậy tôi biết nhiều về chúng hơn mức cần thiết.” Cô quay sang gương và chải lại mái tóc. “Cô đang đến Lễ hội Cầu vồng à?”

“Không, tôi…”

“Cô nên đến đó. Hay lắm đấy. Người ta tụ hội về Rừng quốc gia Shasta-Trinity, năm nay ở hồ Con Cóc.”

“Tôi đã đến Lễ hội Cầu vồng năm ngoái, tổ chức ở Wyoming.” Tôi nói.

“Đúng rồi.” Cô nói theo cách chậm rãi mà người ta nói từ đúng rồi. “Đi bộ vui vẻ nhé.” Cô nói và vươn tới nắm lấy cánh tay tôi. “Điểu học muôn năm!” Cô chúc mừng khi quay đầu ra cửa, hào hứng giơ ngón tay cái lên với tôi và với cái lông quạ khi rời đi.

Tám giờ, tôi và Greg đã ở Truckee. Đến 11 giờ chúng tôi vẫn còn đứng bên lề đường nóng nực cố bắt nhờ xe đi đến thành phố Sierra.

“NÀY!” Tôi điên cuồng hét theo một chiếc xe buýt VW vừa vèo qua. Mấy tiếng đồng hồ trôi qua, ít nhất có sáu chiếc xe đã bỏ qua bọn tôi. Tôi đặc biệt căm phẫn khi không được những kẻ lái những chiếc xe VW cho đi nhờ. “Bọn hippy khốn khiếp!” Tôi nói với Greg.

“Tôi tưởng cô cũng là hippy mà.” Anh nói.

“Tôi là hippy. Kiểu thế. Nhưng chỉ một tí thôi.” Tôi ngồi xuống vệ đường đầy sỏi và cởi dây giày, nhưng cởi xong thì tôi không đứng dậy nổi nữa. Tôi bị chóng mặt vì kiệt sức. Tôi đã không ngủ một ngày rưỡi trời rồi.

“Cô nên đi bộ trước rồi đứng một mình.” Greg nói. “Tôi hiểu mà. Nếu cô đi một mình thì cô đã bắt được xe từ rất lâu rồi.”

“Không.” Tôi nói, mặc dù tôi biết anh nói đúng – một phụ nữ đi một mình thì ít đe dọa hơn là một cặp nam nữ. Người ta muốn giúp một phụ nữ đi một mình. Hoặc muốn được luồn tay vào quần cô ta. Nhưng lúc này chúng tôi đi cùng nhau, bởi vậy chúng tôi vẫn kề bên nhau cho đến khi, một tiếng sau, một chiếc xe hơi dừng lại và chúng tôi leo lên xe, thẳng tiến đến thành phố Sierra. Đó là một ngôi làng đẹp bình dị, chỉ có khoảng chục tòa nhà gỗ trú ngụ ở độ cao hơn 1.280 m so với mực nước biển. Ngôi làng kẹp giữa sông Bắc Yuba và núi Sierra Buttes cao ngất trời nổi lên nâu sậm giữa nền trời trong vắt về phía bắc.

Người lái xe thả chúng tôi ở cửa hàng bách hóa trong trung tâm thị trấn. Chỗ có vẻ khá cổ kính lâu đời, nơi các du khách ngồi ăn kem cốc bên dưới mái hiên sơn màu, nơi đám đông đi nghỉ cuối tuần trước ngày Quốc khánh 4/7 đang rì rầm nói chuyện.

“Cô ăn một cốc chứ?” Greg hỏi, lôi ra mấy đồng đô-la.

“Không. Chắc để sau.” Tôi nói, cố giữ cho giọng thật bình thản để che giấu nỗi khốn khổ trong lòng. Tất nhiên là tôi muốn một cây kem ốc quế. Vấn đề là tôi chẳng dám mua mà ăn vì sợ rằng không đủ tiền để thuê phòng. Khi chúng tôi bước vào cửa hàng nhỏ đông người ấy, tôi cố gắng không nhìn vào chỗ đồ ăn. Thay vào đó tôi đứng gần quầy thu tiền, xem những tờ quảng cáo du lịch trong khi Greg mua đồ. “Toàn bộ thị trấn này đã bị một cơn lở tuyết quét sạch năm 1852.” Tôi nói khi anh quay trở lại. Tay tôi phe phẩy quạt bằng tờ quảng cáo bóng bẩy ấy. “Tuyết lở từ Buttes.” Anh gật đầu như thể đã biết chuyện đó rồi, thè lưỡi liếm chiếc kem ốc quế sô cô la. Tôi quay đi, cảnh tượng ấy cứ như một cuộc tra tấn nhỏ đối với tôi vậy. “Tôi mong là anh không phiền nhưng tôi cần tìm một chỗ nào đó rẻ tiền. Ý tôi là tối nay ấy.” Sự thật là tôi cần một chỗ miễn phí, nhưng tôi mệt đến mức chẳng muốn nghĩ đến chuyện dựng lều nữa. Lần cuối cùng tôi ngủ được là trên đường mòn PCT ở High Sierra.

“Cô thấy chỗ này thế nào?” Greg nói, chỉ tòa nhà gỗ cũ kỹ bên đường.

Ở tầng dưới là quán bar và nhà hàng, phía trên có phòng cho thuê và nhà tắm chung. Lúc ấy mới một rưỡi, nhưng người phụ nữ chỗ quầy bar cũng cho chúng tôi nhận phòng sớm. Sau khi trả tiền phòng, tôi còn lại 13 đô-la.

“Cô có muốn cùng ăn tối không?” Greg hỏi khi chúng tôi đến được phòng mình, đứng trước hai cánh cửa liền nhau.

“Có chứ,” tôi nói, hơi đỏ mặt. Tôi không thấy Greg cuốn hút nhưng vẫn cứ hy vọng anh thấy mình hấp dẫn, dù tôi biết điều này thật ngớ ngẩn. Có khi anh là người đã lấy mấy cái bao cao su của mình. Ý nghĩ đó khiến tôi rùng mình.

“Cô cứ dùng trước nếu muốn.” Anh nói, tay chỉ về phía nhà tắm cuối hành lang mà chúng tôi sẽ dùng chung với những người ở cùng tầng. Có vẻ đến lúc này chỉ có hai chúng tôi đến thuê phòng.

“Cảm ơn.” Tôi nói, rồi mở khóa cửa phòng tôi và bước vào trong. Một bên tường là cái bàn trang điểm bằng gỗ cổ lỗ đã ọp ẹp và có gương tròn, tường bên kia là một cái giường đôi, bên cạnh là một cặp bàn ghế nhỏ. Một cái bóng đèn trần trụi lủng lẳng từ giữa trần. Tôi hạ Quái Vật xuống và ngồi lên giường. Nó cọt kẹt lún xuống dưới sức nặng của tôi, nhưng cảm giác vẫn thật tuyệt vời. Người tôi như phát đau vì niềm vui sướng nhỏ nhoi là được ngồi trên giường, như thể tôi đang tan chảy. Hóa ra chiếc ghế cắm trại trải ra làm đệm ngủ chẳng êm ái là bao. Hầu như tối nào trên đường mòn PCT tôi cũng ngủ say, nhưng không phải vì chỗ ngủ êm ái: đơn giản vì tôi kiệt sức đến mức chẳng quan tâm gì nữa.

Tôi muốn ngủ, nhưng chân và tay bẩn, hôi hám hết sức. Lên giường trong tình trạng như thế này thì quả là tội lỗi. Tôi đã không được tắm rửa tử tế kể từ hôm ở nhà nghỉ chỗ Ridgecrest gần hai tuần trước. Tôi đi dọc hành lang đến phòng tắm. Không có vòi hoa sen, chỉ có một cái bồn sứ to đùng với chân hình móng thú và một chồng cao ngất khăn tắm gấp sẵn. Tôi lấy một cái và hít hà mùi xà phòng thơm nức của nó, rồi cởi quần áo và ngắm mình từ đầu đến chân trong cái gương lớn.

Trông tôi lạ lẫm đến giật mình.

Tôi không giống một người phụ nữ ba tuần liền ngủ bờ ngủ bụi trong hoang dã mà giống nữ nạn nhân của một vụ bạo hành kỳ quái. Những vết bầm đủ màu sắc từ vàng đến đen hằn thành đường trên chân và cánh tay, lưng và mông như thể bị gậy quất vào. Hông và vai đầy vết phồng rộp và mụn mẩn, vết sưng tấy và vảy đen đầy ở khoảng da từng bị rách toác do cái ba lô cọ vào. Dưới những vết bầm, vết thương và vết vảy ấy, tôi có thể thấy những đường lằn cơ mới, thấy thịt rắn lại ở những chỗ đã từng rất mềm mại.

Tôi xả đầy bồn tắm rồi ngồi vào, kỳ cọ bằng mảnh khăn và xà phòng. Chỉ trong vòng vài phút, nước đã đục ngầu vì bụi bẩn và máu từ người tôi đến mức tôi phải tháo hết đi và xả lại nước lần nữa.

Lần nước tắm thứ hai này, tôi ngả người ra nằm tựa vào bồn, cảm giác chưa từng biết ơn thứ gì hơn thế trong đời. Một lúc sau, tôi xem xét đôi bàn chân. Chúng đã phồng lên và te tua hết cả, có hai cái móng chân đã hóa màu đen kịt. Tôi chạm vào một cái và nhìn thấy nó như rời hẳn khỏi ngón chân đến nơi. Cái ngón chân ấy đã hành hạ tôi suốt mấy ngày trời, mỗi ngày một sưng hơn, như thể cái móng ấy sẽ cứ thế mà bật ra, nhưng giờ nó chỉ hơi đau một chút. Khi tôi giật mạnh cái móng, nó rơi vào lòng tay tôi, ngón chân đau nhói lên một cái. Thay chỗ của nó đã là một lớp bao phủ, không phải da cũng chẳng phải móng. Nó mờ mờ và hơi ánh lên, giống như một mảnh màng bọc thức ăn vậy.

“Tôi bị rụng mất một cái móng chân.” Tôi kể với Greg trong bữa tối.

“Cô bị rụng móng chân á?” Anh hỏi.

“Chỉ một cái thôi.” Tôi rầu rĩ, biết rằng sẽ có nguy cơ mất nhiều móng hơn, rằng đó là bằng chứng rõ ràng hơn nữa cho việc tôi là một con ngốc.

“Có thể giày của cô quá nhỏ.” Anh nói khi cô bồi bàn đem đến hai đĩa mì Ý và một rổ bánh mì nướng tỏi.

Tôi đã định gọi món thật cầm chừng thôi, nhất là khi vừa tiêu 50 xu nữa cho dịch vụ giặt là lúc đi cùng Greg chiều hôm đó. Nhưng khi ngồi xuống tôi không tài nào giữ mình khỏi hô ứng theo mọi việc Greg làm – gọi một cốc rum và một lon Coca, đồng ý gọi món bánh mì nướng tỏi. Trong khi ăn, tôi cố không để đầu óc luẩn quẩn với cái hóa đơn thanh toán đang mỗi lúc một dài thêm. Greg đã biết tôi chuẩn bị kém cỏi thế nào cho chuyến đi bộ PCT này. Anh không cần phải biết thêm rằng tôi còn ngu ngốc trong một chuyện khác nữa.

Nhưng quả thật tôi là một con ngốc. Sau khi chúng tôi đã thanh toán hóa đơn, trả tiền típ, và chia đôi mỗi người một nửa, tôi còn 65 xu.

Sau bữa tối, tôi trở lại phòng, mở cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California để đọc về đoạn đường tiếp theo. Trạm dừng chân tiếp theo là thị trấn Belden. Ở đó, một cái hộp tiếp tế với tờ 20 đô-la bên trong đang chờ. Tôi có thể đi đến thị trấn Belden với 65 xu không? Suy cho cùng, tôi sẽ ở trong chốn hoang dã và sẽ chẳng có nơi nào mà tiêu tiền, tôi lý luận thế, mặc dù vẫn cảm thấy lo âu. Tôi viết cho Lisa một lá thư, nhờ mua rồi gửi cho tôi cuốn hướng dẫn PCT cho đoạn đường Oregon bằng một ít tiền tôi đã gửi lại, và xin luôn mấy cái hộp tiếp tế cho phần còn lại của đoạn đường ở California. Tôi xem lại danh sách hết lần này đến lần khác để chắc chắn không sai sót ở đâu, đánh dấu các đoạn đường đi với thời gian và địa điểm cụ thể.

Khi tôi tắt đèn và nằm trên chiếc giường kẽo kẹt để ngủ, tôi có thể nghe thấy bên kia tường Greg cũng đang trở mình trên cái giường kêu cọt kẹt, vừa thật xa vừa thật gần. Nghe thấy tiếng anh bên ấy khiến tôi thấy cô đơn đến mức, nếu cho phép mình, tôi có thể tru lên vì đau đớn. Tôi không biết chính xác vì lẽ gì. Tôi vừa chẳng muốn gì vừa muốn tất cả từ anh. Anh sẽ làm gì nếu tôi gõ cửa phòng? Tôi sẽ làm gì nếu anh để tôi vào?

Tôi biết tôi sẽ làm gì. Tôi đã làm thế quá nhiều lần rồi.

“Tôi giống như một gã đàn ông vậy, về mặt tình dục ấy.” Tôi nói với một bác sĩ trị liệu – một người đàn ông tên là Vince tình nguyện làm việc trong phòng khám cộng đồng ở trung tâm Minneapolis khi đến điều trị mấy lần vào năm ngoái. Ở đó, những người như tôi có thể đến nói chuyện với những người như ông ta chỉ với giá mười đô một lần.

“Một gã như thế nào?” Ông ta hỏi.

“Xa rời.” Tôi nói. “Một số gã như thế. Tôi cũng giống vậy. Có thể tách rời ra khi nói tới chuyện giường chiếu.” Tôi nhìn Vince. Ông ta tầm 40 tuổi, mái tóc đen bổ đôi rủ xuống như hai cái cánh gọn gàng hai bên mặt. Tôi chẳng có gì cho ông ta, nhưng nếu ông ta đứng dậy và đi qua căn phòng, tiến lại hôn tôi, thì tôi sẽ hôn lại ông ta. Tôi sẽ làm bất cứ thứ gì.

Nhưng ông ta không đứng dậy. Ông ta chỉ gật đầu mà chẳng nói gì, cho thấy ông ta vừa nghi ngờ vừa tin tưởng. “Ai xa rời cô?” cuối cùng ông ta hỏi.

“Tôi không biết.” Tôi nói, mỉm cười như mỗi khi tôi cảm thấy không thoải mái. Tôi không thực sự nhìn vào ông ta. Thay vào đó, tôi đang nhìn tấm poster lồng khung treo đằng sau ông ta, một bức ảnh hình chữ nhật đen với một vòng xoáy trắng, hẳn là Ngân hà. Một mũi tên chỉ vào trung tâm của nó, bên trên là dòng chữ BẠN Ở ĐÂY. Bức hình đó in nhan nhản trên áo phông và những tấm poster ở khắp mọi nơi, và tôi thì lúc nào cũng thấy hơi khó chịu với nó, chẳng rõ nên hiểu thế nào: người ta định khiến cho nó thành ra khôi hài hay sầu bi? Để chỉ cái mênh mông của cuộc đời, hay cái vô nghĩa?

“Chẳng ai chia tay với tôi cả, nếu ông muốn hỏi thế.” Tôi nói. “Lúc nào tôi cũng là người chia tay trước.” Đột nhiên, tôi thấy nóng bừng hết cả mặt. Tôi nhận ra mình đang ngồi, cánh tay đan vào nhau và chân cũng thế – xoắn hết cỡ như tư thế con đại bàng trong yoga. Tôi cố gắng thả lỏng và ngồi bình thường, nhưng tôi không thể. Mắt tôi bất đắc dĩ gặp mắt ông ta. “Có phải tôi đang nói với ông về cha tôi?” Tôi cười giả lả.

Mẹ luôn là trung tâm cuộc đời tôi, nhưng khi ngồi với Vince trong căn phòng này đột nhiên tôi cảm thấy bố tôi giống như là cái cọc trong trái tim tôi. Tôi ghét ông ta, suốt thời niên thiếu tôi vẫn luôn nói vậy. Tôi không biết lúc này tôi nghĩ gì về ông ấy. Ông ấy giống như một bộ phim gia đình chiếu trong đầu tôi, với lời dẫn chuyện gián đoạn và sơ sài. Có những đại cảnh hết sức ấn tượng và những khoảnh khắc không thể cắt nghĩa trôi nổi tự do, có lẽ vì hầu hết những gì tôi nhớ được về ông đều diễn ra trong sáu năm đầu đời. Đó là cảnh bố tôi nổi điên lên và ném tan tành những đĩa thức ăn của bữa tối vào tường. Cảnh bố vừa bóp cổ mẹ vừa ghè lên ngực mẹ vừa dập đầu mẹ vào tường. Cảnh bố lôi tôi và chị tôi ra khỏi giường vào giữa đêm hôm khuya khoắt hồi tôi mới lên năm để hỏi liệu chúng tôi có bỏ đi cùng ông mãi mãi hay không, trong khi mẹ tôi đứng cạnh đó, máu me và ghì chặt đứa em trai còn bé đang ngủ vào ngực và cầu xin ông dừng lại. Khi chúng tôi khóc thay vì trả lời, ông đổ sụp xuống gối quỳ trên sàn, dập đầu xuống sàn và thét lên tuyệt vọng khiến tôi đinh ninh tất cả chúng tôi sẽ chết ngay ở đó và ngay lúc đấy.

Từng có lần giữa cơn lè nhè, ông dọa sẽ lột trần rồi ném mẹ tôi và những đứa con của mẹ ra đường, như thể chúng tôi không phải là con ông. Khi đó, chúng tôi sống ở Minnesota và đang là mùa đông. Tôi lại đang ở cái tuổi người ta nói gì tin vậy. Tôi tin ông ấy sẽ làm như thế thật. Tôi hình dung cảnh bốn mẹ con tôi, trần truồng và run rẩy, chạy xuyên qua màn tuyết giá băng. Khi chúng tôi sống ở Pennsylvania, đã mấy lần ông đuổi Leif, Karen và tôi ra khỏi nhà rồi khóa cửa lại vào những hôm mẹ tôi đi làm, ông ở nhà trông bọn tôi và muốn được nghỉ giải lao. Ông ra lệnh cho chúng tôi đi ra sân sau rồi khóa cửa lại, chị tôi và tôi dắt theo đứa em trai bé bỏng đang tập đi. Chúng tôi lang thang trên bãi cỏ, khóc nức nở và rồi quên cả buồn, bày ra chơi trò xây nhà và thi nữ hoàng cao bồi. Sau đó, bực bội và buồn chán, chúng tôi lại ra cửa sau, đập cửa và la hét. Tôi nhớ như in cánh cửa ấy cùng ba bậc bê tông dẫn lối, nhớ như in cái cách tôi phải kiễng chân mới nhìn qua được phần cửa sổ ở nửa trên.

Những cảnh vui vẻ thì chẳng phải là một bộ phim. Chúng chẳng đủ một cuộn phim. Chúng chỉ như một bài thơ, không dài hơn một bài haiku là mấy. Đó là tình yêu của ông với nhạc của Johnny Cash và nhóm Everly Brothers. Là những thanh sô cô la ông mang về từ một nhà hàng nơi ông làm việc. Là những thứ mà ông muốn trở thành – khát khao trần trụi và đáng thương đến nỗi tôi khi ấy mới chỉ là một đứa trẻ ranh cũng cảm nhận được và hết sức lấy làm thương cảm. Đó là ông khi hát bài Charlie Rich trong đó có đoạn: “Hey, did you happen to see the most beautiful girl in the world?” (Này, anh đã gặp được cô gái đẹp nhất trên thế giới này chưa?) và nói rằng đó là ông hát về tôi, chị tôi và mẹ tôi, rằng chúng tôi là những cô gái đẹp nhất thế giới. Nhưng thậm chí chính điều này cũng là một nỗi đau buồn. Ông chỉ nói vậy khi muốn kéo mẹ lại, khi ông quả quyết rằng bây giờ mọi chuyện khác rồi, khi ông hứa hẹn với mẹ rằng ông sẽ không bao giờ lặp lại những việc đã làm trước đó nữa.

Ông lúc nào cũng tái phạm. Ông là một kẻ nói dối và một người mê muội, một kẻ bị tổn thương và một tay cục súc.

Mẹ gói ghém, dắt díu chúng tôi rời bỏ ông rồi quay trở lại, rời bỏ rồi lại quay trở lại. Chúng tôi chẳng bao giờ bỏ đi xa. Chẳng có chỗ nào để đi. Chúng tôi không có họ hàng gần đó còn mẹ tôi thì quá tự trọng nên không nhờ cậy đến bạn bè. Chỗ tạm trú cho những người phụ nữ bị ngược đãi đầu tiên ở Mỹ thì đến năm 1974 mới mở, chính năm mẹ tôi quyết định bỏ hẳn bố tôi. Thay vì thế mẹ lái xe suốt đêm dài, chị tôi và tôi ngồi ghế sau, ngủ và bị đánh thức bởi những cái đèn sáng xanh của bảng điều khiển, còn Leif ngồi ghế trước với mẹ.

Rồi đến sáng chúng tôi lại về nhà, bố tôi tỉnh táo và đang đánh trứng, rồi chẳng bao lâu lại hát bài Charlie Rich.

Năm tôi lên sáu, một năm sau khi tất cả chúng tôi chuyển từ Pennsylvania đến Minnesota, mẹ cuối cùng cũng quyết định chấm dứt với bố. Tôi đã khóc nức nở và van xin mẹ đừng làm thế. Đối với tôi lúc đó, ly hôn dường như là điều tệ hại nhất trên đời. Bất chấp mọi điều, tôi vẫn yêu quý bố tôi và tôi biết nếu mẹ ly dị thì tôi sẽ mất ông ấy, và tôi đã đúng. Sau khi họ đã mãi mãi đường ai nấy đi, chúng tôi ở lại Minnesota còn ông trở về Pennsylvania và mất liên lạc. Mỗi năm một hay hai lần có một lá thư đề địa chỉ gửi cho Karen, Leif và tôi, và chúng tôi xé phong bì thư ra, hân hoan vui sướng. Nhưng bên trong chỉ toàn những lời chỉ trích thóa mạ mẹ, chửi mẹ là một con điếm, một mụ đàn bà ngu ngốc ăn bám phúc lợi. Một ngày nào đó, ông sẽ đến đón tất cả chúng tôi, ông ta hứa thế. Một ngày nào đó, chúng tôi sẽ phải trả giá.

“Nhưng chúng tôi đã không phải trả giá.” Tôi nói với Vince trong buổi điều trị thứ hai và cũng là buổi cuối cùng. Lần gặp đó, ông ta nói là sẽ bỏ chỗ đó rồi cho tôi tên và số điện thoại của một bác sĩ trị liệu khác. “Sau khi bố mẹ tôi ly dị, tôi nhận ra sự vắng mặt ông trong cuộc sống của tôi, buồn thay, lại là một điều tốt lành. Chẳng còn mấy cảnh xô xát nữa.” Tôi nói. “Ý tôi là, tưởng tượng xem cuộc đời tôi sẽ thế nào nếu tôi được bố tôi nuôi?”

“Hãy tưởng tượng cuộc đời cô sẽ thế nào nếu cô có một người bố yêu thương cô như bất cứ người bố nào nên làm.” Vince vặn lại.

Tôi cố gắng hình dung ra một việc như vậy, nhưng chẳng thể nào ép tâm trí mình làm nổi. Tôi không thể vày vò nó để hình dung ra điều mình muốn. Tôi không tìm thấy yêu thương hay yên bình, tự tin hay gắn kết. “Một người bố yêu thương tôi như bất cứ người bố nào nên làm” hẳn là điều gì đó to lớn hơn ông. Ông giống như vòng xoáy trắng ở tấm poster BẠN Ở ĐÂY đằng sau đầu Vince. Ông là một thứ khổng lồ không thể lý giải gì đó và chứa đựng hàng triệu thứ khác, và vì tôi chưa bao giờ có một thứ gì như thế, tôi sợ rằng sẽ chẳng bao giờ tìm thấy mình bên trong cái vòng xoáy trắng vĩ đại kia.

“Thế còn bố dượng cô thì sao?” Vince hỏi. Ông ta liếc sang cuốn sổ ghi chép trong lòng, đọc những chữ nguệch ngoạc trên đó, chắc là về tôi.

“Dượng Eddie. Ông ấy cũng xa rời.” Tôi nói nhẹ như không, như thể với tôi điều đó chẳng có ý nghĩa gì, như thể đó gần như là chuyện vui vẻ. “Đó là một câu chuyện dài.” Tôi nói, mặt quay theo hướng cái đồng hồ treo gần tấm poster BẠN Ở ĐÂY. “Mà thời gian sắp hết rồi.”

“Đúng lúc quá nhỉ,” Vince nói và chúng tôi cười phá lên.

Tôi có thể lờ mờ thấy Quái Vật trong ánh điện đường mờ đục tràn ngập căn phòng tôi ở thành phố Sierra, cái lông chim Doug tặng vẫn chổng ngược lên từ chỗ tôi đã gài trên khung ba lô. Tôi nghĩ về môn điểu học. Tôi băn khoăn không biết cái lông ấy có thực sự là một biểu tượng gì đó không, hay chỉ đơn thuần là một thứ mà tôi tha đi cùng. Tôi hay tin tưởng vào mọi thứ, nhưng cũng thường xuyên chẳng tin vào mọi thứ. Tôi vừa muốn tìm hiểu lại vừa nghi ngờ mọi thứ. Tôi không biết đặt niềm tin của mình vào đâu, hay liệu có một chỗ nào như thế chăng, hay thậm chí chính xác thì từ niềm tin nghĩa là gì, trong cái mớ nội hàm phức tạp của nó. Trên đời này cái gì cũng có thể thành thật và cái gì cũng có thể giả dối. “Con là người kiếm tìm,” mẹ đã nói vậy với tôi trong tuần cuối đời của bà, lúc đó mẹ đang nằm trên giường bệnh, “giống mẹ.” Nhưng tôi không biết chính xác mẹ đang tìm kiếm điều gì. Có thật mẹ đang tìm gì không? Tôi chưa kịp hỏi mẹ câu hỏi đó, nhưng nếu mẹ có trả lời, thì tôi cũng sẽ nghi ngờ mẹ thôi. Tôi sẽ nài mẹ giải thích ý nghĩa tinh thần của nó, hỏi mẹ nó có thể được chứng minh ra sao. Tôi thậm chí còn nghi ngờ cả những thứ có thể chứng thực. Cô nên đến bác sĩ trị liệu, mọi người đều nói với tôi như vậy sau khi mẹ qua đời, và cuối cùng – chìm sâu trong những khoảnh khắc đen tối nhất, trong cái năm trước chuyến đi này – tôi đã đi gặp thật. Nhưng tôi không giữ lại niềm tin đó. Tôi chưa bao giờ gọi cho người bác sĩ mà Vince giới thiệu. Tôi có những vấn đề mà một bác sĩ trị liệu chẳng thể làm gì được; nỗi đau buồn mà không người nào chỉ ngồi trong một căn phòng có thể làm nguôi ngoai.

Tôi ra khỏi giường, cuộn thân thể trần truồng của mình trong cái khăn tắm, rồi, bước chân trần ra hành lang, ngang qua cánh cửa phòng Greg. Trong phòng tắm, tôi đóng cửa lại, mở vòi bồn tắm rồi bước vào trong. Nước nóng đúng là thần kỳ, tiếng chảy ồ ồ của nó tràn ngập khắp căn phòng cho đến khi tôi đóng vòi lại, sự tĩnh lặng dường như còn tĩnh lặng hơn cả lúc trước. Tôi nằm tựa lưng vào góc thành sứ vừa vặn thoải mái và nhìn chăm chăm lên bức tường cho đến khi tiếng gõ cửa vang lên.

“Gì thế?” Tôi lên tiếng, nhưng không có ai trả lời, chỉ có tiếng bước chân xa dần ngoài hành lang. “Có người trong này rồi.” Tôi nói, dẫu cho người ta đã biết. Có người trong này rồi. Đó là tôi. Tôi đang ở đây. Tôi đã không có cảm giác ấy trong nhiều năm trời: Tôi ở trong tôi, ngự ở chỗ của tôi trong dải Ngân hà vô chừng này.

Tôi với lấy miếng kỳ người trên kệ gần bồn tắm để kỳ cọ mặc dù tôi đã sạch rồi. Tôi kỳ mặt rồi cổ rồi ngực rồi bụng rồi lưng rồi mông rồi cánh tay rồi cẳng chân rồi bàn chân tôi.

“Điều đầu tiên mẹ làm khi mỗi đứa ra đời là hôn lên mọi chỗ trên người các con.” Mẹ thường nói với chị em chúng tôi vậy. “Mẹ đếm từng ngón tay và ngón chân và lông mi,” mẹ nói. “Mẹ lần theo đường chỉ tay của các con.”

Tôi không nhớ, thế nhưng tôi cũng không bao giờ quên điều đó. Nó đã là một phần trong tôi, cũng như khi bố tôi nói sẽ ném tôi ra ngoài cửa sổ. Và nhiều hơn thế.

Tôi nằm trở lại, nhắm mắt và chìm mình vào nước cho đến khi nước ngập cả mặt. Cảm giác y như hồi còn thơ bé khi tôi cũng nhấn đầu xuống nước thế này: như thể chỉ cần trầm mình xuống là thế giới trong phòng tắm đã biến mất, trở thành một nơi lạ lẫm và kỳ bí. Những âm thanh bình thường và những cảm giác bình thường biến thành câm lặng, xa xăm, mơ hồ, trong khi những âm thanh và cảm giác khác mà bình thường không nghe thấy hay cảm thấy lại nổi lên.

Tôi chỉ mới bắt đầu. Tôi mới đi được ba tuần, nhưng mọi thứ trong tôi đã như thay đổi. Tôi nằm trong nước cho đến khi không nhịn thở được nữa, một mình ở một vùng đất mới lạ, trong khi thế giới thực vẫn cứ vo ve rầm rì ngoài kia.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.