Trong đời mình, tôi đã làm nhiều chuyện ngu ngốc và nguy hiểm, nhưng khẩn khoản xin đi nhờ một người lạ thì chưa bao giờ. Tôi biết nhiều chuyện kinh khủng đã xảy ra với những người chuyên đi nhờ, đặc biệt là với đàn bà con gái một thân một mình. Họ bị cưỡng hiếp rồi bị chặt đầu. Bị tra tấn rồi bị bỏ lại cho đến chết. Nhưng trên đường đi từ nhà nghỉ White đến trạm xăng gần đó, tôi không thể cho phép những ý nghĩ như vậy phân tán đầu óc. Nếu không muốn cuốc bộ ngót 20 cây số dọc vệ đường cao tốc nóng bỏng để đến với con đường mòn, thì tôi phải đi nhờ xe.
Thêm nữa, những người đi xuyên đường mòn PCT thỉnh thoảng vẫn đi nhờ xe như thế. Và tôi là một kẻ bộ hành trên con đường mòn PCT này đúng không? Đúng không?
Đúng vậy.
Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California đã giải thích hành trình này với giọng điệu bình thản. Đôi lúc, PCT sẽ cắt ngang qua một con đường và phải xuôi xuống hàng cây số theo con đường đó mới có bưu điện để nhận hộp thực phẩm và đồ tiếp tế cần thiết cho chặng tiếp theo. Đi nhờ là giải pháp thực tế duy nhất để đến nơi nhận đồ tiếp tế rồi quay trở lại đường mòn.
Tôi đứng gần những máy bán nước ngọt tự động sát tòa nhà của trạm xăng, quan sát người đến kẻ đi, cố gắng lên tinh thần để tiếp cận với một trong số họ, hy vọng có thể linh cảm đúng rằng đâu là người mà mình có thể an toàn đi theo. Tôi quan sát những ông già tóc muối tiêu đầu đội mũ cao bồi, những xe gia đình đã kín chỗ và đám trẻ trâu đi tới cùng với tiếng nhạc ầm ĩ phát ra từ cửa xe mở toang. Chẳng ai trông đặc biệt giống một tên giết người hay một kẻ hiếp dâm, nhưng cũng chẳng ai trông đặc biệt không giống bọn người ấy. Tôi mua một lon Coca và uống, cố ra vẻ thoải mái để giấu đi thực tế là không thể đứng cho ra hồn do sức nặng không thể tin nổi của cái ba lô trên lưng. Cuối cùng, tôi cũng phải làm cái gì đó. Lúc ấy đã gần 11 giờ, mặt đất dần dần phả hơi nóng của một ngày tháng sáu trên hoang mạc.
Một chiếc xe tải nhỏ gắn biển Colorado đi đến rồi hai người đàn ông bước ra. Một người trạc tuổi tôi, người kia chừng 50 tuổi. Tôi tiến đến gần và xin đi nhờ. Họ lưỡng lự nhìn nhau, rõ ràng là đang ngầm thỏa thuận một lý do để chối từ, bởi vậy tôi vẫn tiếp tục nói, giải thích một tràng nhanh gọn về đường mòn PCT.
“Chắc chắn rồi.” Cuối cùng người lớn tuổi hơn lên tiếng, miễn cưỡng ra mặt.
“Cảm ơn.” Tôi ngọt giọng nói. Khi tôi tập tễnh đến cánh cửa lớn bên hông chiếc xe tải, cậu trai trẻ hơn mở cửa cho tôi vào. Tôi nhìn vào trong, phút chốc nhận ra không biết làm thế nào để chui vào được. Với cái ba lô này, thậm chí chỉ nhấc chân vào thôi tôi cũng không làm nổi. Tôi sẽ phải bỏ ba lô xuống, nhưng làm thế nào bây giờ? Nếu tháo cái đai quanh eo và hai quai ra, cái ba lô sẽ đổ uỳnh đến mức xoạc rời cả hai cánh tay tôi ra mất.
“Cô cần giúp không?” Chàng trai trẻ hỏi.
“Không, tôi làm được.” Tôi nói, giọng cố vờ bình thản. Tôi chỉ có thể nghĩ ra được đúng một cách là xoay lưng vào chiếc xe tải, ngồi xổm lên bậc cửa trong khi tay bấu vào cánh cửa trượt, hạ cái ba lô xuống sàn xe. Ơn trời. Tôi tháo quai ba lô và cẩn thận gỡ mình ra mà không làm đổ cái ba lô và rồi quay lại leo vào trong xe để ngồi bên cạnh nó.
Trên đường đi, những người đàn ông thân thiện hơn với tôi. Họ lái xe về phía tây qua một vùng khô cằn những cây bụi khô rang và những ngọn núi xám nhạt trải dài tít tắp. Hai cha con họ từ vùng ngoại ô Denver, đang trên đường đến lễ tốt nghiệp ở San Luis Obispo. Chẳng mấy chốc, một tấm biển thông báo đèo Tehachapi xuất hiện, người cha cho chiếc xe chậm lại và tấp vào lề đường. Người con chui ra ngoài và trượt cửa ra cho tôi. Tôi đã hy vọng là có thể đeo lại ba lô theo cách đã tháo ra, tức là ngồi trên bậc cửa và lợi dụng chiều cao của cái sàn xe. Nhưng trước khi tôi kịp bước ra ngoài thì cậu con trai đã kéo cái ba lô ra rồi đặt phịch nó xuống mặt đất sỏi đá ven đường. Nó rơi mạnh đến mức tôi sợ là cái túi bướu lạc đà có thể bung ra. Tiếp đó tôi leo ra ngoài và dựng nó đứng thẳng dậy rồi phủi bụi cho nó.
“Cô có chắc là nâng được cái ba lô này không?” Cậu ta hỏi. “Đến tôi cũng chẳng nâng được”.
“Tất nhiên tôi có thể nâng được.” Tôi nói.
Cậu ta đứng đấy như thể hóng tôi chứng minh điều mình vừa nói.
“Cảm ơn đã cho tôi đi nhờ xe.” Tôi nói, trong lòng muốn cậu ta bỏ đi, khỏi chứng kiến cảnh vác ba lô nực cười của tôi.
Cậu ta gật đầu rồi đóng cửa lại. “Đi cẩn thận nhé!”
“Cảm ơn.” Tôi nói, rồi nhìn theo cậu ta quay trở lại xe.
Họ đi rồi, chỉ còn mình tôi đứng bên đường cao tốc vắng lặng. Những đám mây bụi nhỏ cuộn bay dưới ánh mặt trời ban trưa chói lòa. Tôi đang ở trên độ cao hơn 1.158 m so với mặt biển, xung quanh chỗ nào cũng thấy những ngọn núi màu be cằn cỗi, điểm xuyết mấy đám xô thơm, cây joshua và cây chaparral cao đến thắt lưng người. Tôi đang đứng ở rìa phía tây hoang mạc Mojave và ở chân núi phía nam của dãy Sierra Nevada, dãy núi lớn trải dài lên phía bắc hơn 640 km tới vườn quốc gia Núi lửa Lassen, nơi nó gặp dãy Cascade, dãy núi mở rộng từ miền bắc California xuyên suốt Oregon và Washington rồi dông thẳng lên biên giới Canada. Hai dãy núi này sẽ là thế giới của tôi trong ba tháng tới; sống lưng của chúng chính là ngôi nhà của tôi. Trên một cái cọc hàng rào phía ngoài con mương của đường cao tốc, tôi thấy một miếng kim loại cỡ bằng lòng bàn tay ghi ĐƯỜNG MÒN PACIFIC CREST.
Tôi đã ở đây rồi. Cuối cùng thì tôi cũng đã có thể lên đường.
Tôi nhận ra giờ chính là thời khắc hoàn hảo nhất để chụp một tấm hình kỷ niệm, nhưng muốn gỡ máy ảnh ra thì phải lôi một lô một lốc các đồ khác và tháo cái dây co có móc ra, phiền phức đến mức thậm chí tôi còn không muốn thử. Hơn nữa, để chụp được cả mình thì tôi phải tìm một cái gì đó để đặt máy ảnh và hẹn giờ rồi chạy đến khung hình trước khi nó nháy máy, và xung quanh tôi thì chẳng có gì trông có vẻ hứa hẹn cả. Thậm chí cả cái cọc hàng rào gắn tấm biển kim loại PCT trông cũng khô xác và yếu ớt. Thế nên, tôi ngồi xuống nền đất ngay trước cái ba lô của mình, như cách tôi đã làm ở nhà nghỉ, vật lộn để vác nó lên vai, rồi chống tay vào đầu gối để đẩy mình lên, xốc người đứng thẳng dậy.
Khấp khởi, lo lắng, lom khom trong một tư thế còn lâu mới gọi là đứng thẳng, tôi cài khóa, thắt chặt ba lô rồi loạng choạng những bước đầu tiên trên con đường mòn, tới một cái hộp kim loại màu nâu được đóng đinh vào một cái cọc hàng rào khác. Khi mở nắp hộp ra, tôi nhìn thấy một cuốn sổ tay và một cái bút bên trong. Đó là sổ nhật ký lữ hành của đường mòn, tôi đã đọc thấy nó trong cuốn sách hướng dẫn. Tôi viết tên mình và ngày tháng hôm đó rồi đọc những cái tên và lời ghi chú từ những kẻ bộ hành khác đã đi qua đây vài tuần trước, hầu hết bọn họ là đàn ông và đi có đôi có cặp, không một ai trong số đó là phụ nữ đi một mình cả. Tôi nấn ná thêm chút nữa, cảm giác như có một cơn sóng lòng thổn thức vì giờ khắc này, và rồi tôi nhận ra chẳng có gì để làm nữa ngoài việc cất bước ra đi, bởi vậy tôi đã lên đường.
Con đường mòn tiến về phía đông, song song với đường cao tốc một lúc, trũng xuống một vùng đá gồ ghề rồi cao ngược lên. Mình đang đi bộ! Tôi nghĩ. Và rồi... Mình đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest. Chính việc đi bộ được như vậy đã là sợi chỉ đỏ xuyên suốt niềm tin trong tôi, rằng chuyến đi này hoàn toàn có thể cố gắng được. Suy cho cùng thì đi bộ đường dài cũng khác gì đi lại bình thường đâu? Em có thể đi bộ mà! Tôi tranh luận với Paul khi anh tỏ ý lo ngại rằng tôi chưa từng khoác ba lô lên và đi một chuyến thực sự bao giờ. Tôi đã đi bộ suốt đấy thôi. Tôi đi bộ hàng giờ liền ở chỗ tôi làm phục vụ bàn. Tôi đi bộ lòng vòng khắp những thành phố tôi ở và đến thăm. Tôi đi bộ cho vui hoặc vì công chuyện gì đó. Tất cả đều là sự thực. Nhưng sau 15 phút đi bộ trên con đường PCT, thực tế rành rành lộ ra: rằng tôi chưa từng đi bộ giữa những ngọn núi hoang mạc vào một ngày đầu tháng sáu với một cái ba lô trên lưng nặng hơn cả nửa cân nặng của tôi như thế này bao giờ.
Hóa ra nó chẳng giống như đi bộ chút nào. Thực ra, nó giống địa ngục nhiều hơn.
Chẳng bao lâu, tôi đã bắt đầu thở hổn hển và đổ mồ hôi, bụi đóng bánh trên đôi giày và ống chân tôi khi con đường rẽ lên phía bắc và bắt đầu lên dốc nhiều hơn là nhấp nhô uốn lượn. Mỗi bước đi là một cực hình, khi tôi cứ phải bước lên cao cao mãi, chỉ thi thoảng mới được đổi gió bằng những đoạn xuống thấp ngăn ngắn. Nhưng đó chẳng phải là phút ngơi nghỉ thảnh thơi giữa hành trình địa ngục gì cho cam mà là một kiểu hành xác khác vì mỗi bước đi xuống tôi phải cố gắng kìm để không bị lao xuống và ngã chỏng vó. Tôi cảm tưởng như cái ba lô chẳng bám vào người tôi như tôi gắn vào với nó. Giống như thể tôi là một tòa nhà có chân tay, bị bật khỏi nền và cứ thế lộn nhào khắp miền hoang dã.
Trong vòng 40 phút, giọng nói trong đầu tôi đang kêu gào: Mình tự đẩy mình vào cái khỉ gì thế này? Tôi cố gắng lờ nó đi, vừa bước vừa ngâm nga hát, dẫu cho ngâm nga cũng thật quá khó khi còn phải vừa thở hổn hển vừa rên rỉ đớn đau vừa cố gắng còng lưng trong cái tư thế còn xa mới là thẳng tưng được vừa đẩy mình lên phía trước, cảm tưởng mình giống như một tòa nhà có chân vậy. Bởi thế tôi cố gắng chỉ đơn giản là tập trung vào những gì tôi nghe thấy – tiếng chân dậm xuống con đường mòn khô bụi gồ ghề, tiếng cành lá khô giòn lạo xạo trong làn gió nóng quanh những bụi cây thấp mà tôi đi qua – nhưng thế cũng chẳng xong. Cái tiếng kêu la Mình tự đẩy mình vào cái khỉ gì thế này? cứ gào lên. Không thể nào nhấn chìm nổi. Chỉ có rắn chuông là thứ duy nhất khiến tôi phân tâm vì tôi luôn phải cảnh giác xem chừng. Tôi đã chuẩn bị tinh thần mỗi chỗ rẽ sẽ có một con sẵn sàng lao ra tấn công. Dường như vùng đất này là dành cho chúng. Và cho cả đám sư tử núi, những sinh vật giết người hàng loạt thông tường vùng hoang dã này.
Nhưng tôi không nghĩ đến chúng.
Đó là điều tôi đã tự thỏa thuận với bản thân nhiều tháng trước, điều duy nhất cho phép tôi đi bộ một mình. Tôi biết rằng nếu tôi cho phép nỗi sợ hãi lấn lướt, thì chuyến đi của mình sẽ đổ bể. Sợ hãi, suy cho cùng, được sinh ra từ câu chuyện mà chúng ta tự kể cho mình, và bởi vậy tôi chọn sẽ kể cho mình một câu chuyện khác với những phụ nữ khác. Tôi chọn câu chuyện mình sẽ an toàn. Mình mạnh mẽ. Mình can đảm. Chẳng gì có thể khuất phục được tôi. Cứ bấu vào câu chuyện này cũng như thể tự kỷ ám thị vậy, nhưng hầu hết là nó có tác dụng. Bất cứ khi nào nghe thấy một âm thanh không rõ từ đâu ra hoặc tưởng tượng ra cái gì đó cực kỳ khủng khiếp, tôi lại rũ bỏ hết. Đơn giản là tôi không cho phép mình được sợ sệt. Sợ hãi sinh ra sợ hãi. Sức mạnh sinh ra sức mạnh. Tôi buộc mình phải mạnh mẽ. Và chẳng bao lâu tôi đã thực sự không còn hãi sợ nữa.
Tôi đã chật vật đến mức không còn hơi sức đâu mà sợ nữa.
Tôi cất một bước, rồi lại bước tiếp theo, chẳng khác gì bò đi cả. Trước đó tôi không hề nghĩ vượt qua đường mòn PCT là một chuyện dễ dàng. Tôi biết thế nào cũng phải điều chỉnh một chút. Nhưng bây giờ khi thân đã ở ngoài này, tôi không còn nghĩ là mình sẽ phải điều chỉnh. Đi bộ qua đường mòn PCT không giống như tôi tưởng tượng trước đó. Tôi không giống như tôi tưởng tượng trước đó. Tôi thậm chí còn không thể nhớ được mình đã tưởng tượng như thế nào sáu tháng trước, hồi tháng 12, khi lần đầu tiên tôi quyết định thực hiện hành trình này.
Vào ngày tháng 12 đó, tôi đang lái xe trên đoạn đường nối dài đường cao tốc phía đông Sioux Falls, Nam Dakota, thì ý tưởng ấy nảy ra trong đầu. Ngày hôm trước, tôi cùng cô bạn Aimee lái xe từ Minneapolis đến Sioux Falls để lấy lại cái xe tải của tôi, một người bạn mượn nó rồi làm hỏng và bỏ ở đó hàng tuần nay.
Khi tôi và Aimee đến được Sioux Falls, chiếc xe tải của tôi đã bị kéo ra khỏi đường. Giờ nó đang ở lẫn với nhiều chiếc xe khác trong một bãi có hàng rào lưới sắt bao quanh và bị vùi trong tuyết vì mấy ngày trước vừa có một trận bão tuyết quét qua. Chính vì trận bão tuyết này mà ngày hôm trước tôi đã đến REI để mua xẻng. Khi đứng xếp hàng đợi trả tiền, tôi nhìn thấy cuốn sách hướng dẫn về cái gì đó tên là đường mòn Pacific Crest. Tôi cầm nó lên, xem trang bìa và đọc bìa sau rồi trả nó lại về chỗ cũ.
Sau khi tôi và Aimee đã dọn hết tuyết khỏi chiếc xe tải ở Sioux Falls, tôi chui vào trong xe và vặn chìa khóa. Tôi cứ tưởng mình sẽ chẳng nghe thấy cái gì ngoài tiếng khô đanh kiểu mấy chiếc xe ô tô không còn chạy nổi nữa, nhưng nó lại khởi động được ngay. Chúng tôi hoàn toàn có thể lái xe trở lại Minneapolis, nhưng lại quyết định qua đêm ở một nhà nghỉ. Chúng tôi ăn tối sớm ở một nhà hàng Mexico, phấn khởi vì đã không nghĩ chuyến đi có thể thuận lợi như vậy. Khi chúng tôi ăn khoai tây chiên, món sốt salsa, và uống margarita, tôi cảm thấy hơi tức bụng.
“Như kiểu tớ nuốt trọn mấy miếng khoai tây chiên mà không nhai ấy”, tôi bảo Aimee, “như kiểu cạnh khoai tây vẫn y nguyên xong chọc vào thành ruột tớ ấy.” Tôi thấy đầy bụng và râm ran khó chịu, chưa bao giờ như vậy cả. “Hay là tớ có bầu.” Tôi đùa, và rồi đúng khoảnh khắc nói ra câu ấy, tôi nhận ra đó không phải là chuyện đùa cợt gì.
“Thật á?” Aimee hỏi.
“Biết đâu đấy.” Tôi nói, rồi bất thần thấy hoảng sợ. Mấy tuần trước tôi đã làm tình với một người đàn ông tên là Joe. Tôi đã gặp anh ta vào mùa hè năm ngoái khi tôi đến Portland thăm Lisa và chạy trốn khỏi những rắc rối của mình. Tôi mới ở đó được vài ngày, đang ở trong một quán bar, thì anh ta tiến đến đặt tay lên cổ tay tôi.
“Chiếc vòng đẹp đấy.” Anh ta nói, ngón tay lần theo những cạnh sắc trên cái vòng tay bằng thiếc của tôi.
Tóc anh ta màu neon kiểu ca sĩ nhạc rock, cắt sát da đầu và xăm trổ lòe loẹt hết một nửa cánh tay, mặc dù mặt mũi anh ta tương phản hoàn toàn với những thứ đó: kiên định và dịu dàng – giống như một con mèo đòi sữa. Anh ta 24 tuổi còn tôi thì 25. Tôi chưa từng ngủ với ai từ khi chia tay Paul ba tháng trước đó. Tối ấy chúng tôi đã làm tình trên tấm đệm trải sàn xù xì của Joe và hầu như không ngủ, nói chuyện cho tới tận khi Mặt trời ló dạng, và hầu như chỉ nói về anh ta. Anh ta kể cho tôi nghe về bà mẹ thông minh và ông bố nghiện rượu cùng với ngôi trường đẹp đẽ và khắc nghiệt nơi anh ta đã kiếm được bằng cử nhân năm ngoái.
“Em đã từng hít heroin bao giờ chưa?” Buổi sáng đó anh ta hỏi tôi.
Tôi lắc đầu và vu vơ cười. “Có nên không?”
Đáng ra tôi đã có thể tránh được chuyện đó. Lúc gặp tôi, Joe mới chỉ bắt đầu dùng thuốc. Anh ta đã làm việc đó mà không có tôi, hút với một nhóm bạn bè mà tôi không quen. Đáng ra tôi đã có thể lướt bỏ qua nó, nhưng thay vì thế lại có gì đó buộc tôi dừng lại. Tôi đã bị mê hoặc. Tôi đã buông bỏ. Giữa tuổi trẻ và nỗi buồn của mình, tôi đã sẵn sàng tự hủy hoại bản thân.
Vậy là tôi đã không chỉ gật đầu với heroin. Tôi còn ghì lấy nó bằng cả hai tay.
Lần đầu tiên tôi chơi thuốc là khi vừa làm tình với Joe xong và đang ôm ấp anh ta trên chiếc ghế sô pha ọp ẹp, chỉ một tuần kể từ lần đầu gặp nhau. Chỉ trong vòng vài ngày, tôi đã không còn ở Portland để thăm Lisa và trốn chạy khỏi nỗi buồn của tôi nữa. Tôi ở Portland và rơi vào một cơn mê cuồng nửa tình yêu nửa nghiện ngập với Joe. Tôi chuyển đến ở với anh ta trong một căn hộ bên trên hiệu thuốc bỏ không, ở đó chúng tôi đã dành gần như cả mùa hè để bước qua một cuộc phiêu lưu tình ái và ma túy. Lúc đầu, chỉ vài lần một tuần, rồi sau cứ hai ngày một lần, rồi ngày nào cũng làm. Lúc đầu chúng tôi hút, rồi sau chúng tôi hít. Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ chích! Chúng tôi nói vậy. Tuyệt đối không.
Rồi chúng tôi đã chích.
Thật phê. Giống như thứ gì đó ảo diệu và thoát thực. Giống như thể tôi tìm thấy một hành tinh thực sự mà không biết là nó đã tồn tại từ rất lâu rồi. Hành tinh Heroin. Ở nơi đó không có đớn đau, ở nơi đó những chuyện như mẹ tôi đã chết và cha đẻ tôi đã biến khỏi cuộc đời tôi và mái ấm của tôi đã đổ vỡ và tôi không thể níu kéo cuộc hôn nhân với người đàn ông yêu dấu đều thật là không may nhưng cũng chẳng hề gì.
Ít nhất thì tôi đã cảm thấy như vậy khi phê thuốc.
Vào các buổi sáng, nỗi đau của tôi khuếch đại lên cỡ 1.000 lần. Các buổi sáng không chỉ kéo đến những chuyện buồn trong đời tôi. Bây giờ, còn có thêm một chuyện buồn nữa: tôi là một thứ bỏ đi. Tôi thức dậy trong căn phòng dơ dáy của Joe, thứ nào cũng vô vị: cái đèn và cái bàn, cuốn sách rơi mở toang trên sàn, những trang sách mỏng tang gãy gập. Trong phòng tắm, tôi rửa mặt và bưng mặt khóc nức nở một hồi ngắn, chuẩn bị sẵn sàng để bắt đầu công việc bồi bàn ở một quán ăn sáng. Tôi nghĩ: Đây không phải là mình. Đây không phải là lối sống của mình. Dừng lại đi. Đừng thế nữa. Nhưng buổi chiều, tôi trở lại với một nắm tiền, mua một ít heroin khác và nghĩ: Được. Mình sẽ làm thế. Mình sẽ phí hoài cuộc đời mình. Mình sẽ thành một con xì ke.
Nhưng chuyện đó không xảy ra. Một ngày Lisa đã gọi cho tôi và nói rằng muốn gặp tôi. Trước đó tôi đã giữ liên lạc với nó, chơi suốt những buổi chiều ở chỗ nó, kể với nó những hy vọng đang ấp ủ. Còn lần ấy, vừa đặt chân vào nhà nó, tôi đã biết có gì đó đã xảy ra.
“Rồi, kể tớ nghe chuyện heroin thế nào đi.” Nó yêu cầu.
“Heroin?” Tôi khẽ đáp. Tôi có thể nói gì đây? Ngay cả với tôi, chuyện đó cũng không thể lý giải được. “Mình sẽ không nghiện đâu, đừng có lo.” Tôi rào đón. Tôi dựa vào kệ bếp nhà nó, nhìn nó đang quét sàn.
“Chính xác là tớ đang lo thế đấy.” Nó nghiêm giọng nói.
“Ồ, đừng có lo.” Tôi nói. Tôi giải thích với nó một cách hợp lý và giản đơn nhất có thể. Chỉ mới có vài tháng thôi. Chúng tớ sẽ dừng lại ngay ấy mà. Joe và tớ đơn giản chỉ là đang vui vẻ tí thôi. “Đang là mùa hè cơ mà!” Tôi kêu lên. “Cậu có nhớ là cậu đã bảo tớ đến đây để tránh xa những rắc rối không? Thì đây tớ đang tránh xa chúng đấy.” Tôi cười, dù nó chẳng cười họa lại. Tôi nhắc nó nhớ là trước đây tôi chưa từng bập vào nghiện ngập bao giờ, rằng tôi đã uống rượu điều độ và cầm chừng. Tớ chỉ là một người thích trải nghiệm thôi, tôi bảo nó. Một nghệ sĩ. Một kiểu đàn bà dấn thân chứ không từ bỏ.
Nó bắt bẻ mọi lời nói của tôi, vặn vẹo mọi lý lẽ của tôi. Nó quét và quét và quét mãi cái sàn khi cuộc nói chuyện của chúng tôi chuyển thành cãi cọ. Cuối cùng nó giận quá đến mức lấy chổi đập tôi.
Tôi quay trở lại chỗ Joe và chúng tôi nói chuyện về việc Lisa chẳng hiểu cái quái gì như thế nào.
Rồi, hai tuần sau, Paul gọi.
Anh muốn gặp tôi. Ngay lập tức. Lisa đã kể cho anh về Joe và về việc tôi dùng heroin, thế là ngay lập tức anh lái một mạch hơn 2.700 km từ Minneapolis đến để nói chuyện với tôi. Trong vòng một giờ, tôi đã có mặt ở căn hộ của Lisa để gặp anh. Hôm ấy là một ngày cuối tháng Chín trời nắng ấm. Tuần trước, tôi bước sang tuổi 26. Joe đã không nhớ. Đó là lần sinh nhật đầu tiên mà không có ai chúc mừng tôi.
“Chúc mừng sinh nhật em!” Paul nói khi tôi vừa bước vào đến cửa.
“Cảm ơn anh.” Tôi trang trọng đáp lại.
“Anh đã định gọi nhưng anh không có số của em – ý anh là số của Joe.”
Tôi gật đầu. Cảm giác thật lạ khi gặp anh. Chồng tôi. Một ảo ảnh trong đời thực của tôi. Người thực nhất mà tôi biết. Chúng tôi ngồi ở bên bàn bếp, những cành cây vả đập đập vào cửa sổ gần đó, cái chổi mà Lisa đã đập vào tôi dựng bên tường.
Anh nói: “Trông em khác quá. Có vẻ như quá... Nói thế nào nhỉ? Như là em đang không ở đây vậy.”
Tôi biết anh muốn nói gì. Cái cách anh nhìn tôi nói lên tất cả. Tôi không chịu nghe lời Lisa. Tôi đã khác. Tôi không ở đó. Ma túy đã biến tôi thành ra thế. Nhưng ý tưởng từ bỏ heroin là vô vọng. Nhìn thẳng vào khuôn mặt Paul, tôi nhận ra rằng mình không thể nào nghĩ thông suốt được.
“Nói anh nghe, sao em lại làm thế với bản thân mình?” Anh hỏi tôi, đôi mắt dịu dàng, khuôn mặt quá đỗi thân thuộc. Anh với tay qua bàn, nắm lấy tay tôi, và chúng tôi nắm tay nhau, mắt nhìn mắt, lệ tuôn rơi, ban đầu trên mặt tôi, rồi trên mặt anh ấy. Anh muốn tôi về nhà với anh chiều đó, anh nói rất điềm đạm. Không phải để tái hợp với anh mà để tránh xa. Không phải tránh xa khỏi Joe, mà là tránh xa khỏi ma túy.
Tôi nói với anh tôi cần suy nghĩ. Tôi lái xe trở lại căn hộ của Joe và ngồi giữa trời nắng, trên chiếc ghế dựa mà Joe để ở lối đi bên ngoài tòa nhà. Heroin đã khiến tôi mụ mẫm và không còn là chính mình. Mỗi ý nghĩ cứ hình thành rồi lại bốc hơi. Tôi gần như không thể điều khiển được tâm trí mình, thậm chí cả khi không phê thuốc. Khi tôi ngồi đó, một gã đàn ông tiến đến chỗ tôi và nói hắn tên là Tim. Hắn nắm lấy tay tôi rồi lắc lắc và bảo tôi hãy tin hắn. Hắn hỏi liệu tôi có thể cho hắn ba đô-la để hắn mua giấy vệ sinh, rồi liệu hắn có thể sử dụng điện thoại trong căn hộ được không, và rồi liệu tôi có thể đổi cho hắn năm đô tiền lẻ được không, và cứ thế cứ thế một loạt những câu hỏi vặn vẹo và những câu chuyện thương cảm khiến đầu óc tôi lùng bùng và buộc tôi phải đứng dậy móc 10 đô-la cuối cùng trong túi ra.
Nhìn thấy đồng tiền đó, hắn lôi từ trong áo ra một con dao. Hắn kề dao vào ngực tôi rồi rít lên: “Đưa tiền cho anh, bé yêu.”
Tôi gói ghém mấy thứ, viết vài dòng cho Joe và dán lên chiếc gương trong phòng tắm rồi gọi cho Paul. Tôi chui vào chiếc xe anh tấp ở góc đường.
Khi chúng tôi lái xe xuyên đất nước, tôi ngồi ở ghế sau, cảm giác như cuộc sống thực đang hiện diện nhưng tôi không tài nào bấu víu vào nó được. Tôi và Paul cãi vã, gào khóc và chiếc xe như nghiêng ngả vì cơn giận dữ. Chúng tôi gào lên như những con quái vật tàn bạo và rồi chúng tôi nói chuyện tử tế với nhau, cảm thấy sốc về nhau và về chính mình. Chúng tôi quyết định sẽ ly dị rồi lại nói sẽ không ly dị. Tôi ghét anh và tôi yêu anh. Với anh, tôi thấy như bị bẫy lại, đóng dấu, giữ yên đó để yêu thương. Giống như một đứa con.
“Em đâu có gọi anh đến đón em đi?” Tôi gào lên khi chúng tôi lại bắt đầu một cuộc tranh luận mới. “Anh đến đây chỉ vì bản thân anh thôi. Để đóng vai anh hùng thôi.”
“Có thể.” Anh nói.
“Sao anh lại chịu đi xa thế để đến đưa em về?” tôi hỏi, giọng não nề.
“Bởi vì,” anh nói, ghì chặt vô lăng, nhìn vào bầu trời sao qua kính chắn gió, “chỉ vì thế thôi.”
Vài tuần sau đó tôi gặp lại Joe, khi anh ta đến thăm tôi ở Minneapolis. Chúng tôi không cặp kè nữa, nhưng ngay lập tức lại quay về đường cũ. Nhưng khi anh ta đi rồi thì tôi cũng chấm dứt. Với anh ta và với heroin. Tôi đã chẳng nhớ gì về chuyện này cho tới khi ngồi cùng Aimee ở Sioux Falls và nhận ra cảm giác kỳ cục như cạnh miếng khoai tây chiên chưa nghiền kỹ cứa vào ruột.
Chúng tôi rời khỏi nhà hàng Mexico và tới một siêu thị lớn để tìm mua que thử thai. Khi bước vào cửa hiệu sáng trưng ánh điện, tôi thầm trấn an rằng có thể mình không có thai. Tôi đã tránh được viên đạn ấy không biết bao nhiêu lần – bực bội và lo lắng, tưởng tượng trong mình những triệu chứng mang bầu thật đến nỗi mừng húm khi thấy lại kinh nguyệt. Nhưng bây giờ, 26 tuổi và quá dạn dày với chuyện làm tình, tôi không hoảng hốt nữa.
Quay trở lại nhà nghỉ, tôi đóng cửa phòng tắm sau lưng rồi đi tiểu vào que thử trong khi Aimee ngồi ở giường ngoài. Trong vòng mấy giây, hai vạch màu xanh đậm đã hiện ra ở ô kết quả nhỏ xíu.
“Tớ có bầu.” Tôi thông báo với Aimee khi bước ra ngoài, mắt ngân ngấn nước. Chúng tôi nằm phịch ra giường nói về chuyện đó trong một tiếng đồng hồ, mặc dù chẳng có gì nhiều để nói. Tôi sẽ phải phá thai. Điều ấy hiển nhiên đến mức thật ngớ ngẩn nếu bàn đến phương án khác.
Mất bốn tiếng đồng hồ lái xe từ Sioux Falls tới Minneapolis. Buổi sáng hôm sau, Aimee lái xe theo sau tôi, phòng khi chiếc xe tải của tôi lại hỏng lần nữa. Tôi lái xe mà không nghe radio, tôi nghĩ về cái thai trong bụng tôi. Nó mới to bằng hạt gạo nhưng tôi có thể cảm thấy nó chính là phần sâu thẳm nhất, mạnh mẽ nhất trong tôi, ghì tôi xuống, kéo tôi lên, vang vọng ra tới tận bên ngoài. Đâu đó giữa những trang trại miền tây nam ở Minnesota, tôi bật khóc, nước mắt chan chứa đến mức không cầm lái nổi, và tôi khóc không phải chỉ vì cái thai ngoài ý muốn. Tôi khóc vì tất cả mọi thứ, vì cuộc đời nhơ nhớp bẩn thỉu của mình kể từ lúc mẹ ra đi; vì sự tồn tại ngu xuẩn tự tay tôi biến mình thành ra thế. Tôi không định trở thành thế này, sống kiểu này, tôi không định chìm sâu vào tăm tối đến vậy.
Rồi tôi nhớ đến cuốn sách hướng dẫn mà mấy ngày trước tôi đã cầm lên từ một giá sách ở REI trong khi chờ mua xẻng. Hình ảnh cái hồ trải đầy những tảng đá, bao quanh là những vách núi đá và trùm lên bởi bầu trời xanh ngắt dường như khai mở cái đầu tôi, như một cú đấm thẳng vào mặt. Lúc cầm cuốn sách lên khi đứng xếp hàng, hẳn tôi chỉ muốn có gì đó để giết thời gian, nhưng giờ thì dường như chuyện đó ý nghĩa hơn nhiều – giống như một dấu hiệu, không chỉ về những gì tôi có thể làm, mà còn về những gì tôi phải làm.
Khi đến Minneapolis, tôi và Aimee vẫy tay tạm biệt ở đường về nhà cô ấy, nhưng tôi không về nhà mình. Thay vào đó, tôi lái đến REI, mua cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California và đem về nhà, đọc thâu đêm. Rồi tôi đọc thêm cả chục lần nữa trong những tháng tiếp theo. Tôi phá thai, học cách làm món cá ngừ sấy và thịt ngỗng khô, theo học một khóa cho người mới bắt đầu về kỹ năng sơ cứu cơ bản, tập sử dụng bình lọc nước trong bồn nước nhà bếp. Mình phải thay đổi. Trong những tháng trời lập kế hoạch ấy, ý nghĩ mình phải thay đổi chính là động lực của tôi. Không phải để thành con người khác, mà để trở về với con người trước đây – mạnh mẽ và trách nhiệm, sáng suốt và quyết tâm, đức hạnh và tử tế. Và PCT sẽ giúp tôi được như thế. Ở đó, tôi sẽ đi bộ và ngẫm về toàn bộ cuộc đời mình. Tôi sẽ tìm lại được nghị lực, tránh xa mọi thứ khiến đời tôi trở nên khốn nạn như thế này.
Nhưng giờ tôi đã ở đây rồi, trên con đường mòn PCT này, lại khốn khổ khốn nạn lần nữa, mặc dù theo một cách khác: tôi đang còng lưng trong một tư thế còn lâu mới gọi là đứng thẳng trong ngày đi bộ đầu tiên.
Sau ba tiếng, tôi gặp một điểm hoang vu gần nơi mấy cây joshua, cây ngọc giá, cây bách xù co cụm, và dừng lại để nghỉ. Thật may mắn làm sao, có một tảng đá lớn tôi có thể ngồi lên và bỏ ba lô ra như lúc làm trên chiếc xe tải nhỏ ở Mojave. Quá sung sướng vì được tháo bỏ gánh nặng, tôi tản bộ loanh quanh rồi vô tình quẹt qua một cái cây joshua, bị những cái đầu cành nhọn của nó đâm vào. Máu lập tức phun ra từ ba vết đâm trên cánh tay. Gió mạnh đến mức khi tôi mở gói sơ cứu lôi từ trong ba lô ra, tất cả chỗ băng gạc bay tứ tung. Dù rằng vô ích, tôi đuổi theo chúng trên mặt đất bằng phẳng cho đến khi chúng bay xuống núi, biến mất khỏi tầm với. Tôi ngồi xuống đất rồi đè tay áo phông xuống cánh tay, xong ngồi tu chai nước ừng ực.
Chưa bao giờ tôi bị kiệt sức đến thế. Một phần vì cơ thể tôi đang thích nghi với việc cố sức và thay đổi độ cao – giờ tôi đã lên đến khoảng 1.524 m so với mặt nước biển và cao hơn 365 m so với điểm xuất phát trên đèo Tehachapi – nhưng chủ yếu là do cái ba lô nặng kinh hồn này. Tôi nhìn nó trong vô vọng. Nó chính là gánh nặng tôi đã ngu dốt gây ra để vác theo, nhưng tôi lại chẳng biết làm thế nào để vác nó cả. Tôi lôi cuốn sách hướng dẫn ra rồi nhìn lướt qua, cố giữ mấy trang sách đang run rẩy trong gió, hy vọng rằng những từ ngữ và bản đồ quen thuộc sẽ xua tan nỗi lo lắng ngày càng lớn trong tôi; rằng bản hòa âm tứ tấu êm đềm của cuốn sách này sẽ thuyết phục tôi rằng tôi có thể làm được việc này, cũng như cách nó đã thuyết phục tôi trong những tháng ấp ủ kế hoạch. Dù không có ảnh bốn tác giả cuốn sách, nhưng trong trí tôi luôn hiện ra mỗi người bọn họ: Jeffrey P. Schaffer, Thomas Winnett, Ben Schifrin, và Ruby Jenkins. Họ khôn ngoan và tử tế, thông thái và biết tuốt. Họ sẽ hướng dẫn tôi vượt qua. Họ phải làm thế.
Nhiều người ở REI đã kể với tôi về những chuyến du lịch bụi của họ, nhưng chưa từng có ai đi con đường mòn PCT này và tôi cũng không định cố tìm người nào đã từng đi. Đó là mùa hè năm 1995, vẫn là thời kỳ đồ đá của Internet. Ngày nay có rất nhiều trang tạp chí trực tuyến của những người đi bộ qua PCT và vô thiên lủng các thông tin về con đường này, cả cập nhật lẫn không cập nhật, nhưng tôi ngày xưa thì chẳng có tí thông tin nào. Tôi chỉ có cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: Califonia. Đó là thánh kinh của tôi. Là dây cứu sinh dành cho tôi. Là cuốn sách duy nhất tôi đọc để tìm hiểu việc đi bộ trên đường mòn PCT, hoặc đi bộ ở bất cứ nơi nào khác.
Nhưng lần đầu tiên lật giở cuốn sách, khi đang thực sự ngồi trên con đường mòn ấy, cảm giác an lòng chẳng đến như tôi đã hy vọng. Giờ tôi mới thấy là có những thứ mình đã bỏ sót, như là câu trích dẫn ở trang 6 của một anh chàng tên là Charles Long mà các tác giả đã nồng nhiệt tán thành: “Làm thế nào một cuốn sách có thể miêu tả được những yếu tố tâm lý mà một người phải chuẩn bị... nỗi tuyệt vọng, sự biệt lập, lo lắng và đặc biệt là nỗi đau, cả tinh thần lẫn thể xác, sẽ gọt mỏng đến tận tâm ý chí của kẻ lữ hành, những điều có thật và cần được lên kế hoạch trước? Chẳng lời nào có thể truyền tải được những yếu tố này...”
Tôi ngồi đó, mụ mẫm với cái thực tế mòng mòng rằng thực sự không có từ ngữ nào có thể truyền tải được những yếu tố này. Mà cũng chẳng cần nhờ đến từ ngữ nào cả. Vì giờ đây tôi đã biết đích xác những cảm giác ấy là như thế nào rồi. Chỉ đi có gần 5 km trên những ngọn núi hoang hoải, cõng trên lưng cái ba lô to như con bọ Volkswagen Beetle này là tôi đã thấm thía rồi. Tôi đọc tiếp, thấy cả những lời gợi ý rằng nếu khôn ngoan ra thì trước khi đi hãy luyện tập cơ thể, hãy tập trung huấn luyện cho việc đi bộ chẳng hạn. Và, tất nhiên, có cả những lời căn dặn về trọng lượng của ba lô. Thậm chí người ta còn gợi ý đừng mang theo toàn bộ cuốn hướng dẫn này vì như thế là quá nặng, và dù gì cũng không cần thiết – có thể photo ra hoặc xé phần cần trước và để những phần cần sau trong hộp tiếp tế tiếp theo. Tôi gấp sách lại.
Tại sao tôi đã không nghĩ đến chuyện đó? Đến việc xé cuốn sách hướng dẫn này ra thành nhiều phần?
Vì tôi là một con ngớ ngẩn tệ hại và tôi không biết mình đang làm cái quái quỷ gì – đó là lý do tại sao. Và tôi cô độc giữa hoang vu cây cỏ, phải vác theo một con quái thú nặng nề trong khi nhận ra mình thật xuẩn ngốc.
Tôi quàng tay ôm lấy chân, mặt ấn vào hai đầu gối để trần, nhắm mắt lại, rúc người thu lu lại, gió điên cuồng quất vào mái tóc lòa xòa ngang vai.
Vài phút sau, khi mở mắt ra, tôi nhìn thấy mình đang ngồi cạnh một cái cây mà tôi biết là cây gì. Bụi xô thơm này kém xanh tươi hơn bụi mà mẹ tôi đã nuôi nấng trong sân nhà suốt nhiều năm, nhưng hình dáng và mùi thơm thì y như nhau. Tôi với tay túm lấy một nắm lá rồi vò nát chúng trong lòng bàn tay, vùi mặt vào hít hà thật sâu, mẹ đã dạy tôi làm thế. Nó sẽ cho con nguồn sinh lực tràn trề, mẹ luôn luôn nói vậy khi cố lôi kéo chị em tôi đi theo mẹ suốt những ngày dài đó, khi chúng tôi đang ra sức dựng nhà dù cả thân thể lẫn tinh thần đều đã muốn đầu hàng.
Giờ đây khi hít hà hương cây xô thơm, tôi không cảm nhận được nhiều cái mùi ngai ngái vị đất của xô hoang mạc, mà sống lại thật nhiều ký ức sâu sắc về mẹ. Tôi nhìn lên bầu trời ngăn ngắt, đúng là có cảm thấy một luồng năng lượng tràn trề, nhưng hầu hết là cảm thấy sự hiện diện của mẹ, nhớ ra tại sao tôi đã nghĩ mình có thể vượt qua được con đường mòn này. Trong số tất cả những thứ thuyết phục tôi rằng tôi không nên e ngại gì trên con đường này, trong số tất cả những thứ mà tôi bắt mình phải tin để rồi có thể dấn bước đi, thì cái chết của mẹ chính là điều khiến tôi tin tưởng sâu sắc hơn cả, rằng tôi rồi sẽ an toàn: sẽ chẳng điều tồi tệ nào có thể xảy ra với mình đâu, tôi nghĩ vậy. Điều tồi tệ nhất đã xảy ra trước đó rồi mà.
Tôi đứng dậy, để gió thổi bay lá xô thơm khỏi tay mình rồi bước tới rìa khu vực bằng phẳng mà tôi đang đứng. Có con đường dẫn tới một tảng đá gồ ghề trồi ra bên dưới. Tôi có thể nhìn thấy những ngọn núi bao quanh tôi trong cả hàng cây số, thoai thoải xuống dần một thung lũng hoang mạc rộng lớn. Những cánh quạt gió thân trắng gầy guộc xếp thành hàng dưới rặng núi phía xa. Cuốn sách hướng dẫn đã cho tôi biết là chúng phát điện cho cư dân trong các thành phố và thị trấn dưới kia, nhưng bây giờ tôi ở rất xa. Xa các thành phố và thị trấn. Xa khỏi điện đóm. Dường như xa khỏi cả California, mặc dù tôi đang ở ngay trái tim của nó, của bang Caliafornia thực sự, với những ngọn gió khắc nghiệt và những cây joshua, và những con rắn chuông nằm nấp ở những nơi nao chẳng biết.
Khi đứng ở đó, tôi biết rằng ngày hôm ấy tôi không còn lê thêm được bước nào, dẫu rằng khi dừng lại tôi đã có ý định cố thêm chút nữa. Mệt rã rời đến mức không thể nhóm bếp lên được và cũng kiệt sức đến nỗi không còn thấy đói, tôi dựng lều dù mới có bốn giờ chiều. Tôi lôi đồ từ trong ba lô ra, ném chúng vào trong lều để lều khỏi bay, đẩy nốt cái ba lô vào, rồi tôi theo sau, bò vào trong. Tôi lập tức thấy nhẹ cả người khi chui vào trong lều, dẫu cho trong lều chỉ là một một cái hang bằng vải nlon xanh rúm ró. Tôi dựng cái ghế cắm trại nhỏ xíu và ngồi ở lối cửa ra be bé, đầu vừa chạm mái lều. Rồi tôi lục lọi trong đống đồ để tìm một cuốn sách: không phải cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California mà đáng lẽ tôi nên đọc để xem cái gì đang chờ mình vào ngày hôm sau, cũng không phải cuốn Đừng đi lạc mà đáng lẽ tôi phải đọc trước khi bắt đầu chuyến đi này, mà là cuốn thơ của Adrienne Rich:Giấc mơ về một ngôn ngữ chung.
Tôi biết mang theo cuốn sách này là không hợp lý chút nào. Tôi có thể tưởng tượng ra nét mặt phản đối của những tác giả cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California. Thậm chí cuốn tiểu thuyết của Faulkner còn đáng được ở trong ba lô hơn, vì tôi chưa đọc nó và bởi vậy có thể được cho là để giải trí. Tôi đọc Giấc mơ về ngôn ngữ chung đến mức đã thuộc lòng. Mấy năm trước, có những dòng thơ trong đó đã giống như là thần chú đối với tôi, những lời thơ tôi lầm rầm với chính mình trong nỗi buồn và cơn hỗn loạn. Cuốn sách ấy là một nguồn an ủi, một tri kỷ, và vào cái đêm đầu tiên trong chuyến đi này, khi cầm nó trên tay, tôi không mảy may hối tiếc là đã đem nó theo – dù đem theo đồng nghĩa tôi chẳng có thể làm gì hơn là còng lưng cõng nó. Đúng là Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California bây giờ là kinh thánh, nhưng Giấc mơ về ngôn ngữ chung mới là đức tin trong tôi.
Tôi mở sách ra và đọc thành tiếng bài thơ đầu tiên, giọng tôi vang lên át đi âm thanh của gió đang đập phầm phập vào vách lều. Tôi đọc lần nữa, lần nữa và lần nữa.
Bài thơ mang tên “Sức mạnh”.