Hồ Crater từng là một ngọn núi. Họ gọi ngọn núi đó là đỉnh Mazama. Nó không quá khác với chuỗi những núi lửa nằm im lìm mà tôi sẽ băng qua trên đoạn PCT ở Oregon – núi McLoughlin, núi Ba Chị Em, núi Washington, núi Jack Ba ngón tay, núi Jefferson, và núi Mũ Áo – trừ việc nó lớn hơn tất cả, đạt đến độ cao khoảng 3.657 m so với mực nước biển. Đỉnh Mazama đã đổ sụp cách đây khoảng 7.700 năm trong một trận phun trào vĩ đại, lớn gấp 42 lần so với trận sụp đổ của đỉnh St. Helens vào năm 1980. Đó là trận phun trào núi lửa lớn nhất trong dãy Cascade khoảng một triệu năm về trước. Sản phẩm của trận hủy diệt núi Mazama là tro bụi và đá bọt bao phủ khắp mặt đất gần 1.300.000 km2 – bao phủ gần hết Oregon và vươn ra tận Alberta, Canada. Bộ lạc Klamath của người Mỹ bản địa chứng kiến vụ phun trào này đã tin rằng đó chính là trận đánh rung trời chuyển đất giữa Llao, linh hồn của thế giới bên kia, với Skell, linh hồn của bầu trời. Khi trận chiến này kết thúc, Llao bị nhốt lại dưới mặt đất và đỉnh Mazama trở thành một cái bát rỗng. Họ gọi nó là một hõm chảo – một kiểu núi lộn ngược. Một ngọn núi bị đánh cắp trái tim. Dần dần, trải qua nhiều trăm năm, hõm chảo này chứa đầy nước, thu về mình lượng mưa và nước tuyết tan của Oregon, cho đến khi nó trở thành cái hồ như bây giờ. Với điểm sâu nhất là hơn 579 m, hồ Crater là hồ sâu nhất của Hoa Kỳ và là một trong những hồ sâu nhất thế giới.
Từng sống ở Minnesota nên tôi biết một chút về hồ, nhưng khi đi bộ ra khỏi Ashland, tôi không thể tưởng tượng ra những gì mình sẽ thấy ở hồ Crater. Tôi đoán nó giống như là Đại Hồ với màu xanh trải ra mãi đến tận chân trời, cái hồ gần nơi mẹ tôi qua đời. Cuốn sách hướng dẫn chỉ nói rằng khi nhìn thấy cái hồ lần đầu tiên từ phần đai quanh hồ cao hơn 274 m so với mặt nước, người ta sẽ thấy đó là cảnh tượng “không thể tin nổi”.
Bây giờ tôi đã có một cuốn sách hướng dẫn mới. Một cuốn kinh thánh mới. Đường mòn Pacific Crest, tập 2: Oregon và Washington, mặc dù lúc ở cửa hàng tại Ashland tôi đã xé đi 130 trang sách cuối vì tôi không cần phần Washington. Đêm đầu tiên bên ngoài Ashland, tôi lật giở những trang sách này trước khi chìm vào giấc ngủ, đọc một lúc chỗ này chỗ kia, cũng như với cuốn sách hướng dẫn về đoạn California ở hoang mạc trong đêm đầu tiên trên PCT.
Trong suốt những ngày đầu tiên đi khỏi Ashland, đôi lần tôi nhìn thấy đỉnh Shasta ở phía nam, nhưng hầu như là tôi đi bộ trong những khu rừng khuất tầm nhìn. Với những người du lịch bụi, PCT ở Oregon thường được gọi là “đường hầm xanh” vì nó ít khung cảnh rộng lớn hơn đoạn đường mòn ở California. Tôi không còn cảm giác rằng mình đang đứng ở trên cao nhìn xuống mọi thứ nữa, và cảm thấy thật lạ lùng khi không thể phóng được tầm mắt qua khắp vùng đất. California đã thay đổi tầm nhìn của tôi, nhưng Oregon lại chỉnh lại nó, kéo nó gần hơn. Tôi đi xuyên qua những cánh rừng gỗ linh sam Douglas kiêu hãnh và vĩ đại, đạp qua những bụi cây, bước xuyên qua cỏ dại và những cây kế um tùm thỉnh thoảng che mất cả con đường mòn. Tôi băng qua cánh rừng Quốc gia sông Rogue và đi dưới những cái cây cổ thụ vĩ đại trước khi tới những khoảng đất trống giống những chỗ tôi đã nhìn thấy vài tuần trước, tới không gian rộng mênh mông của những gốc cây và rễ cây lộ ra do những cánh rừng dày bị đốn chặt. Tôi mất một buổi chiều lạc lối giữa đổ nát, đi bộ hàng giờ trước khi tới được một con đường lát đá và lại tìm thấy PCT.
Trời nắng và trong nhưng không khí vẫn lạnh, và mỗi ngày lại càng lạnh se sắt hơn khi tôi đi đến vùng hoang dã Sky Lakes, ở đoạn này con đường mòn nằm trên độ cao gần 1.830 m. Quang cảnh mở ra lần nữa khi tôi đi dọc một sống núi toàn những đá tảng núi lửa, thỉnh thoảng hiện ra những cái hồ bên dưới đường mòn và vùng đất trải rộng ra xa. Trời tỏa nắng như thế, nhưng tôi cảm giác như đang ở một sáng đầu tháng mười thay vì một chiều giữa tháng tám. Tôi phải giữ ấm bằng cách đi không ngừng. Chỉ cần dừng lại hơn năm phút là mồ hôi chảy ướt sũng lưng áo phông sẽ chuyển lạnh như đá. Chẳng nhìn thấy một ai kể từ khi rời Ashland, nhưng bây giờ tôi gặp vài người đi bộ trong ngày và những người du lịch bụi qua đêm, họ trèo lên PCT từ một trong nhiều con đường mòn giao với PCT, những đường này dẫn tới những đỉnh núi bên trên hoặc hồ bên dưới. Hầu hết tôi chỉ có một mình, chẳng có gì lạ cả, nhưng cái lạnh khiến cho con đường dường như hoang vắng hơn, gió thì quật không ngừng lên những cành cây bền bỉ. Trời cũng ngày một lạnh hơn, thậm chí lạnh hơn cả thành phố Sierra đầy tuyết, mặc dù ở đây chỉ thỉnh thoảng tôi mới thấy một vài mảng tuyết chỗ này chỗ kia. Tôi nhận ra là vì hồi đó những ngọn núi đang bước vào hè, còn bây giờ, chỉ sáu tuần sau đó, chúng đang chuyển mình từ hè sang thu, cản lối bước chân tôi.
Một tối, tôi dừng lại dựng lều, lột bỏ chỗ quần áo thấm đẫm mồ hôi, mặc vào tất cả số quần áo còn lại, và nhanh chóng nấu bữa tối, kéo khóa vùi mình vào túi ngủ ngay khi ăn xong. Lạnh thấu xương, lạnh đến mức tôi không thể đọc nổi sách. Tôi nằm co quắp, suốt đêm đội cả mũ lẫn đeo găng tay, hầu như chẳng chợp được mắt. Khi Mặt trời cuối cùng cũng lên, nhiệt độ là dưới âm ba, và lều của tôi phủ một lớp tuyết mỏng; nước trong chai đã đóng băng mặc dù chúng cũng ở trong lều với tôi. Tôi dỡ lều mà không có một ngụm nước nào để uống, ăn một thanh protein thay vì món granola trộn với Ngon Hơn Sữa thường ngày. Khi ấy, tôi lại nghĩ đến mẹ. Mẹ đã đến đâu đó gần tôi trong nhiều ngày nay, chầm chậm và rõ ràng trong trí tôi kể từ khi ở Ashland, và bây giờ trong ngày tuyết rơi này, chẳng thể phủ nhận được rằng cuối cùng mẹ đã ở đây.
Đó là vào ngày 18 tháng tám. Ngày sinh nhật mẹ. Hôm nay mẹ tròn 50 tuổi, nếu mẹ còn sống.
Mẹ không còn sống. Mẹ không sống đến 50 tuổi. Mẹ không bao giờ sống đến được 50 tuổi. Tôi tự nói với mình khi đi bộ dưới cái lạnh và mặt trời tháng tám rực rỡ. Mẹ 50 tuổi đi mà, Mẹ ơi. 50 tuổi chết tiệt. Cơn giận trong tôi cứ tăng dần theo từng bước chân. Tôi không thể tin là tôi lại giận mẹ đến thế bởi mẹ không sống đến sinh nhật lần thứ 50 của mẹ. Đến mức tôi chỉ muốn đấm mẹ một cái ngay vào miệng.
Tôi đã không giận dữ như thế vào những sinh nhật trước đây của mẹ. Những năm qua, tôi chẳng cảm thấy gì ngoài nỗi buồn. Lần sinh nhật đầu tiên không có mẹ – vào cái ngày đáng lẽ mẹ 46 tuổi – tôi cùng dượng Eddie, Karen, Leif và Paul rải tro mẹ lên vườn hoa nhỏ có đá xếp bao quanh mà chúng tôi làm cho mẹ ở một khoảng đất trong nhà tôi. Ba sinh nhật tiếp theo, tôi chẳng làm gì ngoài khóc lóc khi ngồi lặng yên lắng nghe hết album của Judy Collins Colors of the Day (Sắc màu của ngày), mỗi nốt nhạc như một tế bào trong cơ thể tôi. Mỗi năm tôi chỉ có thể chịu đựng được việc nghe nó một lần duy nhất, bởi nó gợi ra tất cả những ký ức khi mẹ hát những bài hát đó hồi tôi còn bé. Thứ âm nhạc ấy khiến tôi cảm thấy như mẹ đang ở cạnh tôi, mẹ đang đứng trong phòng – chỉ là mẹ không và sẽ không bao giờ ở đó nữa.
Tôi không thể cho phép dù chỉ một dòng bài hát đó nảy ra trên PCT ngay lúc này. Tôi đã xóa sạch mọi bài hát ở cái đài phát thanh lộn xộn trong đầu, ấn thật nhanh cái nút quay lại tưởng tượng, buộc lý trí mình phải ở yên đó. Tôi đang ở sinh nhật-không-phải-50 của mẹ và chẳng có bài hát nào. Thay vào đó, tôi đi qua những con hồ trên cao và bước qua những tảng đá núi lửa khi tuyết ban đêm tan chảy trên những bông hoa dại dạn dày chen nhau mọc. Tôi đi nhanh hơn bao giờ hết trong khi nghĩ tới đủ điều hà khắc về mẹ mình. Chết ở tuổi 45 là điều tồi tệ nhất mà mẹ đã làm. Khi đi bộ, tôi lên một danh sách những điều tồi tệ còn lại, tỉ mẩn liệt kê chúng trong đầu:
Mẹ đã từng hút cỏ, thỉnh thoảng nhưng điều độ và không hề băn khoăn khi làm thế trước mặt chị em chúng tôi. Một lần phê thuốc, mẹ đã nói: “Chỉ là thảo dược thôi mà. Giống như trà vậy.”
Tôi, chị tôi và em trai tôi chẳng xa lạ gì với chuyện bị bỏ lại một mình khi chúng tôi sống trong khu chung cư đầy những bà mẹ đơn thân. Mẹ nói với chúng tôi là chúng tôi đã đủ lớn để tự chăm sóc bản thân trong mấy tiếng vì mẹ không thể trả tiền thuê người trông trẻ được. Thêm nữa, nếu có chuyện gì xảy ra, chúng tôi có thể đi đến tất cả những bà mẹ đơn thân khác. Nhưng chúng tôi cần mẹ của chúng tôi.
Trong cùng thời kỳ này, khi nổi điên thực sự, mẹ thường dọa cốc đầu chúng tôi bằng cái muôi gỗ, và đã có đôi lần mẹ làm thế thật.
Một lần, mẹ từng nói là chúng tôi cứ việc thoải mái gọi mẹ bằng tên thay vì gọi là Mẹ.
Mẹ có thể lạnh nhạt và thường xa cách với bạn bè. Mẹ quý họ, nhưng mẹ giữ khoảng cách với họ. Tôi không nghĩ mẹ thực sự để bất kỳ ai trong số họ bước qua ranh giới ấy. Mẹ lúc nào cũng tin rằng “một giọt máu đào hơn ao nước lã,” dù thực tế là gia đình tôi khá ít họ hàng máu mủ, và họ thì sống cách đấy cả trăm cây số. Mẹ thường giữ sự cô độc và riêng tư nhất định, tham gia vào những nhóm bạn bè nhưng cũng ngăn cách gia đình chúng tôi khỏi đó. Tôi đoán đó là lý do không ai đến khi mẹ mất, cũng là lý do bạn của mẹ lại để mặc tôi với tình cảnh chênh vênh hiển nhiên ngày đó. Vì mẹ tôi đã chẳng gần gũi quá với bất kỳ ai trong số họ, nên chẳng ai trong số họ gần gũi với tôi. Họ chúc tôi mau ổn, nhưng họ không mời tôi đến bữa tối lễ Tạ ơn hoặc gọi điện cho tôi vào ngày sinh nhật mẹ để hỏi han sau khi mẹ mất.
Mẹ lạc quan tới phát bực, nói những thứ ngớ ngẩn kiểu như: Chúng ta không nghèo vì chúng ta giàu tình yêu! hay Khi một cánh cửa đóng lại, thì có cánh cửa khác mở ra! Những thứ này chẳng hiểu sao lúc nào cũng khiến tôi bực mình đến mức muốn bóp cổ mẹ, kể cả khi mẹ sắp chết và mẹ vô tư lạc quan tin rằng mẹ sẽ không chết, miễn là uống thật nhiều nước cỏ lúa mì.
Khi tôi học lớp cuối cấp ba, mẹ đã không hỏi tôi thích đến trường đại học nào. Mẹ không đưa tôi đi thăm thú một vòng các trường đại học. Tôi thậm chí còn không biết là người ta có những chuyến tham quan đó cho đến tận khi tôi vào học đại học và những người khác kể với tôi là họ đã đi những chuyến tham quan ấy. Mẹ bỏ mặc tôi phải tự tìm hiểu, tự đăng ký vào một trường đại học ở St. Paul chỉ vì nó trông đẹp trên cuốn sổ quảng cáo và chỉ mất có ba tiếng lái xe đi về. Đúng là tôi đã hơi chểnh mảng ở trường cấp ba, bận sắm vai vàng hoe ngớ ngẩn để không bị tẩy chay vì gia đình tôi sống trong một căn nhà với cái hố xí làm từ thùng mật ong và một cái lò sưởi đốt củi; hay vì dượng tôi có mái tóc dài, và bộ râu quai nón rậm rạp, lái chiếc xe tồi tàn mà chính tay ông đã biến nó thành một chiếc xe tải nhỏ nhờ một cái máy hàn, một cái máy cưa tay, và một vài thanh gỗ; còn mẹ tôi không cạo lông nách và nói với những người dân địa phương thích săn bắn đầy hiếu chiến những lời kiểu như: Thực ra, tôi nghĩ săn bắn là giết người. Nhưng mẹ biết tôi thông minh ngầm. Mẹ biết tôi thèm khát tri thức, ngày ngày ngấu nghiến những cuốn sách. Tôi đạt điểm cao trong mọi bài kiểm tra, mọi người thì ngạc nhiên nhưng tôi và mẹ thì không. Tại sao mẹ không nói: Này hay con đăng ký vào Harvard? Hay con đăng ký vào Yale? Hồi ấy tôi chưa bao giờ nghĩ đến Harvard và Yale. Dường như chúng là những ngôi trường hư cấu hoàn toàn. Chỉ sau này tôi mới biết Harvard và Yale là có thật. Và cho dù thực tế là họ hẳn sẽ không đời nào nhận tôi vào – thành thật mà nói tôi không đạt tiêu chuẩn của họ – nhưng trong tôi vẫn có gì đó sụp đổ bởi cái sự thật là thậm chí tôi chẳng bao giờ có cơ hội hỏi xem mình có nên đăng ký vào đó hay không.
Nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi, tôi biết vậy, và tôi chỉ có người mẹ đã chết, lánh mình, lạc quan thái quá, không chuẩn bị cho con vào trường đại học, thỉnh thoảng bỏ mặc con, hút cỏ, cốc đầu con bằng muôi gỗ, bảo con cứ gọi tên mình tùy ý – tôi chỉ có người mẹ ấy để mà đổ tội. Mẹ đã thất bại. Mẹ đã thất bại. Mẹ đã thất bại quá nhiều với tôi.
Chết tiệt. Tôi nghĩ, giận đến nỗi tôi phải dừng bước.
Và rồi tôi nức nở. Chẳng có nước mắt, chỉ có một tràng âm thanh thổn thức khắp cơ thể tôi, mạnh đến mức tôi không thể đứng nổi. Tôi phải cúi người, than khóc, trong khi bàn tay vịn lấy đầu gối, cái ba lô đè nặng trên người, cái gậy tuyết leng keng trên đất phía sau, cả cái cuộc đời ngu ngốc này đang chui ra khỏi cổ họng tôi.
Sai rồi. Cái việc mẹ bị tước đi khỏi tôi thật kinh khủng làm sao. Tôi thậm chí còn không thể ghét mẹ. Tôi không có cả cơ hội lớn lên và xa lánh mẹ, nói xấu về mẹ với bạn bè và chất vấn mẹ về những thứ mà tôi ước mẹ đã làm khác đi để rồi lớn lên và hiểu rằng mẹ đã làm tốt nhất có thể rồi, rằng mẹ đã làm những điều thực tốt và rồi lại ôm trọn mẹ vào trong lòng mình. Cái chết của mẹ đã xóa sạch cơ hội ấy. Nó xóa sạch tôi. Nó cắt cụt cái kiêu ngạo tuổi trẻ của tôi. Nó buộc tôi ngay lập tức phải trưởng thành và tha thứ cho mọi lỗi lầm của mẹ, nhưng cũng cùng lúc đó giữ tôi mãi là một đứa trẻ; cuộc đời của tôi vừa chấm dứt vừa bắt đầu ở cái thời điểm chúng tôi bị bỏ lại mà vẫn còn quá nhỏ. Mẹ là mẹ của tôi, nhưng tôi không có mẹ. Tôi bị buộc chặt với mẹ nhưng vẫn hoàn toàn đơn độc. Mẹ sẽ luôn luôn là cái bát rỗng mà không ai có thể lấp đầy. Tự tôi phải lấp đầy nó, lấp nữa lấp nữa và lấp nữa.
Chết tiệt. Tôi lầm rầm khi bước qua vài kilômét tiếp theo, giận dữ như thế khiến tôi đi nhanh hơn, nhưng chẳng mấy chốc tôi chậm dần và dừng lại ngồi trên một tảng đá. Một đám hoa thấp lè tè mọc chỗ bàn chân tôi, cánh hoa hồng lợt điểm quanh những viên đá. Nghệ tây, cái tên ấy hiện ra trong đầu tôi vì có lần mẹ đã nói với tôi thế. Cũng chính loài hoa này mọc trên khoảnh đất mà tôi đã rắc tro mẹ lên. Tôi vươn ra và chạm vào cánh của một bông hoa, cảm thấy cơn giận dữ rút hẳn khỏi người mình.
Khi đứng dậy đi tiếp, tôi không còn cáu giận mẹ vì bất cứ điều gì nữa. Sự thực là, mặc cho tất cả những chuyện đã xảy ra, mẹ vẫn là một người mẹ tuyệt vời. Tôi biết điều đó khi tôi lớn lên. Tôi biết điều đó vào những ngày mẹ đang chết dần chết mòn. Và tôi biết điều đó vào lúc này. Và tôi biết đó là một điều gì đó. Tôi biết nó có ý nghĩa rất nhiều. Mẹ của nhiều bạn bè tôi – không cần biết họ sống bao lâu – sẽ không bao giờ cho họ tình yêu vô bờ bến như mẹ đã dành cho tôi. Mẹ xem tình yêu là thành công lớn nhất của đời mình. Mẹ lấy đó làm chỗ dựa khi mẹ hiểu rằng mẹ thực sự sẽ chết và chết sớm, để rồi có thể tạm yên lòng rời bỏ tôi, Karen và Leif ở lại phía sau.
“Mẹ đã cho các con mọi thứ.” Mẹ cứ nói đi nói lại như thế trong những ngày cuối đời.
“Vâng.” Tôi đồng ý. Mẹ đã làm thế, đó là sự thực. Mẹ đã làm thế. Mẹ đã làm thế. Mẹ đã làm thế. Mẹ đã đến với chúng tôi với tình mẫu tử lớn lao nhất. Mẹ không giữ lại một điều gì, dù là nhỏ nhoi nhất.
“Mẹ sẽ luôn ở bên các con, dù thế nào đi nữa.” Mẹ nói.
“Vâng.” Tôi trả lời, xoa xoa cánh tay mềm mại của mẹ.
Khi mẹ ốm đến độ chúng tôi biết rằng mẹ sẽ chết thực sự, khi chúng tôi đang bước đến cánh cửa địa ngục, khi chúng tôi đều đã nghĩ rằng chẳng có nước cỏ lúa mì nào cứu mẹ được nữa, tôi đã hỏi mẹ rằng mẹ muốn làm gì với thân thể của mình – hỏa táng hay mai táng – mặc dù mẹ chỉ nhìn tôi như thể tôi đang nói tiếng nước ngoài.
“Phần nào hiến được thì cứ hiến.” Lúc sau, mẹ nói. “Ý mẹ là các bộ phận cơ thể mẹ. Hãy cho họ mọi bộ phận họ có thể sử dụng.”
“Vâng ạ.” Tôi nói. Đó là cảm giác lạ lùng nhất: ngồi đây dự tính như vậy, biết rằng chúng tôi đang lập ra những kế hoạch chẳng phải xa xôi bất khả gì; và tưởng tượng ra những phần cơ thể của mẹ sống trong cơ thể của người khác. “Nhưng sau đó thì sao ạ?” Tôi gặng tiếp, đau đớn đến độ phải thở gấp. Tôi phải biết điều đó. Đó sẽ là nhiệm vụ của tôi. “Mẹ muốn làm gì với... với... phần còn lại ạ? Mẹ muốn chôn cất hay hỏa thiêu ạ?”
“Mẹ không quan tâm.” Mẹ nói.
“Mẹ có quan tâm mà.” Tôi trả lời.
“Mẹ thực sự không quan tâm. Hãy làm cái gì con nghĩ là tốt nhất. Làm bất cứ thứ gì rẻ nhất.”
“Không.” Tôi khăng khăng. “Mẹ phải nói cho con biết. Con muốn biết mẹ muốn làm gì.” Cứ nghĩ đến chuyện mình là người phải quyết định là tôi lại ngập trong nỗi hoảng sợ.
“Ôi, Cheryl.” Mẹ nói, phát mệt vì tôi, ánh mắt chúng tôi gặp nhau, trong một sự hòa hoãn đè nén nỗi buồn. Số lần tôi muốn bóp cổ mẹ vì mẹ quá lạc quan cũng ngang với số lần mẹ muốn bóp cổ tôi vì tôi chưa bao giờ từng biết lùi bước.
“Thiêu mẹ nhé.” Cuối cùng mẹ nói. “Thiêu mẹ thành tro bụi.”
Và chúng tôi đã làm thế, mặc dù tro bụi thân xác mẹ không giống như tôi hình dung. Chúng không giống tro củi, mịn và tinh như cát. Chúng giống đá cuội nhạt màu trộn lẫn với sỏi xám lổn nhổn. Một vài mẩu lớn đến mức tôi nhìn là biết chúng từng là xương người. Cái hộp mà người đàn ông ở nhà tang lễ đưa cho tôi ngớ ngẩn thay lại đề địa chỉ của mẹ. Tôi mang nó về nhà và để nó trong tủ cốc phía dưới cái tủ để đồ trưng bày, ở đó mẹ cất những thứ đẹp nhất của mình. Lúc ấy là vào tháng sáu. Nó nằm đó đến tận ngày 18 tháng tám, cũng như cái bia mộ chúng tôi làm cho mẹ. Cái bia mộ đến cùng tuần với chỗ tro cốt kia, được để ở phòng khách, dựng đứng trên sàn, có thể khiến khách đến chơi thấy khó chịu, nhưng tôi thì lại thấy thoải mái. Tấm bia màu xám đen, khắc chữ trắng. Trên đó có tên mẹ, ngày sinh, ngày mất và câu nói mẹ luôn nói với chúng tôi, nói đi nói lại khi mẹ ngày càng trở bệnh nặng và qua đời: Mẹ luôn ở bên các con.
Mẹ muốn chúng tôi nhớ điều đó, và tôi đã luôn nhớ. Dường như mẹ luôn luôn ở cạnh tôi, ít nhất là theo nghĩa bóng. Và cũng có thể là theo nghĩa đen. Khi cuối cùng chúng tôi cũng chôn cái bia ấy xuống và rắc tro mẹ vào đất, tôi đã không rắc hết, tôi giữ lại vài mẩu lớn nhất trong tay. Tôi đứng một lúc lâu, chưa sẵn sàng để trả chúng về với đất. Tôi đã không rải chúng xuống đất. Tôi sẽ không bao giờ làm thế.
Tôi đặt những mảnh xương bị thiêu của mẹ vào miệng rồi nuốt hết chúng.
Đến đêm sinh nhật lần thứ 50 của mẹ, tôi lại yêu thương mẹ, mặc dù tôi vẫn không thể để cho những bài hát của Judy Collins chui vào đầu. Trời lạnh, nhưng không lạnh như đêm hôm trước. Tôi ngồi bó gối trong lều, tay đeo găng, đọc những trang đầu tiên của cuốn sách mới – The Best American Essays 1991 (Những bài luận hay nhất nước Mỹ năm 1991). Tôi thường chờ đến buổi sáng mới đốt những trang đã đọc tối hôm trước, nhưng tối hôm ấy khi đọc xong, tôi bò ra khỏi lều và đốt những trang đã đọc. Nhìn chúng bừng bừng cháy, tôi gọi tên mẹ tôi, như thể đó là một lễ kỷ niệm dành cho mẹ. Tên mẹ là Barbara, nhưng mẹ được gọi là Bobbi, bởi vậy tôi gọi tên Bobbi. Tôi nói Bobbi thay vì nói Mẹ, như thể đây là lần đầu tiên tôi thực sự hiểu mẹ là mẹ của tôi, nhưng cũng còn hơn cả thế. Khi mẹ mất, tôi cũng mất đi cô Bobbi là mẹ ngày xưa, mất đi người phụ nữ tách biệt khỏi người mẹ của tôi. Dường như bây giờ mẹ đến bên tôi, với đầy đủ những điểm hoàn hảo và chưa hoàn hảo của mẹ, như thể cuộc đời mẹ là một bức tranh vẽ tường cầu kỳ phức tạp và cuối cùng tôi cũng có thể nhìn ra toàn bộ bức tranh đó. Nhìn ra con người của mẹ mà tôi biết và con người của mẹ mà tôi không biết. Nhìn ra mẹ đã thuộc về tôi thế nào và mẹ đã không thuộc về tôi ra sao.
Bobbi đã không được thỏa ước nguyện cuối cùng là hiến bộ phận cơ thể của mình cho người khác, hoặc ít nhất là không được thỏa ước nguyện như mẹ đã hy vọng. Khi qua đời, cơ thể mẹ bị tàn phá bởi ung thư và moóc-phin, thân xác 45 tuổi của mẹ là một thứ độc hại. Cuối cùng, họ chỉ có thể sử dụng giác mạc. Tôi biết đó chỉ là một tấm màng trong suốt ở mắt, nhưng khi nghĩ đến những gì mẹ đã cho đi, tôi không nghĩ nó chỉ như một cái màng. Tôi nghĩ đến đôi mắt màu xanh đến ngỡ ngàng của mẹ sống trên khuôn mặt của người khác. Vài tháng sau khi mẹ mất, chúng tôi nhận được một lá thư cảm ơn của tổ chức hỗ trợ cho việc hiến tặng đó. Nhờ sự hào phóng của mẹ mà ai đó có thể nhìn được, lá thư viết thế. Tôi phát điên với khát khao muốn gặp để nhìn vào mắt người đó. Người đó sẽ không phải nói một lời nào cả. Tất cả những gì tôi muốn là người đó nhìn vào tôi, dù đó là ai chăng nữa. Tôi gọi đến số điện thoại trên lá thư để yêu cầu chuyện đó nhưng nhanh chóng bị gạt đi. Người ta nói với tôi rằng tính bảo mật phải được ưu tiên nhất. Người được hiến có những quyền của họ.
“Tôi muốn giải thích cho cô về bản chất việc mẹ cô hiến tặng.” Người phụ nữ trên điện thoại nói với giọng kiên nhẫn và an ủi khiến tôi nhớ đến những người tư vấn, những tình nguyện viên bệnh viện, y tá, bác sĩ và những người trong nhà xác đã buồn rầu nói chuyện với tôi như thế nào trong những tuần mẹ tôi đang chết dần chết mòn và những ngày sau khi mẹ mất – giọng họ tỏ sự cảm thông nghe như thể cường điệu, khiến tôi cùng lúc hiểu ra rằng tôi hoàn toàn cô độc. “Không phải toàn bộ đôi mắt được cấy ghép,” người phụ nữ giải thích, “mà đúng hơn là giác mạc, nó là...”
“Tôi biết giác mạc là gì.” Tôi bật lại. “Tôi vẫn muốn biết người đó là ai. Để gặp anh ấy hoặc cô ấy nếu tôi có thể. Tôi nghĩ là cô nợ tôi điều đó.”
Tôi gác máy trong đau khổ, nhưng cái góc não vẫn nghĩ được đúng đắn thì hiểu rằng người phụ nữ đó đúng. Mẹ không ở đó. Đôi mắt màu xanh của mẹ đã mất rồi. Tôi không bao giờ được nhìn vào đôi mắt ấy nữa.
Khi những trang giấy cháy đã lụi tàn, tôi đứng lên quay trở lại lều và nghe thấy tiếng sủa, tiếng tru cao vút điên cuồng vọng về từ phía đông – một đám sói đồng cỏ. Ở miền bắc Minnesota, tôi nghe thấy âm thanh ấy không biết bao nhiêu lần nên chẳng thấy sợ nữa. Chúng nhắc tôi nhớ đến nhà chúng tôi. Tôi nhìn lên trời cao, những ngôi sao ở khắp nơi và tuyệt đẹp, lấp lánh trong màn đêm. Tôi run rẩy, biết rằng mình thật may mắn khi được ở đây, bầu trời đẹp đến mức tôi không muốn quay trở lại lều. Trong một tháng nữa mình sẽ ở đâu? Thật khó tin là tôi sẽ không còn ở trên con đường mòn này nữa, nhưng sự thực là thế. Khả năng lớn nhất là tôi sẽ ở Portland, nếu hoàn toàn nhẵn túi. Tôi vẫn còn một số tiền nhỏ còn lại từ Ashland, nhưng cho đến lúc tôi tới được Cầu của Chúa, số tiền ấy cũng sẽ hết nhẵn cho xem.
Tôi để Portland lảng vảng quanh tâm trí mình khi tôi đi khỏi vùng hoang dã hồ Sky để vào trong hoang mạc Oregon – một bình nguyên bằng phẳng đầy bụi trên cao có những cây thông lodgepole mà cuốn sách hướng dẫn giải thích là đã mọc lác đác quanh hồ và sông suối trước khi bị chôn vùi dưới hàng tấn đá bọt và tro bụi khi đỉnh Mazama phun trào. Tôi đến được Vườn quốc gia hồ Crater vào sớm ngày thứ bảy. Chẳng nhìn thấy hồ đâu. Thay vì thế tôi đã đến khu cắm trại cách hơn 11 km về phía nam của bờ hồ.
Khu cắm trại không chỉ là một khu cắm trại. Nó là một quần thể du lịch hỗn độn với khu đỗ xe, một cửa hàng, một nhà nghỉ, một khu giặt quần áo nhỏ, và cỡ ba trăm người đang nổ máy, để nhạc đài thật to, rồn rột hút nước từ những cái cốc giấy bự chảng và ăn những bịch bim bim thật to mà họ mua ở cửa hàng. Khung cảnh vừa thu hút vừa làm tôi thất kinh. Nếu không phải là chính tôi đang ở trong đó thì tôi sẽ chẳng thể tin nổi là chỉ cần đi chưa đến nửa cây số nữa theo bất cứ hướng nào từ đây là ta sẽ đến một thế giới hoàn toàn khác. Tôi dựng lều ở đó vào buổi tối, khoan khoái tắm ở nhà tắm, và sáng hôm sau tìm đường đến hồ Crater.
Cuốn sách hướng dẫn đã đúng: lần đầu tiên nhìn nó tôi như không thể tin vào mắt mình. Mặt nước hồ, nằm dưới 274 m từ chỗ tôi đứng là bờ hồ, cao 2.164 m. Đường tròn lởm chởm của hồ trải rộng dưới chân tôi một màu xanh trong vắt thuần khiết mà tôi chưa từng nhìn thấy bao giờ. Nó rộng xấp xỉ mười cây số, màu xanh của nó chỉ bị gián đoạn bởi đỉnh của một ngọn núi lửa nhỏ, đảo Phù Thủy, cao hơn 213 m so với mặt nước, tạo thành một đảo hình nón nơi những cây thông hình đuôi cáo xoắn vặn lớn lên. Đường bờ hồ hầu như cằn cỗi, lượn sóng bao quanh con hồ, điểm xuyết những cây thông y như thế và dựa lưng vào những ngọn núi phía xa.
“Vì hồ quá tinh khiết và quá sâu, nó hấp thụ mọi màu sắc của ánh sáng chiếu vào nó ngoại trừ màu xanh, bởi vậy nó phản ánh lại mắt ta màu xanh thuần khiết.” Một người lạ đứng bên cạnh tôi nói, trả lời cho câu hỏi mà tôi gần như đã thốt ra bởi ngạc nhiên sửng sốt.
“Cảm ơn.” Tôi nói với cô. Vì nước quá sâu và tinh khiết, nó hấp thụ mọi màu sắc của ánh sáng chiếu vào nó ngoại trừ màu xanh, nghe giống như cách giải thích logic và khoa học đến hoàn hảo, thế nhưng vẫn còn thứ gì đó về hồ Crater mà người ta chưa thể giải thích được. Bộ tộc Klamath vẫn xem con hồ là một di chỉ linh thiêng và tôi có thể thấy tại sao. Tôi không có một chút hoài nghi nào về điều đó. Chẳng vấn đề gì khi xung quanh tôi toàn những đám khách du lịch chụp ảnh và lái chầm chậm qua. Tôi vẫn có thể cảm thấy sức mạnh của cái hồ. Nó giống như một nỗi sửng sốt giữa vùng đất đại ngàn này: bất khả xâm phạm, tách biệt và cô độc, như thể nó đã luôn và sẽ luôn ở đây, hấp thụ mọi màu sắc của ánh sáng chiếu vào nó ngoại trừ màu xanh.
Tôi chụp vài tấm ảnh và đi dọc bờ hồ gần mấy tòa nhà nhỏ được xây để cho du khách nghỉ ngơi. Tôi không có lựa chọn nào ngoài việc lang thang cả ngày vì đó là chủ nhật và bưu điện vườn đóng cửa; tôi không thể lấy cái hộp của mình và phải chờ đến ngày mai. Hôm đó, trời nắng và cuối cùng cũng ấm lên, và khi cất bước, tôi đã nghĩ nếu mình giữ lại cái thai đã phát hiện hồi ở nhà nghỉ tại thác nước Sioux vào buổi tối trước khi tôi quyết định đi PCT, thì bây giờ chắc tôi đã sinh con rồi. Cái tuần sinh nhật của mẹ tôi sẽ là ngày dự sinh của tôi. Sự trùng hợp này giống như một cú đấm vào lòng tôi tại thời điểm đó, nhưng nó không khiến tôi dao động về quyết định kết thúc cái thai. Nó chỉ khiến tôi cầu nguyện cùng vũ trụ cho tôi cơ hội thứ hai, để tôi trở thành người mà tôi cần phải trở thành trước khi là một người mẹ: một người phụ nữ có cuộc sống khác hoàn toàn với cuộc sống của mẹ tôi.
Dù yêu và ngưỡng mộ mẹ biết bao, tôi đã dành cả tuổi thơ mình lên kế hoạch để không trở thành mẹ. Tôi biết tại sao mẹ lấy bố tôi vào tuổi 19, có bầu và chỉ có một tí tình yêu. Đó là một trong những câu chuyện tôi thường bắt mẹ kể hết lần này đến lần khác và mẹ lắc đầu nói: Tại sao con lại muốn biết? Tôi hỏi quá nhiều đến nỗi cuối cùng mẹ phải đầu hàng. Khi mẹ biết mẹ có bầu, mẹ băn khoăn hai lựa chọn: phá thai bất hợp pháp ở Denver hoặc đi ở ẩn ở một thành phố xa xôi trong khi mẹ mang bầu, rồi đưa chị tôi cho một người nào đó sẽ nuôi chị như con mình. Nhưng mẹ chẳng chọn gì trong hai lựa chọn đó. Mẹ quyết định sinh em bé, bởi vậy mẹ lấy bố tôi. Mẹ trở thành mẹ của Karen, rồi mẹ của tôi và rồi mẹ của Leif.
Mẹ của chúng tôi.
“Mẹ chưa bao giờ cầm vô lăng cái xe cuộc đời của mẹ.” Mẹ nức nở với tôi một lần, vào những ngày sau khi mẹ biết mình sẽ chết. “Mẹ luôn luôn làm những chuyện người khác muốn mẹ làm. Mẹ lúc nào cũng là con gái của ai đó hoặc là mẹ là vợ của ai đó. Mẹ chưa bao giờ là mẹ.”
“Ôi, Mẹ.” Tôi chỉ có thể nói được như thế khi nắm lấy bàn tay mẹ.
Tôi còn quá trẻ để có thể nói được điều gì khác.
Buổi trưa, tôi đi đến quán cà phê ở những tòa nhà gần đó và ăn bữa trưa. Sau đó, tôi đi bộ xuyên qua khu đỗ xe tới nhà nghỉ hồ Crater và thất thểu đi xuyên qua hành lang dân dã đáng yêu với Quái Vật trên lưng, dừng lại để ghé mắt nhìn vào phòng ăn tối lác đác vài người ngồi bên các bàn ăn, một nhóm thanh niên đẹp trai đang cầm những cốc chardonanay hoặc rượu pinot gris giống như những đồ trang sức vàng nhạt. Tôi đi ra ngoài chỗ mái hiên dài và phóng mắt nhìn ra hồ, đi dọc một hàng ghế bập bênh dài và tìm thấy một cái ghế không bập bênh.
Tôi ở đó cho đến hết buổi chiều, ngồi ngắm mặt hồ. Tôi vẫn còn gần 538 cây số nữa mới đến được Cầu của Chúa, nhưng có gì đó khiến tôi cảm thấy như thể tôi đã đến đó rồi. Giống như mặt nước thẳm xanh kia đang nói với tôi điều gì đó mà tôi đã đi bộ lặn lội tới tận đây để biết.
Nó từng là Mazama, tôi cứ nhắc mình nhớ tới điều đó. Đây từng là một ngọn núi cao gần hơn 3.657 m và rồi trái tim nó bị ai đó lấy đi. Đây từng là một vùng đất đầy nham thạch, đá bọt và tro bụi bỏ hoang. Đây từng là một cái bát rỗng phải mất hàng trăm năm mới dồn đầy. Nhưng dù có cố gắng bao nhiêu, tôi cũng không thể nhìn thấy chúng trong tâm nhãn mình. Không phải là ngọn núi, hay vùng đất bỏ hoang hay cái bát rỗng. Chúng chỉ đơn giản là không còn ở đó nữa. Chỉ có sự bất động và tĩnh lặng của khối nước kia: cái mà một ngọn núi, một vùng đất hoang và một cái bát biến thành khi vết thương bắt đầu lành.