MƯỜI NGÀN THỨ

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1 - MƯỜI NGÀN THỨ

❊ ❊ ❊

Chuyến độc hành ba tháng trên đường mòn Pacific Crest của tôi có kha khá những khởi đầu. Trước hết là quyết định đầu tiên, rất chóng vánh: mình sẽ đi; tiếp theo là quyết định nghiêm túc hơn: bắt tay vào làm thôi; tiếp đến là công cuộc khởi động, gồm hàng tuần liền mua sắm, đóng gói và chuẩn bị cho chuyến đi. Rồi xin nghỉ việc phục vụ bàn, hoàn tất thủ tục ly hôn, bán hầu hết mọi thứ tôi sở hữu, tạm biệt bạn bè và tới viếng mộ mẹ lần cuối. Rồi lái xe dọc đất nước, từ Minneapolis tới Portland, Oregon rồi vài ngày sau đó, bắt một chuyến bay tới Los Angeles, bắt tiếp xe tới thị trấn của Mojave, tiếp tục đi nhờ tới điểm giao cắt giữa PCT và đường quốc lộ.

Mỗi khởi đầu ấy đều gồm bắt tay vào làm, nhanh chóng nhận ra việc này vô vọng đến thế nào, rồi quyết định từ bỏ bởi thấy nó thật vô nghĩa, gian nan, khác xa hình dung trước đó, và còn bởi tôi thực sự chưa đủ sẵn sàng.

Và sau đó, là dấn thân vào thực sự.

Cứ bám trụ cứ dấn bước, bất chấp tất cả. Bất chấp gấu, rắn đuôi chuông và tiếng gầm gào của sư tử núi chẳng thấy bóng dáng; bất chấp những vết phồng rộp, vết thương đóng vảy, xước xát và rách da rách thịt. Bất chấp kiệt sức và thiếu thốn; lạnh giá và nắng cháy; đơn điệu và đau đớn; đói và khát; vinh quang và những bóng ma ám ảnh suốt hành trình gần 1.800 km độc hành từ hoang mạc Mojave tới bang Washington.

Và cuối cùng, khi đã thực sự đi và đến, bước qua chừng ấy dặm đường trong quãng thời gian đó, tôi nhận ra đâu mới là khởi đầu thực sự. Tôi nhận ra chuyến bộ hành qua đường mòn Pacific Crest của mình không khởi đầu từ quyết định chớp nhoáng ngày ấy. Nó đã manh nha từ trước cả khi tôi tưởng tượng về nó, chính xác là bốn năm, bảy tháng và ba ngày trước đó, khi tôi đứng trong căn phòng nhỏ ở bệnh viện Mayo, Rochester, Minnesota và biết rằng mẹ mình sắp chết.

Khi đó, tôi mặc từ đầu tới chân một màu xanh lá. Quần xanh, áo sơ mi xanh, chiếc nơ màu xanh trên mái tóc. Đó là bộ đồ mẹ may cho tôi – bà đã may quần áo cho tôi suốt cả cuộc đời. Một số bộ hệt như tôi mơ ước, một số khác thì không bằng. Tôi chẳng cuồng đồ màu xanh, nhưng dù thế nào tôi cũng mặc chúng, như một kiểu chuộc lỗi, hiến tế hay bùa may mắn vậy.

Cả một ngày trong bộ đồ xanh lá, khi đi cùng mẹ và dượng Eddie hết tầng này đến tầng khác ở viện Mayo để mẹ làm đủ thứ xét nghiệm, một lời cầu nguyện cứ điệp đi điệp lại trong tâm trí tôi, dù lời cầu nguyện không phải từ chính xác để mô tả điệp khúc đó. Tôi không quỵ lụy trước Chúa. Tôi thậm chí chẳng tin vào Chúa. Tôi chẳng cầu khấn: Lạy Chúa, xin Người hãy rủ lòng thương chúng con.

Tôi không xin xỏ lòng thương. Tôi không cần chúng. Mẹ tôi mới 45 tuổi. Nom bà hoàn toàn khỏe mạnh. Nhiều năm nay mẹ gần như chỉ ăn chay. Mẹ trồng cúc vạn thọ quanh vườn để xua sâu bọ thay vì dùng thuốc trừ sâu. Mấy chị em tôi vẫn được mẹ cho nuốt tỏi sống khi cảm lạnh. Những người như mẹ sẽ chẳng thể nào bị ung thư. Những xét nghiệm ở bệnh viện Mayo sẽ chứng minh điều đó, phủ nhận hoàn toàn lời các bác sĩ ở Duluth nói. Tôi dám chắc là thế. Mấy bác sĩ ở Duluth là ai kia chứ? Mà Duluth là gì cơ chứ? Duluth! Một thị trấn lạnh lẽo, quê mùa nơi mấy tay bác sĩ chẳng hiểu quái gì về thứ họ nói: Một phụ nữ 45 tuổi, ăn chay, ăn tỏi, thường dùng những bài thuốc từ tự nhiên và không hút thuốc mà lại mắc ung thư phổi giai đoạn cuối sao?

Mẹ kiếp.

Đó là lời nguyện cầu của tôi: Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp.

Thế nhưng, mẹ tôi đang ở đây, trong bệnh viện Mayo, mệt mỏi rã rời nếu phải tự đi lại quá ba phút đồng hồ.

“Em có muốn dùng xe lăn không?” Dượng Eddie hỏi mẹ khi chúng tôi bắt gặp hàng xe lăn trong một hành lang dài trải thảm.

“Mẹ con không cần xe lăn.” Tôi đáp.

“Chỉ một lát thôi.” Mẹ nói, gần như đổ sụp xuống một chiếc. Ánh mắt tôi và mẹ chạm nhau trước khi dượng Eddie đẩy bà về phía thang máy.

Tôi theo sau, không cho phép bản thân được nghĩ ngợi bất cứ điều gì. Chúng tôi đang lên gặp vị bác sĩ cuối cùng. Một bác sĩ thực thụ, chúng tôi cứ nói như vậy. Ông sẽ tập hợp mọi thông tin về mẹ và nói cho chúng tôi đâu mới là sự thật. Khi thang máy đi lên, mẹ đưa tay chạm vào quần tôi, vân vê lớp vải cotton xanh giữa những ngón tay theo cái cách rất riêng của mình.

“Hoàn hảo.” Bà nói.

Lúc đó tôi 22 tuổi, bằng tuổi mẹ khi bà mang thai tôi. Bà sắp rời bỏ tôi đúng vào thời điểm tôi đến với bà, suy nghĩ ấy lướt qua đầu tôi. Không hiểu sao suy nghĩ này cứ hiển hiện trọn vẹn trong tâm trí tôi, tạm thời xóa nhòa lời nguyện cầu Mẹ kiếp. Tôi gần như rít lên vì đau đớn. Tôi suýt nghẹn thở vì điều tôi nhận ra trước cả khi nó được xác nhận. Tôi sắp phải sống quãng đời còn lại mà không có mẹ. Tôi vận hết sức xua đi sự thật ấy. Tôi không thể để mình tin vào điều đó, lúc này đây và trong chiếc thang máy này, tôi giữ nhịp thở, bắt bản thân nghĩ tới những thứ khác. Như là nếu bác sĩ nói rằng bạn sẽ sớm ra đi, bạn sẽ được mang tới một căn phòng với cái bàn gỗ bóng loáng.

Nhưng không phải vậy.

Chúng tôi được dẫn tới một phòng kiểm tra nơi cô y tá yêu cầu mẹ cởi áo và mặc chiếc áo bệnh nhân bằng cotton với dây dợ lòng thòng hai bên. Sau đó, mẹ leo lên một chiếc bàn được lót bông và trải giấy trắng. Mỗi khi bà cử động, căn phòng lại lóe sáng lên với lớp giấy rách toạc và nhăn nhúm bên dưới. Tôi có thể thấy tấm lưng trần của mẹ, thấy đường cong nhỏ nhắn dưới thắt lưng bà. Bà sẽ không chết. Tấm lưng trần của bà dường như nói lên điều ấy. Tôi đang nhìn chằm chằm vào đó khi bác sĩ thực thụ kia bước vào phòng và nói nếu may mắn, mẹ tôi có thể sống thêm một năm nữa. Ông ta giải thích rằng họ sẽ không cố thử điều trị gì, rằng bà chẳng thể cứu chữa được nữa. Chẳng thể làm gì hơn, ông ta nói với chúng tôi. Phát hiện muộn bệnh ung thư phổi là chuyện bình thường.

“Nhưng mẹ tôi không hề hút thuốc!” Tôi cự nự, cứ như thể có thể khiến ông ta từ bỏ lời chẩn đoán ấy, như thể bệnh ung thư biến chuyển tuần tự và có thể ngăn lại được. “Mẹ tôi chỉ hút khi còn trẻ và hàng năm nay chưa động đến một điếu nào.”

Vị bác sĩ lắc đầu buồn bã và tiếp tục. Còn một việc có thể làm. Ông ta gợi ý làm giảm những cơn đau lưng bằng phương pháp xạ trị. Chúng giúp thu nhỏ kích thước của khối u đang lan dọc sống lưng mẹ tôi.

Tôi không khóc. Tôi chỉ thở. Khó nhọc. Nỗ lực. Và rồi, quên mất cần phải thở. Tôi đã từng ngất đi – khi lên ba, tôi quyết nín thở vì không muốn ra khỏi bồn tắm. Lúc đó, tôi còn quá nhỏ để nhớ mọi chuyện. Mẹ đã làm gì? Mẹ đã làm gì? Tôi đã hỏi mẹ suốt thời thơ bé, khiến bà vừa buồn cười vừa ngạc nhiên vì cái tính dai như đỉa của tôi, rồi cuối cùng phải kể đi kể lại câu chuyện cả ngàn lần. Mẹ luôn kể rằng, mẹ đã chìa tay ra và nhìn khuôn mặt tôi dần tái xanh. Mẹ đợi tới khi đầu tôi ngả vào lòng bàn tay mẹ, tôi hít một hơi và tỉnh lại.

Thở đi.

“Tôi có thể cưỡi ngựa nữa không?” Mẹ hỏi ông bác sĩ. Bà ngồi đó, siết chặt hai bàn tay, ngoắc hai cổ chân vào nhau như thể tự trói mình.

Để đáp lại, ông ta lấy ra một cây bút chì, đặt nó thẳng đứng ở rìa chậu rửa rồi gõ mạnh lên mặt chậu rửa. “Đây là đốt sống của bà sau khi xạ trị.” Ông ta nói. “Chỉ chấn động nhỏ, xương bà sẽ vỡ tan như bánh quy giòn. ”

Tôi và mẹ cùng vào phòng vệ sinh nữ. Mỗi người khóa trái một gian, nức nở. Chúng tôi chẳng nói với nhau lời nào. Chẳng phải vì chúng tôi thấy cô đơn với nỗi niềm riêng, mà bởi chúng tôi cùng đau một nỗi đau, hai người như một. Tôi có thể cảm nhận được người bà đang tựa vào cánh cửa, đôi bàn tay đập từng nhịp lên cửa khiến các gian phòng cứ thế rung lên. Lát sau, chúng tôi bước ra rửa tay và mặt, nhìn nhau qua tấm gương sáng chói.

Chúng tôi được chỉ tới đợi ở quầy thuốc. Tôi ngồi giữa mẹ và dượng Eddie, trong bộ đồ xanh lá, và chiếc nơ xanh kỳ lạ thay vẫn nằm trên mái tóc. Có một cậu bé mập mạp, trọc đầu nằm trong lòng người đàn ông già nua. Có một người phụ nữ với một bên cánh tay từ khuỷu xuống cứ đu đưa vô định. Cô cố giữ nó bằng bên tay còn lại. Cô ấy đang chờ đợi. Chúng tôi đang chờ đợi. Có một người phụ nữ xinh đẹp với mái tóc tối màu ngồi trên xe lăn. Cô đội chiếc mũ tím và đeo nhẫn kim cương đầy tay. Chúng tôi chẳng thể rời mắt khỏi cô ấy. Cô nói tiếng Tây Ban Nha với những người xung quanh, gia đình cô và có lẽ là cả chồng cô nữa.

“Con có nghĩ cô ấy bị ung thư không?” Mẹ thì thầm hỏi tôi.

Dượng Eddie cũng ngồi ngay cạnh tôi, nhưng tôi không thể nhìn ông. Bởi nếu tôi nhìn ông, cả hai chúng tôi sẽ cùng vỡ vụn như những chiếc bánh quy giòn. Tôi nghĩ về chị mình, Karen và em trai, Leif. Nghĩ về chồng tôi, Paul, và về ông bà ngoại cùng bác tôi, những người đang sống cách đây cả ngàn kilômét đường. Họ sẽ nói gì khi biết tin? Họ sẽ khóc như thế nào nhỉ? Lời cầu nguyện của tôi giờ đã khác: Một năm, một năm, một năm. Hai từ ấy nhịp tiếng như thể một trái tim đang đập trong lồng ngực.

Đó là khoảng thời gian còn lại của mẹ tôi.

“Mẹ đang nghĩ gì thế?” Tôi hỏi bà. Một bài hát vang lên trên loa. Bài hát không lời, nhưng mẹ biết chúng. Và thay vì trả lời tôi, bà khẽ ngân nga theo điệu nhạc. “Paper roses, paper roses, oh how real those roses seemed to be.”[1] (Những bông hồng giấy, những bông hồng giấy. Ôi! Chúng mới giống thật làm sao.) Bà đặt bàn tay lên tay tôi và nói: “Hồi còn trẻ mẹ vẫn nghe bài hát này. Giờ nghe lại thấy thật hay. Mẹ không biết là lại hay thế đâu.”

Rồi họ gọi tên mẹ: đơn thuốc cho bà đã sẵn sàng.

“Đến lấy giúp mẹ đi,” bà nói, “nói với họ con là ai. Nói rằng con là con mẹ.”

Tôi là con của mẹ, nhưng còn hơn thế nữa. Tôi là Karen, Cheryl, Lief. Karen Cheryl Leif. KarenCherylLief. Tên của chúng tôi đã hòa vào làm một trong lời mẹ suốt cuộc đời tôi. Bà thầm thì và kêu la, huýt gọi và ngân nga ba từ ấy. Chúng tôi là con mẹ, là bạn mẹ, là khởi đầu và kết thúc của mẹ. Chúng tôi đã thay phiên nhau ngồi ghế trước trên ô tô cùng mẹ. “Mẹ yêu các con ngần này nhỉ?” Bà hỏi chúng tôi, giữ đôi tay cách nhau chừng 15 cm. “Không!” Chúng tôi đáp cùng nụ cười ranh mãnh. “Hay là ngần này?” Bà hỏi lại, và cứ thế, cứ thế, mỗi lần lại dang rộng tay hơn một chút. Nhưng rộng đến chừng nào cũng chẳng thể đủ. Tình yêu mẹ dành cho chúng tôi vượt qua cả vòng tay bà. Chẳng thể nào đo đếm, chẳng thể nào đong chứa. Nó gồm mười ngàn thứ [2] đã được đặt tên trong thế giới của Lão Tử và cả mười ngàn thứ nữa. Tình yêu của mẹ vẹn tròn, chan chứa và chẳng hề màu mè, lan tỏa qua vẻ bề ngoài nội tâm của bà.

Bà là con gái một quân nhân và theo đạo Thiên Chúa. Bà từng sống ở năm bang và hai nước trước khi bước sang tuổi 15. Bà yêu những chú ngựa, nhạc Hank Williams và có một người bạn thân tên Babs. 19 tuổi có bầu, mẹ cưới bố tôi. Ba ngày sau, ông đuổi đánh mẹ quanh phòng. Mẹ bỏ đi rồi quay về. Bỏ đi rồi lại quay về. Dù chẳng muốn, bà vẫn gắng cam chịu. Ông đấm vỡ mũi mẹ, đập tan bát đĩa. Ông túm tóc, lôi mẹ xềnh xệch trên vỉa hè giữa ban ngày ban mặt, khiến đầu gối bà tứa máu. Nhưng ông chẳng khuất phục nổi bà. 28 tuổi, cuối cùng bà cũng rời bỏ ông.

Bà đơn độc, với KarenCherylLief ngồi ghế trước trong chiếc ô tô của mình.

Sau đó, chúng tôi đến sống ở một thị trấn nhỏ cách Minneapolis chừng một tiếng chạy xe, trong chuỗi căn hộ nghe tên thì có vẻ cao cấp lắm: Mill Pond và Barbary Knoll, Tree Loft và Lake Grace Manor. Mẹ tôi làm hết việc này đến việc khác. Phục vụ bàn tại Norseman rồi Infinity, nơi đồng phục là áo thun đen với dòng chữ GO FOR IT (Liều thử đi!) lấp lánh màu cầu vồng trước ngực. Bà làm ca ngày trong một nhà máy sản xuất dụng cụ bằng nhựa dùng để chứa chất ăn mòn mạnh và mang những sản phẩm lỗi về nhà. Chúng tôi sẽ dùng những cái khay và hộp bị lỗi, vỡ hay sứt mẻ ấy làm đồ chơi, giường ngủ cho búp bê hay đường dốc cho ô tô mô hình. Mẹ liên tục phải làm việc, làm việc rồi làm việc, mà chúng tôi vẫn cứ nghèo. Chúng tôi được nhận phô mai và sữa bột từ chính phủ, tem phiếu thực phẩm, thẻ hỗ trợ y tế cùng những món quà miễn phí từ người thiện nguyện vào dịp Giáng sinh. Chúng tôi chơi đuổi bắt, trò đèn xanh đèn đỏ, đố chữ bên các hòm thư của khu nhà, và đợi chờ những tấm séc được gửi tới.

“Chúng ta không nghèo,” mẹ luôn nói đi nói lại như vậy, “bởi chúng ta giàu yêu thương.” Bà sẽ pha màu thực phẩm vào nước đường và giả vờ rằng chúng là những thứ đồ uống đặc biệt. Xá xị, cam ép hoặc nước chanh. Mẹ sẽ hỏi: Quý bà có muốn uống thứ gì khác không ạ? bằng chất giọng Anh quốc kiêu kỳ lần nào cũng khiến chúng tôi cười nghiêng ngả. Mẹ sẽ mở rộng dần vòng tay, hỏi rằng mẹ yêu chúng tôi nhiều đến chừng nào, và sẽ chẳng thể có giới hạn cho trò chơi ấy. Mẹ yêu chúng tôi hơn mọi thứ có thể gọi tên trên thế gian này. Mẹ luôn lạc quan và hiền hòa, chỉ trừ một vài lần bà mất bình tĩnh và tét chúng tôi bằng thìa gỗ mà thôi. Hay một lần mẹ hét lên KHỐN KIẾP và sụp xuống khóc vì chúng tôi không chịu dọn dẹp phòng. Mẹ rất tốt bụng, vị tha, hào phóng và chất phác. Mẹ hẹn hò với Killer, Doobie, Dan Mô Tô và một người tên Victor thích trượt tuyết đường dốc. Họ thường cho chúng tôi mấy đồng năm đô đi mua kẹo để có thể ở riêng với mẹ trong căn hộ.

“Để ý cả hai bên đường nhé!” Mẹ sẽ gọi với theo như vậy khi chúng tôi chạy ào đi như đàn cún đói khát.

Khi gặp dượng Eddie, mẹ đã nghĩ sẽ chẳng thành đôi vì ông kém bà đến tám tuổi. Dẫu vậy, họ vẫn yêu nhau. Karen, Lief và tôi cũng yêu quý ông. Khi ấy ông mới 25 tuổi, và hai năm sau, ông kết hôn cùng mẹ, hứa sẽ trở thành cha chúng tôi. Dượng Eddie là người thợ mộc có thể làm ra hoặc sửa bất cứ thứ gì. Chúng tôi rời những căn hộ có tên mỹ miều kia, chuyển đến ở cùng ông trong một nông trại cho thuê xiêu vẹo với tầng hầm bẩn thỉu và tường ngoài sơn tới bốn thứ màu. Mùa đông ngay sau đám cưới của hai người, dượng Eddie ngã từ trên mái nhà xuống khi đang làm việc và bị gãy sống lưng. Một năm sau đó, ông và mẹ dùng 12.000 đô-la tiền bồi thường của ông để mua 16 ha đất tại Aitkin County, cách Duluth 1 tiếng rưỡi lái xe về phía tây, trả hoàn toàn bằng tiền mặt.

Ở đó không có nhà. Chưa ai từng dựng nhà trên mảnh đất ấy. 16 ha đất của chúng tôi toàn cây cối, bụi rậm, cỏ dại, ao chuôm lầy lội ngập cỏ nến. Chẳng có gì để phân biệt với cả vài kilômét cây cối, bụi rậm, cỏ dại, ao chuôm bao quanh. Trong những tháng đầu, chúng tôi cùng nhau dạo bước quanh khu đất như những người địa chủ, len lỏi qua khoảnh hoang vu ở hai phía không giáp với đường cái, như thể làm vậy sẽ tạo ra lãnh thổ riêng của mình. Và, dần dần, điều đó đã trở thành hiện thực. Những cái cây từng bình thường như bao cây khác, giờ giống như khuôn mặt người bạn cũ giữa đám đông, cành lá đung đưa, vẫy gọi như cũng có tâm hồn. Những bụi cỏ, rìa đầm giờ đã thân thuộc, thành điểm mốc hay chỉ dẫn mà chẳng ai ngoài chúng tôi hiểu nổi.

Chúng tôi gọi nơi đó là “ngược lên bắc” khi còn sống ở thị trấn cách Minneapolis một tiếng chạy xe. Trong sáu tháng đầu, chúng tôi chỉ ngược lên bắc vào cuối tuần, hăng hái khai quang một khoảng đất và dựng căn lều một phòng bằng giấy dầu cho năm người ngủ. Đầu tháng sáu, khi tôi 13 tuổi, chúng tôi chuyển hẳn tới đó. Hay đúng hơn chỉ có mẹ, Leif, Karen và tôi, cùng hai con ngựa, lũ mèo và lũ chó với một chiếc hộp 10 chú gà con mẹ được tặng kèm khi mua hơn 11 cân thức ăn cho gà ở cửa hàng. Còn Eddie tiếp tục lái xe lên vào các ngày cuối tuần mùa hè đó, rồi ở lại thị trấn suốt mùa thu. Lưng ông cuối cùng đã hồi phục, nên có thể tiếp tục làm việc. Ông lại làm thợ mộc trong mùa cao điểm, tận dụng thời điểm thu nhập có thể rất khá.

Vậy là lại chỉ còn KarenCherylLief sống cùng mẹ như những tháng năm mẹ vẫn đơn thân. Mùa hè đó, dù ngủ hay thức, chúng tôi gần như thấy nhau mọi lúc, và hiếm khi thấy ai đó khác. Có hai thị trấn nhỏ cách nơi chúng tôi sống chừng 30 cây số: Moose Lake ở phía đông và McGregor ở phía tây bắc. Vào mùa thu, chị em tôi tới học ở McGregor, thị trấn nhỏ hơn với 400 dân. Nhưng suốt mùa hè đằng đẵng, ngoài vài chuyến thăm nom thưa thớt của những người hàng xóm xa xôi ghé lại để chào hỏi, chỉ có chúng tôi và mẹ. Chúng tôi tranh luận, trò chuyện, trêu đùa tiêu khiển qua ngày.

Tôi là ai? Chúng tôi lặp đi lặp lại câu hỏi đó trong trò chơi mà một người sẽ nghĩ về ai đó, nổi tiếng hoặc không, để những người kia đoán tên bằng vô số câu hỏi đúng-sai: Đàn ông phải không? Người Mỹ phải không? Chết rồi phải không? Có phải là Charles Manson không?

Chúng tôi chơi trò đó khi gieo trồng và chăm sóc khu vườn giúp chúng tôi trụ qua mùa đông giá rét trên mảnh đất đã bị bỏ mặc cả nghìn năm này, khi dựng một ngôi nhà mới ở phía bên kia điền trang với hy vọng sẽ hoàn thiện khi mùa hè kết thúc. Chúng tôi bị muỗi đốt chi chít khi làm việc, nhưng mẹ lại cấm dùng DEET hay bất cứ chất hóa học nào phá hủy não, gây ô nhiễm môi trường, ảnh-hưởng-đến-thế-hệ sau tương tự DEET. Thay vào đó, mẹ dạy chúng tôi dùng tinh dầu bạc hà để đuổi muỗi. Tối tối, chúng tôi sẽ chơi trò đếm số vết muỗi cắn trên người dưới ánh nến. Sẽ là 79, 86 hay 103 gì đó.

“Một ngày nào đó, các con sẽ cảm ơn mẹ vì điều này.” Mẹ luôn nói vậy mỗi khi chúng tôi phàn nàn vì thiếu thốn đủ thứ so với trước đây. Trước kia chúng tôi chưa từng được sống trong xa hoa nhung lụa, thậm chí không bằng nổi tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn có cuộc sống thoải mái giữa đời sống hiện đại. Trong nhà cũ luôn có ti vi, chưa kể tới bồn cầu tự hoại và vòi nước sạch. Trong cuộc sống mới mẻ của những “kẻ tiên phong” như chúng tôi, nhu cầu đơn giản nhất cũng đòi hỏi một chuỗi nhọc nhằn những nỗ lực, thời gian và công sức. Bếp của chúng tôi chỉ có một bếp du lịch Coleman; một bếp lò; một tủ ướp lạnh cổ lỗ do dượng Eddie tự chế mà phải cho đá vào thì mới giữ được đồ ở mức hơi mát; một bồn rửa bát trơ trọi chống dựa lên bức tường ngoài lều và một thùng nước có nắp đậy. Thứ nào cũng đòi hỏi chỉ kém hơn chút xíu so với lợi ích chúng mang lại. Chúng cần được giữ gìn và bảo quản, lấp đầy vào rồi bỏ bớt ra, kéo lên rồi thả xuống, múc đầy rồi xả ra, hay mồi lửa rồi trông chừng.

Karen và tôi nằm cùng một giường trên căn gác xép, sát mái đến độ chỉ vừa đủ để chúng tôi ngồi thẳng. Leif ngủ cách đó chừng một mét, trên một cái bục nhỏ hơn. Còn mẹ ngủ trên chiếc giường kê dưới sàn nhà, cuối tuần thì có thêm dượng Eddie. Hằng đêm, chúng tôi buôn đủ chuyện rồi ngủ, kiểu như tiệc ngủ vậy. Trên mái nhà có một cửa sổ chạy dọc giường của tôi và Karen, với ô cửa kính trong suốt ngay sát mặt. Hằng đêm, bầu trời tối và những vì sao lấp lánh bầu bạn cùng tôi. Đôi khi, vẻ đẹp và sự trang trọng ấy hiển hiện quá rõ ràng khiến tôi hiểu thấu rằng mẹ đã đúng. Một ngày nào đó, tôi sẽ biết ơn và thực sự tôi đang vô cùng biết ơn, rằng có điều gì đó đang lớn lên trong tôi, mạnh mẽ và rất thật.

Chính điều đang lớn lên ấy là thứ tôi nhớ lại khi thả trôi cuộc đời trong nỗi muộn phiền vài năm sau đó. Chính nó khiến tôi tin tưởng rằng đường mòn Pacific Crest sẽ đưa tôi trở về với chính tôi ngày trước.

Vào đêm Halloween, chúng tôi chuyển vào ngôi nhà tự dựng từ cây cối và gỗ vụn. Nhà không có điện hay nước, không điện thoại hay nhà vệ sinh khép kín, thậm chí chẳng có lấy một căn phòng riêng có cửa. Trong suốt thời niên thiếu của tôi, mẹ và dượng Eddie vẫn tiếp tục dựng nhà, sang sửa và dần dần hoàn thiện nó. Mẹ gieo trồng một mảnh vườn, đóng hộp, muối chua và ướp lạnh rau củ vào mùa thu. Bà chích mủ cây và làm siro lá phong, nướng bánh mì và xe sợi len, tự làm thuốc nhuộm vải từ bồ công anh hoặc lá bông cải xanh.

Tôi lớn lên và rời xa tổ ấm để tới trường Đại học St.Thomas ở Twin Cities, nhưng không phải rời xa mẹ. Thông báo nhập học có nói phụ huynh được tham dự miễn phí các lớp học trong trường. Mẹ tôi luôn muốn lấy bằng đại học, nhiều như việc mẹ yêu thích cuộc sống của kẻ tiên phong thời hiện đại vậy. Chúng tôi cùng cười vang vì điều đó, rồi theo đuổi những suy nghĩ riêng. Khi thảo luận, mẹ nói mình đã 40, quá lớn tuổi để học đại học, và tôi chẳng thể phủ nhận điều này. Thêm vào đó, trường St. Thomas cách nhà đến ba tiếng lái xe. Chúng tôi bàn luận rất nhiều lần rồi cuối cùng thống nhất: Mẹ sẽ đến St. Thomas, nhưng chúng tôi có cuộc sống riêng, do tôi quyết định. Tôi sống trong ký túc, còn mẹ đi đi về về. Nếu chúng tôi chạm mặt nhau ở trường, mẹ sẽ vờ như không biết tôi, trừ khi tôi có ý nhận ra bà trước.

“Chẳng để làm gì đâu mà.” Mẹ nói khi chúng tôi lên kế hoạch. “Kiểu gì mẹ cũng sẽ bị đuổi học thôi.” Để chuẩn bị, mẹ theo sát tôi trong suốt những tháng cuối cùng của năm cuối trung học, hoàn thành tất cả đống bài tập mà tôi phải làm, rèn luyện các kỹ năng của mình. Mẹ làm lại các bài tập của tôi, viết các bài luận như tôi, và đọc từng cuốn sách một. Tôi chấm điểm cho mẹ, dựa trên các lời phê của giảng viên trên lớp. Tôi đã đánh giá bà không phải là học viên giỏi.

Rồi mẹ đến trường đại học và trở thành một sinh viên ưu tú.

Đôi khi, tôi hồ hởi ôm mẹ khi gặp bà trong khuôn viên trường. Những lúc khác, tôi lại lướt qua mẹ như thể không quen biết.

Khi phát hiện ra mẹ bị ung thư, cả hai chúng tôi đều đã là sinh viên năm cuối và không còn học ở trường St. Thomas nữa. Sau năm nhất, chúng tôi chuyển đến Đại học Minnesota – mẹ tới khu Duluth, còn tôi tới khu Minneapolis – và thật thú vị khi chúng tôi cùng học ngành Phụ nữ học. Ngoài ra, mẹ học thêm ngành Lịch sử còn tôi học Ngôn ngữ Anh. Hằng đêm, chúng tôi trò chuyện một tiếng qua điện thoại. Lúc đó, tôi kết hôn với một người đàn ông tốt bụng tên Paul. Đám cưới được tổ chức trong khu rừng trên mảnh đất của chúng tôi. Tôi mặc chiếc váy trắng xa tanh viền đăng ten tự tay mẹ may.

Sau khi mẹ mắc bệnh, tôi gạt cuộc sống của mình sang một bên. Tôi nói Paul đừng trông chờ ở tôi. Tôi sẽ phải đi lại phụ thuộc vào những nhu cầu của mẹ. Tôi muốn nghỉ học, nhưng mẹ không cho phép, mẹ tha thiết khẩn nài tôi, dù có chuyện gì xảy ra cũng phải lấy bằng đại học. Còn mẹ thì nghỉ giải lao, theo cách gọi của bà. Mẹ chỉ còn hai môn nữa là có thể lấy bằng, và bà đã nói với tôi rằng bà sẽ lấy bằng được. Dù có chết bà cũng sẽ lấy bằng cử nhân. Chúng tôi cười phá lên rồi buồn bã nhìn nhau. Mẹ sẽ làm bài tập trên giường bệnh. Mẹ sẽ đọc để tôi gõ lại. Mẹ chắc chắn rằng mình vẫn đủ sức tham gia hai lớp học cuối cùng. Tôi vẫn đi học, nhưng cố xin các giảng viên để chỉ phải đến trường hai ngày mỗi tuần. Hai ngày ấy vừa kết thúc, tôi phóng ngay về nhà với mẹ. Lief và Karen hiếm khi chịu ở bên mẹ từ khi bà mắc bệnh, còn tôi lại chẳng thể chịu đựng nổi việc cách xa bà. Hơn nữa, mẹ cần tôi. Dượng Eddie vẫn ở bên mẹ những lúc có thể, nhưng ông còn công việc. Phải có ai đó thanh toán những hóa đơn.

Mẹ gắng ăn những món tôi nấu nhưng hầu như chẳng nuốt nổi chút nào. Mẹ thường nghĩ rằng mình đã đói, sau đó lặng lẽ ngồi xuống như một tù nhân và nhìn chằm chằm vào đĩa đồ ăn. “Nhìn ngon thật đấy.” Mẹ nói. “Chắc lát nữa mẹ ăn vậy.”

Tôi cọ rửa sàn nhà, cất dọn mọi thứ trong các tủ búp-phê và trải giấy xuống. Mẹ ngủ và rên rỉ, đếm mấy viên thuốc rồi uống chúng. Những ngày khá hơn, mẹ có thể ngồi trên ghế và nói chuyện với tôi.

Chẳng còn gì nhiều để nói. Mẹ đơn giản và giàu tình cảm, tôi lại quá tò mò nên chúng tôi đã kể cho nhau gần như mọi thứ. Tôi biết tình yêu bà dành cho tôi rộng lớn hơn mười ngàn thứ, và cả mười ngàn thứ hơn thế nữa. Tôi biết tên những chú ngựa mẹ yêu quý hồi còn con gái: Pal, Buddy và Bacchus. Tôi biết mẹ đánh mất sự trinh trắng ở tuổi 17 với một chàng trai tên Mike. Tôi biết một năm sau mẹ đã gặp bố ra sao, ấn tượng của bà về ông trong những lần hẹn hò đầu tiên thế nào. Rồi cả khi mẹ, một thiếu nữ chớm đôi mươi, chưa chồng và có thai, thú nhận với ông bà, khiến ông ngoại đánh rơi cả chiếc thìa trên tay. Tôi biết mẹ ghét phải thú nhận và ghét chính những điều thú nhận ấy. Rằng mẹ đã nói hỗn với bà ngoại; văng tục khi phải dọn bàn trong khi cô em gái nhỏ bé thì được chơi. Rằng mẹ đã mặc váy khi ra khỏi nhà để tới trường, rồi lại thay quần jeans giấu trong túi xách. Suốt thời niên thiếu, tôi hỏi đi hỏi lại mẹ về những chuyện đó; rằng ai là người nói điều này điều kia, nói như thế nào; lúc ấy mẹ cảm thấy ra sao; rằng chuyện xảy ra ở đâu, khi nào. Và rồi mẹ sẽ kể tôi nghe, đôi khi thích thú, đôi khi miễn cưỡng, cười vang và hỏi tôi rằng tôi muốn biết để làm gì cơ chứ. Chỉ là tôi muốn biết thôi. Tôi cũng chẳng giải thích nổi.

Nhưng giờ, khi mẹ sắp qua đời thì tôi đã rõ. Mẹ thực sự là một phần trong tôi. Người mẹ mà tôi biết và cả người mẹ trước khi tôi chào đời.

Quãng thời gian đi lại giữa Minneapolis về nhà không kéo dài. Chỉ hơn một tháng. Niềm tin rằng mẹ có thể sống thêm một năm nhanh chóng tan thành giấc mộng buồn. Chúng tôi phải chuyển tới bệnh viện Mayo vào ngày 12 tháng 2. Và vào ngày mồng 3 tháng 3, mẹ phải chuyển lên bệnh viện ở Duluth cách đó hơn 100 km, vì mẹ thấy đau nhiều hơn. Khi mặc đồ để đi, mẹ chẳng thể tự xỏ tất nữa, bà gọi tôi vào phòng và nhờ tôi giúp. Tôi ngồi lên giường, quỳ xuống bên bà. Tôi chưa từng đi tất cho ai, và thấy khó hơn tôi nghĩ rất nhiều. Đôi tất chẳng chịu trượt vào chân bà, chúng cứ xoắn lại. Tôi nổi cáu với mẹ, cứ như thể bà cố tình để chân như vậy khiến tôi không làm được. Mẹ ngồi lùi về sau, dựa vào đôi tay đặt trên giường, hai mắt nhắm lại. Tôi có thể nghe rõ nhịp thở của bà, sâu và chậm rãi.

“Khỉ thật!” Tôi nói. “Giúp con đi.”

Mẹ nhìn xuống tôi, cứ thế một lúc lâu chẳng nói lời nào.

“Con yêu.” Cuối cùng mẹ cất tiếng, nhìn sâu vào mắt tôi, và với tay vuốt ve đầu tôi. Mẹ đã gọi như thế suốt thời thơ ấu của tôi, với một âm điệu rất riêng. Tôi không thích cách gọi chỉ có hai từ con yêu như thế, nhưng vẫn là vậy. Đó là điều tôi bực nhất ở bà: dễ dàng chấp nhận nỗi đau, luôn vui vẻ và lạc quan đến bất tận.

“Mình đi thôi mẹ.” Tôi nói sau khi chật vật xỏ được giày cho bà.

Mẹ khoác áo choàng, cử động chậm chạp và nặng nề. Mẹ phải vịn vào tường để đi. Hai chú cún mẹ yêu quý chạy theo sau, dụi mũi vào tay và đùi bà. Tôi nhìn cách mẹ xoa xoa đầu chúng, chẳng thể nguyện cầu điều gì thêm nữa. Mấy từ chết tiệt cứ như hai viên thuốc khô khốc trong miệng tôi.

“Tạm biệt, cún cưng.” Mẹ nói với bọn cún. “Tạm biệt, nhà yêu.” Mẹ nói khi theo tôi bước chân ra khỏi ngôi nhà.

Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày mẹ chết. Cho đến tận khi bà hấp hối, suy nghĩ đó chưa từng xuất hiện. Mẹ như thần bảo hộ cho cuộc đời tôi, luôn kiên cường và không gì có thể quật ngã nổi. Mẹ sẽ chỉ già đi và vẫn làm lụng trên mảnh vườn ấy. Hình ảnh đó đã khắc ghi trong tâm trí tôi, cũng giống như những ký ức tuổi thơ của mẹ mà tôi đã đòi bà kể lại cặn kẽ đến nỗi chúng trở thành ký ức của chính tôi vậy. Bà sẽ già đi và đẹp lão như Georgia O’Keeffe trong bức ảnh đen trắng tôi đã từng gửi cho bà. Tôi vẫn bám chặt vào hình ảnh đó trong hai tuần đầu tiên sau khi rời bệnh viện Mayo. Và rồi, khi mẹ phải nhập viện điều trị ở Duluth, hình ảnh đó tan biến, nhường chỗ cho những hình ảnh khác, bình dị và thực tế hơn. Tôi vẽ trong đầu hình dung về mẹ vào tháng mười; rồi mẹ của tháng tám, mẹ vào tháng năm. Mỗi ngày trôi qua lại mất thêm một tháng.

Vào ngày đầu tiên mẹ nằm viện, cô y tá khuyên bà tiêm một mũi morphine nhưng bà từ chối. Mẹ nói: “Morphine là cho người sắp chết, morphine đồng nghĩa với không còn hy vọng.”

Nhưng mẹ chỉ cưỡng lại được morphine trong một ngày mà thôi. Mẹ ngủ rồi thức, nói và cười. Mẹ khóc vì đau đớn. Tôi trông mẹ ban ngày và dượng Eddie ở bên mẹ vào buổi tối. Leif và Karen thì chẳng thấy đâu, viện những lý do mà tôi không thể hiểu nổi và khiến tôi tức điên, dẫu rằng dường như điều đó chẳng hề làm mẹ phiền lòng. Bà chỉ bận tâm đến việc xua tan cơn đau – một việc bất khả thi trong khoảng thời gian giữa những mũi morphine. Những cái gối chẳng bao giờ ở đúng vị trí. Rồi chiều nọ, một vị bác sĩ tôi chưa từng gặp bước vào phòng và giải thích rằng mẹ tôi đang trong những ngày cuối.

“Nhưng mới chỉ có một tháng mà!” Tôi phẫn nộ kêu lên. “Bác sĩ kia bảo với chúng tôi là một năm cơ mà.”

Anh ta không đáp. Anh ta còn trẻ, có lẽ chỉ chừng 30. Anh ta đứng cạnh giường mẹ, bàn tay thanh nhã nhét trong túi áo, nhìn xuống bà và nói: “Từ giờ, điều quan tâm duy nhất của chúng ta là giúp bà cảm thấy thoải mái.”

Phải rồi, thoải mái. Thế nhưng các y tá lại cố tiêm cho bà ít morphine nhất có thể. Một người trong số họ là nam giới, và tôi có thể thấy hình dáng thứ đó qua lớp quần y tá màu trắng bó sát của anh ta. Tôi muốn bất chấp đẩy anh ta vào nhà tắm nhỏ xíu phía sau chân giường mẹ để hiến dâng thân mình, để làm bất cứ điều gì nếu anh ta chịu giúpa chúng tôi. Và tôi cũng muốn tìm chút vui thú nơi anh, cảm nhận sức nặng cơ thể đè lên người mình, miệng anh vờn trên mái tóc, nghe anh ta gọi đi gọi lại tên tôi; bắt anh ta phải biết đến tôi, phải gắn với chuyện này, phải rủ lòng thương cảm.

Tôi chưa từng thấy ai cầu xin thứ gì như cái cách mẹ xin anh ta thêm morphine. Như một con chó dại vậy. Anh ta không nhìn mẹ, mà nhìn chiếc đồng hồ đeo tay; giữ nguyên cùng một vẻ mặt cho các câu trả lời. Đôi khi, anh ta lặng lẽ tiêm cho bà, và đôi khi nói “Không”, giọng mềm mại, nhẹ nhàng nhưng vô cảm. Mẹ khẩn nài, rồi rên rỉ. Mẹ khóc, nước mắt không chảy xuống má rồi hai bên miệng, mà chảy dài từ khóe mắt xuống hai tai, rồi lẫn vào mớ tóc trên giường.

Mẹ không sống được một năm. Mẹ không sống tới tháng mười, tháng tám hay tháng năm. Chỉ vỏn vẹn 49 ngày kể từ khi bác sĩ ở Duluth nói mẹ mắc ung thư; 34 ngày từ khi bác sĩ ở bệnh viện Mayo xác nhận lại điều đó. Nhưng mỗi ngày đều kéo dài như vô tận, ngày này chồng chất lên ngày khác, sự hiển nhiên hiện ra trong mịt mù vô vọng.

Leif không tới thăm bà. Karen đến một lần sau khi tôi ép chị phải đi. Tôi buồn đau, giận dữ trong nỗi hoài nghi. “Chị không muốn thấy mẹ trong tình trạng như vậy.” Karen sẽ yếu ớt đáp vậy khi chúng tôi nói chuyện rồi khóc nức nở. Tôi không thể nói chuyện với Leif, vì tôi và dượng Eddie còn chẳng biết nó ở đâu suốt quãng thời gian ấy. Một người bạn bảo nó đang ở cùng cô bạn gái tên Sue ở St. Cloud. Một người khác thì trông thấy nó câu cá ở hồ Sheriff. Tôi chẳng có thời gian để tìm hiểu cho kỹ vì còn phải ở bên mẹ mỗi ngày, giữ cái khay nhựa để mẹ nôn vào, chỉnh đi chỉnh lại những cái gối; đỡ mẹ dậy và giúp mẹ ngồi lên chiếc bô mà cô y tá để cạnh giường; dỗ bà ăn từng chút để rồi 10 phút sau bà sẽ lại nôn ra hết. Hầu hết thời gian, tôi trông mẹ ngủ – công việc khó khăn hơn tất thảy bởi phải nhìn bà nghỉ ngơi mà nét mặt vẫn nhăn lại vì đau đớn. Mỗi khi mẹ cử động, ống truyền quanh bà đung đưa và tim tôi thì loạn nhịp, lo bà làm chệch những cái kim truyền ở cổ tay và bàn tay sưng vù.

“Mẹ thấy thế nào?” Tôi sẽ thì thầm phấn khởi khi mẹ tỉnh dậy, với tay qua những ống truyền để vuốt mái tóc đã xẹp của mẹ vào nếp.

“Ồ, con yêu” là tất cả những gì mẹ có thể nói. Và rồi, bà lại quay đi.

Tôi lang thang qua các hành lang bệnh viện trong lúc mẹ ngủ, liếc nhanh vào những phòng khác khi đi qua những cánh cửa ngỏ, thoáng thấy những ông lão ho khù khụ và da dẻ chuyển màu tím tái; những người phụ nữ to béo với đầy băng trắng quanh đầu gối.

“Chị thế nào rồi?” Những y tá sẽ hỏi tôi bằng một giọng u buồn.

“Chúng tôi đang cố trụ đây.” Tôi sẽ đáp vậy, như thể tôi là “chúng tôi”.

Nhưng vốn chỉ có tôi mà thôi. Chồng tôi, Paul, làm mọi điều để giúp tôi bớt cô đơn. Anh vẫn là người đàn ông tốt bụng và dịu dàng tôi đem lòng yêu vài năm về trước, yêu mãnh liệt đến mức tôi đã quyết định kết hôn ngay trước tuổi 20 và khiến tất cả bất ngờ. Nhưng khi mẹ bắt đầu yếu dần, có gì đó về anh đã chết trong tôi, dù anh có nói gì hay làm gì chăng nữa. Tôi vẫn gọi cho anh hàng ngày từ bốt điện thoại trong bệnh viện suốt những buổi chiều dài đằng đẵng hoặc buổi tối thì gọi cho anh từ nhà của mẹ và dượng Eddie. Chúng tôi nói chuyện rất lâu, tôi khóc và kể cho anh nghe mọi thứ; anh cũng khóc cùng tôi, cố gắng khiến mọi chuyện ổn hơn dù chỉ chút ít; nhưng những lời anh nói dường như rỗng tuếch. Tôi còn gần như không thể nghe hết nữa. Anh thì biết gì về mất mát chứ? Cha mẹ anh vẫn sống bên nhau hạnh phúc. Cuộc đời bình yên tuyệt vời của anh chỉ khiến nỗi đau trong tôi thêm nhức nhối. Đó không phải lỗi của anh. Tôi chẳng chịu nổi việc ở bên anh; nhưng ở bên ai khác thì cũng vậy thôi. Người duy nhất tôi có thể ở bên cũng là người khiến tôi không thể chịu nổi nhất: mẹ tôi.

Vào các buổi sáng, tôi sẽ ngồi bên giường mẹ, cố đọc sách cho bà nghe. Tôi có hai cuốn: The Awakening (Thức tỉnh) của Kate Chopin và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan) của Eudora Welty. Đó là những cuốn chúng tôi đọc khi còn học đại học, những cuốn sách cả hai đều yêu thích. Tôi bắt đầu đọc, nhưng lại chẳng thể tiếp tục nổi. Từng từ phát ra cứ như tự tan vào không khí.

Khi tôi cầu nguyện cũng vậy. Tôi nhiệt thành và điên cuồng cầu khấn, tới Chúa, tới bất cứ vị thần nào, cả những vị tôi chẳng hề biết đến. Tôi rủa thầm mẹ, người chẳng hề dạy tôi điều gì về tôn giáo. Căm ghét sự áp đặt trong lối dạy dỗ của đạo Thiên Chúa, từ khi trưởng thành bà đã tránh xa nhà thờ, và giờ bà đang chết dần còn tôi thì chẳng có Chúa ở bên. Tôi nguyện cầu vạn vật trên thế gian này, hy vọng rằng Chúa có ở đó và nghe được lời tôi. Tôi cầu nguyện và cầu nguyện, rồi nản chí. Chẳng phải bởi tôi không tìm thấy Chúa mà bởi tôi đột nhiên nhận ra rằng: Chúa ở ngay đây, và chẳng bận tâm làm bất cứ điều gì để giữ lấy cuộc sống của mẹ tôi. Chúa chẳng phải người biến ước ao thành sự thật.

Hai ngày cuối cùng, mẹ tôi không phải vất vả chịu đựng những cơn đau nữa. Họ truyền morphine cho bà từ một túi trong suốt, chất lỏng chầm chậm chảy xuống ống ghim ở cổ tay mẹ. Khi tỉnh lại, bà chỉ nói “Ôi, ôi” hay ủ rũ thở dài. Có lần mẹ nhìn tôi, mắt ánh lên một tia yêu thương. Những lần khác, bà lại chìm vào giấc ngủ như thể không có tôi ở đó. Đôi khi, mẹ thức giấc mà không biết mình đang ở đâu. Mẹ muốn ăn món bánh enchilada và xốt táo. Bà tin rằng mọi con vật bà từng yêu thương đều đang ở trong phòng, và chúng vốn khá đông. Bà nói: “Con ngựa hư suýt giẫm lên mẹ” và nhìn quanh như tìm nó để trách cứ; hai tay bà vuốt ve một con mèo vô hình nằm bên hông. Suốt quãng thời gian đó, tôi muốn mẹ nói rằng tôi là cô con gái tốt nhất trần đời. Tôi không muốn mình mong muốn thế, nhưng vẫn không tránh được, chẳng thể lý giải nổi. Cứ như tôi đang bị sốt, và chỉ có thể giảm sốt bằng mấy từ ấy. Rồi tôi đã không kiềm nổi mà hỏi thẳng mẹ rằng: “Con có phải đứa con gái tốt nhất trần đời không?”

Bà nói có, có chứ, tất nhiên rồi.

Nhưng thế là chưa đủ. Tôi muốn những từ đó đan chặt nhau trong tâm trí mẹ, và khi được nói ra với tôi, nó sẽ hoàn toàn tươi mới.

Tôi khao khát được yêu thương.

Mẹ tôi ra đi nhanh chóng, nhưng không hoàn toàn đột ngột. Giống như một ngọn lửa cháy chậm lại khi lửa lụi thành khói, và rồi khói tan vào hư không. Mẹ còn chẳng có đủ thời gian để trở nên gầy guộc. Khi mất, bà có thay đổi nhưng dáng người vẫn đầy đặn – thân hình của một người phụ nữ vẫn tràn đầy sức sống. Tóc của mẹ vẫn còn; màu nâu, dễ gãy và xơ xác vì nằm trên giường bệnh nhiều tuần liền.

Từ căn phòng nơi mẹ ra đi, tôi có thể thấy hồ Superior rộng lớn bên ngoài cửa sổ. Đây là hồ lớn nhất và lạnh nhất thế giới. Tôi phải áp sát một bên má lên cửa kính mà vẫn chỉ thấy một đoạn hồ kéo dài mãi tới tận chân trời.

“Phòng nhìn ra ngoài đẹp quá!” Mẹ thốt lên, dù bà đã quá yếu để ngồi dậy và ngắm mặt hồ. Và rồi, bà khẽ nói: “Mẹ đã chờ cả đời để được sống trong căn phòng nhìn ra ngoài đẹp thế này.”

Mẹ muốn được ra đi trong tư thế ngồi thẳng, nên tôi lấy mọi chiếc gối có thể với tới làm tựa lưng cho mẹ. Tôi muốn đưa bà ra khỏi bệnh viện, đỡ mẹ dựa lên mình khi bà ra đi trên một cánh đồng cỏ thi. Tôi đắp cho mẹ cái chăn ghép mang từ nhà đi, cái chăn mẹ đã tự khâu từ quần áo cũ của chúng tôi.

“Bỏ thứ này ra!” Mẹ gầm lên giận dữ, đạp chân như đang bơi để hất nó ra.

Tôi nhìn mẹ. Ngoài kia, ánh mặt trời đang tỏa sáng lấp lánh trên vỉa hè và những cánh tuyết trắng lung linh. Hôm nay là ngày Thánh Patrick, các y tá mang cho mẹ tôi một miếng thạch Jell-O màu xanh hình vuông đang rung rung trên chiếc bàn cạnh bà. Đó là ngày trọn vẹn cuối cùng của mẹ. Gần như cả ngày mẹ luôn gắng mở mắt, không ngủ cũng không thức, lúc mê lúc tỉnh.

Tối đó, dù không hề muốn, tôi để mẹ ở lại để ra ngoài. Các y tá, bác sĩ nói với dượng Eddie và tôi rằng: đến lúc rồi. Tôi hiểu điều đó có nghĩa là mẹ sẽ sống thêm được một hai tuần nữa. Tôi tin những người bị ung thư có thể trụ được thời gian dài. Karen và Paul sẽ cùng lái xe tới đây từ Minneapolis vào sáng hôm sau; ông bà ngoại thì mất vài ngày để đi từ Alabama, còn Lief ở chỗ nào đó tôi chẳng biết. Dượng Eddie và tôi gọi cho bạn bè Lief, gia đình của bạn bè nó, để lại những lời nhắn khẩn khoản dặn nó gọi lại, nhưng nó không hề gọi. Tôi quyết định rời bệnh viện một đêm để tìm và mang nó đến đây, lần đầu và cũng là lần cuối.

“Sáng mai con sẽ về.” Tôi nói với mẹ. Dượng Eddie đang nằm nghiêng trên chiếc ghế đi văng nhựa nhỏ xíu, tôi nhìn ông và nói: “Con sẽ về cùng Leif.”

Khi nghe thấy tên em tôi, mẹ mở đôi mắt xanh thẳm rực sáng, hệt như trước đây. Sau tất cả mọi chuyện, đôi mắt ấy vẫn không hề thay đổi.

“Làm sao mẹ có thể không điên lên vì nó nhỉ?” Tôi chua xót hỏi bà, có lẽ đã là lần thứ mười rồi.

Thường bà sẽ nói: “Nó đã không muốn thì mình chẳng làm gì được đâu” hay “Cheryl, nó mới mười tám thôi mà.” Nhưng lần này, bà chỉ nhìn tôi và đáp: “Con yêu.” Hệt như khi tôi cáu lên vì đôi tất của bà. Hệt như khi bà thấy tôi đau khổ vì điều gì đó và bà dùng chính hai từ kia để thuyết phục tôi rằng: Tôi cần chấp nhận mọi việc như vốn có của nó.

“Tất cả chúng con sẽ ở đây vào ngày mai.” Tôi nói. “Rồi tất cả chúng con sẽ ở bên mẹ, mẹ nhé. Sẽ không có ai đi nữa.” Tôi với qua những dây truyền quấn quanh mẹ và vuốt ve bờ vai bà. “Con yêu mẹ.” Tôi nói, cúi xuống hôn lên má mẹ, dẫu bà cự lại. Bà đã đau đớn đến mức không chịu đựng nổi dù chỉ một nụ hôn.

“Yêu...” bà thì thào, yếu đến nỗi không thể nói nốt từ con. “Yêu...” Mẹ nói một lần nữa khi tôi rời khỏi phòng.

Tôi đi thang máy và bước ra con đường vắng vẻ. Tôi bước dọc vỉa hè, lướt qua một quán bar chật cứng người, có thể nhìn vào trong quán qua một chiếc cửa sổ bằng kính lớn. Mọi người đều đội mũ bằng giấy bóng kính xanh lá, mặc áo xanh lá với dây đeo quần màu xanh lá và uống bia cũng xanh lá. Một gã bên trong bắt gặp ánh mắt tôi, chỉ vào tôi với điệu say xỉn, phá lên một điệu cười không thành tiếng.

Tôi lái xe về nhà, cho ngựa và gà ăn, rồi với lấy điện thoại. Lũ chó mừng rỡ liếm tay tôi, còn con mèo thì chui tọt vào lòng. Tôi gọi cho tất cả những người có thể biết em trai tôi ở đâu. Nó đang uống rất nhiều, vài người nói. Vài người khác cũng xác nhận nó đang sống cùng một cô gái ở St. Cloud tên là Sue. Nửa đêm, điện thoại réo vang và tôi nói với nó rằng: Đến lúc rồi.

Tôi đã muốn hét vào mặt nó ngay khi thấy nó bước qua cánh cửa, muốn nổi giận và kết tội nó, nhưng khi thấy Leif, tất cả những gì tôi có thể làm là ôm lấy nó và khóc. Đêm đó, tôi thấy Leif thật già mà cũng thật trẻ. Lần đầu tiên, tôi nhận ra Leif đã trở thành một người đàn ông và thấy cả cậu nhóc nhỏ bé ngày trước trong em nữa. Cậu bé của tôi, tôi đã chăm sóc em với một nửa vai trò người mẹ, để giúp mẹ tôi khi bà bận việc vắng nhà. Tôi và Karen lệch nhau ba tuổi, nhưng chúng tôi lớn lên như thể một cặp sinh đôi vậy, cùng chịu trách nhiệm chăm sóc Leif khi còn nhỏ.

“Em không thể làm được.” Nó lặp đi lặp lại qua làn nước mắt. “Em không thể sống thiếu Mẹ. Em không thể, em không thể.”

“Chúng ta phải làm vậy thôi.” Tôi đáp, dù chính tôi cũng chẳng tin như vậy. Chúng tôi cùng nằm xuống chiếc giường đơn, trò chuyện và khóc đến quá khuya, rồi ngủ thiếp đi bên cạnh nhau.

Vài giờ sau, tôi tỉnh giấc. Trước khi đánh thức Leif, tôi cho ngựa gà chó mèo ăn, xếp chặt mấy túi đồ ăn để dùng khi thức khuya trông mẹ. Chừng tám giờ, chúng tôi lái chiếc xe của mẹ để đến Duluth. Leif phóng thật nhanh trong khi nhóm U2 gào thét album Joshua Tree trên đài. Chúng tôi chăm chú lắng nghe mà chẳng nói lời nào, ánh mặt trời chiếu rọi đám tuyết hai bên đường.

Khi tới phòng mẹ ở bệnh viện, chúng tôi thấy một tấm biển bên ngoài cánh cửa phòng đóng kín chỉ dẫn tới chỗ y tá trước khi vào phòng. Điều này hoàn toàn mới, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là vấn đề thủ tục. Một y tá đến gần khi chúng tôi đang đi ngoài hành lang tới đó. Trước khi tôi kịp mở lời, cô đã nói: “Chúng tôi đang chườm đá lên mắt bà. Bà muốn hiến tặng giác mạc của mình, nên chúng tôi cần giữ đá...”

“Gì cơ?” Tôi lớn tiếng đến nỗi cô ấy nhảy dựng lên.

Không đợi trả lời, tôi lao thẳng vào phòng mẹ, Leif theo ngay phía sau. Khi tôi mở cửa, dượng Eddie bước tới với vòng tay mở rộng, nhưng tôi tránh đi và lao tới bên mẹ. Cánh tay mẹ buông thõng, những cái kim và dây nối màu vàng và đỏ và đen và xanh đều đã bị tháo ra. Mắt mẹ được che lại bởi hai chiếc găng tay phẫu thuật đựng đá bên trong, mấy ngón găng tay căng phồng chĩa ngang mặt bà như muốn trêu ngươi. Khi tôi ôm chầm lấy mẹ, những chiếc găng trượt xuống, nảy trên giường, rồi rớt xuống sàn.

Tôi chỉ còn biết cay đắng gào lên, dúi đầu vào người bà như một con thú. Mẹ đã mất được một giờ rồi. Chân tay bà lạnh ngắt, nhưng bụng bà vẫn tựa như một hòn đảo ấm áp. Tôi áp mặt vào nơi ấm áp ấy và lại gào lên.

Tôi không ngừng mơ về mẹ. Trong những giấc mơ ấy, tôi luôn ở bên mẹ khi bà ra đi. Chính tôi sẽ là người giết chết bà. Cứ như vậy, lặp đi lặp lại. Mỗi lần bà ra lệnh cho tôi làm điều đó, tôi lại quỳ gối và khóc lóc, cầu xin bà đừng bắt tôi, nhưng bà không mủi lòng, và như một cô con gái ngoan, cuối cùng tôi vẫn làm theo. Tôi cột mẹ vào một cái cây trước sân, đổ dầu lên đầu bà, rồi châm lửa. Tôi bắt mẹ chạy xuống con đường bẩn thỉu ngang qua ngôi nhà chúng tôi xây và lái xe tải lèn lên người bà. Một mảnh kim loại sắc nhọn níu lại phần thân dưới của mẹ, tôi kéo lê bà cho đến khi nó rời ra, rồi quay xe và lèn lên người bà lần nữa. Tôi lấy chiếc gậy bóng chày mini và đánh bà đến chết, chậm rãi, khổ sở và buồn bã. Tôi bắt bà nhảy xuống cái hố tôi đã đào, đổ đất đá và rác rưởi lên bà rồi chôn sống. Những giấc mơ ấy không hề kỳ quái. Chúng diễn ra trong ánh sáng bình thường và rõ ràng. Đó là những thước phim tài liệu từ trong tiềm thức, chân thực như thể chính cuộc đời tôi. Xe tải chính là xe tải của tôi, khoảng sân trước nhà cũng vậy, chiếc gậy bóng chày mini thì ở trong buồng cùng mấy cái ô.

Mỗi lần choàng tỉnh, tôi không đang khóc lóc mà đang hét váng lên. Paul ôm chặt đến khi tôi ngừng lại, thấm ướt khăn bằng nước lạnh và chườm lên mặt tôi. Nhưng những chiếc khăn ướt ấy chẳng thể gột được giấc mơ về mẹ.

Đã không thứ gì gột được. Và sẽ chẳng thứ gì gột được. Chẳng thứ gì có thể mang mẹ tôi quay trở lại hay khiến việc bà đã ra đi là bình thường cả. Chẳng gì có thể giúp tôi ở bên cạnh bà lúc bà qua đời. Tôi như tan vỡ, như bị cắt thành nhiều mảnh. Tôi ngã dúi dụi, chẳng thể đứng lên.

Phải mất nhiều năm tôi mới tìm lại được vị trí của mình giữa mười ngàn thứ đó. Để trở thành người phụ nữ mẹ tôi đã nuôi dạy. Để nhớ lại cách mẹ nói Con yêu và ánh nhìn chăm chú quen thuộc của mẹ. Tôi đớn đau, đớn đau mãi không thôi. Tôi muốn thay đổi thật nhiều những điều đã qua. Mong ước ấy như một vùng hoang vu và tôi phải tự tìm đường xuyên qua những cánh rừng bạt ngàn. Mất bốn năm, bảy tháng và ba ngày để làm điều đó. Tôi chẳng biết sẽ đi về đâu cho đến khi đã đặt chân được đến nơi đây.

Đến Cầu của Chúa.

❀ ❀ ❀

[1] Bài hát “Paper roses” Fred Spielman và Janice Torre sáng tác. (ND)

[2] Ý chỉ toàn bộ thế giới hữu hình này. Theo thuyết Lão Tử, trước khi hình thành vạn vật, có một thứ là Vô Tướng-Nhất Thể. Khi Nhất Thể trở thành lưỡng cực, rồi lưỡng cực trở thành tứ tượng,… trở thành “mười nghìn thứ”, thì không gian lúc đó mới hiện hữu. (ND)

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.