Vậy là tôi đi vòng. Đi qua. Bây giờ tôi đã ở ngoài vòng nguy hiểm. Tôi nhảy cóc qua tuyết. Đoạn còn lại của California hẳn sẽ dễ dàng thôi, tôi nghĩ thế. Rồi qua Oregon tới Washington. Đích đến mới của tôi là một cây cầu bắc qua sông Columbia, con sông là biên giới giữa hai bang này. Cầu của Chúa. Còn cách hơn 1.600 cây số nữa; đến lúc này tôi mới chỉ đi được độ 273 cây, nhưng tốc độ đi của tôi đang nhanh dần.
Buổi sáng đó, Greg và tôi đi ra khỏi thành phố Sierra được gần 2,5 km dọc theo vệ đường thì đến điểm giao của nó với PCT, sau đó đi bộ cùng nhau vài phút trên con đường mòn trước khi dừng lại để nói lời tạm biệt.
“Họ gọi nó là nỗi khổ sở của núi.” Tôi nói, chỉ tay về những bụi cây thấp xanh xanh bên mé con đường. “Hoặc ít nhất thì cuốn sách hướng dẫn nói vậy. Hãy hy vọng là họ chỉ nói bóng bẩy thế thôi.”
“Tôi nghĩ là có thể đúng đấy.” Greg nói, và anh đã đúng: con đường mòn lên cao hơn 4.800 m trong gần 13 km phía trước. Tôi đã chuẩn bị cho ngày này, Quái Vật đang nặng ghì xuống với số thức ăn cho một tuần. “Chúc may mắn.” Anh nói, đôi mắt nâu chạm vào mắt tôi.
“Anh cũng may mắn nhé.” Tôi kéo anh lại để ôm thật chặt.
“Đừng bỏ cuộc nhé!” Anh nói khi quay người đi.
“Anh cũng vậy nhé!” Tôi gọi với theo, như thể anh sẽ bỏ cuộc không bằng.
Trong mười phút, bóng anh đã khuất dạng.
Tôi vô cùng hào hứng khi được trở lại con đường, hơn 724 cây số PCT về phía bắc nơi tôi vừa mới ở. Những đỉnh núi tuyết và những vách núi đá hoa cương của High Sierra chẳng còn trong tầm nhìn nữa, nhưng cảm giác của tôi khi đi trên con đường vẫn như thế. Theo nhiều cách nào đó thì thậm chí còn trông vẫn như thế. Giữa tất cả những dãy núi non trùng điệp và những hoang mạc bao la tôi đã thấy, quen thuộc nhất vẫn là lối cỏ mòn rộng 60 phân, nơi mắt tôi không ngừng bám theo để tìm kiếm rễ và cành cây, rắn và đá. Thỉnh thoảng con đường lầy cát, lúc khác lại đầy đá, hoặc lầy bùn hoặc toàn đá cuội hoặc lèn tầng tầng lớp lớp lá thông. Có thể là đen hay nâu hay xám hay vàng hoe như kẹo bơ đường, nhưng lúc nào cũng là PCT. Là nơi chốn thân thuộc.
Tôi đi bộ dưới tán rừng thông, sồi và cây tuyết tùng thơm, rồi đi qua những cây linh sam cao vút khi con đường cứ thế dốc lên theo đường dích-dắc. Cả buổi sáng đầy nắng đó tôi chẳng thấy một ai, nhưng vẫn có thể cảm thấy sự hiện diện vô hình của Greg. Theo từng cây số đường mệt dần, tôi tưởng tượng anh lại bỏ xa tôi thêm một chút, theo cái tốc độ hừng hực quen thuộc của anh. Con đường đi từ cánh rừng rợp bóng sang một sống núi lộ thiên, nơi tôi có thể nhìn thấy một hẻm núi xa hàng cây số dưới chân và những ụ đá ở phía trên đầu. Đến giữa ngày, tôi đi lên được hơn 2.100 m và con đường ngày càng lầy bùn, dù đã không mưa nhiều ngày rồi, và cuối cùng khi tôi vòng lại khúc quanh thì gặp một cánh đồng tuyết. Hay đúng hơn là cái gì đó giống một cánh đồng, nghĩa là vẫn có một điểm tận cùng ở đâu đó. Tôi đứng ở rìa cánh đồng tuyết và tìm kiếm dấu chân Greg, nhưng chẳng thấy gì. Tuyết không thành dốc đứng, mà chỉ tràn phẳng giữa một cánh rừng thưa. Thật may, bởi lẽ tôi không còn cái rìu phá băng nữa. Sáng đó, tôi đã để nó lại ở hộp miễn phí cho người đi bộ PCT tại bưu điện thành phố Sierra khi cùng Greg thong thả rời thị trấn. Tôi không có tiền để gửi nó trở lại cho Lisa, vô cùng tiếc nuối vì đã bỏ ra không ít tiền để mua nó, nhưng tôi cũng không sẵn lòng tha nó theo, tôi đã tin rằng từ đó trở đi chẳng còn phải dùng đến nó nữa.
Tôi thọc mạnh cây gậy trượt tuyết vào trong tuyết, trượt trên bề mặt băng của nó, và bắt đầu bước đi, bước được bước không. Có chỗ tôi trượt trên mặt tuyết; có chỗ thụt xuống tuyết, thỉnh thoảng tạo thành những cái hố đến tận nửa bắp chân. Chẳng mấy chốc, tuyết đã đóng lại trong giày ở chỗ mắt cá chân, phần chân bên dưới bị bỏng tuyết đến nỗi da thịt như bị cắt rời ra bằng một con dao cùn.
Chuyện đó không khiến tôi lo lắng bằng việc tuyết đã che mất dấu con đường mòn khiến tôi chẳng định vị được nên đi phương nào. Đường vẫn nhìn ra được đây mà, tôi trấn an mình như vậy, tay nắm lấy những trang sách hướng dẫn khi dò dẫm bước đi, chốc chốc dừng lại để nghiên cứu từng từ. Sau một giờ đồng hồ, tôi dừng lại, hoảng hốt hoang mang. Mình có đang ở trên PCT không? Suốt thời gian đó, tôi cứ cố gắng kiếm tìm những mảnh kim loại nhỏ hình thoi đánh dấu con đường PCT thỉnh thoảng vẫn gắn trên cây, nhưng chẳng nhìn thấy cái nào cả. Cũng không nhất thiết phải lo âu về chuyện đó. Vì tôi biết rằng những tấm kim loại đánh dấu này không hẳn là đáng tin cậy. Ở một số đoạn đường, cứ vài cây số lại có một cái; nhưng ở một số đoạn khác, đi cả một ngày trời cũng không thấy cái nào.
Tôi lôi tấm bản đồ địa hình của vùng này ra khỏi túi quần. Một đồng xu trong túi rơi ra cùng, lăn tòm xuống tuyết. Tôi cúi xuống nhặt, loạng choạng dưới sức nặng của cái ba lô, nhưng đúng lúc ngón tay tôi sượt qua đồng xu, nó lặn sâu hơn rồi biến mất. Tôi cào lớp tuyết để tìm nó, nhưng nó đã đi mất rồi.
Bây giờ thì tôi chỉ còn có 60 xu.
Tôi nhớ đồng năm xen ở Vegas mà tôi đem chơi bạc và thắng được 60 đô-la. Rồi tôi phá lên cười, cảm giác như thể hai đồng năm xu này có liên quan với nhau vậy, mặc dù tôi không thể giải thích được tại sao cái ý nghĩ dở hơi đó lại nảy ra trong đầu khi ngày hôm đó tôi đứng giữa tuyết trắng mênh mông. Có thể việc mất đồng xu ấy là điềm may, giống như chiếc lông chim đen biểu tượng cho hư không nhưng thực ra vẫn có ý nghĩa tích cực nào đó. Có thể tôi không thực sự lâm vào tình thế mà tôi đang rất vất vả để tránh. Có thể qua khúc cua kia con đường tôi đi sẽ thông suốt.
Lúc này tôi đang run rẩy khắp mình, đứng trong tuyết, mặc quần sooc và áo phông thấm đẫm mồ hôi, nhưng không dám tiếp tục đi cho đến khi tôi xác định được phương hướng. Tôi mở những trang sách hướng dẫn và đọc đoạn các tác giả cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California nói về phần đường này. “Từ sống núi bên đường, bạn gặp một con đường hơi dốc có bụi cây dọc theo”, có thể tôi đã đi qua đoạn này rồi. “Cuối cùng thì con đường đi xuống đến một vùng đất trống bằng phẳng...” Tôi quay chậm một vòng, quét mắt nhìn 360 độ. Đây có phải là vùng đất trống không? Câu trả lời lẽ ra là rất rõ ràng, nhưng không. Chỉ có một điều rõ ràng là tất cả đã bị chôn vùi dưới tuyết.
Tôi với lấy cái la bàn treo ở một cái móc bên hông ba lô gần cái còi to mồm nhất thế giới. Tôi chưa từng dùng nó kể từ sau tuần vất vả đầu tiên đi bộ trên con đường này. Tôi nghiên cứu nó cùng với cái bản đồ, cố gắng ước đoán chuẩn nhất có thể về vị trí mình đang đứng và tiếp tục bước đi, chông chênh trên tuyết, nhích từng phân về phía trước, hết ngã trượt lại bước thụt xuống lớp tuyết, ống quyển và bắp chân mỗi lúc một trầy xước. Một giờ sau, tôi nhìn thấy một tấm kim loại hình thoi ghi là ĐƯỜNG MÒN PACIFIC CREST gắn trên một cái cây phủ đầy tuyết, và tôi nhẹ hết cả người. Tôi vẫn không biết đích xác mình đang ở nơi đâu nhưng ít ra thì tôi biết mình đang ở trên đường mòn PCT.
Chiều muộn, tôi đến một đường sống núi, từ chỗ đó có thể nhìn xuống lòng chảo đầy tuyết sâu phía dưới.
“Greg!” Tôi gọi để thử xem anh có đang ở gần đó hay không. Tôi đã không thấy dấu vết nào của anh trong suốt cả ngày dài, nhưng vẫn cứ mong anh xuất hiện, hy vọng tuyết làm anh đi chậm lại đủ để tôi bắt kịp và chúng tôi có thể cùng nhau lần đường qua chỗ này. Tôi thoáng nghe thấy tiếng hét vọng lại và nhìn thấy ba người trượt tuyết trên một sống núi gần kề bên bờ kia của lòng chảo, đủ gần để nghe thấy tiếng nhưng không thể nào đến được. Họ vẫy tay thật lực với tôi và tôi vẫy lại. Họ ở xa quá, lại nai nịt nguyên bộ đồ trượt tuyết nên tôi không biết họ là nam hay nữ.
“Đây là đâu?” Tôi hét lên qua khoảng không đầy tuyết.
“Gì cơ?” Khó có thể nghe rõ họ hét lại câu gì.
Tôi lặp lại những lời ấy hết lần này đến lần khác – Đây là đâu? Đây là đâu? – cho đến tận khi cổ họng tôi đau rát. Tôi biết mang máng mình đang ở đâu, nhưng tôi muốn nghe họ xác nhận lại, chỉ để cho chắc. Tôi hỏi đi hỏi lại mà câu hỏi chẳng đến được nơi, vậy nên tôi lấy hết sức để hét lên lần cuối, cố quá thành ra suýt nhào mình xuống vách núi: “ĐÂY LÀ ĐÂU?”
Rồi im lặng, có nghĩa là cuối cùng họ cũng nghe ra câu hỏi của tôi, và rồi đồng thanh họ hét lên với tôi rằng: “CALIFORNIA!”
Nhìn cái cách họ ngả nghiêng vào nhau, tôi biết là họ đang cười rũ ra.
“Cảm ơn.” Tôi đáp lại bằng giọng châm biếm, mặc dù giọng tôi đã lạc đi trong gió.
Họ nói cái gì đó lại với tôi mà tôi không thể nghe ra. Họ lặp lại hết lần này đến lần khác, nhưng lần nào nghe cũng lộn xộn cho đến tận khi họ hô to câu ấy thành từng từ từng từ một và tôi nghe thấy.
“BỊ”
“LẠC”
“À?”
Tôi đã nghĩ một thoáng trước khi trả lời. Nếu tôi nói “Đúng”, họ sẽ cứu tôi và tôi sẽ xong chuyện với con đường trời đày này.
“KHÔNG!” Tôi gầm lên. Tôi không bị lạc.
Tôi chỉ đang gặp rắc rối thôi.
Tôi nhìn những cái cây xung quanh, ánh sáng nhạt dần chiếu xiên qua chúng. Chẳng mấy chốc trời sẽ tối và tôi phải tìm một nơi dựng lều. Tôi sẽ dựng lều trong tuyết và thức dậy trong tuyết rồi tiếp tục bước đi trong tuyết. Mặc cho mọi điều tôi đã làm để tránh nó.
Tôi tiếp tục bước đi và cuối cùng tìm thấy một nơi khá ấm, có thể chấp nhận được để dựng lều khi bạn chẳng có lựa chọn nào ngoài việc coi một khoảng tuyết đông cứng dưới một tán cây làm chốn ấm cúng. Khi tôi bò vào trong túi ngủ, đồ đi mưa mặc trùm bên ngoài tất cả chỗ quần áo, tôi lạnh run người nhưng thấy khá yên ổn. Tôi kẹp những chai nước gần bên mình để chúng khỏi bị đóng băng.
Buổi sáng, khắp các vách lều đầy băng do hơi thở của tôi đóng lại trong đêm. Dù đã tỉnh được một lúc nhưng tôi vẫn nằm im, chưa sẵn sàng đối mặt với tuyết, lắng nghe tiếng hót của những loài chim chẳng thể gọi tên. Tôi chỉ biết rằng tôi đã quen với âm thanh của chúng. Khi ngồi dậy, kéo khóa cửa lều ra và nhìn ra ngoài, tôi dõi theo những chú chim chuyền cành, duyên dáng, giản dị và thờ ơ với tôi.
Tôi lấy cái xoong, rót nước và Ngon Hơn Cả Sữa vào đó rồi quấy lên, sau đó thêm vào ít granola và ngồi ăn gần cánh cửa lều để ngỏ, hy vọng rằng tôi vẫn còn đang ở trên PCT. Tôi đứng dậy và rửa cái xoong bằng một vốc tuyết và lướt nhìn xung quanh. Xung quanh tôi toàn đá và cây cối nhô lên khỏi tuyết băng. Tôi vừa thấy lo ngại cho tình trạng của mình vừa sững sờ với vẻ đẹp cô quạnh bát ngát này. Mình nên tiếp tục hay quay trở lại? Tôi băn khoăn vậy, dù đã biết trước câu trả lời. Tôi có thể cảm thấy câu trả lời ấy bám chặt trong lòng mình: Tất nhiên mình sẽ tiếp tục. Tôi đã tốn bao công sức đến đây không phải là để quay trở lại. Quay trở lại thì nghe có vẻ hợp lý. Tôi có thể lần theo những bước chân của chính mình để trở lại thành phố Sierra và bắt một chuyến xe khách đi xa hơn về phía bắc, nơi đó không có tuyết. Như vậy là an toàn. Như vậy là hợp lý. Và có thể đó chính là việc nên làm. Nhưng chẳng đời nào sẽ làm điều đó.
Tôi đã đi bộ cả ngày, ngã, trượt rồi lê bước, nắm cái gậy trượt tuyết chặt đến mức tay phồng rộp lên. Tôi chuyển sang tay kia và rồi nó cũng phồng rộp nốt. Đến mỗi khúc quanh, mỗi sống núi hay mỗi bờ bên này của một đồng cỏ, tôi đều hy vọng sẽ không còn tuyết nữa. Nhưng lúc nào cũng có nhiều tuyết hơn ở giữa lác đác những khoảng trống nơi có thể nhìn thấy mặt đất. Đó có phải là PCT không? Tôi băn khoăn khi nhìn thấy nền đất thực sự. Chẳng thể nói chắc chắn được. Chỉ thời gian mới có câu trả lời.
Mồ hôi cứ thế túa ra khi tôi đi, cả phần lưng tiếp xúc với ba lô bị ướt đẫm, không cần biết nhiệt độ là bao nhiêu hay tôi mặc đồ như thế nào. Khi dừng lại, tôi bắt đầu run rẩy trong nhiều phút, chỗ quần áo ướt ngay lập tức lạnh như đá. Cuối cùng thì các cơ bắp của tôi cũng bắt đầu điều chỉnh để phù hợp với nhiệm vụ của chuyến đi bộ đường dài, nhưng giờ đây có những nhiệm vụ mới đặt lên vai chúng, và không chỉ là việc ráng sức không ngừng để đứng sao cho thẳng. Nếu đất dưới chân tôi là một con dốc, mỗi bước đi tôi phải giậm chân thật lực để lấy thăng bằng, không để cho mình trượt xuống núi rồi đâm sầm vào đá và bụi rậm, cây cối bên dưới, hoặc tệ hơn, văng ra khỏi bờ vực. Thật cẩn trọng, tôi nện chân xuống lớp vỏ băng tuyết, tạo ra từng cái hốc cho từng bước đi. Tôi nhớ hồi ở đồng cỏ Kennedy, Greg đã dạy tôi làm y như thế với cái rìu phá băng. Bây giờ tôi ước ao đến phát ốm lên rằng giá mình có cái rìu ấy trong tay, tưởng tượng nó đang nằm vô dụng trong chiếc hộp miễn phí cho người đi bộ PCT ở thành phố Sierra. Với tất cả những cái nện chân và những lần ráng sức này, bàn chân tôi sưng lên ở những chỗ mới và tất cả những chỗ cũ đã từng bị rộp trong những ngày đầu tiên đi bộ, thịt ở hông và vai vẫn bị chà xát do quai đeo của Quái Vật.
Tôi bước tiếp như một kẻ ăn năn trên con đường thiên lý, chậm chạp đến phát rồ. Tốc độ của tôi trong những ngày bình thường là khoảng hơn ba kilômét một giờ, nhưng đi trong tuyết thì mọi chuyện lại khác: chậm chạp hơn, thấp thỏm hơn. Tôi đã nghĩ sẽ mất sáu ngày để đến được thị trấn Belden, nhưng khi gói ghém túi thức ăn cho sáu ngày tôi đã không hề biết mình sẽ đối mặt với cái gì. Trong những điều kiện như thế này thì sáu ngày rõ là bất khả thi, không chỉ bởi những thách thức về thể lực cần có để di chuyển trong tuyết. Mỗi bước chân lại là một nỗ lực phải tính toán cẩn thận để có thể bám theo con đường mà tôi hy vọng đúng là PCT. Với bản đồ và la bàn trong tay, tôi cố nhớ lại nhiều nhất có thể những gì cuốn Đừng để lạc đã viết, cuốn đó tôi đã đốt nó từ lâu rồi. Nhiều kỹ thuật – kẻ phương giác, bẻ góc và tìm ly giác của hướng – khiến tôi bối rối ngay cả khi vẫn đang cầm cuốn sách trong tay. Bây giờ tôi chẳng còn tự tin nào mà dùng chúng nữa. Tôi chưa bao giờ giỏi tính toán. Đơn giản là tôi không thể nhớ các công thức và các con số trong đầu. Đó là một thứ logic chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Trong nhận thức của tôi, thế giới không phải là một đồ thị hay công thức hay phương trình. Thế giới là một câu chuyện. Vậy nên hầu như là tôi dựa vào những miêu tả trong cuốn sách hướng dẫn, đọc đi đọc lại, khớp chúng với các bản đồ, cố gắng đoán định ý nghĩa và sắc thái của mọi từ ngữ. Giống như tôi chính là nhân vật trong một câu hỏi kiểm tra vậy: Nếu Cheryl leo lên phía bắc dọc một sống núi trong một tiếng với tốc độ 2,4 km/giờ, rồi đi về hướng tây đến một cái đèo yên ngựa mà ở đó cô có thể nhìn thấy hai cái hồ hình chữ nhật ở phía đông, thì cô ấy có đang đứng trên sườn phía nam của Đỉnh 7.503 hay không?
Tôi đoán và đoán lần nữa, ước chừng, đọc, dừng lại, tính toán, và đếm tái đếm hồi rồi cuối cùng đặt niềm tin vào bất cứ thứ gì tôi tin là đúng. May thay, cung đường này có nhiều gợi ý và nhiều điểm đánh dấu là các ngọn núi, vách đá, hồ và ao mà đứng từ con đường có thể nhìn thấy được. Tôi vẫn có cái cảm giác y như lúc ban đầu, khi tôi bắt đầu đi từ điểm khởi đầu ở phía nam của Sierra Nevada – như thể tôi được đẩy lên cao hơn cả thế giới và từ đó nhìn xuống thật nhiều thứ. Tôi qua hết sống núi này đến sống núi khác, nhẹ cả người khi thấy đất trống ở những vạt đất mà mặt trời đã làm tan sạch băng; run lên vì thích thú khi tìm ra một đoạn nước chảy hoặc một hình thù đá đặc biệt khớp với những gì bản đồ minh họa và cuốn sách hướng dẫn miêu tả. Những lúc ấy, tôi cảm thấy mạnh mẽ và bình tĩnh, nhưng rồi chỉ một lát sau, khi tôi dừng lần nữa để rà soát lại, tôi lại tin chắc rằng mình đã quá ngu ngốc khi chọn đi tiếp con đường này. Tôi đi qua những cái cây dường có vẻ quen thuộc đến phát sợ, như thể chắc chắn một tiếng trước tôi đã đi qua chúng. Tôi nhìn theo những vạt núi mênh mông trông chẳng khác mấy so với vạt núi mênh mông mà tôi đã nhìn thấy trước đó. Tôi soi khắp mặt đất để tìm dấu chân, hy vọng tìm thấy dấu hiệu dù là mờ nhạt nhất của một con người, nhưng chẳng thấy gì cả. Chỉ thấy dấu vết của động vật – những đường chạy dích-dắc của thỏ hoặc những vết chân chạy líu ríu hình tam giác mà tôi đoán là của nhím hoặc gấu trúc Mỹ. Không gian lúc thì sống động với âm thanh của gió quật vào cây cối, lúc lại chìm vào thinh không sâu hun hút trong cái tĩnh lặng bất tận của tuyết. Dường như mọi thứ đều hoàn toàn chắc chắn về bản thân chúng, mọi thứ, ngoại trừ tôi. Bầu trời đâu có tự hỏi xem nó đang ở đâu.
“XIN CHÀO!” Thỉnh thoảng tôi lại rống lên, lần nào cũng biết rằng sẽ chẳng có ai trả lời, nhưng dầu sao tôi cũng cần được nghe thấy một giọng nói, cho dù đó chỉ là giọng của chính tôi. Giọng của tôi sẽ bảo vệ tôi chống lại cái khả năng rằng tôi có thể mãi mãi lạc trong hoang dã tuyết băng.
Theo bước chân tôi, những mẩu bài hát vụn vặt lại xô nhau thành một đài phát thanh pha trộn âm thanh trong đầu, thỉnh thoảng xen vào bởi giọng của Paul nói cho tôi biết tôi đã ngu ngốc thế nào khi một mình đi bộ trong tuyết như thế này. Anh sẽ là người làm bất cứ thứ gì phải làm nếu tôi không trở lại. Mặc dù chúng tôi đã ly hôn, anh vẫn là người thân thuộc nhất với tôi, hoặc ít nhất là người đủ chu đáo để lãnh một trách nhiệm như thế. Tôi nhớ anh đã chỉ trích tôi lúc chúng tôi lái xe từ Portland về Minneapolis, cố kéo tôi ra khỏi những cám dỗ của heroin và Joe. “Em có biết là em có thể chết không?” Anh nói với sự ghê tởm, cứ như thể đang nửa ước ao tôi lăn ra chết thật để chứng minh là anh đúng vậy. “Mỗi lần chơi ma túy chẳng khác gì kê súng vào đầu, em có biết không? Mỗi lần kéo cò súng em đâu có biết đạn đang có trong nòng hay không?”
Tôi chẳng biết nói gì để cự nự lại. Anh đúng, mặc dù lúc ấy mọi chuyện chẳng có vẻ gì là sẽ đến mức đó.
Nhưng bám theo con đường tôi đã tự mình vạch ra – con đường mà tôi hy vọng chính là PCT – lại ngược hẳn với việc dùng heroin. Cái cò súng tôi đang kéo trong mỗi bước dấn thân vào tuyết khiến những giác quan trong tôi sống dậy hơn bao giờ hết. Mỗi lần lao mình lên phía trước, tôi chẳng cảm thấy chắc chắn, nhưng cũng vẫn tin rằng mình đúng khi lao đi như thế, như thể chỉ cần nỗ lực thôi cũng đem lại chút ý nghĩa gì đó rồi. Rằng có lẽ ở giữa vẻ đẹp được bảo vệ của chốn hoang dã này thì chính tôi cũng được bảo vệ, không cần biết tôi đã đánh mất cái gì hay bị tước đi cái gì, không cần biết tôi đã làm những điều đáng tiếc gì hay người ta đã làm những điều đáng tiếc với tôi. Giữa tất cả những điều mà tôi hoài nghi, tôi lại chẳng mảy may hoài nghi điều này: vẻ thuần khiết của hoang dã đã bao chứa lấy cả chính tôi.
Vừa u sầu vừa hoan hỉ, tôi đi trong không khí mát mẻ, Mặt trời đang chiếu sáng xuyên qua cây cối, mặt tuyết phản chiếu ánh nắng rực rỡ cho dù tôi đã đeo kính râm. Tuyết vẫn ngập tràn khắp nơi, nhưng tôi vẫn cảm thấy nó đang hư hao dần, đang len lén tan từng phút một quanh tôi. Nó lụi đi ngay khi vẫn còn đó, như cuộc đời của một cái tổ ong vậy. Có những lúc tôi nghe thấy tiếng róc rách như thể một dòng suối đang chảy ngầm bên dưới tuyết. Những lúc khác tuyết lại rơi từ những cành cây trên cao thành hàng đống lớn ướt nhẹp.
Ngày thứ ba rời khỏi thành phố Sierra, khi đang ngồi co ro gần cánh cửa lều để mở và chăm sóc hai cái chân phồng rộp thì tôi chợt nhận ra hôm trước là ngày Quốc Khánh. Tôi có thể tưởng tượng ra rất rõ không chỉ bạn bè tôi mà phần lớn công dân Hoa Kỳ đã làm gì trong khi mình vắng mặt. Điều đó càng khiến tôi cảm thấy xa rời hơn nữa. Thế nào họ chẳng tiệc tùng và diễu hành, thế nào họ chẳng phơi mình cho làn da rám nắng và đốt pháo sáng, trong khi tôi ngồi đây, cô độc trong cái lạnh. Chớp mắt một cái, tôi có thể nhìn thấy chính mình từ trên cao tít này, là một cái đốm trên đám xanh rì và trắng lóa vĩ đại, vô nghĩa với đời chẳng kém gì một con chim vô danh trên cái cây kia. Ở chốn này, hôm nay có thể là ngày Mùng Bốn Tháng Bảy hoặc ngày Mười Tháng Mười Hai. Những ngọn núi không tính ngày tính tháng.
Sáng hôm sau, tôi vượt tuyết hàng giờ liền cho tới khi đến được khoảng đất trống có một cây to bị đổ, thân cây chẳng có tuyết hay cành lá gì. Tôi tháo ba lô ra và trèo lên trên nó, thấy vỏ cây ram ráp. Tôi lôi vài miếng thịt bò khô từ trong ba lô ra rồi ngồi ăn và tu nước ừng ực. Ngay khi đó một vết đỏ xuất hiện phía bên phải: một con cáo đang bước vào khoảng đất, chân đạp trên tuyết êm ru. Nó nhìn thẳng về trước mà không nhìn tôi, như thể, hết sức vô lý là, không thấy tôi ở đó. Khi con cáo đi tới ngay trước chỗ tôi, cách chỉ khoảng ba mét, nó dừng lại và quay đầu hiền từ nhìn về phía tôi, khụt khịt cái mũi, mắt không hẳn nhìn vào mắt tôi. Nhìn nó có phần giống mèo, phần giống chó, nét mặt đanh sắc, cả thân người như căng lên.
Tim đập loạn xạ nhưng tôi vẫn ngồi yên không nhúc nhích, cố lắm để không co chân nhảy ra nấp đằng sau cái cây. Tôi không biết con cáo này sẽ làm gì tiếp. Tôi không nghĩ nó sẽ làm hại mình, nhưng cũng không thể không sợ rằng nó sẽ làm thế. Nó chỉ cao đến đầu gối, nhưng sức mạnh thì chẳng thể bàn cãi được, nó đẹp đến sững sờ, và tôi thấy cái vẻ cao siêu của nó rõ ràng đến từng sợi lông tinh khôi. Nó có thể phi đến chỗ tôi chỉ trong nháy mắt. Đây là thế giới của nó. Nó cũng chắc chắn về mình như bầu trời vậy.
“Cáo.” Tôi thì thầm nhẹ nhàng nhất có thể, như thể bằng cách gọi tên nó tôi có thể vừa bảo vệ mình trước nó vừa kéo nó đến gần hơn. Nó ngẩng cái đầu đỏ có khung xương đẹp đẽ lên, nhưng vẫn đứng thế và nghiên cứu tôi thêm vài giây trước khi đột ngột quay đi, tiếp tục băng qua khoảng đất trống rồi vào trong rừng.
“Quay lại đi.” Tôi gọi khe khẽ, và rồi kêu lên thất thanh: “MẸ! MẸ! MẸ! MẸ!” Tôi đã không biết những từ ấy sẽ buột ra khỏi miệng cho đến tận khi chúng buột ra mất rồi.
Và rồi, đột ngột, tôi câm nín, chết lặng.
Sáng hôm sau, tôi ra được một con đường. Ngày hôm trước, tôi đã băng qua những con đường cho xe chạy, nhỏ hơn, gập ghềnh hơn và bị vùi dưới tuyết, nhưng không có con đường nào rộng rãi và rõ ràng như thế này. Tôi suýt thì quỳ sụp xuống khi nhìn thấy nó. Những ngọn núi phủ tuyết đẹp một vẻ vô song, nhưng con đường này mới là bạn của tôi. Nếu nó là con đường mà tôi nghĩ, thì chỉ đến được đây thôi cũng đã là một chiến thắng rồi. Bởi nó có nghĩa là tôi đã đi theo đường mòn PCT. Cũng có nghĩa là có một thị trấn cách đây vài cây số theo cả hai hướng. Tôi có thể rẽ trái hoặc rẽ phải và cứ đi theo nó, nó sẽ dẫn tôi đến những ngày đầu tháng bảy khác, có ý nghĩa với tôi. Tôi tháo ba lô ra và ngồi lên một ụ tuyết, suy ngẫm xem phải làm gì. Nếu tôi ở đúng chỗ tôi nghĩ, thì tôi đã đi được gần 70 cây số trong bốn ngày kể từ lúc rời khỏi thành phố Sierra, mặc dù tôi có thể đã đi nhiều hơn thế với khả năng sử dụng bản đồ và la bàn hết sức phập phù của mình. Thị trấn Belden còn cách một quãng đường hơn 88 kilômét hầu như toàn bao phủ bởi tuyết nữa. Thật chẳng đáng nghĩ đến chuyện đó nữa. Tôi chỉ còn vài ngày lương thực trong ba lô. Chỗ đó sẽ hết nếu tôi cứ cố gắng đi tiếp. Tôi bắt đầu đi bộ xuôi về con đường theo hướng đến một thị trấn tên là Quincy.
Con đường này giống như vùng hoang dã mà tôi đã đi qua trong bảy ngày vừa rồi, tĩnh mịch và bao phủ tuyết, chỉ có điều lúc này tôi không phải dừng lại vài phút một lần để xem mình đang đi đâu. Tôi chỉ cần đi dọc con đường, vì tuyết đã nhường chỗ cho bùn lầy. Cuốn sách hướng dẫn không nói Quincy còn cách bao xa, chỉ tả nó là “một ngày dài đi đường”. Tôi tăng tốc, hy vọng đến được đó trước khi trời tối, mặc dù tôi sẽ làm gì ở đó khi mà trong túi chỉ còn 60 xu lại là một vấn đề khác.
Tới 11 giờ, tôi vòng qua một khúc quanh và nhìn thấy một chiếc SUV màu xanh lá đỗ bên đường.
“Xin chào.” Tôi gọi, thận trọng hơn những lần hét lên qua khoảng không gian trắng toát cô quạnh. Không có ai trả lời. Tôi tiến đến cái xe SUV và nhìn vào bên trong. Một cái áo ấm có mũ trùm đầu nằm vắt ngang ghế trước và một cốc cà phê giấy trên bệ trước vô lăng, cùng với nhiều đồ lỉnh kỉnh khác gợi nhớ lại cuộc đời trước đây của tôi. Tôi tiếp tục đi bộ xuôi theo con đường khoảng nửa tiếng nữa, cho đến khi nghe thấy tiếng một chiếc ô tô đang tiến tới từ đằng sau và quay đầu lại.
Đó là chiếc xe SUV màu xanh lá. Chẳng mấy chốc, nó dừng lại bên cạnh tôi, một người đàn ông sau vô lăng và một người phụ nữ ngồi ở ghế hành khách.
“Chúng tôi đang đến Nhà nghỉ hồ Packer, cô có muốn đi nhờ không?” Người phụ nữ ấy nói sau khi hạ cửa kính xuống. Tim tôi chùng xuống, mặc dù tôi cảm ơn cô và chui vào ghế sau xe. Tôi đã đọc về Nhà nghỉ hồ Packer trong cuốn sách hướng dẫn mấy ngày trước. Tôi có thể đi một con đường mòn phụ để đến đó chỉ trong một ngày sau khi ra khỏi thành phố Sierra, nhưng tôi đã quyết định bỏ qua nó để chọn bám theo PCT. Khi chúng tôi lái xe đi, tôi có thể cảm thấy hành trình về phía bắc của mình đang tự lộn lại chính nó – tất cả những dặm dài tôi đã cực nhọc lắm mới đi qua được, nay chỉ bay vèo đi trong hơn một tiếng đồng hồ – thế nhưng cảm giác được ở trong chiếc xe hơi đó giống như ở trên thiên đường vậy. Tôi chùi một khoảng cửa sổ mờ sương và nhìn những cái cây đang vun vút bỏ lại bên đường. Chúng tôi đang bò qua những khúc quanh trên đường với tốc độ cao nhất chắc chỉ hơn 30 km/h nhưng tôi cảm giác như thể nó đang lao nhanh với vận tốc không thể đo được, quang cảnh lươn lướt trôi qua chẳng thấy rõ, nó không có tôi mà đứng lặng lẽ bên đường.
Tôi đã nghĩ về con cáo. Tôi băn khoăn liệu nó có trở lại cái cây đổ và rồi băn khoăn về tôi hay không. Tôi nhớ khoảnh khắc sau khi nó biến mất vào trong rừng và tôi đã gọi mẹ. Không gian quá tĩnh lặng trong giây phút vỡ òa của cơn rung động, một kiểu im lặng uy nghiêm dường như ôm trọn tất cả. Khúc ca của những con chim và tiếng cọt kẹt của những cành cây. Tuyết đang tan và nước róc rách dưới mặt băng. Mặt trời le lói sáng. Bầu trời vững chãi. Khẩu súng không có một viên đạn nào trong nòng. Và mẹ. Lúc nào cũng là mẹ. Người sẽ không bao giờ đến với tôi.