CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ CƠ BẢN

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
17 - CHUYỂN SANG CHẾ ĐỘ CƠ BẢN

❊ ❊ ❊

Oregon giống như trò chơi lò cò trong tâm trí tôi vậy. Tôi tưởng tượng mình bước, xoay, nhảy qua nó khắp từ hồ Crater đến Cầu của Chúa. Gần 137 km đến cái hộp tiếp theo của tôi ở một nơi có tên là Shelter Cove Resort. 230 km từ đó đến chỗ cái hộp cuối cùng ở hồ Olallie. Rồi tới đoạn nước rút đến sông Columbia: 170 km tới thị trấn Cascade Locks, giữa đoạn dừng lại để uống gì đó trong tâm trạng ối-giời-ơi-không-tin-được-là-mình-sắp-đến-nơi ở khu nghỉ dưỡng Timberline trên núi Mũ Áo ở điểm giữa của đoạn cuối cùng.

Nhưng vẫn còn phải đi hơn 537 km nữa.

May thay, tôi nhanh chóng hiểu rằng dù chuyện gì có xảy ra trong 537 km kia thì lúc nào cũng có quả tươi dọc đường. Dọc theo hàng dặm đường mòn là việt quất đen và việt quất xanh, phúc bồn tử đen và phúc bồn tử đỏ, tất cả căng mọng mời gọi bàn tay ta nhặt lấy. Tôi lấy tay khua khoắng trong bụi cây, thỉnh thoảng dừng lại để đổ đầy mũ, bước thong dong qua đỉnh Thielsen và vùng hoang dã đỉnh Kim Cương.

Trời lạnh. Trời nóng. Chỗ da thịt vừa như vỏ cây vừa như da gà vặt lông của tôi đã mọc thêm một lớp mới. Chân tôi thôi chảy máu và phồng rộp, nhưng vẫn đau rụng rời. Có vài hôm, tôi chỉ đi được nửa ngày, 11 hoặc 13 km để dịu cơn đau, nhưng cũng chẳng khá hơn mấy. Chân tôi đau thấu. Thỉ thoảng khi bước đi, tôi tưởng như chân mình vỡ vụn, như thể chúng đang nằm trong khuôn bó bột chứ không phải trong giày nữa. Như thể bằng việc đem toàn bộ sức nặng đó đi qua nhiều kilômét đường đến vậy trong vùng đất trời đày này, tôi đã đối xử với đôi chân quá tệ. Thế nhưng tôi lại khỏe mạnh hơn bao giờ hết. Vẫn với cái ba lô to khủng khiếp kia, bây giờ tôi đã có thể xơi tái nhiều dặm đường hơn, mặc dù vào cuối ngày tôi vẫn bầm dập, rã rời.

Con đường PCT đang ngày càng dễ thở hơn, nhưng không có nghĩa nó trở nên dễ dàng.

Có những buổi sáng khoan khoái và những vạt chiều đáng yêu, tôi đi băng băng một mạch hết 16 cây số. Tôi thích được lạc đi trong nhịp điệu bước chân mình và tiếng lích kích của chiếc gậy tuyết đập trên đường; lạc trong sự tĩnh lặng, những bài hát, những câu nói trong đầu. Tôi yêu núi non và đá sỏi, yêu hươu nai và lũ thỏ lao như chớp vào lùm cây, yêu đám côn trùng và ếch nhái lẩn nhanh sang đường. Nhưng luôn luôn có một thời điểm trong ngày khi con đường trở nên đơn điệu và khổ ải, tôi không còn thấy yêu nó nữa, và tâm trí tôi chuyển sang chế độ cơ bản, chỉ có tiến lên và tiến lên. Tôi cứ đi mãi, đi mãi đến khi không thể đi nổi nữa, rồi thực hiện đầy đủ thao tác dựng lều, cố gắng làm nhanh nhất để mau đến khoảnh khắc sung sướng được đổ tấm thân rời rã vào trong lều.

Khi lê được đến Khu nghỉ dưỡng Shelter Cove tôi cảm thấy bải hoải, chán chường, chẳng cảm thấy gì ngoại trừ việc thấy may mắn vì đã đến được đó. Tôi đã nhảy đến một ô trống khác trong trò chơi lò cò khắp Oregon của mình. Khu nghỉ dưỡng Shelter Cove là một cửa hàng nằm giữa nhiều cabin gỉ sét trên bãi cỏ xanh trải rộng dọc hồ lớn Odell được cánh rừng bao bọc. Tôi bước lên thềm rồi vào bên trong cửa hàng. Ở đó có đồ ăn vặt và mồi câu xếp thành một hàng ngắn và một thùng đá lạnh chứa đồ uống. Tôi tìm lấy một chai nước chanh Snapple, một gói bim bim và đi đến quầy.

“Cô đi bộ PCT à?” Người đàn ông đứng sau quầy thanh toán hỏi tôi. Khi tôi gật đầu, ông ra chỉ ra một cái cửa sổ ở hông cửa hiệu. “Bưu điện đóng cửa đến tận sáng mai nhưng cô có thể dựng lều miễn phí ở chỗ của chúng tôi gần đó. Và có chỗ tắm giá một đô-la.”

Tôi chỉ còn lại 10 đô-la – những chỗ dừng chân ở Ashland và vườn quốc gia hồ Crater tốn nhiều tiền hơn tôi tưởng – nhưng tôi biết tôi có 20 đô-la trong cái hộp sẽ lấy vào sáng hôm sau, bởi vậy tôi trả tiền cho nước uống và bim bim, rồi nhờ anh ta trả cho mấy đồng 25 xu để lát trả phí tắm.

Ra ngoài, tôi bật lon nước chanh và xé túi bim bim ăn, đi theo hướng người đàn ông kia vừa chỉ đến nhà tắm bằng gỗ nhỏ, nỗi mong chờ ghê gớm của tôi. Bước vào trong, tôi mừng rơn vì thấy đây là phòng tắm cá nhân. Khóa cửa lại, nó trở thành lãnh địa riêng tây. Nếu được phép, hẳn tôi sẽ ngủ luôn bên trong. Tôi cởi quần áo và nhìn mình trong chiếc gương trầy xước. Không phải chỉ có chân tôi bị đường mòn hủy hoại mà dường như cả tóc tôi cũng thế – xác xơ hơn và dày gấp đôi, còng queo bởi nhiều lớp mồ hôi khô và bụi đường, như thể tôi đang biến nó, chậm mà chắc, thành một thứ giao thoa giữa minh tinh Farrah Fawcett của những ngày huy hoàng và anh lính Gunga Din trong những ngày lụn bại.

Tôi đặt mấy đồng xu vào hộp đựng tiền, bước vào dưới vòi sen, hưởng thụ làn nước nóng và kỳ cọ bằng mẩu xà phòng ai đó để lại cho đến khi nó hoàn toàn bay biến trong tay. Rồi tôi lau khô bằng chính chiếc khăn bandana vẫn dùng để rửa nồi và thìa bằng nước hồ hay nước lạch, rồi mặc lại quần áo bẩn. Tôi nhấc bổng Quái Vật lên, trở lại cửa hàng và thấy khá hơn hàng nghìn lần. Có một băng ghế dài dọc hành lang thênh thang phía trước. Tôi ngồi lên, nhìn ra hồ Odell, lấy tay chải mái tóc ướt. Tôi đang nghĩ đến hồ Olallie, khu nghỉ dưỡng Timberline rồi đến Cascade Locks.

Bỏ qua, nhảy, xoay vòng, xong.

“Cô là Cheryl à?” Một chàng trai từ cửa hiệu bước ra và hỏi tôi. Giây lát sau, hai chàng trai khác bước theo. Nhìn những cái áo phông đẫm mồ hôi, tôi biết ngay họ là dân đi bộ PCT, mặc dù họ không mang ba lô. Họ trẻ trung và đẹp trai, râu quai nón, rám nắng và bẩn thỉu, vừa cơ bắp vừa dong dỏng đến khó tin. Một người cao. Một người tóc vàng. Một người có đôi mắt chăm chú.

Tôi rất mừng là mình đã tắm rồi.

“Đúng rồi!” Tôi nói.

“Chúng tôi đã theo chị một quãng dài.” Người tóc vàng nói, nở nụ cười trên khuôn mặt thanh thanh.

“Chúng tôi biết sẽ bắt kịp chị hôm nay.” Người có đôi mắt chăm chú nói. “Chúng tôi thấy dấu chân cô trên đường.”

“Chúng tôi đã đọc những ghi chép của chị trong cuốn sổ nhật ký đường mòn.” Người cao nói thêm vào.

“Chúng tôi đang cố đoán xem chị bao nhiêu tuổi.” Người tóc vàng nói.

“Các cậu đoán tôi bao nhiêu?” Tôi cười như ngẫn.

“Chúng tôi nghĩ nếu không tầm tuổi chúng tôi thì cũng 50.” Người có đôi mắt chăm chú nói.

“Mong là các cậu không thất vọng.” Tôi nói và tất cả cùng cười đến đỏ cả mặt.

Họ là Rick, Josh và Richie, tất cả đều trẻ hơn tôi ba, bốn tuổi, quê ở Portland, Eugene và New Orleans. Họ học cùng đại học ở vùng Minnesota hẻo lánh, cách Twin Cities một tiếng lái xe.

“Tôi cũng quê ở Minnesota!” Tôi reo lên khi họ kể với tôi, nhưng họ đã biết điều này từ những dòng ghi chép của tôi trên nhật ký.

“Chị chưa có biệt danh đường mòn à?” Một người hỏi.

“Tôi không biết.” Tôi nói.

Họ có biệt danh đường mòn: Ba Chàng Công Tử, những người đi bộ khác ở nam California đã gọi họ thế. Cái tên rất hợp. Họ trẻ và có vẻ công tử bột. Họ đã đi suốt từ biên giới Mexico. Họ không bỏ qua tuyết như mọi người. Họ leo qua nó, xuyên qua nó – không màng đến chuyện đây là năm tuyết rơi kỷ lục – và vì thế, họ đi sau những người đi bộ thẳng từ Mexico đến Canada và gặp tôi vào thời điểm muộn màng này. Họ không gặp Tom, Doug, Greg, Matt, Albert, Brent, Stacy, Trina, Rex, Dam, Helen, John, hay Sarah. Họ thậm chí còn không dừng lại ở Ashland. Họ không nhảy theo bài hát của Dead, nhai thuốc phiện hoặc làm tình với ai đó bên một tảng đá trên bãi biển. Họ lội tuyết, đi 32 km một ngày, dần bắt kịp tôi từ lúc tôi nhảy cóc về phía bắc họ khi đi vòng tới thành phố Sierra. Họ không chỉ là ba chàng công tử. Họ là ba cỗ máy đi bộ trai tráng phi thường.

Được ở bên cạnh họ thật vui như hội.

Chúng tôi đi bộ đến nơi cắm trại mà cửa hàng sắp sẵn, nơi Ba Chàng Công Tử đặt ba lô xuống, chúng tôi cùng nấu bữa tối, trò chuyện và kể cho nhau nghe những chuyện ở trên hoặc bên lề đường mòn. Tôi thích họ vô bờ bến. Chúng tôi thấy hợp nhau ngay lập tức. Họ đáng yêu, dễ thương, hài hước, tử tế, và họ khiến tôi quên đi cảm giác tàn tạ chỉ mới một tiếng trước đây. Để tỏ lòng quý mến họ, tôi làm món rượu cốc tai phúc bồn tử khô đã mang theo hàng tuần và để dành cho một dịp thật đặc biệt. Khi tôi làm xong, chúng tôi ăn bằng bốn cái thìa trong cái xoong của tôi rồi ngủ thành hàng dưới các vì sao.

Buổi sáng, chúng tôi đi lấy hộp tiếp tế và đem trở lại lều, gói ghém ba lô. Tôi mở hộp ra, kéo khóa túi zip đựng thức ăn, lần tìm cái phong bì đựng tờ tiền 20 đô-la. Đến bây giờ, số tiền bên trong ấy đã trở thành niềm vui sướng thân quen, nhưng lần này thì không thấy nó đâu cả. Tôi dốc mọi thứ ra và lần ngón tay dọc theo nếp gấp trong cái hộp để tìm, nhưng không có. Tôi không biết tại sao. Chỉ là không có. Tôi có 6 đô-la và 12 xu.

“Trời ạ!” Tôi nói.

“Gì thế?” Một trong Ba Chàng Công Tử hỏi.

“Không có gì!” Tôi nói. Tôi thấy thật xấu hổ khi túng quẫn triền miên thế này, khi chẳng có lấy một bàn tay vô hình phía sau chìa ra cái thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân hàng nào.

Tôi dồn thức ăn vào cái túi màu xanh cũ kỹ, phát ốm vì biết rằng phải đi 230km mới tới cái hộp tiếp theo mà chỉ có 6 đô-la 12 xu trong túi. Tôi tự nhủ, ít nhất thì mình cũng không cần tiền ở chỗ cắm trại. Mình sẽ đi xuyên qua trung tâm Oregon – vượt đèo Willametter, đèo McKenzie và đèo Santiam, xuyên qua Ba Chị Em, đỉnh Washington và Vùng hoang dã núi Jefferson – và chẳng có nơi nào tiêu mất 6 đô-la 12 xu của mình cả, đúng không?

Tôi sóng bước cùng Ba Chàng Công Tử trong một tiếng, rồi lúc vượt trước lúc rớt lại sau; thỉnh thoảng chúng tôi cùng dừng lại nghỉ giải lao. Tôi kinh ngạc nhìn đồ ăn và cách ăn của họ. Họ như dân mọi rợ ở vùng mới khai hoang, gày như que củi nhưng mỗi lần giải lao 15 phút lại nhét lấy nhét để từng chặp ba thanh Snickers vào miệng. Mấy cái xương sườn lộ rõ khi họ cởi áo ra. Tôi cũng sụt cân, nhưng không nhiều như mấy người này – tôi cũng quan sát thấy sự chênh lệch này ở những người leo núi nam và nữ đã gặp trong mùa hè này – nhưng tôi không quan tâm mình gày hay béo nữa. Tôi chỉ quan tâm về việc có nhiều thức ăn hơn. Tôi cũng mọi rợ, tôi đói ngấu và đói cực độ. Đói đến độ nếu đọc đến cảnh nhân vật trong sách đang ăn thì tôi phải bỏ qua, vì cảm thấy thật khổ sở khi phải đọc về thứ mình muốn mà không thể có.

Chiều đó, tôi tạm biệt Ba Chàng Công Tử. Họ định đi tiếp mấy ki lô mét nữa từ chỗ tôi định dừng lại cắm trại, vì bên cạnh việc là những cái máy đi bộ sung sức, họ còn rất muốn đến được đèo Santiam, nơi họ sẽ rời khỏi con đường mòn một vài ngày để thăm bạn bè và gia đình. Trong khi họ hưởng thụ, tắm rửa và ngủ nghê trên chiếc giường thực sự và ăn những thức ăn mà tôi thậm chí còn không muốn tưởng tượng, tôi sẽ lại vượt lên họ và họ lại một lần nữa đi theo dấu chân tôi.

“Hãy bắt kịp tôi nếu có thể!” Tôi hy vọng họ sẽ làm được và rất buồn vì phải sớm chia tay họ. Tối đó, tôi dựng lều một mình gần hồ, vẫn còn hưng phấn vì được gặp họ, vừa nghĩ lại những chuyện họ kể vừa mát-xa chân sau bữa tối. Một móng chân nữa bị thâm đen và lại sắp bong ra khỏi ngón. Tôi giật mạnh cho đứt hẳn. Rồi ném nó vào cỏ.

Bây giờ con đường PCT và tôi đã hòa nhau. Tỷ số là 5-5.

Tôi ngồi trong lều, chân gác lên túi đồ ăn, đọc cuốn sách lấy từ hộp tiếp tế – The Ten Thousand Things (Mười ngàn thứ) của Maria Dermout – cho đến khi không mở mắt nổi nữa. Tôi tắt cái đèn đeo đầu và nằm trong bóng tối. Lúc lơ mơ chìm vào giấc ngủ, tôi nghe thấy tiếng cú trên cái cây ở ngay trên đầu. Hù hù, hù hù, nó rúc lên một tiếng kêu vừa vang lại vừa êm khiến tôi tỉnh dậy.

“Hù hù.” Tôi kêu đáp lại, và con cú im bặt.

“Hù hù.” Tôi thử lại lần nữa.

“Hù hù.” Nó đáp.

Tôi đi vào Vùng hoang dã Ba Chị Em, tức ba ngọn núi chị em Nam, Bắc và Trung ở biên giới. Mỗi đỉnh núi cao hơn 3.048m, là ngọn cao thứ ba, thứ tư và thứ năm ở Oregon. Chúng như chiếc vương miện trang sức giữa một nhóm mấy đỉnh núi lửa khá gần nhau mà tuần tới tôi sẽ đi qua. Nhưng tôi chưa thể nhìn thấy chúng khi đi từ phía nam của con đường PCT, ca hát và nhẩm lại những mẩu thơ trong đầu, qua một cánh rừng đầy linh sam Douglas cao ngất, thông thân trắng và độc cần núi, băng qua những ao và hồ.

Vài ngày sau khi tạm biệt Ba Chàng Công Tử, tôi rẽ một lối ra khỏi con đường mòn hơn 1,5 km để đến khu nghỉ dưỡng hồ Elk mà cuốn sách hướng dẫn có nhắc đến. Khá giống với khu nghỉ dưỡng Shelter Cove, đây là một cửa hàng ven hồ nhỏ, phục vụ cho mấy tay câu cá, chỉ khác là nó có một quán cà phê bán bánh kẹp. Tôi định không rẽ vào đây, nhưng khi đến chỗ giao nhau trên đường mòn PCT, cơn đói cồn cào đã chiến thắng. Gần 11 giờ sáng tôi đến nơi. Ngoài một người đàn ông làm việc ở đó thì chỉ có tôi. Tôi lướt qua thực đơn, làm tính và gọi hai cái bánh mì kẹp pho mát, khoai tây chiên, một cốc Coca nhỏ; rồi tôi ngồi ăn trong một niềm sung sướng mê ly, lưng dựa vào bức tường xếp dãy những túi mồi câu. Hóa đơn của tôi là 6 đô-la và 10 xu. Lần đầu tiên trong đời, tôi không để lại tiền tip. Mang hai xu còn lại ra để tip thì khác nào sỉ nhục. Tôi lôi ra một khoanh tem hình chữ nhật nhỏ trong túi khóa zip đựng bằng lái xe rồi đặt gần đĩa ăn.

“Tôi xin lỗi – tôi không còn thêm đồng nào cả, nhưng tôi để lại cho anh thứ khác.” Tôi xấu hổ đến nỗi không nói nổi thứ đó là gì.

Người đàn ông chỉ lắc đầu và lầm bầm gì đó.

Tôi đi xuống một bãi nhỏ trống phía bắc dọc hồ Elk với hai xu trong túi, băn khoăn liệu có nên ném xuống nước và cầu nguyện ước hay không. Tôi quyết định không làm thế và cho chúng vào túi quần soóc, phòng khi cần trên đường đến trạm kiểm lâm hồ Olallie vẫn còn cách 160 cây số chật vật nữa. Chẳng có gì ngoài hai xu sứt, tôi vừa thấy tồi tệ vừa hơi buồn cười, giống đôi lần khác cũng từng bị nhẵn túi như thế. Khi đứng đó nhìn ra hồ Elk, lần đầu tiên tôi chợt thấy việc lớn lên trong nghèo khó hóa ra lại có ích. Làm sao tôi có thể vô lo để tiếp tục một chuyến đi như thế này với chỉ vài cắc bạc, nếu không được lớn lên trong cảnh túng bấn. Tôi luôn mang những thứ mà mình không có làm thước đo hoàn cảnh gia đình nhiều thiếu thốn của mình: trại hè, những khóa học, những chuyến du lịch, học phí đại học, niềm nhẹ nhõm khó tả khi được dùng thẻ tín dụng của ai đó. Nhưng giờ đây, tôi có thể nhận ra ranh giới giữa chuyện này và chuyện kia – giữa một tuổi thơ chứng kiến mẹ cùng cha dượng xoay xở như đèn cù với hai xu trong túi và cảm giác rằng chính tôi cũng có thể làm được như vậy. Trước khi đi, tôi đã không tính đến chuyện chuyến đi cần bao nhiêu tiền và không tiết kiệm thêm để phòng những khoản phát sinh bất ngờ. Tôi mà làm được thế thì đã không ở đây đến 80 ngày ngoài PCT, nhẵn túi, nhưng ổn thỏa – tôi đang làm cái việc mình muốn làm cho dù một người có lý trí sẽ nói rằng tôi không thể làm nổi việc đó.

Tôi bước tiếp, leo tới độ cao khoảng 1.981m, từ đây tôi có thể nhìn thấy những ngọn núi về phía bắc và phía đông: đỉnh Bachelor Butte và Broken Top phủ băng và cao nhất là núi Chị em phía Nam, cao đến 3.157m. Cuốn sách hướng dẫn cho hay, đây là đỉnh núi trẻ nhất, cao nhất và cũng cân xứng nhất trong Ba Chị Em. Nó chứa đến hơn hai chục loại đá núi lửa, nhưng trông cả ngọn núi chỉ tuyền một màu nâu đỏ, với tuyết phủ ở những triền núi cao. Khi tôi đi vào ban ngày, nhiệt độ lên cao và ấm trở lại, tưởng như được trở về California, với cái nóng và khung cảnh mở ra hàng ki lô mét mênh mông khắp vùng đất đá, cỏ xanh.

Bây giờ tôi đã chính thức ở giữa Ba Chị Em, con đường mòn không chỉ thuộc mình tôi nữa. Trên những cao nguyên đá cỏ, tôi đi qua những người đi bộ trong ngày, người du lịch ngắn ngày và một đội Hướng Đạo Sinh nam dã ngoại qua đêm. Tôi dừng lại nói chuyện với vài người trong số đó. Cô có súng không? Cô có sợ không? Họ hỏi tôi y hệt những câu hỏi tôi đã nghe suốt cả mùa hè. Không, không! Tôi khẽ bật cười. Tôi gặp hai người đàn ông bằng tuổi mình, từng phục vụ ở Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh, hiện vẫn là đại úy trong quân ngũ. Họ bảnh bao, vạm vỡ và đẹp trai như thể bước ra từ một tấm poster tuyển quân. Chúng tôi cùng nhau nghỉ khá lâu vào giữa chiều gần một con lạch, nơi họ đặt hai lon bia để giữ lạnh. Đó là tối cuối cùng của họ trong chuyến đi năm ngày. Họ để dành hai lon bia này suốt thời gian đó cho bữa tối ăn mừng cuối cùng.

Họ muốn biết mọi thứ về chuyến đi của tôi. Họ muốn biết tôi cảm thấy thế nào khi đi bộ suốt ngày; những thứ tôi thấy, những người tôi gặp và chuyện quái quỷ gì đã xảy ra với bàn chân tôi. Họ nài nỉ nâng thử cái ba lô của tôi lên và sửng sốt nhận ra nó còn nặng hơn ba lô của họ. Họ chuẩn bị đi tiếp và tôi chúc họ mạnh khỏe. Tôi vẫn còn muốn nằm thêm dưới ánh nắng bên bờ lạch.

“Này, Cheryl!” Một trong hai người quay lại hét lên khi anh gần như khuất khỏi tầm nhìn trên đường mòn. “Chúng tôi để một lon bia lại ở con lạch đấy. Chúng tôi phải làm thế để cô không chối từ. Chúng tôi muốn cô nhận vì cô còn gân hơn cả chúng tôi.”

Tôi cười và cảm ơn họ rồi đi xuống con lạch để lấy nó lên, cảm thấy hãnh diện và tự hào. Tối đó, tôi uống lon bia khi ở gần Obsidian, con thác được đặt tên theo những mảnh vỡ thủy tinh đen tuyền phủ khắp đường mòn khiến mỗi bước là một chuỗi âm thanh lạo xạo dưới chân, như thể ta đang bước qua lớp lớp đống đồ sứ vỡ.

Ngày hôm sau, tôi đã bớt hưng phấn khi đi qua đèo McKenzie vào trong Khu bảo tồn tự nhiên núi Washington, và khi tôi băng qua vùng đất bazan Belknap Crater và Little Belknap, đường đi trở nên sỏi đá hơn nhiều. Không còn những mảnh đá vỡ lấp lánh giữa đồng cỏ xanh tươi nữa. Giờ đây, tôi đang đi qua một vùng tám kilômét đầy những viên đá núi lửa đen rộng cỡ một quả bóng chày đến một quả bóng đá, mắt cá chân và đầu gối liên tục trật hết bên nọ đến bên kia. Khung cảnh trần trụi và hoang vắng, Mặt trời dội thẳng nắng xuống người khi tôi đang vật lộn với con đường hướng lên núi Washington. Đến được bờ bên kia của miệng núi lửa, tôi thảnh thơi đi giữa rặng cây và nhận ra những đám đông kia đã biến mất. Tôi lại chỉ còn một mình, chỉ con đường và tôi.

Ngày tiếp theo, tôi vượt đèo Santiam và bước qua Vùng hoang dã núi Jefferson được đặt tên theo đỉnh núi u huyền, sừng sững ở phía bắc. Tôi đi qua Jack Ba Ngón Tay có nhiều đỉnh núi đá trồi lên giống như một bàn tay nứt nẻ giơ lên trời. Và tôi tiếp tục đi đến chập tối, khi Mặt trời biến mất sau màn mây và màn sương dày đặc dần dần bao quanh tôi. Hôm đó rất nóng, nhưng chỉ trong 30 phút nhiệt độ đã giảm gần bảy độ khi gió nổi lên và đột ngột lặng hẳn. Tôi rảo bước thật nhanh, mình đẫm mồ hôi dù trời lạnh, tìm chỗ để dựng lều. Trời đã gần tối hẳn, nhưng chẳng có chỗ nào bằng phẳng hay đủ thoáng để dựng lều. Cho đến lúc tìm được một chỗ gần cái hồ nhỏ, tôi đã như chìm trong mây, không khí tĩnh lặng và im ắng đến kỳ quái. Trong lúc tôi dựng lều và lọc nước bằng cái bình chậm không thể chậm hơn, gió lại nổi lên, quăng quật hung hăng, đu đẩy những cành cây trên đầu. Tôi chưa từng gặp phải một trận bão rừng. Mình không sợ, tôi tự nhủ khi bò vào trong lều mà không ăn tối, cảm thấy bên ngoài quá nguy hiểm, mặc dù tôi biết cái lều cũng chẳng bảo vệ được bao nhiêu. Tôi ngồi lo lắng và thấp thỏm, chuẩn bị tinh thần đón cơn bão lớn mà rút cục nó chẳng đến.

Một tiếng sau khi trời tối, không khí yên ắng trở lại, lũ sói đồng cỏ tru lên ở đằng xa như thể đang ăn mừng trời yên biển lặng. Chớm sang tháng chín, nhiệt độ ban đêm gần như lúc nào cũng lạnh cắt da. Tôi bước ra lều để đi tiểu, đầu đội mũ và tay đeo găng. Khi tôi rọi đèn nhìn lên cây, ánh đèn lia qua thứ gì đó, tôi đờ người khi thấy hai cặp mắt sáng ngời phản chiếu ánh đèn đang nhìn lại mình.

Tôi không bao giờ biết những cặp mắt ấy là ở đâu ra nữa. Một tích tắc sau, chúng biến mất.

Ngày hôm sau trời nắng nóng, như thể cơn bão lạ đêm hôm qua chỉ là một giấc mơ. Tôi rẽ nhầm ở một ngã ba và phát hiện ra mình không còn ở PCT nữa mà ở trên đường mòn Oregon Skyline, song song với PCT khoảng 1,5km về phía tây. Lối đi thay thế này được miêu tả khá kỹ trong cuốn sách hướng dẫn của tôi, bởi vậy tôi tiếp tục đi mà không lo lắng gì. Ngày hôm sau nữa, con đường đó sẽ dẫn tôi trở lại PCT. Ngày tiếp sau nữa, tôi sẽ ở hồ Olallie.

Nhảy, bước qua, nhảy, xong.

Cả buổi chiều, tôi đi trong rừng rậm, có lần quành sang thì bất ngờ gặp ba con nai sừng tấm to lớn, chúng gõ guốc như sấm động và chạy sâu bên trong rừng. Tối đó, chỉ mấy phút sau khi tôi dừng lại ven đường để dựng lều gần một cái ao, hai người đi săn bằng cung tên xuất hiện, họ đang đi bộ về phía nam xuôi xuống con đường mòn.

“Cô có tí nước nào không?” Một người cất tiếng.

“Chúng ta không thể uống nước ao đúng không?” Người kia hỏi, khuôn mặt lộ vẻ tuyệt vọng.

Cả hai đều trông tầm giữa tuổi băm. Một người đàn ông tóc màu vàng cháy, trông gày mà khỏe khoắn; người kia cao lớn, tóc đỏ và cơ bắp, đủ để đứng hàng phòng thủ. Họ đều mặc quần bò, cài dao găm ở thắt lưng, treo cung tên và mũi tên bắt ngang chiếc ba lô to uỵch.

“Các anh có thể uống nước ao, nhưng phải lọc trước.” Tôi nói.

“Chúng tôi không có bình lọc.” Người đàn ông tóc vàng cháy nói, cởi ba lô xuống, đặt gần một tảng đá trên khoảng trống nhỏ giữa ao nước và con đường nơi tôi định dựng lều. Tôi vừa mới đặt ba lô xuống thì họ xuất hiện.

“Các anh có thể dùng cái của tôi.” Tôi nói. Tôi mở khóa túi của Quái vật, lôi bình lọc nước ra và đưa cho gã tóc vàng cháy, gã cầm lấy rồi đi đến bờ hồ bẩn thỉu và ngồi xổm xuống.

“Cô dùng cái này thế nào?” Gã hỏi tôi.

Tôi chỉ cách đặt ống hút xuống nước và cách bơm tay cầm để nước vào được cái ống lọc. “Anh cần phải có chai nước.” Tôi thêm vào, nhưng gã và người bạn tóc đỏ cao lớn nhìn nhau nuối tiếc và nói rằng họ không có. Họ chỉ đến đây đi săn trong ngày. Xe tải của họ đỗ trên một con đường rừng cách đây chừng năm km, xuôi theo một con đường mòn mà tôi cũng vừa đi qua. Họ cứ nghĩ là giờ này phải đến nơi rồi.

“Cả ngày các anh không uống gì à?” Tôi hỏi.

“Chúng tôi đem theo Pepsi.” Gã tóc vàng cháy đáp. “Mỗi người một lốc sáu lon.”

“Sau đây, chúng tôi sẽ đi đến chỗ cái xe tải, bởi vậy chỉ cần uống thêm ngụm nước nữa là đủ, nhưng cả hai đang chết khát rồi.” Gã tóc đỏ nói.

“Đây!” Tôi đi đến ba lô để lấy số nước còn lại của mình – còn khoảng một phần tư chai. Tôi đưa cho gã tóc đỏ, gã uống một hơi dài rồi đưa cho bạn, gã này uống nốt phần còn lại. Tôi thấy thương cho họ, nhưng còn thương thân hơn bởi cái sự là họ đang ở đây với tôi. Tôi kiệt sức rồi. Tôi chỉ muốn ngay lập tức cởi giày ra, thay bộ quần áo đẫm mồ hôi, dựng lều, nấu bữa tối và thả mình trong cuốn Mười ngàn thứ. Thêm nữa, tôi có cảm giác bất an với hai gã này, với chai Pepsi, những cây cung, cây dao găm to tướng và cái cái cách họ ập ngay tới tôi. Có gì đó khiến tôi phải dừng lại suy xét như tuần đầu tiên trên đường mòn, khi tôi ngồi trong xe tải của Frank và nghĩ có lẽ chú ấy muốn hãm hại tôi, nhưng rồi chú chỉ lôi ra ít cam thảo. Tôi lại tĩnh trí, nhấm nháp vị cam thảo ấy.

“Chúng tôi có lon Pepsi rỗng.” Gã tóc đỏ nói. “Chúng tôi có thể bơm nước vào trong chai của cô rồi rót vào hai lon Pepsi này.”

Gã tóc vàng cháy ngồi xổm bên bờ ao với cái chai nước rỗng và bình lọc nước của tôi, gã tóc đỏ cởi ba lô ra và lục tìm hai lon Pepsi rỗng. Tôi đứng quan sát, tay ôm lấy thân, mỗi phút một thấy lạnh. Mặt trong ướt nhẹp của cái quần soóc, áo phông và áo lót giờ đã ướt lạnh trên da tôi.

“Khó bơm quá!” Gã tóc vàng cháy nói sau một lúc.

“Anh phải bóp thật lực.” Tôi nói. “Bình lọc của tôi nó thế.”

“Tôi không biết.” Anh ta đáp lại. “Chẳng có gì ra cả.”

Tôi đi đến chỗ gã và nhìn thấy cái phao đang chổng lên gần cái cục lọc và một đầu ống hút nước mở ra đã chìm vào dưới đáy bùn. Tôi lấy cái lọc nước từ phía gã, kéo cái ống đến chỗ nước sạch, và cố gắng bơm. Nó tắc ứ, quá nhiều bùn két lại.

“Anh không được để cho cái ống này trong bùn như thế.” Tôi nói. “Anh phải để nó ở trong nước.”

“Chó chết!” Gã tức tối nói, chẳng buồn xin lỗi.

“Chúng ta sẽ làm gì bây giờ?” Bạn gã hỏi. “Tôi phải có cái gì để uống.”

Tôi đi đến ba lô, lấy bộ sơ cứu và lôi ra một chai nhỏ đựng viên i-ốt. Tôi chưa từng dùng chúng kể lúc thiếu nước đến gần như mất trí ở hồ nhân tạo vành đai Lạch Hat do bọn ếch làm chủ.

“Dùng cái này được này.” Tôi nói, rầu rĩ biết rằng mình sẽ phải uống nước i-ốt cho đến khi sửa được cái lọc nước, ấy là nếu còn có thể sửa được.

“Cái gì đây?” Gã tóc vàng cháy hỏi.

“I-ốt. Anh cho nó vào và chờ 30 phút sau thì nước uống được.” Tôi đi đến cái hồ và dìm hai chai nước vào chỗ trông có vẻ sạch nhất rồi cho i-ốt vào mỗi chai. Hai gã theo sau tay cầm lon Pepsi, và tôi cho vào mỗi lon một viên.

“Được rồi!” Tôi nhìn đồng hồ của mình và nói. “Nước sẽ uống được vào lúc 7 giờ 10 phút.” Tôi hy vọng như thế là họ sẽ rời đi, nhưng họ chỉ ngồi xuống luôn tại đó.

“Vậy cô đang làm gì ngoài này mỗi một mình?” Gã tóc vàng cháy hỏi.

“Tôi đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest.” Tôi nói, và ngay lập tức ước giá mình đừng nói ra. Tôi không thích cách gã nhìn tôi, săm soi cơ thể tôi.

“Mỗi một mình?”

“Mỗi mình tôi.” Tôi lưỡng lự nói, vừa ngờ ngợ không biết nên nói thật hay không, vừa sợ rằng bịa ra một lời nói dối sẽ chỉ khiến mình thêm rối trí.

“Không thể tin là một cô gái như cô lại ở đây mỗi một mình thế này. Nếu cô hỏi tôi tại sao thì là vì cô quá xinh đẹp, đáng lẽ không nên ở ngoài này chút nào. Cô đã ở đây bao lâu rồi?” Gã hỏi.

“Cũng khá lâu rồi.” Tôi trả lời.

“Không thể tin được, một cô gái trẻ trung như thế lại ở ngoài này một mình, nhỉ?” Gã nói với gã bạn tóc đỏ, như thể tôi không ở đấy.

“Không!” Tôi nói trước khi gã tóc đỏ kịp trả lời. “Bất cứ ai cũng có thể làm thế. Ý tôi là, đây chỉ...”

“Tôi sẽ không để cô ở ngoài này nếu cô là bạn gái tôi, chắc con mẹ luôn đấy!” Gã tóc đỏ nói.

“Cô ta có thân hình tuyệt đẹp, nhỉ?” Gã tóc vàng cháy nói. “Khỏe khoắn, đường cong mềm mại. Đúng kiểu tôi thích.”

Tôi phát ra một âm thanh nhỏ kiểu tự mãn, kiểu cười nửa miệng, dù cổ họng đột nhiên nghẹn lại vì sợ. “Ồ, rất vui được gặp các anh!” Tôi nói, đi về phía Quái Vật. “Tôi còn phải đi thêm đoạn nữa.” Tôi nói dối. “Vậy nên tốt nhất tôi nên đi.”

“Chúng tôi cũng chuẩn bị đi. Chúng tôi không muốn đi trong đêm.” Gã tóc đỏ nói, kéo ba lô lên và gã tóc vàng cũng làm thế. Tôi nhìn họ, giả vờ làm động tác chuẩn bị rời đi, dù thực tình tôi chẳng muốn. Tôi mệt mỏi và đói khát và lạnh. Trời đã dần vào tối và tôi chọn dựng lều ở đây vì sách hướng dẫn – chỉ miêu tả sơ sài về khúc đường này vì thực tế nó không nằm trên PCT – nói rằng đây là chỗ cuối cùng có thể cắm trại cho cung đường này.

Khi họ rời đi, tôi đứng đó một lúc, để cho cục nghẹn trong cổ họng xuôi xuống. Mình ổn rồi. Mình không còn nguy hiểm nữa. Mình vừa hơi ngốc nghếch một tí. Họ đáng ghét, phân biệt nam nữ và phá hoại bình lọc nước của mình, nhưng họ chưa làm gì mình cả. Họ không có ý hãm hại. Hai gã chỉ không biết thế nào là lịch sự. Tôi đổ các thứ ra khỏi ba lô, cho nước hồ vào nồi, nhóm bếp, và đun nước. Tôi cởi chỗ quần áo đẫm mồ hôi, lôi quần legging nỉ và áo dài tay ra mặc. Tôi vừa trải bạt, rũ lều ra thấy thì gã tóc vàng lại xuất hiện. Nhìn thấy gã, tôi biết rằng linh cảm lúc trước của mình là đúng. Rằng đúng là có lý do để mà e sợ. Gã đã trở lại tìm tôi.

“Chuyện gì đấy?” Tôi vờ xởi lởi, mặc dù nhìn thấy gã ở đó mà không có gã bạn tóc đỏ khiến tôi chết khiếp. Như thể đi qua một con sư tử núi và nhớ, hoàn toàn trái với bản năng, là đừng có chạy. Đột ngột di chuyển chỉ thêm kích động hắn, giận dữ càng làm hắn thù hằn, và tỏ ra sợ hãi chỉ khiến hắn nứng hơn mà thôi.

“Tôi tưởng cô đi tiếp.” Hắn nói.

“Tôi đổi ý rồi.” Tôi nói.

“Cô muốn lừa chúng tôi.”

“Không tôi không lừa. Tôi chỉ đổi...”

“Cô cũng thay quần áo nữa.” Gã lả lơi, và những lời gã nói như một tràng súng nổ banh nỗi sợ trong tôi. Tôi đỏ lựng cả người khi nhận ra rất có thể gã đã ở gần đấy nhìn trộm tôi thay quần áo.

“Tôi thích cái quần của cô.” Hắn cười khẩy. Hắn cởi ba lô ra và đặt nó xuống. “Hay là legging, như người ta gọi.”

“Tôi không hiểu anh nói gì.” Tôi điếng người, mặc dù khó có thể nghe được vì cảm thấy lời của mình giống như tiếng đập lớn trong đầu, tôi nhận ra rằng mình hoàn toàn có thể gặp chuyện này trong toàn bộ chuyến đi PCT. Rằng dẫu có dạn dày hay khỏe mạnh hoặc dũng cảm thế nào, có cảm thấy thoải mái thế nào khi chỉ có một mình, thì chẳng qua cũng là do may mắn mà thôi, và nếu vận may của tôi giờ đây đã hết thì tất cả mọi thứ trước đó sẽ bị xóa sổ như chưa từng tồn tại, rằng chỉ một buổi tối này thôi cũng sẽ phá hủy toàn bộ những ngày dũng cảm kia.

“Anh đang nói anh thích cái quần của em đấy.” Gã hơi cáu. “Em mặc chúng rất đẹp. Chúng khoe hông và chân em.”

“Làm ơn đừng có nói thế.” Tôi cố nói rành rọt.

“Cái gì cơ? Anh đang khen em đấy! Chẳng lẽ một chàng trai không thể khen một cô gái hay sao? Em nên lấy làm hãnh diện.”

“Cảm ơn!” Tôi cố gắng làm hắn dịu đi, tự thấy ghét bản thân mình. Tôi nghĩ đến Ba Chàng Công Tử, có lẽ họ còn chưa quay trở lại đường mòn. Tôi nghĩ đến chiếc còi to mồm nhất quả đất mà sẽ chẳng ai ngoài gã tóc đỏ nghe thấy. Tôi nghĩ đến bộ dao quân dụng Thụy Sĩ ở tận cái túi trên bên trái của ba lô. Tôi nghĩ đến chỗ nước chưa kịp sôi trong cái nồi không có tay cầm trên bếp. Và rồi trí óc tôi dừng lại ở những cái cung tên đang thò lên trên chốc ba lô của gã tóc vàng cháy. Tôi có thể cảm thấy một sợi dây nóng vô hình giữa những cái cung tên đó và tôi. Nếu hắn cố làm bất cứ chuyện gì với tôi, tôi sẽ lấy một trong những cái tên ấy đâm vào họng hắn.

“Tôi nghĩ anh tốt hơn nên đi đi.” Tôi nói điềm đạm. “Trời sắp tối rồi.” Tôi khoanh tay thật chặt ngang ngực, biết rõ là mình đang không mặc áo lót.

“Đây là đất nước tự do.” Hắn nói. “Anh sẽ đi khi nào anh muốn. Anh có quyền, em biết đấy.” Hắn cầm cái lon Pepsi lên, nhẹ lắc nước bên trong.

“Mày đang làm cái quái gì thế?” Giọng một người đàn ông cất lên, và một lúc sau, gã tóc đỏ xuất hiện. “Tao phải đi ngược lại đây tìm mày. Tao nghĩ mày bị lạc đường.” Hắn nhìn tôi trách móc như thể tôi là người gây tội, như thể tôi quyến rũ gã tóc vàng ở lại với tôi vậy. “Chúng ta phải đi bây giờ nếu muốn quay trở lại xe tải trước khi trời tối.”

“Em cẩn thận ngoài này đấy.” Gã tóc vàng nói với tôi, kéo ba lô của gã lên.

“Chào!” Tôi nói khẽ, vừa không muốn trả lời gã vừa không muốn chọc tức gã nếu không trả lời.

“Này. Giờ là 7 giờ 10 phút rồi.” Hắn nói. “Uống nước được rồi.” Hắn nâng lon Pepsi lên đưa về phía tôi và làm động tác cụng ly. “Cái này là cho cô gái trẻ một mình trong rừng.” Hắn nói và uống một ngụm rồi quay đi, theo gót gã bạn xuôi xuống đường mòn.

Tôi đứng trân ra một lúc y như lúc đầu họ rời đi, để tất cả những cục sợ tan biến. Chẳng có gì xảy ra, tôi tự nhủ. Mình hoàn toàn ổn. Hắn chỉ là một gã đáng sợ, nứng tình, khốn nạn và giờ thì hắn đã đi rồi.

Nhưng rồi tôi dồn lều vào ba lô, tắt bếp, đổ cái nồi nước gần sôi ra bãi cỏ, và dìm cái nồi xuống ao cho nguội bớt. Tôi nuốt một ngụm nước i-ốt và nhồi chai nước, áo phông, áo lót, quần soóc đẫm mồ hôi vào túi. Tôi nâng Quái Vật lên, thắt đai, bước lên đường mòn, và đi về phương bắc trong ánh trời chạng vạng. Tôi bước và cứ bước, tâm trí chuyển về chế độ cơ bản, chẳng có gì ngoại trừ tiến lên phía trước, và tôi đi cho tới khi không còn đi được nữa, cho tới khi tôi tin rằng tôi không thể bước thêm một bước nào nữa.

Và rồi tôi chạy.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.