XA NHƯ THẾ

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12 - XA NHƯ THẾ

❊ ❊ ❊

Tôi thức dậy lúc tia sáng đầu tiên ló dạng, di chuyển cẩn trọng khi dỡ lều. Giờ tôi có thể chuẩn bị lên đường chỉ trong năm phút. Tất cả những thứ chồng chất trên giường ở nhà nghỉ tại Mojave chưa bị bỏ lại hoặc đốt đi đều đã có vị trí ở cái ba lô và tôi đã biết chính xác đó là chỗ nào. Bàn tay tôi di chuyển theo bản năng, gần như là phớt lờ lý trí. Quái Vật là cả thế giới của tôi, là cái chân phụ vô tri vô giác. Mặc dù trọng lượng và kích thước của nó vẫn còn làm tôi khổ sở, nhưng cuối cùng tôi đã chấp nhận rằng nó là cái gánh nặng tôi phải mang. Tôi không còn thấy mình trong thế chống đối lại nó như một tháng trước nữa. Tôi không còn chống lại nó nữa. Hai chúng tôi đã thành mộ

Vác Quái Vật trên lưng cũng đã thay đổi vẻ ngoài của tôi. Chân tôi trở nên rắn như đá, các bó cơ vồng lên dưới lớp da mỏng, dường như có thể chịu đựng bất cứ thứ gì. Những vùng trên hông, vai và xương cụt từng chảy máu và đóng vảy do quai đeo của Quái Vật cọ vào cuối cùng cũng đầu hàng, trở nên thô ráp và lồi lõm, da thịt biến dạng thành một thứ gì đó nửa giống vỏ cây xù xì nửa giống con gà đã chết sau khi bị dìm vào nước sôi và nhổ lông.

Thế còn chân tôi? Ồ, chúng vẫn đủ đường khốn khổ khốn nạn đến không lời nào tả xiết.

Hai ngón chân cái chưa hề lành lại sau khi bị bầm dập tàn nhẫn vì xuống dốc từ Ba Hồ đến thị trấn Belden. Những cái móng trông gần như đã chết. Những ngón chân màu hồng bị cọ mạnh đến nỗi tôi sợ rằng thế nào rồi chúng cũng rời ra khỏi bàn chân tôi. Những vết phồng rộp dường như vĩnh viễn không bao giờ tan biến nổi khắp gót chân đến tận mắt cá. Nhưng sáng hôm đó khi ở Ga Cũ, tôi quyết không nghĩ đến cái chân nữa. Đi bộ qua PCT phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát ý chí: rằng hãy cứ dứt khoát tiến lên, dù thế nào chăng nữa. Tôi băng vết thương bằng băng dính và miếng 2nd Skin rồi đi tất và giày, tập tễnh đến vòi nước của khu cắm trại để lấy đầy hai chai nước gần hai lít, tôi phải cầm cự bằng chỗ nước này trong hơn 24 km cằn cỗi qua vành đai Lạch Hat.

Lúc tôi đi đến nơi con đường giao với PCT, trời vẫn còn sớm nhưng đã nóng nực. Tôi thấy khỏe khoắn và mạnh mẽ, sẵn sàng cho ngày hôm đó. Buổi sáng, tôi len lỏi qua những lòng lạch hẹp khô cạn và những con rãnh chắc bờ. Tôi cố hạn chế dừng lại uống nước ít nhất có thể. Đến giữa sáng tôi đã đi qua được một vách núi rộng hàng cây số, một cánh đồng cỏ và hoa dại cực khô hạn hầu như chẳng có bóng râm nào. Vài cái cây tôi đi qua đều đã chết do trận hỏa hoạn năm nào, thân cây cháy bạc trắng hoặc thành than đen, cành cây gãy gục và cháy thành hình thù như những con dao găm. Khi tôi đi qua, vẻ đẹp sầu thảm của chúng ập xuống tôi với một nỗi hoang hoải lặng câm.

Trên đầu tôi lúc nào cũng là bầu trời xanh, Mặt trời rực rỡ và bền bỉ, thiêu đốt tôi thậm chí xuyên qua cái mũ và lớp kem chống nắng mà tôi xoa trên mặt và cánh tay nhễ nhại mồ hôi. Tôi có thể nhìn xa đến hàng kilômét – ngọn Lassen tuyết phủ ở phía nam gần đó, núi Shasta cao hơn và nhiều tuyết phủ hơn nổi lên xa xa phía bắc. Lòng tôi nhẹ nhõm khi nhìn thấy núi Shasta. Tôi sẽ đến đó. Tôi sẽ đi qua nó và xa khỏi nó suốt chặng đường đến sông Columbia. Giờ đã thoát khỏi tuyết rồi thì dường như chẳng điều gì có thể khiến tôi chệch đường được nữa. Tâm trí tôi bắt đầu mường tượng ra cảnh đi bộ thong dong và phấn chấn xuyên qua hết những kilômét đường còn lại, mặc dù cái nóng nhanh chóng xóa sạch mường tượng ấy đi, nhắc tôi nhớ rằng tôi biết rõ thực tế hơn thế. Tôi biết rằng, nếu có đến được biên giới Oregon-Washington thì chắc chắn tôi vẫn phải lê lết cùng nỗi khổ ải của việc đi bộ dưới sức nặng của một con quái vật mà thôi.

Đi bộ lần hồi qua thế giới này khác hoàn toàn những kiểu di chuyển bình thường. Những dặm đường chẳng loang loáng buồn tẻ lướt qua. Chúng là những đám cỏ dài dằng dặc và thân thuộc, là những ụn đất, là những trảng cỏ hoa rạp mình trong gió, là những cái cây ngổn ngang và kêu lên rin rít. Chúng là tiếng hơi thở tôi, tiếng mỗi bước chân tôi nện xuống đường mòn và tiếng lích kích của cây gậy chống tuyết. Con đường PCT đã dạy cho tôi biết một kilômét là gì. Tôi trở nên nhỏ nhoi hơn trước mỗi dặm đường và mọi dặm đường. Và nhỏ nhoi hơn nữa trong cái ngày hôm đó trên đoạn vành đai Lạch Hat, khi nhiệt độ chuyển từ nóng sang nóng hơn nữa và gió thì chẳng được tích sự gì ngoài việc quất bụi đường thành từng cuộn lên chân tôi. Chính trong một cơn gió như thế, tôi đã nghe thấy một âm thanh rền rĩ hơn bất cứ âm thanh nào và rồi nhận ra đó là một con rắn chuông đang rung cái đuôi chuông rất mạnh và rất gần, đánh động tôi phải cảnh giác. Tôi lùi lại sau và nhìn thấy một con rắn chỉ cách có vài bước chân đang bò trên đường, cái chuông như một ngón tay thối hơi ngỏng lên từ cái thân cuộn tròn của nó. Cái đầu bẹt của nó đang lao về phía tôi. Chỉ cần đi thêm vài bước nữa thôi là tôi sẽ giẫm lên nó. Đây là con rắn chuông thứ ba tôi gặp trên đường này. Tôi đi vòng quanh nó một đoạn rộng đến buồn cười, rồi tiếp tục đi.

Đến giữa ngày, tôi tìm được một khoảng râm bé tí và ngồi xuống ăn. Tôi cởi tất và giày rồi ngửa ra đất để kê đôi bàn chân sưng phồng lên cái ba lô, như vẫn thường làm mỗi lần nghỉ ăn trưa. Tôi nhìn bầu trời, dõi theo những con chim ưng và đại bàng đang lượn vòng yên ả ngay trên đầu, nhưng chẳng thể thư giãn hoàn toàn được. Không phải chỉ vì con rắn chuông. Nơi này trơ trọi đến nỗi tôi có thể nhìn qua cả những khoảng mênh mông bát ngát, nhưng tôi vẫn cứ có cảm giác mơ hồ về cái gì đó ẩn núp đâu đây, cái gì đó đang dõi theo tôi, rình rập để tấn công. Tôi ngồi dậy, quét mắt khắp vùng đất để tìm xem có sư tử núi không, rồi lại nằm xuống, tự bảo mình rằng chẳng việc gì phải sợ, trước khi tôi bật dậy lần nữa vì âm thanh mà tôi nghĩ là tiếng gãy của một cành cây.

Chẳng có gì cả, tôi tự nhủ. Mình không sợ. Tôi với lấy chai nước và tu một hơi dài. Tôi khát đến nỗi uống ừng ực hết sạch chai đó, rồi mở tiếp chai còn lại và uống tiếp, không thể nào kiềm chế được. Cái nhiệt kế treo lủng lắc trên cái khóa ba lô chỉ 38 độ ở chỗ bóng cây tôi ngồi.

Tôi hát những bài hát vui vẻ khi bước đi. Cái nắng quật xuống người tôi như một vật có hình có khối. Mồ hôi đọng xung quanh kính râm và chảy vào mắt cay xè nên cứ chốc chốc tôi phải dừng lại lau mặt. Không thể tin được là chỉ mới tuần trước, tôi còn đang ở trên những ngọn núi tuyết phủ, quàng trên người tất cả số quần áo tôi có. Không thể tin được là mỗi sáng khi đó tôi đã thức dậy với một lớp sương tuyết dày trên thành lều. Tôi không thể nào nhớ lại chính xác nữa. Những ngày tuyết trắng ấy như một giấc mơ, như thể tôi vẫn đang lảo đảo về phía bắc trong cái nóng suýt thì bỏ cuộc suốt từ tuần hành trình thứ hai đến tận tuần thứ năm này. Tôi dừng lại uống thêm nước. Nước nóng đến mức suýt làm bỏng cả miệng tôi.

Những bụi cây xô thơm và một đám hoa dại kiên cường trải khắp mặt đất rộng lớn. Khi tôi bước đi, những cái cây có gai mà tôi không biết tên cào xước bắp chân tôi. Những cây tôi biết tên thì dường như đang nói với tôi, giới thiệu tên của chúng với tôi bằng giọng của mẹ. Những cái tên tôi đã không nhận ra là mình biết, cho đến khi chúng đập vào tâm trí tôi quá rõ ràng: đăng-ten của Nữ hoàng Anne, cọ vẽ Ấn Độ, đậu lupin – những bông hoa giống hệt thế ở Minnesota, trắng, da cam và tím. Khi chúng tôi lái xe lướt qua chúng, thỉnh thoảng mẹ dừng lại và hái về một ôm lớn từ những cái cây trong con hào.

Tôi dừng lại và nhìn lên bầu trời. Những con chim săn mồi cứ lượn vòng, dường như chẳng cần đập cánh. Mình sẽ không bao giờ về nhà. Tôi nghĩ, sự dứt khoát khiến cho tôi phải dừng lại lấy hơi, và rồi tiếp tục bước đi, tâm trí trống rỗng chẳng làm gì ngoài cố gắng đẩy mình xuyên qua cái đơn điệu trần trụi của việc đi bộ. Trên con đường này, chẳng có ngày nào mà cuối cùng cái đơn điệu lại không chiến thắng, khi chẳng có gì để nghĩ ngoài việc xem đâu là chỗ đau nhất trên người. Đó là một kiểu chữa trị bằng thiêu đốt. Tôi đếm những bước chân, đếm đến 100 rồi lại bắt đầu lại từ đầu. Mỗi lần đếm đến 100 là một lần như đạt được điều gì đó nhỏ bé. Rồi 100 trở thành lạc quan quá, và tôi đếm đến 50, rồi 25 rồi 10.

Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười.

Tôi dừng lại và cúi về trước, tỳ bàn tay lên hai đầu gối để cái lưng được dễ chịu một chút. Mồ hôi trên mặt như những giọt nước mắt nhỏ xuống mặt đất mờ mờ.

Cao nguyên Modoc khác với hoang mạc Mojave, nhưng cảm giác thì vẫn như vậy. Cả hai đều đầy rẫy những loài cây hoang mạc có gai trong khi hoàn toàn chẳng có gì mời gọi cuộc sống con người. Những con thằn lằn nâu và xám lủi nhanh ngang con đường mòn khi tôi đi đến hoặc đứng yên bất động cho đến khi tôi đi qua. Bọn này lấy nước ở đâu nhỉ? Tôi băn khoăn, cố gắng không nghĩ đến việc mình đang nóng và khát như thế nào. Mình sẽ lấy nước ở đâu? Mình còn cách téc nước chưa tới năm cây số nữa, tôi ước lượng. Tôi chỉ còn gần 240 ml nước.

Rồi 180 ml.

Rồi 120 ml.

Tôi buộc mình không được uống 60 ml cuối cùng cho đến khi nhìn thấy téc nước và đến bốn giờ ba mươi phút thì nó đây rồi: bốn cái chân khẳng khiu của trạm báo cháy bị cháy hiện lên từ đằng xa. Gần đó có một téc kim loại dựa vào một cái cột. Ngay khi nhìn thấy nó, tôi lôi chai nước của mình ra uống nốt chỗ nước nước cuối cùng, lòng thầm cảm ơn trời khi chỉ còn mấy phút nữa là tôi có thể uống nước no nê từ cái téc ấy. Tiến lại gần, tôi nhìn thấy một cái cột gỗ gần téc nước được bọc bằng cái gì đó bay phần phật trong gió. Ban đầu trông giống những dải ruy băng te tua, sau lại giống mấy miếng giẻ bị xé ra. Mãi đến khi đến gần, tôi mới nhìn ra đó là những mảnh giấy bé tí xíu – những ghi chú được dán lại trên cái cột bằng băng dính giờ đang bay phần phật trong gió. Tôi lảo đảo bước đến, chưa cần đọc cũng đã đoán được những mảnh giấy ấy nói gì. Đủ các kiểu diễn đạt khác nhau, nhưng thông điệp duy nhất chỉ là: KHÔNG CÓ NƯỚC.

Tôi đứng bất động một lúc, tê liệt với cơn hãi hùng. Tôi nhìn vào trong téc nước để xác nhận điều đó là thực. Không có nước. Tôi không có nước. Một ngụm cũng không.

Không-có-nước-không-có-nước-không-có-nước-không-có-nước-không-có-nước-không-có-nước.

Tôi đá chân xuống đất, chộp lấy một nắm xô thơm rồi ném chúng đi, giận dữ với chính mình vì lại một lần nữa phạm sai lầm, vì lại ngu ngốc y như ngày đầu tiên bước chân lên con đường này. Ngu ngốc y như cái đứa đã mua giày sai cỡ và coi thường một cách tai hại số tiền cần cho cả mùa hè này, và thậm chí ngu ngốc y như cái đứa đã tin rằng mình có thể đi bộ trên con đường này.

Tôi lôi những trang sách hướng dẫn từ túi quần soóc ra và đọc lại lần nữa. Tôi không còn lo lắng như sớm ngày hôm nay khi có cảm giác buồn cười là có cái gì đó đang rình rập quanh mình. Bây giờ thì tôi hoảng sợ. Đó không phải là một cảm giác. Đó là một thực tế: tôi còn cách nguồn nước hàng kilômét đường trong một ngày nhiệt độ lên tới 40 độ hoặc đại khái thế. Tôi biết đây là tình huống nghiêm trọng nhất mà tôi đã gặp phải trên đường cho đến lúc này – đe dọa hơn nhiều so với con bò đột kích, đau khổ hơn nhiều so với tuyết. Tôi cần nước. Tôi cần nước ngay. Tôi cần nước ngay bây giờ. Tôi cảm nhận được nhu cầu ấy trong từng lỗ chân lông. Tôi nhớ lần đầu tiên gặp tôi Albert đã hỏi tôi mỗi ngày tôi đi tiểu mấy lần. Tôi đã không đi tiểu kể từ lúc rời Ga Cũ sáng nay. Tôi không cần phải đi. Từng mililít nước mà tôi uống vào bụng đều đã bị vắt kiệt. Tôi khát đến mức còn chẳng thể nhổ nước bọt.

Các tác giả cuốn Đường mòn Pacific Crestl, tập 1: California đã nói nơi “chắc chắn” có nước gần nhất còn cách 24 cây số nữa ở Lạch Rock Spring, nhưng họ cũng thừa nhận trên thực tế có một nguồn nước khác gần hơn, trong một hồ chứa mà họ cảnh báo là đừng nên uống ở đó. Họ nói độ an toàn của nó là “nói nhẹ thì là đáng nghi ngờ”. Đi thêm độ tám kilômét nữa thì sẽ thấy nó trên con đường này.

Tất nhiên, trừ khi cái hồ đó cũng đã khô cạn.

Hiển nhiên là cái hồ đó có thể đã khô cạn, tôi biết vậy khi “chạy đua” đến đó, nghĩa là, với tình trạng đôi chân này và sức nặng của cái ba lô, cố gắng đi bộ thật nhanh và dứt khoát. Cảm tưởng như tôi có thể nhìn thấy toàn bộ thế giới từ vách bên đông của vành đai Lạch Hat. Một thung lũng bao la trải dài bên dưới chân tôi ra tít xa xa, đôi chỗ gián đoạn bởi những ngọn núi lửa xanh xanh tới cả hai bên nam và bắc. Dù đang lo lắng, tôi vẫn không thể nào không cảm thấy mê ly sung sướng với vẻ đẹp này. Tôi là một con ngớ ngẩn cực độ, phải, một kẻ có thể chết vì thiếu nước và kiệt sức vì nóng, nhưng ít nhất thì tôi cũng chết và kiệt sức ở một nơi tuyệt đẹp – nơi mà tôi yêu, bất chấp và chính bởi nỗi khó nhọc mà nó mang đến cho tôi – và tôi đã lê thân đến được nơi này bằng hai bàn chân của chính tôi. Tự an ủi mình như vậy, tôi bước tiếp, khát đến nỗi thấy buồn nôn và hơi sôn sốt. Mình sẽ ổn thôi. Tôi tự nhủ. Chỉ còn một chút nữa. Tôi nói mỗi khi qua một đoạn vòng hay một đoạn đi lên, khi mặt trời đang chìm dần về phía chân trời cho đến khi cuối cùng tôi cũng nhìn thấy hồ nước ấy.

Tôi dừng lại để nhìn chằm chằm vào nó. Nó là một cái hồ nhỏ trông tởm lợm nhớp nhúa rộng cỡ một sân tennis, nhưng có nước. Tôi phá lên cười sung sướng, loạng choạng bước xuống con dốc đi về phía bờ đất nhỏ bao quanh hồ. Lần đầu tiên tôi đi được hơn 32 cây số một ngày. Tôi tháo Quái Vật, để nó trên mặt đất và đi đến bờ hồ đầy bùn rồi ngồi xổm, cho tay vào nước. Nước màu xám lờ và ấm như máu. Khi tôi cho tay xuống, cặn dưới đáy hồ sục lên thành hình xoắn như đám cỏ leo và khiến nước đen đặc.

Tôi lấy cái lọc nước và bơm thứ dung dịch đáng nghi ngại ấy vào trong bình. Bình lọc nước vẫn khó sử dụng như lần đầu tiên tôi dùng nó ở Suối Sồi Vàng, nhưng nó đặc biệt khó dùng trong thứ nước này, bởi nước đặc bùn đến mức làm tắc cả nửa phần ống lọc. Đến khi lọc được đầy một chai thì tay tôi run lên vì mỏi. Tôi đến chỗ bộ sơ cứu, lấy ra mấy viên i-ốt và thả hai viên vào trong nước. Tôi đã mang những viên này theo chỉ vì lý do này: để hỗ trợ nếu buộc phải uống thứ nước bị ô nhiễm. Thậm chí hồi ở đồng cỏ Kennedy Albert cũng cho những viên i-ốt là một ý kiến hay khi ông ấy không thương tiếc vứt đồ của tôi thành một đống bỏ đi. Albert, người đã ngã bệnh vì nước ô nhiễm vào đúng ngày hôm sau.

Tôi phải chờ 30 phút sau để i-ốt có tác dụng thì mới an toàn để uống. Tôi khát đến cháy họng, nhưng tự phân tâm mình bằng cách lấy đầy chai nước còn lại. Xong xuôi, tôi trải bạt trên bờ đất, đứng lên đó và cởi quần áo ra. Gió đã dịu đi với cái nắng nhạt dần. Những làn gió nhẹ làm mát những chỗ da thịt nóng bừng hai bên hông để trần. Tôi chẳng nghĩ sẽ gặp ai đó đi trên con đường này. Cả ngày nay tôi chẳng nhìn thấy một ai, và thậm chí nếu có ai đi đến thật thì tôi cũng mụ mẫm do thiếu nước và mệt mỏi, chẳng còn sức đâu để mà quan tâm.

Tôi nhìn đồng hồ. 27 phút kể từ khi tôi thả tõm mấy viên i-ốt vào chai nước. Thường thì trời chưa tối tôi đã thấy chết đói đến nơi, nhưng ý nghĩ ăn cái gì đó bây giờ thật chẳng là gì hết. Nước là khát khao duy nhất lúc này.

Tôi ngồi trên cái bạt xanh da trời và uống hết chai này đến chai kia. Nước ấm có vị tanh tanh của sắt và mùi bùn, thế nhưng chưa bao giờ tôi được uống thứ gì tuyệt vời hơn thế cả. Tôi có thể cảm nhận dòng nước chảy vào trong tôi, mặc dù tôi đã uống hai chai ngót nghét hai lít nước vẫn chưa hoàn toàn thấy đã. Tôi vẫn không đói. Tôi thấy giống như những ngày đầu đi trên đường mòn, khi đã kiệt sức mà cả cơ thể chỉ kêu gào muốn ngủ. Bây giờ cả cơ thể tôi thèm khát nước. Tôi lại lấy đầy hai chai nước, đợi i ốt thanh lọc chúng, rồi uống cả hai chai.

Đến lúc tôi hết khát thì trời đã tối và Mặt trăng tròn vành vạnh đang lên. Tôi chẳng gom nổi sức lại để mà dựng lều – chỉ cần cố gắng hơn hai phút là xong mà giờ với tôi cứ như là chiến công Hercules. Tôi không cần lều. Trời đã không mưa từ mấy ngày đầu tiên tôi ở trên đường này. Tôi mặc lại quần áo và trải túi ngủ lên cái bạt, nhưng vẫn còn quá nóng, chẳng làm gì được ngoài việc nằm lên trên cái túi ngủ. Tôi quá mệt mỏi nên chẳng buồn đọc sách. Thậm chí chỉ ngước mắt nhìn Mặt trăng cũng cần kha khá nỗ lực. Tôi đã uống hết hơn ba lít rưỡi cái thứ nước hồ đáng nghi ngại kia trong có vài giờ đồng hồ kể từ khi đến đây và vẫn chưa phải đi tiểu. Tôi đã ngớ ngẩn đến buồn cười khi đi qua vành đai Lạch Hat với ít nước như vậy. Mình sẽ không bao giờ bất cẩn như thế nữa. Tôi cam kết với Mặt trăng trước khi thiếp đi.

Hai tiếng sau tôi tỉnh dậy với cảm giác khoan khoái mơ hồ là có những bàn tay lành lạnh bé xíu đang nhẹ nhàng vỗ về tôi. Chúng đang ở trên cẳng chân trần và cánh tay tôi, trên mặt và trong tóc tôi, trên bàn chân, cổ họng và bàn tay tôi. Tôi có thể cảm thấy chúng nằng nặng man mát qua lần áo phông trên ngực và trên bụng tôi. “Ưmm.” Tôi rên khẽ, cựa nhẹ mình trước khi mở bừng mắt và một loạt những sự kiện ập đến như một thước phim quay chậm.

Với cảnh Mặt trăng ở đó và tôi đang ngủ trên tấm bạt ở ngoài trời.

Với cảnh tôi thức dậy vì dường như có những bàn tay lành lạnh be bé đang vỗ nhè nhẹ lên người tôi, và những bàn tay bé lạnh ấy thực là đang vỗ nhè nhẹ lên người tôi.

Và cuối cùng là cảnh vĩ đại hơn cả mặt trăng: những bàn tay mát lạnh nho nhỏ ấy không phải là bàn tay, mà là hàng trăm con ếch đen bé xíu.

Những con ếch đen mảnh khảnh mát lạnh nhỏ xíu đang nhảy khắp người tôi.

Mỗi con chỉ to gần bằng miếng khoai tây chiên. Chúng là một đội quân đang đổ bộ lên bờ, một đội dân quân da trơn láng sống ở đầm lầy, một bè chân màng đang di cư, và tôi đang nằm trên đường của chúng khi chúng nhảy, chúng bò, chúng vọt lên, chúng phóng thân người nhỏ xíu, ngắn tủn với cái chân gập từ hồ lên lớp đất mà chúng chắc chắn là bãi biển của riêng chúng.

Trong tích tắc, cùng với lũ ếch, tôi nhảy, bò, vọt lên, và phóng người mình, vất ba lô cùng cái bạt và mọi thứ trên cái bạt vào bụi rậm bên ngoài bãi hồ, vừa đi vừa hẩy những con ếch khỏi tóc và những nếp gấp áo phông, không tránh được chuyện giẫm lên vài con dưới đôi chân trần. Cuối cùng cũng an toàn, tôi đứng nhìn chúng từ chỗ không có ếch, chúng điên cuồng nhảy nhót, thân hình đen đen nhỏ xíu lộ rõ dưới ánh trăng loang loáng. Tôi kiểm tra túi quần xem có sót con nào đi lạc không. Tôi gom đồ vào một chỗ nhỏ sạch sẽ đủ bằng phẳng để dựng lều rồi lấy cái lều từ trong ba lô ra. Nhắm mắt cũng xong, chỉ một cái búng tay là cái lều của tôi đã được dựng lên.

Sáng hôm sau, khi tôi bò ra ngoài thì đã tám giờ ba mươi. Tám giờ ba mươi là quá trễ đối với tôi, ngang với tận trưa của những ngày bình thường trước đây. Giống như tôi đã đi uống tới tận tảng sáng. Tôi nửa đứng nửa ngồi, chếnh choáng nhìn ra xung quanh. Tôi vẫn chưa phải đi tiểu. Tôi gói ghém đồ đạc, bơm thêm thứ nước bẩn kia rồi tiến về phía bắc dưới Mặt trời thiêu đốt. Trời còn nóng hơn cả hôm trước. Trong vòng một tiếng, tôi lại suýt giẫm phải một con rắn chuông khác, mặc dù nó đã lịch sự cảnh báo tôi bằng cái đuôi chuông của mình.

Đến chiều muộn, mọi ý tưởng về việc trong ngày hôm đó đến được tận vườn quốc gia Tưởng niệm thác McArthur-Burney đã sụp đổ hoàn toàn bởi tôi dậy muộn, bởi bàn chân nhói đau và phồng rộp và bởi nhiệt độ khủng khiếp. Tôi đành rẽ một đoạn ngắn ra khỏi con đường mòn để đến Cassel, cuốn sách hướng dẫn hứa hẹn là có một cửa hàng tạp phẩm ở đó. Tôi đến được đó lúc gần ba giờ. Tôi tháo ba lô ra và ngồi lên cái ghế gỗ trên thềm nhà kiểu cũ của cửa hàng, đờ ra vì nóng. Cái nhiệt kế to trong bóng râm chỉ 39 độ. Tôi đếm chỗ tiền của mình, suýt thì khóc, biết rằng dù tôi có bao nhiêu tiền thì cũng chẳng đủ mua một lon nước chanh Snapple. Cơn thèm nước chanh không chỉ là niềm mong mỏi nữa mà đã như một cái cây cứ trồi ra từ trong lòng. Nó giá 99 xu hoặc 1,05 hay 1,15 đô-la – tôi không biết chính xác. Tôi biết mình chỉ còn có 76 xu và như thế là không đủ. Dù gì thì tôi vẫn vào cửa hàng, chỉ để ngó một tí.

“Cô đi bộ đường mòn PCT à?” Người phụ nữ sau quầy hỏi.

“Vâng.” Tôi nói, mỉm cười với cô ta.

“Cô quê ở đâu?”

“Minnesota.” Tôi nói với lại khi đi dọc dãy tủ kính có những món nước lạnh được sắp xếp gọn gàng bên trong. Tôi đi qua những lon bia lạnh và nước ngọt sủi bọt, những chai nước khoáng và nước hoa quả. Tôi dừng lại chỗ bày những chai nước chanh Snapple. Tôi đặt bàn tay lên chỗ kính gần những chai nước chanh – có cả loại màu vàng và loại màu hồng. Chúng giống như kim cương hay phim con heo vậy. Tôi có thể nhìn, nhưng tôi không thể chạm vào.

“Nếu hôm nay không đi nữa thì cô cứ tự nhiên cắm lều ở ngoài đồng sau cửa hàng nhé.” Người phụ nữ nói với tôi. “Chúng tôi để tất cả những người đi PCT ngủ ở đó.”

“Cảm ơn, tôi nghĩ là tôi sẽ dựng lều ở đó.” Tôi nói, vẫn nhìn chằm chằm mấy món đồ uống. Mình có thể cầm lấy một lon, tôi nghĩ. Chỉ để áp nó lên trán trong một phút thôi. Tôi mở cửa tủ và lấy một chai nước chanh màu hồng. Nó lạnh đến nỗi cảm tưởng như tay tôi bị bỏng lạnh. “Cái này bao tiền ạ?” Tôi buột miệng hỏi.

“Tôi thấy cô đếm xu ngoài kia,” người phụ nữ cười. “Cô có bao nhiêu?”

Tôi đưa bà ấy tất cả những gì tôi có, cảm ơn rối rít và đem chai Snapple ra ngoài bậc thềm. Mỗi ngụm là một cơn khoái cảm chạy khắp cơ thể. Tôi cầm cái chai bằng cả hai tay, muốn thu vào mình mọi luồng hơi lạnh. Những chiếc xe hơi đỗ lại, người ta bước ra và đi vào trong cửa hàng, rồi lại bước ra và lái đi. Tôi cứ ngồi nhìn vậy trong một tiếng đồng hồ với niềm vui sướng hậu-Snapple bồng bềnh mơ ảo như phê thuốc vậy. Lúc sau, một chiếc xe tải nhỏ chầm chậm tiến tới trước cửa hiệu, một người trèo ra từ phía sau và kéo cái ba lô ra trước khi vẫy tay chào tài xế. Anh ta quay sang, thấy chiếc ba lô của tôi.

“Chào cô!” Anh ta nói, một nụ cười toét ra trên khuôn mặt rắn rỏi. “Đi trên PCT nắng như điên, nhỉ?”

Anh ta tên là Rex, một gã gay to lớn tóc đỏ, thích giao du, 38 tuổi. Ấn tượng của tôi về anh ta là kiểu người sẵn sàng trao cho ta nhiều cái ôm nồng thắm. Anh ta vào trong cửa hiệu, mua ba lon bia và uống hết khi ngồi bên cạnh tôi ở thềm nhà, chúng tôi đã ngồi đó nói chuyện đến tận tối mịt. Anh ta sống ở Phoenix và đang kinh doanh cái gì đó mà tôi không tài nào hiểu nổi, nhưng anh ta lớn lên ở một thị trấn nhỏ của miền nam Oregon. Anh ta đi bộ từ biên giới Mexico đến Mojave vào mùa xuân này – bỏ con đường ở đúng cái nơi mà tôi bắt đầu và cũng trong khoảng thời gian đó – để trở lại Phoenix sáu tuần, quay về với vài công chuyện kinh doanh trước khi bắt đầu quay lại con đường mòn từ Ga Cũ, khéo léo tránh không phải đụng vào tí tuyết nào.

“Tôi nghĩ cô cần một đôi giày mới.” Anh ta nói khi tôi chỉ cho anh ta xem bàn chân mình, lặp lại lời của Greg và Brent.

“Nhưng tôi không thể mua giày mới. Tôi không có tiền.” Tôi bảo anh ta, chẳng còn xấu hổ khi thừa nhận chuyện đó nữa.

“Cô mua nó ở đâu?” Rex hỏi.

“REI.”

“Hãy gọi cho họ. Chính sách bảo hành chỗ họ rất được. Họ sẽ thay giày miễn phí cho cô.”

“Thật không?”

“Gọi số 1-800 ấy.” Anh ta nói.

Tôi đã nghĩ về chuyện đó suốt cả buổi tối khi Rex và tôi cùng dựng lều trên cánh đồng sau cửa hiệu, và cả ngày hôm sau khi tôi “chạy đua” nhanh hơn bao giờ hết xuyên qua hơn 19 cây số nhẹ nhàng tới vườn quốc gia Tưởng niệm Thác McArthur-Burney. Khi đến nơi, ngay lập tức tôi lấy cái hộp tiếp tế của mình từ cửa hiệu của vườn quốc gia và đi đến bốt điện thoại trả trước để gọi đến REI. Trong vòng năm phút, người phụ nữ mà tôi nói chuyện đã đồng ý gửi cho tôi một đôi giày mới cỡ lớn hơn, bằng chuyển phát nhanh qua đêm, không mất phí.

“Cô chắc chứ?” Tôi cứ hỏi cô ấy thế, lèo nhèo mãi về những vấn đề mà chiếc giày quá nhỏ đang gây ra cho tôi.

“Vâng.” Cô ấy nói điềm tĩnh. Và bây giờ thì chính thức là tôi yêu REI hơn cả những người làm ra nước chanh Snapple. Tôi cho cô địa chỉ cửa hàng ở vườn quốc gia ghi trên cái hộp chưa kịp mở của tôi. Nếu chân còn đủ khỏe thì tôi đã nhảy cẫng lên sung sướng sau khi gác máy. Tôi rạch cái hộp ra, tìm thấy 20 đô-la rồi hòa cùng đám đông xếp hàng, hy vọng không ai nhận ra mùi hôi nồng nặc từ người mình. Tôi mua một cây kem ốc quế và ngồi xuống cái bàn dã ngoại để ăn nó, chẳng buồn kiềm chế nỗi niềm sung sướng. Rex đi lên khi tôi ngồi đó, và vài phút sau thì Trina xuất hiện với con chó trắng to lớn của bà. Chúng tôi ôm nhau và tôi giới thiệu bà với Rex. Bà và Stacy đã đến vào ngày hôm trước. Bà quyết định bỏ con đường ở đây và quay trở lại Colorado để làm mấy cuộc đi bộ nhiều ngày gần nhà trong hết mùa hè này thay vì đi PCT. Stacy sẽ tiếp tục như kế hoạch.

“Cô chắc chắn là Stacy sẽ rất vui nếu đi cùng với cháu.” Trina nói. “Stacy sẽ đi tiếp vào buổi sáng.”

“Cháu không đi được thế ạ.” Tôi nói, và giải thích với giọng hân hoan rằng tôi còn phải chờ đôi giày mới.

“Bọn cô rất lo cho cháu lúc ở đoạn vành đai Lạch Hat.” Bà nói. “Không có nước ở...”

“Cháu biết mà.” Tôi nói và chúng tôi cùng buồn bã lắc đầu.

“Đến đây nào.” Bà nói với Rex và tôi. “Để cô chỉ cho hai người chỗ bọn cô hạ trại. Đi bộ 20 phút thôi, nhưng xa tất cả chỗ này.” Bà chỉ về đám khách du lịch, quán đồ ăn vặt và cửa hiệu với thoáng khinh thị. “Với lại, miễn phí.”

Bàn chân tôi đã đau đến độ sau mỗi lần nghỉ ngơi nó lại còn đau hơn lúc trước, mỗi lần cố sức những chỗ đau cũ lại tái phát. Tôi khập khiễng theo sau Trina và Rex xuôi xuống con đường đi qua rừng dẫn chúng tôi trở lại PCT, ở chỗ đó có một khoảng trống xung quanh bao bọc bởi cây cối.

“Cheryl!” Stacy gọi, chạy đến ôm tôi.

Chúng tôi nói chuyện với nhau về vành đai Lạch Hat và cái nóng, con đường và việc thiếu nước, những món quán bar có cho bữa tối. Tôi cởi giày và tất, đi đôi xăng đan trong trại và dựng lều, sau đó thực hiện nghi lễ khoan khoái là mở hộp tiếp tế trong khi chúng tôi nói chuyện. Stacy và Rex làm bạn với nhau rất nhanh, họ quyết định đoạn tiếp theo sẽ đi cùng nhau. Đến khi chuẩn bị xong để đi bộ trở lại quán bar ăn tối thì những ngón chân cái của tôi đã sưng và đỏ đến mức trông không khác gì hai củ cải đường. Tôi thậm chí còn không dám đi tất vào nữa, vậy nên tôi phải tập tễnh đi đôi xăng đan đến quán bar. Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn dã ngoại có một cái thuyền giấy đựng xúc xích và món ớt nổ jalapeño và nachos với pho mát màu da cam rực rỡ tràn cả ra xung quanh. Như thể một bữa tiệc và một dịp ăn mừng vậy. Chúng tôi nâng cốc sáp đựng nước sô đa và chúc mừng nhau.

“Chúc cho chuyến đi về nhà của Trina và Odin!” Chúng tôi chạm cốc.

“Chúc Stacy và Rex lên đường thuận lợi!” Chúng tôi chúc.

“Mừng đôi giày mới của Cheryl!” Chúng tôi la lên.

Và, hết sức trang trọng, tôi uống mừng cho điều đó.

Khi tôi tỉnh dậy vào sáng hôm sau, chỉ còn lều của tôi ở lại trong khoảng đất trống giữa rừng cây. Tôi đến nhà tắm dành cho những người cắm trại ở khu cắm trại chính thức trong vườn quốc gia, tắm và quay trở lại khu của mình, ngồi đó hàng giờ liền trên cái ghế của mình. Tôi ăn sáng và ngồi đọc một mạch hết nửa cuốn Lồng chim mùa hè. Buổi chiều, tôi đi đến cửa hàng gần quầy bán thức ăn vặt để xem giày của tôi đã ở đó chưa, nhưng người phụ nữ ngồi ở quầy nói với tôi là bưu điện chưa chuyển đến.

Tôi bỏ đi trong nỗi buồn tủi, thất thểu đi đôi xăng đan xuống một con đường ngắn có lát gạch, tới nơi có thể nhìn thấy toàn cảnh thác nước lớn mà khu vườn này được đặt tên theo. Theo một biển chỉ dẫn giới thiệu, thác Burney là thác nước hùng vỹ nhất của bang California trong gần như cả năm. Khi tôi nhìn vào dòng thác đổ ầm ào như sấm, tôi thấy mình gần như vô hình giữa những người trong tay cầm máy ảnh, bụng đeo túi an toàn, và mặc quần soóc Bermuda. Tôi ngồi trên một cái ghế dài và nhìn cặp đôi nọ cho một đám sóc dạn người ăn nguyên gói kẹo bạc hà Breathsavers, chúng lao đến quanh một biển ghi KHÔNG CHO ĐỘNG VẬT HOANG DÃ ĂN. Tôi giận điên người khi thấy cảnh đó, nhưng tôi nhận ra không phải chỉ vì việc họ cho sóc ăn, mà còn vì họ có đôi có cặp. Tôi gần như không thể chịu nổi khi nhìn cái cách họ dựa vào nhau, đan những ngón tay và bấu vào nhau nhẹ nhàng khi đi xuôi về con đường lát gạch. Tôi vừa phát ốm bởi việc đó vừa ghen tị với những gì họ có. Sự tồn tại của họ dường như là minh chứng cho việc tôi sẽ không bao giờ có một cuộc tình bền lâu. Tôi thấy thương yêu da diết khi nói chuyện trên điện thoại với Paul ở Ga Cũ chỉ vài ngày trước, nhưng bây giờ tôi chẳng còn cảm thấy bất cứ thứ gì kiểu như thế nữa. Mọi thứ đã bình thường rồi bây giờ lại đang tệ đi.

Tôi khập khiễng trở lại lều và kiểm tra hai ngón chân cái bị hành hạ. Chỉ ấn nhẹ thôi cũng đau như tra tấn. Tôi có thể nhìn chúng phập phồng theo đúng nghĩa đen – máu bên dưới thịt đập đều đều dồn về những móng chân trắng rồi hồng, trắng rồi hồng. Chúng sưng to đến nỗi nhìn như thể hai cái móng sắp bật ra rồi. Tôi chợt nghĩ có khi giật chúng ra luôn lại hay. Tôi nhéo lấy một trong hai cái móng và giật mạnh dứt khoát, thấy nhói lên một cái, cái móng rời ra và ngay lập tức tôi cảm thấy nhẹ nhõm, gần như là hoàn toàn không còn đau gì nữa. Ngay sau đó, tôi cũng làm tương tự với cái móng còn lại.

Tôi nhận ra là trong chuyện móng chân này, tôi như đang tỉ thí giành giật với PCT.

Tỷ số bây giờ là 6-4, và tôi sắp sửa bị đuổi kịp rồi.

Trước khi bóng tối ập xuống, bốn người đi bộ PCT khác đã nhập vào chỗ tôi dựng lều. Họ đến khi tôi đang đốt những trang Lồng chim mùa hè cuối cùng trong cái khay nhôm, hai cặp đôi khoảng tuổi tôi đi bộ từ tận Mexico, bỏ đúng cái đoạn tuyết ngập ở Sierra Nevada mà tôi đã bỏ. Hai cặp này khởi hành riêng rẽ nhưng họ gặp nhau và cùng đi chung ở miền nam California, đi bộ và đi vòng tránh tuyết cùng nhau trong một cuộc hẹn hò đôi dài hàng tuần liền giữa vùng hoang dã. John và Sarah đến từ Alberta, Canada, và hẹn hò được chưa đầy một năm thì bắt đầu đi bộ con đường này. Sam và Helen đã kết hôn, họ sống ở Maine. Họ sẽ ở lại hết ngày hôm sau, nhưng tôi thì tiếp tục đi, tôi bảo với họ thế, ngay khi đôi giày mới của tôi đến nơi.

Sáng hôm sau, tôi gói ghém Quái Vật và đi đến cửa hàng bằng đôi xăng đan, đôi giày buộc ở khung ba lô. Tôi ngồi ở một trong những cái bàn dã ngoại gần đó chờ thư đến. Tôi mong mỏi được đi khỏi đây phần nhiều không bởi tôi thích đi mà chỉ bởi tôi phải đi. Để đến được điểm tiếp tế tiếp theo trong khoảng thời gian đã định, tôi phải giữ đúng tiến độ. Mặc dù có những thay đổi và những đoạn đi vòng, vì nhiều lý do về cả tiền bạc lẫn thời tiết, tôi cần phải đi theo kế hoạch của mình để hoàn thành chuyến đi này vào giữa tháng chín. Tôi ngồi hàng giờ liền đọc cuốn sách trong cái hộp của tôi – cuốn Lolita của Vladimir Nabokov – trong khi chờ đợi đôi giày mới. Người đến rồi đi hết lớp này đến lớp khác, thỉnh thoảng họ tụ lại thành vòng tròn nhỏ quanh tôi để hỏi về PCT khi để ý thấy cái ba lô của tôi. Khi tôi nói, những nỗi hoài nghi về chính bản thân mình trên con đường mòn đã rơi rụng sạch và tôi quên béng tất cả những chuyện ngớ ngẩn của mình. Ngồi phơi mình trong sự chú ý của những người vây quanh, tôi có cảm giác mình không chỉ giống một chuyên gia du lịch bụi. Tôi còn thấy mình như một nữ hoàng Amazon chất ngầu.

“Tôi khuyên cô nên ghi chuyện này trong hồ sơ xin việc.” Một bà già quê ở Florida nói. Bà ta điểm trang bằng một cái mũ lưỡi trai hồng rực và một nắm vòng cổ bằng vàng. “Tôi từng làm Nhân sự. Những ông chủ thường tìm kiếm những người làm chuyện như thế này. Nó nói cho họ biết cô cá tính. Nó sẽ khiến cô nổi bật hơn người khác.”

Người đưa thư đến vào khoảng ba giờ. Người của công ty UPS đến sau đó một tiếng. Không ai trong số họ có đôi giày của tôi. Trong lòng tôi có cái gì đang sụt xuống, tôi đi đến chỗ điện thoại trả trước và gọi cho REI.

Họ chưa chuyển đôi giày cho tôi, người đàn ông đầu dây bên kia lịch sự thông báo. Vấn đề là họ nhận ra họ không thể chuyển chúng đến vườn quốc gia này chỉ qua một đêm, bởi vậy họ muốn chuyển chúng bằng đường bưu điện thông thường, nhưng vì họ không biết làm thế nào để liên lạc với tôi để nói với tôi như vậy, nên họ chẳng làm gì cả. “Tôi không nghĩ là anh hiểu.” Tôi nói. “Tôi đang đi PCT. Tôi ngủ trong rừng. Tất nhiên anh không thể nào liên lạc được với tôi. Và tôi không thể chờ ở đây tận... mất bao lâu để chuyển giày của tôi qua đường bưu điện?”

“Gần năm ngày.” Anh ta trả lời như không có gì xảy ra.

“Năm ngày á?” Tôi hỏi. Chính ra thì tôi cũng không bực họ được. Suy cho cùng thì họ đang gửi cho tôi một đôi giày mới miễn phí, nhưng tôi vẫn khó chịu và thấy hoang mang. Bên cạnh việc phải duy trì tiến độ, tôi cần chỗ thức ăn đang có trong ba lô cho đoạn đường tiếp theo – ngót 134 cây số mới đến được vách núi Castle. Nếu ở lại thác Burney để chờ đôi giày thì tôi phải ăn số thực phẩm đó vì – với chỉ hơn năm đô-la một tẹo còn lại – tôi không đủ tiền để ăn năm ngày liền ở quán ăn vườn. Tôi đến chỗ cái ba lô, lấy cuốn hướng dẫn và tìm địa chỉ của vách núi Castle. Không thể tưởng tượng nổi tôi sẽ thế nào nếu đi bộ thêm ngót 134 km kinh hồn trong đôi giày quá nhỏ này, nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc yêu cầu REI gửi chúng đến đó cho tôi.

Khi cúp máy, tôi chẳng cảm thấy mình là một nữ hoàng Amazon chất ngầu nữa.

Tôi nhìn vào đôi giày của mình với vẻ cầu khẩn, như thể tôi có thể thỏa thuận với chúng. Chúng đang treo trên cái ba lô của tôi bằng hai sợi dây giầy đỏ bám đầy bụi bẩn, trông lãnh đạm thờ ơ đến tàn nhẫn. Tôi định để chúng lại hộp miễn phí cho người đi đường PCT ngay khi có được giày mới. Tôi đi đến chỗ chúng, nhưng không thể buộc mình xỏ chân vào đôi giày đó được. Có lẽ tôi nên đi đôi xăng đan mỏng manh này trên vài đoạn đường ngắn. Tôi đã gặp vài người đổi qua lại giữa giày và xăng đan trong khi đi bộ, nhưng xăng đan của họ chắc hơn của tôi nhiều. Tôi chưa bao giờ có ý định dùng xăng đan để đi bộ. Tôi mang chúng theo chỉ để cho chân thư giãn không phải đi giày vào cuối ngày, nó là đồ nhái rẻ tiền tôi mua ở một cửa hàng giảm giá đâu như có 19,99 đô-la. Tôi cởi đôi dép ra nâng niu nó trên tay, như thể bằng cách kiểm tra nó kỹ càng, tôi có thể truyền cho chúng sức bền mà chúng không có. Đế dưới đôi Velcro này có đá dăm găm, và bật ra khỏi đầu cái quai đen đã bị sờn. Đế của chúng dễ uốn như bột nhão và mỏng đến nỗi tôi có thể cảm thấy cạnh của những viên sỏi và cành cây bên dưới chân. Chẳng khác lắm so với đi chân không. Và tôi sẽ đi đến vách núi Castle bằng đôi dép này sao?

Có lẽ không nên, tôi nghĩ. Có lẽ tôi sẽ không đi nữa. Thế này đã là đủ xa rồi. Đủ để tôi cho vào hồ sơ xin việc của mình rồi.

“Khốn kiếp.” Tôi nói. Tôi nhặt một viên đá lên và ném thật lực vào cái cây gần đó, một viên nữa, rồi lại một viên nữa.

Tôi nghĩ đến người phụ nữ mà lúc nào tôi cũng nghĩ đến trong những lúc như thế này: một nhà chiêm tinh đã đọc bản đồ sao của tôi lúc tôi 23 tuổi. Một người bạn đã sắp xếp cho tôi gặp bà ấy như là một món quà chia tay trước khi tôi rời Minnesota đến thành phố New York. Bà bói này là một người đàn bà trung tuổi trông nghiêm túc tên là Pat. Bà ta bảo tôi ngồi xuống bên bàn ăn của bà với một mảnh giấy đầy những ký hiệu bí ẩn và tiếng máy ghi âm kêu ro ro lặng lẽ giữa chúng tôi. Tôi không tin lắm vào mấy trò bói toán này. Tôi nghĩ chắc cũng vui, được “tự sướng” một buổi khi bà ta nói mấy thứ chung chung kiểu Cô có một trái tim nhân hậu.

Nhưng bà ta không nói thế. Hay đúng hơn là bà ta có nói những thứ đó, nhưng cũng nói cả những chi tiết cụ thể một cách kỳ lạ, hết sức chính xác và đặc biệt, vừa an ủi vừa buồn đau đến nỗi điều duy nhất tôi có thể làm là cố không oang oang thừa nhận và thể hiện đau buồn. “Sao bà biết được chuyện đó?” Tôi cứ hỏi mãi như thế. Và rồi tôi nghe bà ta giải thích về các hành tinh, về Mặt trời và Mặt trăng, về “các góc chiếu” và khoảnh khắc tôi sinh ra; về việc có cung mặt trời là Xử Nữ, cung mặt trăng là Sư Tử và cung mọc là Song Tử thì nghĩa là gì. Tôi gật đầu trong khi nghĩ Đây là một đống vớ vẩn điên khùng đi ngược lại với trí tuệ của thời đại New Age, và rồi bà ta lại nói một điều khác đập tan suy nghĩ của tôi thành 7.000 mảnh vì nó quá đúng.

Cho đến khi bà ta bắt đầu nói về bố tôi. “Ông là cựu binh chiến tranh Việt Nam?” Bà ta hỏi. Không, tôi bảo bà ta, ông không phải. Ông ta ở trong quân đội một thời gian ngắn vào giữa những năm 60 – thực tế, ông ta đóng quân ở căn cứ tại Colorado Springs nơi ông ngoại tôi cũng đóng quân, bố mẹ tôi gặp nhau khi đó – nhưng ông chưa từng đến Việt Nam bao giờ.

“Có vẻ như ông ta là một cựu binh chiến tranh Việt Nam.” Bà ta khăng khăng. “Có lẽ không đúng theo nghĩa đen. Nhưng ông ta có điểm gì đó giống với vài người trong số những cựu binh chiến tranh Việt Nam. Ông ta bị tổn thương sâu sắc ở bên trong. Ông ta đã bị hủy hoại. Sự hủy hoại ấy ảnh hưởng đến cuộc sống của ông và sang cả cô.”

Tôi sẽ không gật đầu. Mọi thứ xảy ra với tôi trong toàn bộ cuộc đời tôi đã nhào trộn thành lớp xi măng giữ cho đầu tôi cứng đơ hoàn toàn vào khoảnh khắc mà bà bói ấy bảo cha tôi đã ảnh hưởng đến tôi.

“Bị thương ạ?” Tôi chỉ nói được có vậy.

“Đúng vậy.” Pat nói. “Và cô bị thương cũng cùng một chỗ. Các ông bố sẽ làm như thế nếu họ không làm vết thương của họ lành lại được. Họ làm con cái bị thương đúng cái chỗ ấy.”

“Hừm.” Tôi nói, mặt không biểu lộ gì.

“Tôi có thể sai.” Bà ta nhìn xuống tờ giấy giữa chúng tôi. “Không cần thiết phải hiểu theo nghĩa đen.”

“Thật ra tôi chỉ gặp bố tôi ba lần từ lúc sáu tuổi.” Tôi nói.

“Các ông bố có nghĩa vụ dạy con họ trở thành những chiến binh, cho họ sự tự tin để lên ngựa và cưỡi vào trận đấu khi cần. Nếu bố cô không làm như vậy cho cô, thì cô phải tự dạy chính mình.”

“Nhưng... tôi nghĩ tôi đã làm rồi.” Tôi lắp bắp. “Tôi mạnh mẽ... tôi đối mặt với mọi chuyện. Tôi...”

“Đây không phải là chuyện về sức mạnh.” Pat nói. “Và cô có thể chưa nhìn ra nó, nhưng có lẽ sẽ đến lúc đó – có thể nhiều năm nữa kể từ bây giờ – khi cô sẽ cần lên ngựa và phi vào trận đấu thì cô sẽ chần chừ. Cô sẽ chùn bước. Để chữa lành vết thương bố cô đã gây ra, cô sẽ phải lên ngựa và phi ra trận như một chiến binh.”

Lúc đó tôi hơi cười, tiếng cười khẽ có chủ định bị tắc lại, nghe buồn hơn vui. Tôi biết vậy vì tôi đã đem cuộn ghi âm ấy về nhà và nghe đi nghe lại: Để chữa lành vết thương bố cô đã gây ra, cô sẽ phải lên ngựa và phi ra trận như một chiến binh. Cười khẽ.

Tua lại. Phát lại.

“Mày có muốn bị đấm cho vỡ mõm ra không hả?” Bố tôi thường hỏi tôi vậy khi ông giận dữ. Ông giơ nắm đấm cách mặt tôi có vài phân khi tôi ba rồi bốn rồi năm rồi sáu tuổi. “Muốn không? Hử? Hử? HỬ?”

“NÓI!”

Tôi đi đôi dép xăng đan ngu ngốc và bắt đầu con đường dài đến vách núi Castle.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.