TÂNG TẤNG CÂY CỐI

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13 - TÂNG TẤNG CÂY CỐI

❊ ❊ ❊

Người phụ nữ ấy lần đầu tiên đi qua PCT. Bà là một giáo viên nghỉ hưu ở Bellingham, Washington, tên là Catherine Montgomery. Trong cuộc nói chuyện với người leo núi kiêm nhà văn Joseph T. Hazard, bà gợi ý rằng nên có một con đường mòn từ biên giới này đến biên giới kia “ở trên cao xuôi theo những ngọn núi miền tây của chúng ta.” Đó là vào năm 1926. Mặc dù một nhóm nhỏ những người chuyên đi bộ ngay lập tức đã thực hiện ý tưởng của Montgomery, nhưng phải đến tận sau năm Clinton Churchill Clarke thực hiện công việc này thì những manh nha về đường mòn PCT mới bắt đầu tụ lại rõ ràng. Clarke là một người khai thác dầu, sống nhàn rỗi ở Pasadena, nhưng ông cũng là một người tha thiết với cuộc sống ngoài trời. Kinh hãi với thứ văn hóa “chôn mông trên những cái ghế xe êm ái, ngồi mãi trên những cái ghế bành êm ái để xem phim”, Clarke vận động chính phủ liên bang dành ra một vành đai hoang dã để tạo ra con đường mòn. Tham vọng của ông còn đi xa hơn cả PCT, ông hy vọng nó sẽ dài thật dài hơn nữa, sẽ thành “Đường mòn châu Mỹ” chạy suốt từ Alaska đến Chile. Ông tin rằng dành nhiều thời gian với thiên nhiên sẽ đem đến “một liều thuốc lâu bền và giá trị văn minh”, và ông dành 25 năm trời để vận động cho PCT, mặc dù khi ông chết vào năm 1957 con đường vẫn chỉ là một giấc mơ.

Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của Clarke đối với con đường chính là việc quen biết Warren Rogers, lúc đó 24 tuổi, khi hai người gặp nhau vào năm 1932. Rogers đang làm việc cho YMCA (Liên hiệp Những người trẻ theo đạo Công giáo) ở Alhambra, California, khi Clarke thuyết phục anh giúp vẽ bản đồ con đường bằng cách bổ nhiệm các nhóm tình nguyện viên YMCA đo đạc và đôi khi là xây dựng nên cả những đoạn đường PCT bây giờ. Mặc dù lúc đầu còn lưỡng lự, nhưng Rogers sớm trở nên tha thiết với việc kiến tạo con đường và ông dành hết phần đời còn lại để vận động cho PCT, vượt qua tất cả những trở ngại về pháp lý, tài chính và hậu cần ngáng trở trên đường. Khi Quốc hội ký quyết định chính thức công nhận Đường mòn Quốc gia Pacific Crest vào năm 1968, Rogers vẫn còn sống, nhưng ông đã qua đời vào năm 1992, một năm trước khi con đường được hoàn thành.

Tôi đã đọc những thông tin này trong đoạn cuốn sách hướng dẫn viết về lịch sử của con đường vào mùa đông năm ngoái, nhưng cho đến tận bây giờ – vài cây số từ thác Burney, khi tôi đi bộ bằng đôi dép xăng đan mỏng manh trong cái nóng buổi chập tối – thì tôi mới nhận ra ý nghĩa của câu chuyện, và ý nghĩa ấy đánh thẳng vào ngực tôi: dù nghe ngớ ngẩn bao nhiêu, thì khi Catherine Montgomery, Clinton Clarke, Warren Rogers và hàng trăm người kiến tạo PCT tưởng tượng ra những người sẽ đi con đường mòn “ở trên cao xuôi theo những ngọn núi miền tây của chúng ta”, họ chắc hẳn đã tưởng tượng ra tôi. Chẳng quan trọng gì khi mọi thứ từ đôi dép quai hậu nhái rẻ tiền đến đôi giày và ba lô chuẩn công nghệ cao trước 1995 của tôi đều hoàn toàn xa lạ với họ, vì những thứ quan trọng thì sẽ chẳng thay đổi theo thời gian. Đó là thứ buộc họ phải chống lại tất cả những điều vớ vẩn để đấu tranh cho con đường, và đó là thứ giúp tôi và những người đi bộ đường dài khác tiến lên trong những ngày đau buồn nhất này. Dụng cụ trang bị, giày dép, những phong trào du lịch bụi, những triết lý của bất kỳ một thời đại cụ thể hay thậm chí là chuyện đi từ điểm A đến điểm B chẳng có nghĩa lý gì cả.

Điều có nghĩa lý duy nhất là cảm giác khi ở trong chốn hoang dã. Là việc đi bộ hàng cây số chẳng vì lý do nào khác ngoài chứng kiến những lùm cây, đồng cỏ và núi non, hoang mạc, suối reo và những hòn đá, sông suối và cỏ dại, Mặt trời mọc và Mặt trời lặn. Trải nghiệm ấy thật mãnh liệt và nguyên bản. Với tôi dường như người ta luôn có cảm giác này khi ở trong chốn hoang dã, và miễn là hoang dã còn tồn tại thì cảm giác đó cũng vẫn luôn còn. Montgomery biết điều đó, tôi đoán vậy. Và Clarke, Rogers cùng hàng ngàn con người đi trước hay đi sau họ đều biết điều đó. Đó là những gì tôi biết ngay cả trước khi tôi thật sự làm việc này, trước cả khi tôi có thể biết PCT thực sự gian khổ và vinh quang như thế nào, con đường sẽ vừa hủy diệt vừa bao bọc tôi mãnh liệt đến nhường nào.

Tôi đã nghĩ về điều đó khi bắt đầu tuần thứ sáu trên con đường mòn, bên dưới bóng râm ẩm thấp của những cây thông pondersora và những cây gỗ linh sam Douglas. Lòng bàn chân lót đế dép xăng đan mỏng quẹt có thể cảm nhận thật rõ bề mặt gập ghềnh của con đường. Các cơ bắp ở mắt cá chân có vẻ thiêu thiếu khi không có đôi giày nâng đỡ, nhưng ít nhất thì những ngón chân sung húp cũng không còn bị tì vào mũi giày trong mỗi bước đi nữa. Tôi đi cho đến khi tới được một cây cầu gỗ vắt ngang qua con thung hẹp. Không tìm được chỗ nào bằng phẳng gần đấy, tôi dựng lều ở ngay trên cầu, cũng là trên con đường mòn, và nằm ngủ trong khi lắng nghe tiếng ì ầm đều đều suốt cả đêm của một con thác nhỏ ngay bên dưới.

Tôi tỉnh dậy ngay từ tia nắng đầu tiên và đi bộ vài giờ bằng đôi dép xăng đan, leo được khoảng 500 m, thỉnh thoảng thấy được ngọn núi Burney ở phía nam khi đi ra từ bóng râm của những cánh rừng thông và linh sam. Tôi dừng lại ăn trưa, miễn cưỡng tháo đôi giày ra khỏi cái ba lô, chẳng có lựa chọn nào ngoài xỏ chân vào. Tôi bắt đầu thấy những chuyện mà các tác giả của Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California đã lưu ý trong phần giới thiệu về những dặm đường giữa thác Burney và vách núi Castle. Họ đã viết rằng đoạn đường này ít được quan tâm bảo trì đến mức nhiều chỗ chẳng khá hơn đi đường rậm là bao nhiêu, và mặc dù tôi chưa nhìn thấy những chỗ đó thì một lời cảnh báo như thế cũng chẳng phải điềm hay cho đôi xăng đan của tôi. Chúng cũng đã bắt đầu hỏng, đế dép đang rời ra và lật phật bên dưới mỗi bước chân tôi, găm cành con và đá dăm mỗi khi tôi đi.

Tôi nhét lại chân vào đôi giày và tiếp tục đi, lờ đi cơn đau đớn khi tôi lên dốc, đi qua một đôi cột điện cao thế kỳ quặc phát ra những âm thanh như từ thế giới bên kia vậy. Một vài lần trong ngày, tôi nhìn thấy núi Hói đầu và đỉnh Mè nheo ở phía tây bắc – những ngọn núi màu xanh và màu nâu bao phủ bởi những cái cây bị gió thổi tơi tả và những bụi cây – nhưng nơi tôi đi qua hầu hết là một cánh rừng rậm rạp, băng qua ngày càng nhiều những con đường hoang sơ hằn vết lốp xe máy kéo. Tôi đi qua những khu cây cối bị đốn nay đang hồi sinh, những cánh đồng rộng lớn đầy gốc cây bị cưa cụt cùng với những rễ cây và những cây con nhỏ chẳng cao hơn tôi. Ở đó, nhiều chỗ chẳng lần ra đâu là con đường mòn giữa um tùm những cành cây và cây cối bị chặt hạ. Những cái cây cùng giống loài với những cây tôi thường đi qua trên đường, nhưng cánh rừng thì khác hẳn, mông lung và không hiểu sao lại tối hơn, mặc dù tầm nhìn chốc chốc lại được mở rộng.

Chiều muộn, tôi dừng lại nghỉ, từ điểm đó trên con đường mòn có thể nhìn vượt ra ngoài vùng đất xanh xanh nhấp nhô lượn sóng. Tôi đang ở trên một con dốc, ngọn núi vươn lên trên và thoải xuống dần bên dưới. Chẳng có chỗ nào khác, tôi ngồi ngay giữa đường như vẫn thường làm. Tôi tháo giày, tất ra và mát xa đôi bàn chân khi nhìn ra xa qua những ngọn cây. Đoạn đường ở trên cao này hẳn là rìa cánh rừng. Tôi thích cái cảm giác thấy mình cao hơn hẳn những cái cây, cảm giác nhìn thấy được vòm lá của chúng từ trên cao, như một con chim. Khung cảnh ấy xoa dịu nỗi lo lắng về tình trạng cái chân và con đường gập ghềnh phía trước.

Trong cơn mơ màng ấy, tôi đưa tay sang túi bên của cái ba lô. Khi tôi kéo khóa túi, Quái Vật đổ nhào lên đôi giày, cái giày trái văng ra, lộn nhào trên không như thể tôi ném nó. Tôi nhìn nó nảy lên – vừa nhanh như ánh sáng xẹt qua vừa như một thước phim quay chậm – và rồi tôi nhìn nó lộn nhào ra khỏi vách núi và rơi xuống những cái cây, không một tiếng động. Tôi thở hổn hển trong nỗi kinh ngạc và vội vàng với lấy cái giày kia, ghì nó vào ngực, chờ cho khoảnh khắc vừa xong đảo ngược lại, chờ cho ai đó từ trong rừng bước ra cười phá lên, lắc đầu và nói rằng tất cả chuyện này chỉ là một trò đùa.

Nhưng chẳng có ai cười cả. Sẽ không có ai làm thế. Vũ trụ này, tôi đã học được rằng, không bao giờ biết bông đùa. Nó sẽ lấy đi bất cứ thứ gì nó muốn và sẽ không bao giờ trả lại. Tôi thực sự chỉ còn một chiếc giày.

Vậy nên tôi đứng dậy rồi ném mạnh chiếc còn lại vào vách núi. Tôi nhìn xuống đôi chân trần, nhìn chằm chằm vào nó một hồi lâu, rồi ra sức sửa đôi xăng đan bằng băng dính. Tôi dán đế dép và buộc lại quai ở chỗ chúng có nguy cơ bị bung ra. Tôi đi tất vào chân để bảo vệ bàn chân khỏi những đường băng dính và bước đi trong lòng thấy chán ốm bởi rắc rối mới này, nhưng tôi trấn an mình rằng ít nhất thì tôi cũng có một đôi giày mới đang chờ ở vách núi Castle.

Đến tối, cánh rừng dẫn lối vào một vạt rừng chỉ có thể miêu tả là sự hoang tàn của chốn hoang dã. Cánh rừng bị xé toạc, lột da, lộ ra những vết sẹo và khoảng rừng bị đốn sạch cây cối. Con đường mòn PCT rón rén men theo những bờ rìa. Nhiều lần tôi phải dừng lại để tìm đường vì nó bị cành cây rơi và những đống đất đào xới lên che khuất. Những cái cây còn đứng bên rìa khoảng rừng bị đốn dường như đang khóc than, lớp vỏ sần sùi lộ ra, những cành cây gồ ghề vươn ra theo những góc kỳ quặc. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất kỳ thứ gì giống như thế này trong rừng. Như thể có một quả chùy khổng lồ đã văng qua đây vậy. Đây có phải là vành đai hoang dã mà Quốc hội đã hình dung trong đầu khi họ đưa ra quyết định bảo tồn nó? Hình như không phải thế, nhưng tôi đang đi xuyên qua đất trên rừng quốc gia, và mặc dù cái tên ấy nghe đầy hứa hẹn, điều đó cũng có nghĩa là tôi đang ở trên mảnh đất mà giới quyền lực có thể sử dụng khi họ thấy phù hợp với quyền lợi công. Đôi khi điều đó có nghĩa là mảnh đất này còn nguyên sơ, giống như hầu hết những đoạn trên đường mòn PCT. Lúc khác nó lại có nghĩa là những cái cây cổ thụ bị đốn hạ để làm những thứ như ghế và giấy vệ sinh.

Cảnh đất đai bị đào xới, cằn cỗi khiến lòng tôi bất an. Tôi cảm thấy buồn bã và giận dữ vì chuyện đó, bởi day dứt vì cái sự thật rằng chính tôi cũng là kẻ đồng lõa. Nói cho cùng, tôi cũng dùng bàn, dùng ghế và giấy vệ sinh đấy thôi. Khi tìm lối đi qua chỗ hoang tàn ấy, tôi biết là ngày hôm đó tôi không thể đi được nữa. Tôi trèo lên con đường hẹp hơi dốc để đến được chỗ san phẳng bên trên và dựng lều giữa những gốc cây và những mô đất chưa bị xới tung lên, cảm thấy cô đơn chẳng giống với mọi khi. Tôi muốn có người để nói chuyện, và chẳng phải với một người hú họa bất kỳ nào đó.

Tôi muốn nói chuyện với Karen hoặc Leif hoặc dượng Eddie. Tôi muốn lại có một gia đình, muốn được bao bọc trong thứ gì đó mà tôi tin là an toàn trước sự hủy diệt. Ngay bên cạnh nỗi khát khao có họ, tôi thấy bừng bừng cả cảm giác ghét bỏ họ. Tôi tưởng tượng ra một cái máy lớn, giống như cái máy đã đào xới cánh rừng này, đang đảo lộn 40 mẫu rừng của chúng tôi ở Minnesota. Tôi khát khao với tất cả con tim mình rằng nó sẽ thật sự xảy ra. Khi ấy tôi sẽ được tự do, dường như là vậy. Vì chúng tôi đã chẳng được an toàn trước sự hủy diệt sau khi mẹ mất nữa, sự phá hủy toàn diện bây giờ sẽ là một sự giải thoát. Mất mát gia đình và căn nhà chính là cánh rừng bị đốn trụi trong tôi. Những gì còn lại chỉ là bằng chứng xấu xí của một thứ chẳng còn tồn tại nữa.

Lần cuối cùng tôi về nhà là tuần trước khi tôi đi PCT. Trước đó tôi đã lái xe lên phía bắc để tạm biệt dượng Eddie và tới thăm mộ mẹ, biết rằng tôi sẽ không trở lại Minnesota sau khi chuyến đi kết thúc. Xong ca làm cuối cùng tại nhà hàng nơi tôi phục vụ bàn ở Minneapolis, tôi lái xe ba tiếng đồng hồ về phía bắc, đến nơi vào lúc một giờ sáng. Tôi định đỗ xe ở lối xe vào và ngủ ở ghế sau xe để không làm phiền ai trong nhà, nhưng khi tôi đến có một bữa tiệc đang diễn ra. Ngôi nhà sáng trưng và ở ngoài sân có một đống lửa; lều chõng rải rác xung quanh, tiếng nhạc ầm ĩ om sòm phát ra từ dàn loa dựng trên bãi cỏ. Đó là dịp lễ Ngày Chiến sĩ Trận vong. Tôi bước ra khỏi xe và đi xuyên qua đám người ở đó, hầu hết bọn họ tôi chẳng biết là ai. Tôi hơi bất ngờ, nhưng chẳng thấy ngạc nhiên – bởi cả bữa tiệc ầm ĩ này lẫn việc tôi không được mời. Đó chỉ là bằng chứng rõ ràng hơn cho việc mọi thứ đã thay đổi sâu sắc như thế nào.

“Cheryl!” Leif gào lên khi tôi bước vào ga-ra chật kín người. Tôi chen tìm đường xuyên qua đám đông để đến chỗ nó và chúng tôi ôm chầm lấy nhau. “Em đang bay!” Nó hớn hở nói và nắm chặt cánh tay tôi.

“Dượng Eddie đâu?” Tôi hỏi.

“Em không biết, nhưng em có cái này cho chị xem.” Nó nói, rồi kéo tôi đi. “Đảm bảo chị sẽ tức điên lên cho mà xem.”

Tôi theo nó vào sân và lên cầu thang trước của ngôi nhà, đi qua cửa cho đến khi chúng tôi đứng trước cái bàn ăn. Chính là cái bàn ở căn hộ Tree Loft khi chúng tôi còn là những đứa trẻ, cái bàn mà mẹ mua với giá 10 đô là, cái bàn chúng tôi ăn trong bữa đầu tiên gặp Eddie, khi chúng tôi nghĩ mình là người Trung Quốc vì ngồi ăn ở trên sàn. Bây giờ, nó đã cao như bình thường. Sau khi chúng tôi chuyển đi khỏi Tree Loft và chuyển tới một căn nhà bình thường với dượng Eddie, ông cắt đi mấy cái chân bàn ngắn ngủn sau đó đóng một cái thùng rượu vào mặt dưới và chúng tôi ngồi trên ghế, ăn bên cái bàn đó trong suốt những năm tháng ấy. Cái bàn chưa bao giờ đẹp, và ngày càng xấu xí hơn qua bằng ấy năm, nứt nẻ ở những chỗ mà dượng Eddie sửa lại bằng vụn gỗ, nhưng nó là của chúng tôi.

Hoặc ít nhất nó vẫn còn là của chúng tôi cho đến cái đêm hôm đó, trước khi tôi đi PCT một tuần.

Bây giờ, mặt bàn chằng chịt những chữ mới khắc, những cái tên và chữ viết tắt nối với nhau bằng những dấu cộng hoặc viền quanh bằng hình trái tim, rõ ràng là sản phẩm của những kẻ ở bữa tiệc này. Khi chúng tôi nhìn, một cậu nhóc thiếu niên mà tôi không biết đang dùng con dao quân dụng Thụy Sĩ để khắc vào mặt bàn.

“Dừng lại.” Tôi ra lệnh, và nó nhìn tôi cảnh giác. “Cái bàn đó là...” Tôi không thể nói hết được những điều tôi muốn nói. Tôi chỉ quay đi và phóng ra khỏi cửa. Leif đi theo tôi qua những cái lều và đám lửa trại, qua cái chuồng gà bây giờ đã không còn gà, xa khỏi chuồng ngựa giờ đã không còn ngựa và theo con đường dẫn vào rừng tới cái vọng lâu, ở đó tôi ngồi xuống và khóc trong khi em tôi ngồi lặng lẽ bên cạnh tôi. Tôi ghê tởm dượng Eddie, nhưng phát ốm với bản thân mình nhiều hơn. Tôi đã đốt nến và viết những lời tuyên ngôn trong cuốn ghi chép của mình. Tôi đã đi đến những kết luận lành mạnh về sự chấp nhận và biết ơn, về định mệnh và sự tha thứ và cơ hội. Ở một góc bé nhỏ mạnh mẽ bên trong mình, tôi đã để mẹ tôi, bố tôi đi và cuối cùng là dượng Eddie ra đi. Nhưng cái bàn ấy là một chuyện khác. Tôi chưa từng nghĩ rằng tôi cũng phải để nó ra đi.

“Chị rất mừng là sẽ rời khỏi Minnesota.” Tôi nói, những lời thốt ra từ miệng tôi nghe thật cay đắng. “Quá mừng.”

“Em thì không.” Leif nói. Nó đặt tay lên mái tóc phía sau đầu tôi, rồi rụt tay lại.

“Chị không có ý là chị mừng vì rời xa em.” Tôi nói, lấy tay lau mặt và mũi. “Nhưng dù sao chị cũng mấy khi gặp em đâu.” Đúng là như vậy, dù đã biết bao lần nó tuyên bố rằng tôi là người quan trọng nhất trong cuộc đời nó – là “người mẹ thứ hai”, thỉnh thoảng nó gọi tôi thế – tôi cũng họa hoằn lắm mới gặp được nó. Nó khó gần và mơ hồ, thiếu trách nhiệm và gần như không thể theo dõi sát sao được. Điện thoại nó lúc nào cũng không kết nối được. Cuộc sống của nó thường lúc nào cũng tạm bợ. “Em có thể đến thăm chị.” Tôi nói.

“Đến thăm chị ở đâu?” Nó hỏi.

“Bất cứ nơi nào chị quyết định sống vào mùa thu. Sau khi chị đi xong PCT.”

Tôi nghĩ đến nơi tôi sẽ sống. Tôi không thể nào tưởng tượng ra đó là nơi đâu. Có thể là bất cứ đâu. Điều duy nhất tôi biết là sẽ không phải ở đây. Không ở đây! Không ở đây! Mẹ đã khăng khăng như vậy trong những ngày sắp qua đời, khi tôi đòi mẹ nói cho tôi biết mẹ thích chúng tôi rải tro ở nơi nào. Tôi không thể hiểu nổi ý mẹ khi nói thế nghĩa là sao, mẹ muốn nói đến bang Minnesota hay nói đến tình trạng sức khỏe lúc bấy giờ của mẹ [1].

“Có thể là Oregon.” Tôi nói, và chúng tôi im lặng một lúc.

“Cái vọng lâu này rất mát vào ban đêm.” Mấy phút sau em thì thầm, và hai chúng tôi ngó quanh, nhìn nó trong ánh sáng ban đêm mờ tỏ. Paul và tôi đã tổ chức đám cưới ở đây. Chúng tôi cùng nhau xây nó nhân dịp lễ cưới gần bảy năm trước, cùng với sự giúp sức của dượng Eddie và mẹ. Đó là tòa lâu đài khiêm tốn cho tình yêu ngây thơ và vắn số của chúng tôi. Nó được lợp mái thiếc; các vách bằng gỗ thô, sờ tay vào sẽ thấy những mảnh vụn. Sau khi tôi cưới Paul ở cái vọng lâu ấy, nó đã trở thành nơi dừng chân hoặc tụ tập. Dượng Eddie đã treo một cái võng lớn vắt ngang qua cả cái lều làm quà tặng mẹ nhiều năm về trước.

“Lên ngồi võng đi.” Leif nói, chỉ vào cái võng. Chúng tôi ngồi lên võng và tôi đưa võng nhè nhẹ, một chân đạp vào chính hòn đá tôi đã đứng khi cưới Paul.

“Giờ chị ly dị rồi.” Tôi nói không biểu lộ cảm xúc gì.

“Em tưởng chị ly dị lâu rồi chứ.”

“Ừ, bây giờ là chính thức. Bọn chị phải gửi giấy tờ lên bang để họ xét duyệt. Chị mới nhận giấy tờ cuối cùng tuần trước, đóng dấu tem của quan tòa.”

Nó gật đầu và chẳng nói gì. Dường như nó chẳng tiếc xót gì cho tôi và cuộc ly hôn mà tôi mang lại cho chính mình. Nó, dượng 1q1 Eddie và Karen quý Paul. Tôi không thể khiến họ hiểu tại sao tôi phải làm rối tung mọi thứ lên như thế. Nhưng hai người có vẻ rất hạnh phúc mà là tất cả những gì họ có thể nói. Và đúng thế thật: chúng tôi có vẻ hạnh phúc. Cũng như tôi có vẻ rất bình tâm sau cái chết của mẹ. Nỗi đau buồn thì chẳng bao giờ có một khuôn mặt cả.

Ngồi đung đưa trên võng, qua đám cây cối chúng tôi thấy ánh đèn lấp loáng từ ngôi nhà và đống lửa trại. Chúng tôi nghe âm thanh lao xao của đám người lúc tiệc tàn. Mộ của mẹ ở sau chúng tôi, chỉ độ 30 bước nữa trên con đường này, tức là đi quá cái vọng lâu này đến một khu đất trống nhỏ, nơi đó chúng tôi trồng một thảm hoa, chôn tro của mẹ, và đặt một tấm bia. Tôi có cảm giác mẹ đang ở với chúng tôi và có lẽ Leif cũng đang có cảm giác như vậy, mặc dù tôi không nói lời nào về chuyện đó, sợ rằng lời tôi thốt ra sẽ làm cảm giác ấy bỏ đi mất. Tôi ngủ quên và tỉnh dậy khi Mặt trời mấp mé trên bầu trời, giật mình quay sang Leif, trong giây lát quên mất mình đang ở đâu.

“Chị ngủ quên mất.” Tôi nói.

“Em biết.” Nó trả lời. “Em thức suốt. Tại thuốc mà.”

Tôi ngồi dậy trong võng, quay lại nhìn nó. “Chị rất lo cho em. Vụ ma túy ấy.”

“Chị cũng có khác gì đâu.”

“Chị khác. Chỉ một giai đoạn ngắn, em biết thế mà.” Tôi nói, cố giữ giọng không nghe như đang chống chế. Có rất nhiều điều khiến tôi phải hối tiếc khi để mình dính vào ma túy, nhưng mất uy tín với đứa em trai là điều tôi tiếc nuối nhất.

“Mình đi dạo một chút đi.” Nó nói.

“Mấy giờ rồi?” Tôi hỏi.

“Quan tâm làm gì?”

Tôi đi theo nó trở lại con đường mòn, đi qua đám lều và xe hơi lặng im rồi đi xuống lối đi cho xe ô tô đến con đường trải sỏi ngang qua nhà chúng tôi. Ánh sáng mềm mại pha chút sắc hồng phớt, đẹp đến nỗi cơn mệt nhọc chẳng thành vấn đề gì nữa. Dù không nói trước, chúng tôi vẫn tự động đi đến ngôi nhà hoang cách một đoạn ngắn đi xuống từ lối cho xe ô tô, hồi còn bé, trong những ngày hè dài trước khi chúng tôi đủ lớn để lái xe, chúng tôi hay đến đấy khi buồn chán. Hồi đó ngôi nhà vốn đã trống vắng và hoang tàn. Bây giờ nó còn hoang tàn hơn.

“Chị nghĩ cái bà sống ở đây tên là Violet.” Tôi nói với em trai khi chúng tôi leo lên bậc thềm, nhớ đến những chuyện đồn thổi về ngôi nhà mà nhiều năm trước chúng tôi nghe được từ mấy người già cả gốc Phần Lan. Cửa trước chưa bao giờ khóa và bây giờ vẫn thế. Chúng tôi đẩy nó mở ra và đi vào bên trong, bước qua những chỗ thanh lát sàn bị thiếu. Thật ngạc nhiên là đồ đạc vẫn nằm rải rác khắp nhà y như nhiều năm trước, chỉ trông hoang tàn hơn thôi. Tôi nhặt lên một tờ tạp chí ố vàng, đọc thấy nó được xuất bản bởi Đảng Cộng sản Minnesota và phát hành vào tháng mười năm 1920. Một cốc trà sứt mẻ in hình những bông hồng nằm bên cạnh tờ báo, tôi cúi xuống đặt nó lại ngay ngắn. Ngôi nhà bé đến nỗi chỉ đi mấy bước chân là đã hết. Tôi bước ra phía sau, tới một cánh cửa gỗ lệch khỏi bản lề, phần trên cánh cửa gắn tấm kính nhìn vẫn còn mới.

“Đừng động vào đấy.” Leif thì thầm. “Nó mà vỡ thì nhỡ có điềm gì.”

Chúng tôi thận trọng bước qua nó và đến gian bếp. Có những cái rãnh, những cái lỗ và một vết đen khổng lồ ở chỗ từng đặt cái bếp. Trong góc có một cái bàn gỗ nhỏ thiếu mất một chân. “Em có khắc tên em lên đó không?” Tôi hỏi, chỉ tay vào cái bàn, giọng chợt lóe lên cảm xúc.

“Đừng.” Leif nói, chộp lấy vai tôi và lắc thật mạnh.

“Hãy quên nó đi, chị. Đây là thực tế. Và chúng ta phải chấp nhận thực tế thôi, dù thích hay không.”

Tôi gật đầu và nó buông tôi ra. Chúng tôi đứng cạnh nhau, đưa mắt nhìn qua cửa sổ ra ngoài sân. Có một cái xưởng hư nát từng là nhà tắm hơi và một cái máng ăn giờ đầy cỏ dại và mốc meo. Quá chỗ đó là một đầm lầy rộng lớn dẫn đến một lùm cây bu lô ở đằng xa, và xa hơn nữa là một vũng lầy chúng tôi biết nhưng không nhìn thấy.

“Tất nhiên, em sẽ không khắc vào cái bàn đó và chị cũng thế.” Một lúc sau Leif quay sang tôi nói. “Chị biết tại sao không?” Nó hỏi.

Tôi lắc đầu, dù tôi biết câu trả lời.

“Vì chúng ta được mẹ nuôi nấng.”

Tôi rời khỏi chỗ dựng lều khi ánh sáng đầu tiên ló dạng và chẳng nhìn thấy ai suốt cả buổi sáng. Đến trưa tôi vẫn chưa nhìn thấy PCT. Tôi đã lạc khỏi nó giữa những cái cây bị đốn và những con đường tạm thời cắt dọc cắt ngang và cuối cùng xóa sạch dấu vết PCT. Lúc đầu tôi không hoang mang lắm, vì tin rằng con đường tôi đang đi sẽ ngoằn ngoèo thế nào đó rồi cũng lại tới điểm giao nào đó với con đường mòn, nhưng không phải vậy. Tôi lấy bản đồ và la bàn ra để xác định phương hướng. Hoặc cái mà tôi tin là phương hướng của mình – kỹ năng xác định phương hướng của tôi vẫn còn chưa đáng tin lắm. Tôi đi theo một con đường khác, nhưng nó chỉ dẫn đến một con đường khác và một con đường khác nữa cho tới khi tôi không thể nào nhớ lại chính xác trước đó tôi đã đi qua con đường nào.

Tôi dừng lại để ăn trưa trong cái nắng giữa chiều, cái nhận thức khủng khiếp là tôi không biết mình đang ở đâu đã hơi lấn át cơn đói kinh hoàng. Tôi thầm chửi mắng mình vì đã bất cẩn, vì đã sốt ruột bước tiếp chứ không dừng lại để xem xét, nhưng bây giờ thì còn làm gì được nữa. Tôi cởi chiếc áo phông Bob Marley ra và phơi nó lên một cành cây, rồi lôi chiếc áo phông khác từ trong ba lô ra mặc lên người. Kể từ khi Paco tặng tôi cái áo Bob Marrley, tôi đã mang theo cả hai, thay đổi trong ngày như thay tất, mặc dù tôi biết cái việc quá xa xỉ đó chỉ tổ làm tôi phải vác nặng thêm.

Tôi nghiên cứu bản đồ và bước tiếp, đi xuống một con đường gồ ghề dành cho xe chở gỗ và rồi một con đường khác, mỗi lần lại le lói chút hy vọng là mình đã tìm được lối trở lại con đường mòn. Nhưng cho đến chập tối, con đường tôi đi lại dẫn tới một cái lùm toàn đất, rễ cây và cành lá cao như một ngôi nhà. Tôi leo lên cái lùm đó để nhìn cho rõ hơn và thấy một con đường khác vắt ngang qua một chỗ đốn cây cũ. Tôi tìm đường đi qua nó cho đến khi một cái dép bị tuột ra, cả băng dính lẫn cái quai giữ nó vắt ngang qua mu bàn chân tôi đã bị đứt khỏi phần còn lại của chiếc dép.

“AAAAA!” Tôi la lên và nhìn quanh, cảm nhận sự im lặng lạ lùng của những cái cây ở đằng xa. Chúng giống như một đội quân, một bộ tộc, những người bảo vệ sẽ đưa tôi ra khỏi cái đống rối tinh này, mặc dù chúng chẳng làm gì ngoài việc chỉ im lặng đứng nhìn.

Tôi ngồi bệt xuống đất giữa đám cỏ và những cây non cao đến đầu gối, ra sức gia cố lại đôi dép. Tôi tạo ra một đôi giày màu xám kim loại bằng cách dán băng dính hết vòng này đến vòng khác xung quanh đôi tất và phần dép còn lại, như thể đang băng bó cho đôi bàn chân bị gãy. Tôi cẩn thận băng bó đủ chặt để chúng không thể rơi ra khi tôi đi bộ và đủ lỏng để tôi có thể lột ra vào cuối ngày mà không phá hỏng chúng. Chúng phải cầm cự cùng với tôi hết cả đoạn đường đến vách núi Castle.

Và giờ thì tôi còn chẳng biết nó cách bao xa hay làm thế nào tôi có thể đến được nơi đó.

Với đôi giày bằng băng dính, tôi tiếp tục băng qua khoảng rừng bị đốn hạ đến con đường kia và nhìn quanh. Tôi không còn chắc mình nên đi theo hướng nào nữa. Chẳng nhìn thấy gì ngoài những khoảng rừng bị đốn và những con đường. Rừng cây là những bụi linh sam ken dày và những cành cây rơi, và những con đường chở gỗ chỉ là những đường kẻ trên cái ma trận không thể giải nổi này. Chúng đi về tây rồi về đông bắc và sau đó ngoặt theo hướng nam một đoạn. Đã thế, đoạn PCT từ thác Burney đến vách núi Castle không đi về phía bắc nhiều như hình dáng một cái móc câu mở rộng về phía tây. Thậm chí tôi chẳng thể giả vờ như mình đang đi theo khúc đường mòn này được nữa. Mục tiêu duy nhất của tôi lúc này là tìm được đường ra khỏi cái chỗ khỉ nào đó mà tôi đang đứng. Tôi biết nếu đi về phía bắc thì cuối cùng tôi sẽ đến được Cao tốc 89. Tôi đi đường ấy cho tới tận khi trời gần tối, và thấy một khoảng trống bên cạnh con đường, đủ phẳng để dựng lều.

Mình bị lạc nhưng mình không sợ, tôi tự nhủ khi nấu bữa tối. Mình có nhiều thức ăn và nước. Mọi thứ mình cần để tồn tại trong một tuần hoặc hơn đều đang nằm trong ba lô. Nếu cứ đi tiếp, mình sẽ tìm được đến chỗ có người ở. Nhưng đến khi bò vào trong lều tôi vẫn run lên, biết ơn vô hạn cái bóng che quen thuộc của những bức vách nylon xanh và tường mắt lưới mà nay đã là nhà của tôi. Tôi vặn vẹo bàn chân thật cẩn thận để rút ra khỏi đôi giày băng dính và đặt chúng trong góc. Tôi nghiên cứu các bản đồ trong cuốn sách hướng dẫn lần thứ 100 trong ngày hôm đó, trong lòng bức bối và thấp thỏm. Cuối cùng thì tôi đành đầu hàng và nghiến ngấu 100 trang Lolita, đắm chìm trong thực tế kinh khủng và vui vẻ của nó đến mức quên đi cả thực tế của chính mình.

Sáng hôm sau, tôi nhận ra mình đã mất cái áo phông Bob Marley. Ngày hôm trước, tôi để quên nó trên cành cây hong khô. Mất đôi giày đã tồi tệ rồi. Mất cái áo phông Bob Marley còn tồi tệ hơn. Nó không chỉ là một chiếc áo cũ. Nó, ít nhất thì theo như Paco nói, là chiếc áo thiêng cho phép tôi du hành với linh hồn của vạn vật, đất và trời. Tôi không rõ mình có tin vào điều đó hay không, nhưng chiếc áo đã trở thành vật tượng trưng cho điều gì đó tôi chưa thể đặt tên.

Tôi gia cố đôi giày băng dính bằng một lớp băng dính khác và đi suốt cả một ngày ẩm ướt. Tối hôm trước tôi đã lên một kế hoạch: tôi sẽ đi theo con đường này đến bất cứ đâu nó dẫn tới. Tôi sẽ lờ đi tất cả những con đường khác vắt ngang qua nó, không cần biết chúng trông hấp dẫn và hứa hẹn như thế nào. Cuối cùng tôi đã tin rằng nếu không làm như thế thì tôi sẽ chỉ lòng vòng mãi trong một mê cung bất tận mà thôi. Cho đến chiều muộn, tôi cảm thấy quả thật con đường đang dẫn tôi đến một nơi nào đó. Nó mở rộng hơn, ít vết bánh xe lún hơn và khu rừng mở ra ở đằng trước. Cuối cùng tôi rẽ theo một góc cua và nhìn thấy một cái xe kéo không có người. Qua chiếc xe ấy là một con đường hai làn lát đá. Tôi băng qua con đường đó, rẽ trái và đi dọc theo vệ đường. Mình đang ở Cao tốc 89, tôi chỉ có thể đoán như thế. Tôi lôi bản đồ ra, tìm một đường nào đó để đi nhờ xe quay trở lại PCT và rồi chuẩn bị bắt nhờ xe, hết sức ý thức về bản thân mình trong đôi giày màu xám kim loại làm bằng băng dính. Lâu lâu mới có một nhóm hai hoặc ba chiếc xe hơi đi qua. Nửa tiếng đồng hồ, tôi đứng bên đường cao tốc, ngón tay cái giơ lên, ngày càng cảm thấy lo lắng. Cuối cùng, một người đàn ông lái chiếc xe tải nhỏ tấp vào bên lề. Tôi đi đến cửa hành khách và mở cửa.

“Cô có thể ném ba lô ra đằng sau.” Ông ta nói. Ông ta to như một con bò mộng, độ gần 50 tuổi, tôi đoán thế.

“Đây là đường Cao tốc 89 ạ?” Tôi hỏi.

Ông ta nhìn tôi, ngẩn ngơ. “Cô còn không biết mình đang ở trên đường nào nữa cơ à?”

Tôi lắc đầu.

“Thần thánh nào đem cô đến đây vậy?” Ông ta hỏi.

Gần một tiếng sau, ông ta thả tôi xuống ở chỗ đường mòn PCT cắt ngang một con đường trải sỏi trong rừng, không khác là mấy so với những con đường tôi đã đi theo khi bị lạc vào ngày hôm trước. Ngày hôm sau, tôi đi với vận tốc kỷ lục, khao khát đến được vách núi Castle trước cuối ngày đã khích lệ tôi tiến lên. Cuốn sách hướng dẫn nói rằng, như thông lệ, nơi tôi đến sẽ không hẳn là một thị trấn. Con đường mòn nối đến vườn quốc gia cạnh một cửa hàng tiện lợi và bưu điện, nhưng với tôi chỉ cần thế là đủ. Bưu điện sẽ có đôi giày và hộp tiếp tế. Cửa hàng tiện lợi sẽ có một quán ăn nhỏ mà ít nhất sẽ giúp tôi thỏa cơn thèm đồ ăn và thức uống khi tôi lấy đồng 20 đô từ trong hộp ra. Và vườn quốc gia sẽ có chỗ cắm trại miễn phí cho người đi bộ PCT, tôi có thể tắm nước nóng ở đó.

Tôi thất thểu lê tới vách Castle lúc ba giờ, gần như là đang đi chân đất, đôi giầy băng dính đã tơi tả hết cả. Tôi tập tễnh bước vào bưu điện kéo theo mấy dải băng dính đóng đất loạt xoạt và hỏi thư gửi cho mình.

“Chắc có hai cái hộp gửi cho tôi.” Tôi thêm vào, khao khát cái kiện hàng của REI. Khi chờ nhân viên cửa hàng trở vào phòng trong, tôi nhớ ra rằng mình còn có thể nhận những thứ khác bên cạnh giày và hộp tiếp tế: những lá thư. Tôi đã gửi thông báo tới tất cả mọi điểm dừng chân mà tôi bỏ qua khi đi đường vòng, nói rằng thư gửi cho tôi có thể chuyển tiếp tới đây.

“Của cô đây.” Nhân viên bưu điện đặt cái hộp nặng trịch lên quầy.

“Nhưng đáng lẽ phải có... Có cái gì của REI gửi không? Đấy là...”

“Mỗi lần một thứ chứ.” Cô ta nói với ra khi quay trở vào phòng trong.

Khi bước ra khỏi bưu điện, tôi suýt thì hét lên vì sung sướng và nhẹ nhõm. Cùng với chiếc hộp các tông mới cứng đựng giày – giày của tôi! – tôi nhận được chín lá thư, gửi cho tôi tới những điểm dừng chân trên đường mà tôi đã bỏ qua, viết bằng những nét chữ tôi có thể nhận ra. Tôi ngồi trên nền bê tông gần một tòa nhà nhỏ, vội vã xáo đi xáo lại những chiếc bì thư, sung sướng đến nỗi chưa mở được cái nào. Một của Paul. Một của Joe. Một của Karen. Còn lại là của bạn bè rải rác khắp đất nước. Tôi để chúng sang một bên và lấy dao rạch cái hộp từ REI. Bên trong, bọc giấy cẩn thận, là đôi giày da màu nâu của tôi.

Giống y hệt đôi giày đã rơi khỏi vách núi, nhưng mới và to hơn một cỡ.

“Cheryl!” Một người phụ nữ gọi, và tôi nhìn lên. Đó là Sarah, người phụ nữ trong số hai cặp đôi tôi gặp ở thác Burney, cô đang đứng đó mà không mang theo ba lô. “Chị đang làm gì ở đây đấy?” Cô hỏi.

“Em đang làm gì ở đây?” Tôi đáp lại. Tôi đã nghĩ cô vẫn còn đằng sau tôi trên con đường mòn.

“Bọn em bị lạc. Bọn em phải ra đường cao tốc và bắt nhờ xe.”

“Chị cũng bị lạc!” Tôi nói trong niềm ngạc nhiên sung sướng, cảm ơn trời phật rằng mình không phải là kẻ duy nhất đi lạc.

“Ai cũng đi lạc cả.” Cô nói. “Đi nào.” Cô chỉ tay về cửa vào nhà hàng ở cuối tòa nhà. “Bọn em ở hết trong đó.”

“Chị sẽ vào ngay.” Tôi nói. Sau khi cô rời đi, tôi lôi đôi giày mới ra khỏi hộp, lột đôi giày băng dính lần cuối và ném nó vào thùng rác gần đấy. Tôi mở cái hộp tiếp tế và tìm thấy một đôi tất sạch sẽ, còn mới nguyên, tròng vào đôi chân bẩn thỉu của mình, rồi buộc dây giày lại. Đôi giày sạch không một tì vết. Chúng như một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo theo bước chân tôi đến khu đỗ xe. Sự tuyệt vời trong những bước đi trinh nguyên của chúng; sự huy hoàng của những ngón chân không bị hằn vết. Chúng vừa khít, nhưng vẫn đủ rộng rãi; đúng cách của những đôi giầy, mặc dù tôi lo lắng là mình sẽ lại làm hỏng chúng trên đường mất thôi. Chẳng thể làm gì khác được, tôi chỉ có thể hy vọng đến điều tốt nhất.

“Cheryl!” Rex kêu oang oang khi tôi bước vào trong quán. Stacy đang ngồi cạnh anh ta, bên cạnh chị là Sam, Helen, John và Sarah, sáu người bọn họ đã lấp đầy cả cái quán nhỏ.

“Mừng chị tới thiên đường!” John nói, tay cầm một chai bia.

Chúng tôi ăn bánh mì kẹp phô mai và khoai tây chiên, rồi sau đó đi vào cửa hàng tiện lợi trong sự no nê khoan khoái, ôm đầy tay bánh ngọt, bim bim và những chai rượu vang đỏ rẻ tiền to gấp đôi bình thường rồi lôi tiền ra trả cho tất cả đống ấy. Bảy người chúng tôi hoan hỉ kéo nhau lên một quả đồi ở khu cắm trại trong vườn quốc gia, dồn lều của mình gần nhau thành một vòng tròn trong khu vực cắm trại miễn phí và dành cả tối quanh bàn dã ngoại, cười vui và kể hết chuyện này đến chuyện khác khi ánh sáng đã nhạt dần khỏi bầu trời. Trong khi chúng tôi nói chuyện, hai con gấu đen – đen thực sự – mò ra từ sau những cái cây quanh khu cắm trại, chỉ hơi e sợ khi chúng tôi quát đuổi chúng biến đi.

Suốt buổi tối đó, tôi liên tục rót đầy chiếc cốc giấy lấy từ cửa hàng tiện lợi, nuốt ừng ực những ngụm rượu như thể uống nước cho tới tận khi nó chẳng khác gì nước nữa. Chẳng còn cảm giác là tôi đã đi hơn 27 km dưới cái nắng 35, 40 độ vào ngày hôm đó với ba lô trên lưng và băng dính chằng chịt quanh chân nữa. Tôi thấy như thể mình đã trôi dạt đến đó vậy. Như thể cái bàn dã ngoại là nơi tuyệt vời nhất tôi từng ở từ trước đến nay và cả sau này. Tôi không nhận ra là mình đã say cho đến khi tất cả quyết định quay vào lều và tôi đứng lên, chẳng biết trời đất gì nữa. Ngay lập tức, tôi ngã khuỵu xuống, chống cả hai tay và đầu gối xuống đất, nôn thốc nôn tháo ra nền đất quây giữa những cái trại của chúng tôi. Suốt những năm trước đó với bao chuyện nực cười trong đời, tôi chưa bao giờ bị ốm vì rượu cả. Khi tôi nôn xong, Stacy đặt chai nước bên cạnh, thì thầm rằng tôi cần phải uống nước. Bên trong cái thân thể đang lảo đảo loạng choạng, con người thực sự của tôi nhận ra chị ấy đúng, tôi không chỉ say mà còn thiếu nước trầm trọng. Tôi đã chưa uống một giọt nào kể từ khi ngồi trên con đường mòn nóng như thiêu đốt chiều đó. Tôi buộc mình phải ngồi dậy và uống nước.

Vừa tợp một ngụm, tôi lập tức nôn ọe tiếp.

Buổi sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy trước những người khác và ra sức thu dọn đống nôn mửa bằng những cành linh sam. Tôi đi đến phòng tắm, cởi quần áo bẩn ra và đứng dưới những tia nước ấm trong cái buồng tắm bê tông, cảm tưởng như tối hôm trước tôi đã bị ai đó dần cho một trận vậy. Chẳng có thời gian để mà lừ đừ mãi. Kế hoạch của tôi là trở lại đường mòn trước buổi trưa. Tôi mặc quần áo, quay trở lại lều và ngồi vào bàn uống nhiều nước nhất có thể, đọc tất cả chín lá thư trong khi những người khác vẫn còn đang ngủ. Paul rất bình tĩnh và bao dung về cuộc ly hôn của chúng tôi. Joe thì lãng mạn và bồng bột, chẳng nói gì về việc đã cai nghiện hay chưa. Karen thì nói ngắn gọn và không có gì đặc biệt, thông báo chút chút về cuộc sống của chị. Những lá thư từ bạn bè thì tràn ngập thương yêu và kể lể, tin tức và chuyện tếu táo. Khi tôi đọc xong thì những người khác bắt đầu chui ra từ lều của họ, khập khiễng bước vào ngày mới cũng như tôi mỗi sáng trước khi các khớp xương của tôi được làm ấm. Tôi vô vàn biết ơn bởi ít nhất thì trông họ cũng lờ đờ bằng một nửa tôi. Chúng tôi đều mỉm cười với nhau, vừa khổ sở vừa vui vẻ. Helen, Sam và Sarah đi tắm, Rex và Stacy đến cửa hàng lần nữa.

“Họ có bánh quế cuộn đấy.” Rex nói, cố rủ rê thêm khi họ chuẩn bị đi tới cửa hàng, nhưng tôi xua tay, không chỉ bởi bụng tôi khó chịu khi nghĩ đến việc ăn uống. Sau khi mua chiếc bánh mì kẹp, rượu cùng đống đồ ăn vặt vào chiều hôm trước, tôi đã, một lần nữa, chỉ còn hơn năm đô-la một tí.

Họ đi rồi, tôi ngồi lọc cái hộp tiếp tế của mình, sắp xếp đồ ăn thành chồng để cho vào Quái Vật. Tôi sẽ mang theo kha khá thức ăn cho đoạn đường tiếp theo – một trong những đoạn dài nhất trên PCT: hơn 250 km tới Thung lũng Seiad.

“Anh và Sarah có cần ăn tối không?” Tôi hỏi John, anh ta đang ngồi ở bàn, hai chúng tôi ở lại trại một lúc. “Tôi có rất nhiều cái này.” Tôi giơ lên cái túi đựng món gì đó gọi là Phở Fiesta, món này tôi có thể chịu đựng trong những ngày đầu tiên đi đường nhưng giờ thì căm thù nó.

“Không đâu. Cảm ơn nhé.” Anh ta nói.

Tôi lôi cuốn Dubliners (Người Dublin) của James Joyce ra và đưa nó lên sát mũi, bìa sách màu xanh và đã cũ nhàu. Nó có mùi cũ kỹ và dễ chịu, giống hệt mùi cửa hàng sách cũ ở Minneapolis nơi tôi mua nó nhiều tháng trước. Tôi mở cuốn sách ra, và nhận thấy nó được in từ nhiều thập kỷ trước khi tôi ra đời.

“Cái gì đây?” John hỏi, với lấy cái ảnh lưu niệm tôi mua ở cửa hàng tiện lợi chiều hôm trước. Đó là ảnh một bức tượng khắc bằng máy cưa xích một người Sasquatch, mấy chữ Xứ sở Chân To được mạ đồng nằm vắt ngang qua phía trên tấm ảnh. “Cô có tin là chúng có thật không?” Anh ta hỏi, đặt tấm ảnh trở lại.

“Không. Nhưng những người tin thì nói rằng đây là xứ sở của người Chân To.”

“Tin đồn thì bao giờ chẳng có,” anh ta đáp lại.

“Ồ, nếu Chân To có thật thì tôi cho rằng hẳn là chúng sẽ ở đây.” Tôi nói, và chúng tôi nhìn quanh. Xa khỏi rừng cây bao quanh chúng tôi là những vách đá xám cổ lỗ sĩ tên là vách núi Castle, những đỉnh hình răng cưa của chúng nổi lên như những thánh đường trên đầu chúng tôi. Chúng tôi sẽ sớm vượt qua chúng trên con đường mòn này khi đi xuyên qua một dải hàng cây số đá những đá granite và siêu mafic mà cuốn sách hướng dẫn miêu tả là “có nguồn gốc nguyên chất và có tính xâm nhập”, chẳng hiểu nghĩa là gì nữa. Tôi chưa bao giờ quan tâm nhiều đến địa chất học, nhưng không cần hiểu siêu mafic là gì tôi cũng biết là mình đang bước vào một xứ sở khác hẳn. Tôi đi vào dãy Cascade giống như lúc vào Sierra Nevada: đi bộ suốt nhiều ngày trong đó mới thực sự thấu cảm được những vùng đất đó.

“Chỉ một điểm dừng nữa thôi.” John nói, như thể đọc được suy nghĩ của tôi. “Chúng ta chỉ cần đến Thung lũng Seiad và rồi sẽ đến Oregon. Chúng ta chỉ cách biên giới gần 322 cây nữa thôi.”

Tôi gật đầu và mỉm cười. Tôi không nghĩ mấy từ chỉ và 322 cây có thể đi cùng nhau trong một câu. Chưa bao giờ tôi để mình nghĩ tới xa quá điểm dừng chân tiếp theo.

“Oregon!” Anh ta reo lên, và niềm vui sướng trong giọng nói của anh ta gần như lôi kéo được tôi, gần như khiến 322 cây số chỉ như một cái búng tay, nhưng tôi biết không phải thế. Chưa một tuần nào trên con đường này tôi không bị thử thách đày đọa cả.

“Oregon.” Tôi đồng tình, mặt nghiêm túc. “Nhưng California trước đã.”

❀ ❀ ❀

[1] Câu gốc của mẹ Cheryl là “Not in this state!”, từ “state” có hai nghĩa: “bang” và “tình trạng” (ND)

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.