GIẤC MƠ VỀ MỘT NGÔN NGỮ CHUNG

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19 - GIẤC MƠ VỀ MỘT NGÔN NGỮ CHUNG

❊ ❊ ❊

Sáng hôm sau, bầu trời trong xanh, mặt trời tỏa nắng lung linh xuống mặt hồ Olallie, phía nam cảnh sắc núi Jefferson hiện lên hoàn hảo và ở phía bắc là đỉnh Olallie Butte. Tôi ngồi trên một trong những cái bàn dã ngoại gần trạm kiểm lâm, đóng gói Quái Vật cho cung đường cuối cùng. Ba Chàng Công Tử đã rời đi lúc bình minh, vội vàng cho kịp đến Canada trước khi High Cascade của bang Washington phủ tuyết, nhưng tôi không đi xa đến thế. Tôi có thể thong thả.

Guy xuất hiện với một cái hộp trong tay, phá vỡ cơn suy tư mụ mị của tôi. Bây giờ thì anh đã tỉnh táo rồi. “Rất may là gặp được cô trước lúc cô rời đi. Cái này vừa mới tới.” Anh nói.

Tôi lấy cái hộp từ anh và nhìn vào địa chỉ người gửi. Đó là một người bạn của tôi Gretchen. “Cảm ơn vì tất cả!” Tôi nói với Guy khi anh bước đi. “Vì thức uống đêm hôm trước và vì lòng hiếu khách.”

“Đi ra đó an toàn nhé!” Anh ta nói và biến mất ở góc tòa nhà. Tôi rạch cái hộp, mở ra, thở gấp khi nhìn thấy bên trong là một tá thanh sô-cô-la ngon mắt bọc trong những cái túi bóng lấp lánh xoắn lại và một chai vang đỏ. Tôi ăn ngay một ít sô-cô-la trong khi nhấm nháp rượu. Dù rất muốn để đến tối đó khi đã quay trở lại đường mòn mới mở chai, nhưng tôi lại không sẵn sàng kéo theo cái chai rỗng trên khắp quãng đường đến khu nghỉ dưỡng Timberline. Tôi gói ghém những thứ cuối cùng, quàng Quái Vật lên, nhặt chai rượu và cái hộp không, bắt đầu đi đến trạm kiểm lâm.

“Cheryl!” Tiếng ai đó kêu lên, và tôi quay lại.

“Chị đây rồi! Chị đây rồi! Em theo kịp chị rồi. Em theo kịp chị rồi!” Một người đàn ông gào tướng lên khi đến chỗ tôi. Tôi giật nảy mình, đánh rơi cái hộp xuống dưới cỏ khi anh ta vẫy tay trên không và hú hét vui sướng mà tôi thấy quen quen nhưng không nhận ra là ai. Cậu ta trẻ trung, có râu quai nón, vàng óng, vừa khác vừa giống so với lần cuối cùng tôi gặp. “Cheryl!” Cậu ta hét lên lần nữa khi gần như lôi tôi lại để ôm.

Thời gian như chậm hẳn lại giống một thước phim quay chậm kể từ lúc tôi không nhận ra cậu ta đến khoảnh khắc tôi nhận ra, nhưng tôi không thể ý thức được điều đó cho đến khi cậu ta ôm trọn lấy tôi trong vòng tay và tôi kêu lên: “DOUG!”

“Doug, Doug, Doug!” Tôi cứ thế kêu lên.

“Cheryl, Cheryl, Cheryl!” Cậu nói với tôi.

Rồi chúng tôi im lặng và bước lùi lại, nhìn nhau.

“Chị sụt cân rồi.” Cậu nói.

“Cậu cũng thế!” Tôi nói.

“Bây giờ chị đã dày dạn rồi.” Cậu nói.

“Chị biết! Cậu cũng thế.”

“Em có râu quai nón.” Cậu nói, tay giật giật bộ râu. “Em có nhiều chuyện kể cho chị lắm.”

“Chị cũng vậy! Tom đâu?”

“Cậu ấy đi sau, cách mấy kilômét nữa. Cậu ấy sẽ bắt kịp sau.”

“Các cậu đi xuyên qua tuyết đấy hả?” Tôi hỏi.

“Bọn em đi được một phần, nhưng rồi vất quá nên đi xuống và cuối cùng là đi vòng.”

Tôi lắc đầu, vẫn còn sốc khi thấy cậu đang đứng đó. Tôi kể với cậu về việc Greg đã bỏ cuộc, rồi hỏi cậu ta về Albert và Matt.

“Em chưa nghe thấy gì kể từ khi lần cuối cùng chúng ta gặp họ.” Cậu nhìn tôi và mỉm cười, đôi mắt nhấp nhánh sống động. “Bọn em đọc các ghi chép của chị trong sổ nhật ký hành trình suốt cả mùa hè. Nó thúc bọn em tiến lên. Chúng em muốn bắt kịp chị.”

“Chị đang sắp rời đi đây.” Tôi nói. Tôi cúi xuống để cầm cái hộp không lên khi làm rơi nó vì quá vui mừng. “Chỉ chậm một phút là chị đã đi rồi, ai mà biết được các cậu sẽ bắt kịp chị hay không.”

“Em đã bắt kịp chị rồi đấy thôi.” Cậu nói và cười theo cái cách cậu em dễ ưa mà tôi nhớ rất rõ, mặc dù bây giờ kiểu cười ấy cũng thay đổi rồi. Cậu dạn dày hơn trước, chín chắn hơn trước, như thể đã già đi hẳn mấy tuổi trong mấy tháng qua. “Chị có muốn đi đâu đó trong khi em sắp xếp lại đồ rồi chúng ta đi tiếp cùng nhau không?”

“Chắc rồi!” Tôi nói không một chút lưỡng lự. “Chị phải đi một mình trong mấy ngày cuối cùng đến Cascade Locks một mình – cậu biết đấy, chỉ là để kết thúc như lúc bắt đầu – nhưng bọn mình đi cùng nhau đến khu nghỉ Timberline nhé.”

“Ôiiii, Cheryl!” Cậu ta kéo tôi lại để ôm một cái nữa. “Em không thể tin là chúng ta ở đây cùng nhau. Này, chị vẫn còn cái lông quạ đen em cho chị đấy à?” Cậu với tay chạm vào cái lông quạ đã xác xơ.

“Đó là bùa may mắn của chị đấy.” Tôi nói.

“Rượu gì đây?” Cậu hỏi, chỉ vào chai rượu trong tay tôi.

“Chị đang định cho anh kiểm lâm.” Tôi trả lời, giơ nó lên cao. “Chị không muốn đem theo nó đến tận Timberline.”

“Chị điên à?” Doug hỏi. “Đưa cho em chai rượu.”

Tối đó, chúng tôi mở chai rượu ở chỗ cắm lều gần sông Warm Springs bằng cái khui rượu ở bộ dao quân dụng Thụy Sĩ của tôi. Ban ngày trời ấm lên tới khoảng 21 độ C, nhưng buổi tối thì mát mẻ, khắp nơi quanh chúng tôi là không khí khô giòn của tiết hè chuyển sang thu. Lá đã rụng bớt; những thân cây hoa dại cao đổ rạp lên nhau thành những lùm mục nát. Doug và tôi nhóm lên một đống lửa khi đã nấu xong bữa tối và rồi chúng tôi ngồi ăn thức ăn trong nồi, chuyền nhau chai rượu, tu thẳng từ chai vì chẳng ai có cốc. Rượu, lửa và lại được bên Doug sau tất cả mọi chuyện xảy ra khiến tôi cảm thấy như trong một nghi lễ lữ hành, một buổi lễ kỷ niệm kết thúc hành trình.

Một lúc sau, tiếng sói đồng cỏ tru lên khi xa khi gần làm cả hai ngoảnh phắt nhìn vào đêm tối, lắng nghe.

“Cái âm thanh đấy lúc nào cũng làm em dựng hết cả tóc lên.” Doug nói. Cậu uống một ngụm trong chai rồi đưa cho tôi. “Rượu này rất ngon đấy.”

“Ngon thật!” Tôi đồng ý, và uống một hơi dài. “Hè này chị nghe thấy nhiều sói đồng cỏ lắm.” Tôi nói.

“Và chị không sợ, đúng không? Chị vẫn tự bảo mình thế đúng không?”

“Chị đã tự bảo mình thế.” Tôi nói. “Ngoại trừ một lần.” Tôi nói. “Khi ấy chị sợ thật.”

“Em cũng vậy.” Cậu với sang, đặt tay lên vai tôi và tôi đặt tay tôi lên tay cậu, bóp nhẹ. Đối với tôi, cậu như một người em trai, nhưng không giống như em trai thực sự của tôi. Cậu giống ai đó mà tôi luôn biết cho dù tôi có không bao giờ gặp lại nữa.

Khi chúng tôi uống hết chỗ rượu, tôi đến chỗ Quái Vật và lôi ra cái túi khóa zip đựng sách. “Cậu có muốn đọc cái gì đó không?” Tôi hỏi Doug, đưa cuốn Mười nghìn thứ cho cậu, nhưng cậu lắc đầu. Tôi đã đọc xong nó từ mấy ngày trước, mặc dù tôi không thể nào đốt nó vì trời mưa. Không giống như hầu hết những cuốn sách khác từng đọc trên đường, tôi đã đọc Mười nghìn thứ trước khi đóng gói đồ tiếp tế. Đó là một cuốn tiểu thuyết đặc chữ nói về chuyện xảy ra trên đảo Moluccan ở Indonesia, viết bằng tiếng Hà Lan, xuất bản năm 1955 và được công chúng đón nhận nồng nhiệt, nhưng bây giờ thì gần như bị quên lãng. Tôi chưa bao giờ gặp ai đọc cuốn sách này, ngoài vị giáo sư văn khoa đã giao cho tôi đọc đó trong khóa học về tác phẩm hư cấu mà tôi đăng ký học khi mẹ bệnh. Tôi chẳng có ấn tượng gì với tựa đề của nó cho đến khi ngồi đọc nghiêm túc trong phòng bệnh của mẹ, cố gắng đóng sập nỗi sợ hãi và buồn rầu bằng cách bắt tâm trí tập trung vào những đoạn văn mà tôi định dùng để thảo luận trong lớp vào tuần tới, nhưng vô ích. Tôi không thể nghĩ gì ngoài mẹ tôi. Bên cạnh đó, tôi đã sẵn biết về mười nghìn thứ. Chúng là tất cả những thứ có tên và không có tên trong thế giới này, và tất cả dồn lại cũng không bằng tình yêu mẹ dành cho tôi. Và tình yêu tôi dành cho mẹ. Bởi vậy, khi tôi chuẩn bị lên đường đi PCT, tôi đã quyết định cho cuốn sách này cơ hội thứ hai. Lần này, tôi chẳng gặp khó khăn nào khi tập trung đọc nó. Tôi đã hiểu ngay từ những trang đầu tiên. Mỗi câu của Dermout đến với tôi như là một mũi dao của sự thấu ngộ mềm mại, mở ra một vùng đất xa xôi mà với tôi giống như là máu mủ của mọi nơi tôi từng yêu dấu.

“Thôi em vào trong lều đây.” Doug nói, tay cầm chai rượu rỗng. “Mai là Tom có thể bắt kịp chúng ta rồi.”

“Để chị dập lửa,” tôi nói.

Khi cậu ấy đi khỏi, tôi giật xé những trang của cuốn Mười nghìn thứ từ đường gáy dán bìa dai nhách thành những tệp mỏng rồi vất vào đống lửa, gẩy lên bằng một cái que cho đến khi chúng bốc cháy. Khi nhìn vào ngọn lửa, tôi nghĩ dượng đến Eddie, như mọi lần ngồi bên đống lửa. Dượng đã dạy cho tôi cách nhóm lửa. Dượng Eddie là người đưa tôi đi cắm trại lần đầu tiên. Ông đã chỉ cho tôi cách dựng lều và cách thắt nút dây. Tôi học được từ ông cách mở lon bằng dao gập, cách chèo xuồng và ném thia lia trên mặt hồ. Trong ba năm kể từ khi yêu mẹ, gần như mỗi cuối tuần từ tháng sáu đến tháng chín, dượng đều đưa chúng tôi đi cắm trại, chèo xuồng dọc sông Minnesota, St. Croix, Namekagon và sau khi chúng tôi chuyển lên phía bắc đến mảnh đất mà gia đình tôi mua với số tiền bảo hiểm do cái lưng gẫy của dượng, ông đã dạy tôi thậm chí còn nhiều hơn nữa về rừng cây.

Chẳng có cách nào biết được cái gì khiến cho chuyện này xảy ra còn chuyện kia thì không. Cái gì dẫn đến cái gì. Cái gì hủy diệt cái gì. Cái gì khiến cho cái gì phát triển hoặc kết thúc hoặc bước sang một trang khác. Nhưng khi ngồi đây đêm nay, tôi khá chắc chắn rằng nếu không có dượng Eddie,thì tôi sẽ không bao giờ đi PCT. Và mặc dù mọi cảm giác của tôi về ông lúc này cứ như một tảng đá trong cổ họng vậy, việc nhận ra điều này cũng giúp cho tảng đá ấy nhẹ nhõm hơn. Sau này, dượng không yêu quý tôi nhiều nữa, nhưng ông đã yêu thương tôi vào những lúc cần phải thế.

Khi Mười nghìn thứ đã biến thành tro tàn, tôi lôi ra cuốn sách khác trong túi zip. Đó là cuốn Giấc mơ về một ngôn ngữ chung. Tôi đã mang nó đi theo suốt chặng đường, dù chưa hề mở nó ra kể từ đêm đầu tiên trên con đường mòn. Tôi không cần đến nó. Tôi biết nó nói gì. Những dòng thơ, những đoạn thơ hoặc thỉnh thoảng chỉ là tên tập thơ, vốn cũng là một câu thơ trong bài: Giấc mơ về một ngôn ngữ chung, đã chạy suốt cả mùa hè trên đài phát thanh hỗn tạp trong đầu tôi, . Tôi mở cuốn sách ra và lật giở, nghiêng về trước để nhìn thấy chữ trong ánh lửa. Tôi đọc một hai dòng từ khoảng chục bài thơ, quen thuộc với mỗi bài đến mức chúng cho tôi cảm giác thoải mái lạ lùng. Tôi đã tụng niệm những dòng này xuyên những ngày đi bộ. Thường thì tôi không biết chính xác chúng có nghĩa là gì, nhưng theo một cách nào đó vẫn hiểu toàn bộ ý nghĩa của chúng, như thể chúng ở ngay phía trước nhưng lại nằm ngoài tầm với của tôi. Như một con cá ở ngay dưới mặt nước mà tôi cố bắt bằng tay không – rất gần, ngay ở đó, và hoàn toàn là của tôi – cho tới khi tôi với tay tới và nó quẫy đi mất.

Tôi gấp sách lại và nhìn vào cái bìa màu be. Chẳng có lý do gì để không đốt nốt nó đi.

Nhưng tôi lại ghì chặt nó vào ngực.

Mấy ngày sau, tôi tới khu nghỉ dưỡng Timberline. Lúc đó không chỉ có Doug và tôi. Tom đã bắt kịp chúng tôi và hai người phụ nữ khác cũng tham gia – một cặp trước kia yêu nhau, khoảng 20 tuổi gì đấy, họ đi bộ ở Oregon và một phần nhỏ của bang Washington. Năm người chúng tôi đi cùng nhau lúc hai, lúc ba người, lúc với người này, lúc với người kia, hoặc thỉnh thoảng cả năm đi một hàng, tạo thành một đội quân đi thong thả, tưng bừng như đi hội vì đông người và vì những ngày nắng đẹp mát mẻ. Trong những lần nghỉ giải lao dài hơi, chúng tôi chơi tâng bao cát và nhảy hồ ở một cái hồ lạnh băng, chọc giận ong bắp cày và rồi vừa chạy quáng quàng vừa la hét và cười váng trời. Cho đến khi đến được khu nghỉ dưỡng Timberline trên độ cao 1.800m ở sườn phía nam của núi Mũ Áo, chúng tôi giống như một bộ lạc, gắn bó với nhau bằng tình thân ái như những đứa trẻ sống một tuần bên nhau trong trại hè.

Chúng tôi đến nơi đã là giữa chiều. Năm người chúng tôi chiếm lấy hai cái ghế sô pha quay mặt vào nhau trong nhà nghỉ, ở giữa là một cái bàn gỗ thấp và chúng tôi gọi bánh kẹp đắt đỏ, nhấm nháp cà phê pha với rượu Baileys trong khi chơi bài poker và rumi 500 bằng cỗ bài mượn được từ người pha chế. Nhìn ra cửa sổ là thấy ngay sườn dốc của núi Mũ Áo vượt lên trên chúng tôi. Cao 3.425m, nó là đỉnh cao nhất của Oregon – ngọn núi lửa giống như tất cả những ngọn khác tôi từng đi qua kể từ khi bước vào dãy Cascade ở phía nam của đỉnh Lassen hồi tháng Bảy – nhưng đây là ngọn núi lớn cuối cùng của hành trình, nên cảm tưởng như nó là ngọn núi quan trọng nhất, không chỉ bởi tôi đang ngồi ở chính sườn núi. Khung cảnh của nó đã quen thuộc với tôi, vẻ hùng vĩ oai nghi hiện rõ từ Portland vào những ngày trời trong. Khi đến được núi Mũ Áo, tôi nhận ra mình thấy nhẹ nhõm như đang ở nhà. Portland – nơi tôi chưa bao giờ thực sự sống – chỉ còn cách 96km.

Từ đằng xa, khung cảnh núi Mũ Áo chưa bao giờ thôi làm tôi nghẹt thở, nhưng, giống như mọi thứ khác, càng đến gần nó lại càng khác, khác về mọi thứ. Nó bớt tráng lệ huy hoàng hơn, nó mộc mạc hơn và bao la hơn trong cái uy quyền gan góc. Khung cảnh bên ngoài cửa sổ, phía bắc khu nghỉ dưỡng chẳng có vẻ long lanh tinh khiết như khi nhìn từ xa hàng cây số, mà là những sườn dốc xám xịt và hơi cằn cỗi, chấm phá mấy thân cây thông xộc xệch, lác đác những cây đậu lupin và cúc tây mọc xen giữa đá. Khung cảnh thiên nhiên được điểm xuyết với một đường cáp trượt tuyết dài dẫn đến vệt tuyết đóng băng đằng xa. Tôi hạnh phúc vì ít ra cũng được bảo vệ khỏi ngọn núi này trong một lúc, được thu lu trong nhà nghỉ dưỡng hoành tráng chốn thiên đường nơi hoang dã. Nhà nghỉ này được công nhân của Cục Quản lý Công trình Chính phủ Liên bang xây dựng theo kiến trúc đá kết hợp với gỗ thủ công vào giữa những năm 1930. Mọi thứ nơi đây đều mang một câu chuyện. Những bức vẽ trên tường, kiến trúc tòa nhà, những tấm vải dệt tay phủ lên đồ đạc – mỗi thứ đều được cẩn tác để phản ánh lịch sử, văn hóa và tài nguyên thiên nhiên của vùng Tây Bắc Thái Bình Dương.

Tôi xin phép những người khác rồi một mình đi bộ chầm chậm qua khu nghỉ dưỡng, bước ra một mái hiên quay mặt về phía nam thoáng đãng. Đó là một ngày trời nắng, trong trẻo và tôi có thể nhìn ra xa tít 160km, nhìn thấy rất nhiều ngọn núi mà tôi từng đi qua – hai trong số Ba Chị Em, núi Jefferson và Ngón tay gãy.

Nhảy vào, bỏ qua, xoay người, xong, tôi nghĩ. Tôi đã ở đây. Tôi gần đến nơi rồi. Nhưng tôi vẫn chưa xong. Tôi còn 80km đi bộ nữa trước khi đến Cầu của Chúa.

Sáng hôm sau, tôi chào tạm biệt Doug, Tom và hai người phụ nữ rồi một mình lên đường, trèo lên con đường dốc ngắn đi từ khu nghỉ dưỡng đến PCT. Tôi đi dưới cáp treo, lượn về phía bắc và phía tây quanh bờ vai của núi Mũ Áo trên con đường mòn dường như là một tảng đá bị phá hủy, khoác bao tấm áo mùa đông khắc nghiệt để rồi hóa thân thành sỏi cát. Hai mươi phút sau, tôi đi vào Vùng hoang dã núi Mũ Áo. Tôi đã lại ở trong rừng, và cảm thấy sự im lặng đang dần đổ xuống người.

Thật thoải mái khi ở một mình. Cảm giác thật đặc biệt. Đó là giữa tháng chín, nhưng mặt trời ấm và rực rỡ, bầu trời xanh hơn bao giờ hết. Con đường mòn mở ra khung cảnh rộng hàng cây số và rồi thu lại thành tán rừng rậm trước khi lại mở òa ra lần nữa. Tôi đi bộ liên tục 16 cây số, vượt qua sông Cát, và ngồi lại trên một thềm đá nhỏ bằng phẳng ở bên này sông. Gần như tất cả những trang trong cuốn Đường mòn Pacific Crest, tập 2: Oregon và Washington bây giờ đã không còn nữa. Chỉ còn vài tờ tôi gập để trong túi quần soóc. Tôi lôi ra để đọc lại một mạch đến hết. Tôi vừa hân hoan với viễn cảnh đến được Cascade Locks vừa lập tức buồn ngay được. Tôi không biết làm thế nào mà việc sống ngoài trời, gần như ngày nào cũng nằm đất ngủ đêm trong lều và cả ngày đi bộ xuyên qua vùng hoang dã đã dần giống như cuộc sống bình thường của tôi, nhưng quả thực là như thế. Cứ nghĩ đến việc không còn được làm thế nữa là tôi lại sợ hãi.

Tôi đi đến con sông và ngồi thụp xuống, dấp nước lên mặt. Ở đây dòng nước hẹp và nông, chảy chậm vào mùa hè, chẳng lớn hơn mấy so với một con suối. Mẹ ở đâu? Tôi tự hỏi. Tôi đã đưa mẹ theo, loạng choạng dưới sức nặng của mẹ, quá lâu rồi.

Ở bờ bên kia của dòng sông, tôi để mặc cho ý nghĩ của mình trôi chảy.

Và có gì đó trong tôi đã cuốn đi cùng nó.

Vào những ngày tiếp theo, tôi đi qua thác Ramona, đi mé vào trong rồi lại men ra ngoài vùng hoang dã Columbia. Tôi nhìn thấy khung cảnh những đỉnh núi St. Helens, Rainier và Adams ở xa về phía bắc. Tôi đến được hồ Wahtum, ra khỏi đường PCT và rẽ xuống con đường khác mà các tác giả trong cuốn sách hướng dẫn gợi ý, nó sẽ dẫn tôi xuống lạch Đại Bàng và vào hẻm núi sông Columbia rồi cuối cùng đến chính con sông chạy dọc thị trấn Cascade Locks.

Xuống, xuống, và xuống, trong ngày đi bộ trọn vẹn cuối cùng, tôi đi xuống khoảng 1.200m chỉ trong gần 26km, những con lạch, những dòng suối và những mạch nước đọc đường đi mà tôi băng qua cũng đi xuống và xuống song song. Tôi có thể cảm thấy con sông như một cái nam châm lớn đang kéo mình về phía bắc và xuống phía dưới. Tôi có thể cảm thấy mình đang đi đến tận cùng mọi điều. Tôi dừng lại và dành một đêm ở bờ con lạch Đại Bàng. Lúc đó năm giờ và tôi chỉ còn cách Cascade Locks chưa tới 10 cây số. Tôi có thể đến thị trấn trước khi trời tối, nhưng tôi không muốn kết thúc hành trình của mình như vậy. Tôi muốn từ từ, muốn nhìn ngắm con sông và cây Cầu của Chúa trong ánh sáng huy hoàng ban ngày.

Tối đó, tôi ngồi cạnh lạch Đại Bàng nhìn dòng nước xô lên những hòn đá. Bàn chân tôi đau như dần vì phải đi xuống cả quãng đường dài. Dù tôi đã trải qua tất cả mọi thứ, dù cơ thể hiện đã khỏe khoắn hơn, việc đi bộ trên PCT vẫn còn khiến tôi đau đớn. Những vết phồng rộp đã xuất hiện lại trên những ngón chân đã mềm đi bởi những đoạn xuống khá dốc trên đoạn Oregon. Tôi nhẹ nhàng đặt các ngón tay lên, chạm vào chúng để dỗ dành. Một móng chân khác trông như sớm muộn cũng sẽ bong ra. Tôi giật nhẹ nó, và nó ở trong tay tôi, cái thứ sáu. Tôi chỉ còn bốn cái móng chân.

PCT và tôi giờ không còn cân bằng tỷ số nữa. Tỷ số giờ là 4-6, nghiêng về con đường.

Đêm cuối cùng đó, tôi ngủ trên bạt, không muốn ẩn mình đi, và tôi tỉnh dậy trước lúc bình minh để ngắm mặt trời mọc trên núi Mũ Áo. Thật sự đã hết rồi, tôi nghĩ. Đến đây là chẳng có đường nào quay lại. Chuyện này chẳng bao giờ được lặp lại nữa. Tôi ngồi một lúc lâu, cho ánh sáng ngập tràn trên bầu trời, cho những tia nắng vươn mình và chạm đến những ngọn cây. Tôi nhắm mắt lại, chăm chú lắng nghe con lạch Đại Bàng.

Nó đang chảy đến sông Columbia, giống như tôi.

Suốt sáu cây số đến khu vực đỗ xe nhỏ gần đầu con đường mòn lạch Đại Bàng, dường như tôi cứ thế trôi bồng bềnh, lâng lâng bởi thứ cảm xúc thuần khiết, không là gì khác ngoài niềm vui sướng. Tôi đi xuyên qua khu đỗ xe hầu như trống không và những phòng vệ sinh, rồi đi theo một con đường khác đưa tôi qua hơn 3km đến Cascade Locks. Con đường đột ngột rẽ sang phải và trước mắt tôi là con sông Columbia, nhìn thấy được qua hàng rào mắt cáo ngăn cách đường mòn với con đường Liên bang 84 ở ngay bên dưới. Tôi dừng lại, đan tay lên hàng rào và nhìn chằm chằm sang. Cứ như thể một phép nhiệm màu khi cuối cùng tôi cũng nhìn thấy con sông, như thể một đứa bé sơ sinh cuối cùng cũng trượt vào lòng bàn tay tôi sau cơn đau vượt cạn thật dài. Mặt nước tối lấp lánh còn đẹp hơn bất cứ thứ gì tôi có thể tưởng tượng ra trong suốt những dặm đường tôi đã phải đi để đến được đó.

Tôi đi bộ về phía đông dọc theo hành lang cây xanh mát mắt, lòng đường của Cao tốc sông Columbia bỏ hoang nay đã chuyển thành đường mòn. Tôi có thể nhìn thấy đâu đó những mảng bê tông, nhưng con đường hầu như đã được chiếm lĩnh bởi rêu mọc dọc theo những tảng đá bên lề, bởi những cái cây mọc thấp và nghiêng ngả nặng nề tỏa xuống, bởi những con nhện chăng tơ thành mạng vắt ngang. Tôi đi xuyên qua mạng nhện, thấy như có ma thuật vương trên mặt, tôi gỡ chúng ra khỏi tóc. Tôi có thể nghe thấy nhưng chẳng nhìn thấy dòng xe ô tô vội vã trên con đường liên bang bên trái, chạy giữa con sông và tôi, cái âm thanh nguyên bản của chúng, một tiếng rền rĩ rin rít than van.

Khi từ rừng đi ra, tôi đã ở Cascade Locks. Không giống như rất nhiều những thị trấn trên đường mòn, nó là một thị trấn thực sự, với dân số nhỉnh hơn 1.000 người. Tôi có thể cảm thấy không khí của buổi sáng thứ sáu đang lan tỏa từ những ngôi nhà tôi đi qua. Tôi đi dưới con đường cao tốc và rẽ theo những con phố với cái gậy tuyết leng keng trên vỉa hè, trái tim tôi loạn nhịp khi cây cầu hiện ra trong tầm mắt. Đó là một cây cầu giàn hẫng bằng thép duyên dáng, đặt tên theo một cây cầu tự nhiên được dựng từ vụ lở đất lớn gần 300 năm trước đây mà nay đã trở thành đập của sông Columbia. Người Anh Điêng bản địa gọi nó là Cầu của Chúa. Còn cây cầu cùng tên do bàn tay con người xây dựng này thì nằm vắt qua con sông Columbia gần nửa cây số, nối Oregon với Washington, thị trấn Cascade Locks và thị trấn Stevenson ở hai bên bờ. Khi tôi đến trạm thu phí ở mạn Oregon, người phụ nữ làm việc bên trong nói rằng tôi có thể qua cầu mà không mất phí.

“Tôi không đi qua.” Tôi nói. “Tôi chỉ muốn chạm vào nó.” Tôi đi men theo con đường, đến cái trụ bê tông của cây cầu, đặt tay lên đó, và nhìn xuống dòng sông Columbia đang cuộn chảy. Đó là con sông rộng nhất vùng Tây Bắc Thái Bình Dương và rộng thứ tư nước Mỹ. Người Anh Điêng bản địa đã dựa vào dòng sông này hàng nghìn năm, sống bằng nguồn cá hồi đã từng rất dồi dào. Meriwether Lewis và William Clark đã bơi xuồng xuôi sông Columbia bằng thuyền độc mộc trong cuộc thám hiểm nổi tiếng vào năm 1805. Và 190 năm sau, hai ngày trước sinh nhật thứ 27 của mình, tôi đã ở đây.

Tôi đã đến nơi. Tôi đã làm được. Điều đó vừa nhỏ nhoi vừa vô cùng vĩ đại, giống như một bí mật mà tôi luôn kể với bản thân mình, mặc dầu tôi chưa biết ngay ý nghĩa của nó. Tôi đứng đó trong nhiều phút bên dòng xe hơi và xe tải đi qua, cảm tưởng mình sắp khóc đến nơi, mặc dù không thế.

Nhiều tuần trước, dọc đường đi tôi có nghe người ta nói là khi đến Cascade Locks nhất định phải qua East Wind Drive-In để ăn loại kem cốc lớn nổi tiếng của họ. Vì chuyện này, tôi đã dành dụm mấy đô-la khi ở khu nghỉ dưỡng Timberline. Tôi rời cây cầu và đi dọc một con phố đông đúc chạy song song với dòng sông và xa lộ liên bang; con đường và hầu hết thị trấn nằm kẹp ở giữa. Hãy còn sớm và quán kem chưa mở, bởi vậy tôi ngồi trên cái ghế gỗ trắng nhỏ phía trước quán, Quái Vật nằm bên cạnh.

Ngày hôm đó tôi sẽ đến Portland, chỉ cách đó hơn 72km về phía tây. Tôi sẽ nằm ngủ trên cái nệm cũ của mình, dưới một mái nhà. Tôi sẽ mở đống CD và dàn loa, nghe bất kỳ bài hát nào tôi thích. Tôi sẽ mặc cái áo lót dây đen, quần lót đen và quần jean xanh. Tôi sẽ ăn tất cả những thức ăn ngon lành và nước uống nữa mà tôi có thể có. Tôi sẽ lái cái xe tải của mình đến bất cứ nơi nào tôi muốn. Tôi sẽ lắp máy vi tính và viết sách. Tôi sẽ lấy những hộp sách đã đem theo từ Minnesoata và hôm sau đem bán ở cửa hàng của Powell, bởi vậy tôi sẽ có chút tiền. Tôi sẽ bán đồ cũ để cầm cự cho đến khi tôi có việc. Tôi sẽ bày quần áo cũ, cả cái ống nhòm thu nhỏ và cái cưa gấp trên cỏ để đổi lấy bất cứ thứ gì tôi có thể. Cái ý nghĩ đó khiến tôi thấy khá là sốc.

“Chúng tôi mở cửa rồi đấy.” Một người phụ nữ thò đầu ra khỏi cửa sổ trượt trước quầy ăn nhanh, hô to.

Tôi gọi một cốc kem ốc quế xoắn sô-cô-la vani; vài giây sau cô ta đưa kem cho tôi, cầm hai đô-la, rồi thối lại hai đồng. Đó là món tiền cuối cùng tôi có trên thế gian này. 20 xu. Tôi ngồi trên cái ghế trắng, ăn hết sạch cái kem và rồi lại ngồi nhìn theo những chiếc xe hơi. Tôi là khách hàng duy nhất trong quầy kem cho đến khi một chiếc BMW đỗ lại và một người đàn ông trẻ trong bộ vest doanh nhân bước ra.

“Chào cô!” Anh ta nói khi đi qua tôi. Anh ta tầm tuổi tôi, tóc vuốt keo ngược ra sau, đôi giày không tì vết. Lấy kem xong, anh ta quay ra đứng cạnh tôi.

“Trông như kiểu cô đang đi du lịch bụi.”

“Đúng thế. Tôi đi đường Pacific Crest. Tôi đã đi qua gần 1.800km.” Tôi hào hứng đến nỗi không dằn mình lại được. “Tôi vừa mới kết thúc hành trình sáng nay.”

“Thật sao?”

Tôi gật đầu và cười.

“Thật không thể tin được. Tôi lúc nào cũng muốn làm cái gì đó kiểu như thế. Một chuyến đi dài.”

“Anh có thể làm được. Anh nên làm đi. Tin tôi đi, nếu tôi có thể làm được thì ai cũng có thể.”

“Tôi không thể nghỉ việc để đi – tôi là một chưởng lý.” Anh ta nói và ném nửa cốc kem ăn dở vào sọt rác và lau tay bằng giấy ăn. “Bây giờ cô sẽ đi đâu?”

“Đến Portland. Tôi sẽ sống ở đó một thời gian.”

“Tôi cũng sống ở đó. Bây giờ tôi đang trên đường đến đó này, nếu cô muốn đi nhờ. Tôi rất sẵn sàng thả cô ở bất cứ nơi nào cô muốn.”

“Cảm ơn!” Tôi nói. “Nhưng tôi muốn ở đây một lúc đã. Để tận hưởng hết đã ấy mà.”

Anh ta chìa tấm danh thiếp từ trong ví ra và đưa cho tôi. “Gọi cho tôi khi cô đến nơi nhé. Tôi muốn đưa cô đi ăn trưa và nghe cô kể nhiều hơn về chuyến đi của mình.”

“Được!” Tôi nói và nhìn vào tấm danh thiếp. Nó màu trắng, xanh, chạm nổi các chữ, dấu vết của một thế giới khác.

“Thật vinh dự cho tôi được gặp cô ở thời khắc đáng nhớ này.” Anh ta nói.

“Tôi cũng rất vui được gặp anh.” Tôi nói, bắt tay anh ta.

Anh ta lái xe đi rồi, tôi ngửa cổ ra và nhắm mắt lại dưới ánh mặt trời khi những giọt nước mắt chực rơi lúc ở trên cầu trước đó giờ đây mới trào ra. Cảm ơn, tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại câu đó. Cảm ơn. Không phải chỉ vì chuyến bộ hành dài ngày, mà còn vì mọi thứ cuối cùng cũng đang hội tụ dâng trào trong tôi; vì tất cả mọi thứ mà con đường đã dạy tôi và mọi thứ hồ như đã ở trong tôi cho dù tôi chưa thể biết. Tôi chưa thể biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại người đàn ông trong chiếc BMW ấy, chưa thể biết rằng bốn năm sau tôi lại đi qua cây Cầu của Chúa với một người đàn ông khác và lấy anh ở một nơi gần như có thể nhìn thấy từ chỗ tôi đang ngồi. Tôi chưa thể biết rằng chín năm sau người đàn ông ấy và tôi có một cậu con trai tên là Carver, và một năm rưỡi sau nữa, một cô con gái tên là Bobbi. Tôi chưa thể biết rằng 15 năm sau tôi sẽ đưa gia đình tới đúng cái ghế trắng này và bốn chúng tôi cùng ăn kem ốc quế khi tôi kể cho họ nghe câu chuyện ngày xưa tôi đã từng ngồi đây, khi kết thúc chuyến đi dài một mình trên con đường mòn có tên là Pacific Crest. Và tôi chưa thể biết rằng chỉ đến lúc đó ý nghĩa của chuyến đi bộ mới được mở ra, cái bí mật tôi hằng kể cho chính mình cuối cùng cũng được hé lộ.

Đó chính là lý do tôi kể lại câu chuyện này.

Tôi chưa thể biết mình sẽ trở lại sau bằng ấy năm, tìm gặp lại những người tôi đã gặp trên con đường mòn năm nào, có những người tìm được, có những người không. Tôi chưa thể biết sẽ có lần tôi tìm được một thứ không hề mong đợi: một lời cáo phó. Của Doug. Tôi chưa thể biết tôi sẽ đọc dòng tin về cái chết của cậu sau chín năm chúng tôi chia tay trên đường mòn PCT – cậu qua đời do tai nạn nhảy dù lướt ván ở New Zealand. Tôi cũng chưa thể biết rằng, sau khi khóc vì nhớ thương cậu bé Doug dễ ưa ngày nào, tôi sẽ đi đến góc tận cùng của nhà kho, đến nơi Quái Vật được treo trên một cặp ốc rỉ sét, và tôi sẽ nhìn cái lông quạ mà Doug tặng tôi giờ đã trơ gãy và tàn tạ, nhưng nó vẫn còn ở đó – cài trong khung ba lô, suốt từng ấy năm.

Lúc này, khi ngồi đây trên chiếc ghế trắng vào ngày kết thúc chuyến đi, tôi chưa biết tất cả những chuyện đó. Tôi không biết mọi thứ trừ một điều, rằng tôi đâu cần phải biết. Rằng tôi chỉ cần tin vào những điều mình làm là đủ. Chỉ cần hiểu ý nghĩa của nó mà không cần phải biết chính xác nó là gì, giống như tất cả những dòng thơ Giấc mơ về một ngôn ngữ chung đã chảy trong tôi hết ngày lẫn đêm. Tôi biết rằng được ngắm nhìn con cá dưới mặt nước kia là đủ. Rằng đó là tất cả. Đó là cuộc đời tôi – giống như tất cả mọi cuộc đời, bí ẩn, thiêng liêng và không thể đổi thay. Gần gũi, hiện hữu, và thuộc về tôi.

Hoang dã là thế, cứ mặc đời trôi.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.