NHỮNG CON ĐƯỜNG

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5 - NHỮNG CON ĐƯỜNG

❊ ❊ ❊

Về lý thuyết mà nói, tôi già hơn Pacific Crest 15 ngày tuổi. Tôi sinh năm 1968, ngày 17 tháng chín, và con đường mòn này được gọi tên chính thức trong một đạo luật của Quốc hội vào ngày 2 tháng mười cùng năm. Con đường đã có từ trước đó rất lâu với nhiều dạng khác nhau – các đoạn của nó được ghép lại với nhau từ thập niên 1930, khi một nhóm người đi bộ và thích đời sống hoang dã có ý định tạo ra một con đường mòn từ Mexico đến Canada – nhưng cho đến tận năm 1968 nó mới được gọi tên chính thức và đến tận năm 1993 mới hoàn thành. Chính thức thì nó hoàn thành được gần đúng hai năm vào buổi sáng đầu tiên tôi thức dậy giữa những cây joshua đã đâm vào tôi. Nhưng tôi chẳng có cảm giác con đường này đã hai tuổi. Thậm chí còn không cảm thấy nó bằng tuổi tôi. Tôi thấy nó như từ thời cổ đại vậy. Thông thái. Hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm với tôi.

Tôi tỉnh dậy lúc tảng sáng nhưng trong vòng một tiếng vẫn không thể cất nổi người dậy, thay vì vậy tôi nằm nán lại túi ngủ đọc cuốn sách hướng dẫn. Tôi vẫn còn ngái ngủ, mặc dù đã ngủ được 12 tiếng – hay ít nhất tôi đã ngả lưng được lâu như thế. Cả đêm gió đánh thức tôi dậy hết lần này đến lần khác, những đợt gió lớn quật qua lều, thỉnh thoảng mạnh tới mức khiến cho thành lều quất vào đầu tôi. Trước bình minh mấy tiếng, gió lặng hẳn, nhưng vẫn có thứ khác đánh thức tôi dậy: sự im lặng. Một bằng chứng không thể phủ nhận được là tôi đang ở ngoài này trong nỗi cô đơn vô hạn.

Tôi lồm cồm chui ra khỏi lều rồi chầm chậm đứng lên, các cơ bắp cứng lại từ hôm qua đến giờ, bàn chân trần giẫm lên mặt đất lổn nhổn sỏi. Dù vẫn chưa thấy đói, nhưng tôi ép mình phải ăn sáng. Tôi xúc hai thìa đầy bột đậu tên là Ngon Hơn Cả Sữa vào một cái xoong và khuấy nước rồi cho thêm granola vào. Tôi thấy nó chẳng ngon hơn sữa. Cũng chẳng tệ hơn sữa. Mùi vị chẳng ra làm sao cả. Y như nhai cỏ. Các nụ vị giác của tôi dường như đã tê liệt mất rồi. Dù gì tôi vẫn tiếp tục tọng thìa vào miệng. Tôi cần dinh dưỡng cho cả một ngày dài phía trước. Tôi uống ngụm nước cuối cùng trong những cái chai và lóng ngóng đổ đầy nước từ cái túi bướu lạc đà óc ách trong tay. Theo như Đường mòn Pacific Crest, tập 1: California, tôi còn gần 21 cây số nữa mới đến nguồn nước đầu tiên: suối Cây Sồi Vàng, dù hôm qua chẳng đi được là bao nhưng tôi vẫn hy vọng cuối ngày hôm nay sẽ đến được chỗ đó.

Tôi chất đồ vào ba lô giống như hôm trước đã làm trong nhà nghỉ, vừa ấn vừa nhét cho đến khi chẳng ấn vừa cái gì nữa, rồi dùng dây có móc chằng tất cả những thứ còn lại ra bên ngoài. Mất cả tiếng đồng hồ tôi mới dỡ lều và khởi hành tiếp được. Gần như ngay lập tức, tôi bước qua một đống phân nhỏ nằm trên đường, chỉ cách chỗ ngủ vài bước chân. Nó đen như nhựa đường. Tôi nghĩ đó là của một con sói đồng cỏ. Hay sư tử núi? Tôi tìm kiếm dấu vết trên nền đất nhưng chẳng thấy gì. Tôi nhìn quanh ra xa, đã sẵn tinh thần thấy một cái đầu to giống mặt mèo lẫn giữa những đất đá và bụi xô thơm.

Tôi bắt đầu đi bộ, thấy có chút kinh nghiệm hơn ngày hôm trước, bước đi ít thận trọng hơn, mặc kệ đống phân kia, và thấy khỏe khoắn hơn dưới sức nặng của cái ba lô. Nhưng sức mạnh ấy tiêu tan chỉ trong vòng 15 phút khi tôi đi lên rồi lại đi lên nữa, đi sâu vào trong núi đá, hết tầng này đến tầng khác. Cái khung ba lô kẽo kẹt đằng sau theo mỗi bước chân nặng trịch. Cơ vai và phần lưng trên căng cứng, nóng lên vì sưng phồng. Tôi phải dừng lại không biết bao nhiêu lần để gập người xuống, chống bàn tay lên đầu gối và dịch cái ba lô ra khỏi vai một chút cho nhẹ nhõm trước khi tiếp tục lê bước.

Đến trưa, tôi đã ở độ cao hơn 1.800 m, không khí mát mẻ hơn và mặt trời đột ngột biến mất sau những đám mây. Hôm trước đó tôi còn ở hoang mạc quá nóng, nhưng giờ tôi ngồi co ro ăn bữa trưa. Một thanh protein và mấy quả mơ khô. Lưng áo phông đẫm mồ hôi lạnh toát. Tôi lôi cái áo khoác nỉ ra khỏi túi đựng quần áo rồi mặc vào. Sau đó, tôi nằm lên tấm bạt để nghỉ vài phút, và rồi ngủ quên lúc nào không hay.

Thức dậy vì những hạt mưa rơi độp xuống mặt, tôi nhìn đồng hồ. Tôi đã ngủ gần hai tiếng. Tôi chẳng mơ thấy gì cả, và chẳng hề biết là mình đã ngủ, cứ như thể có ai đó từ đằng sau đập một hòn đá khiến tôi bất tỉnh vậy. Tôi ngồi dậy và nhận thấy một đám mây đang vây quanh mình, hơi nước dày đến mức tôi chẳng thể nhìn thấy gì cách một mét. Tôi nai nịt lại cái ba lô rồi tiếp tục đi bộ xuyên qua làn mưa mỏng, dù cứ mỗi bước lại có cảm tưởng như toàn bộ cơ thể đang rẽ nước sâu mà đi. Tôi cuộn cái áo phông và quần soóc lại để đệm vào những chỗ bị chà xát mạnh trên hông, lưng và vai mình, nhưng chỉ càng làm cho những chỗ đó tệ hơn.

Tôi tiếp tục bước, qua cả chiều muộn và bóng tối, chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ những thứ ngay trước mũi mình. Tôi không nghĩ đến những con rắn như ngày hôm trước nữa. Tôi không nghĩ: Mình đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest. Tôi thậm chí còn chẳng nghĩ: Mình tự đẩy mình vào cái quái quỷ gì thế này? Tôi chỉ nghĩ đến chuyện lao mình lên phía trước. Đầu óc tôi giờ là một bình pha lê chỉ chứa đựng khát khao duy nhất đó. Cơ thể tôi thì ngược lại: giống một cái túi đầy mảnh thủy tinh vỡ. Mỗi bước đi là một lần đớn đau. Tôi đếm bước chân để quên đi nỗi đau, âm thầm lẩm nhẩm những con số trong đầu đến 100 rồi quay lại từ đầu. Đếm như thế khiến cho tinh thần dễ chịu hơn, như thể tôi chỉ phải đi đến cuối mỗi dãy số ấy là được.

Khi đi lên cao hơn, tôi nhận ra mình chẳng hiểu núi là gì, hoặc thậm chí là mình có đang đi trên một ngọn núi hay một cụm núi hay không. Tôi không lớn lên ở vùng đồi núi. Tôi đã từng đi bộ trong ngày trên một vài ngọn núi, nhưng chỉ là những con đường đã có nhiều bước chân đi qua. Đối với tôi dường như núi chẳng qua chỉ là những quả đồi lớn. Nhưng không phải. Giờ thì tôi đã biết: núi trùng điệp và phức tạp, không thể cắt nghĩa và chẳng giống với cái gì. Mỗi lần đặt chân đến được một điểm mà tôi nghĩ là đỉnh núi hoặc đỉnh của một cụm núi, tôi lại thấy mình đã lầm. Vẫn còn phảilên cao nữa, cho dù đúng là ban đầu có một cái dốc nhỏ đi xuống. Vậy là tôi lại phải đi lên nữa cho tới khi đến được chỗ thực sự là đỉnh. Tôi biết nó là đỉnh vì nó có tuyết. Không phải tuyết trên mặt đất, mà rơi từ trên trời xuống, những bông tuyết mỏng xoắn xuýt không ra hình thù gì, bạt đi trong gió.

Tôi đã không nghĩ là có mưa trên hoang mạc, và tôi dĩ nhiên cũng chẳng nghĩ rằng sẽ có tuyết. Tôi không lớn lên ở vùng núi đồi, cũng chẳng ở nơi hoang mạc. Dù đã từng đi bộ trong ngày qua vài hoang mạc, tôi cũng không thực sự biết hoang mạc là gì. Tôi hiểu hoang mạc là khô, nóng, đầy cát, rắn, bọ cạp và xương rồng. Nhưng không phải vậy. Hoang mạc còn có vô khối những thứ khác nữa. Chúng phân tầng và phức tạp, không thể cắt nghĩa và chẳng giống với cái gì. Ngày thứ hai trên con đường mòn, tôi nhận ra không thể dùng phép loại suy để xác định mình đang ở đâu.

Tôi đã ở trong một vùng đất hoàn toàn mới mẻ.

Chẳng phải tôi chỉ lơ mơ mỗi chuyện núi là gì và hoang mạc là gì. Tôi còn không lường trước việc phần thịt chỗ xương cụt, hông và vai trước sẽ chảy máu. Tôi còn không lường trước chuyện trung bình một tiếng tôi chỉ đi được hơn một cây số, theo như cách tính mà cuốn sách hướng dẫn đã mô tả chi tiết. Mà cho đến lúc này, sở dĩ tôi đạt được vận tốc ấy là nhờ nhiều lần bỏ qua giờ giải lao để đi bù vào. Hồi mới manh nha ý tưởng đi bộ trên PCT, tôi đã tính trung bình 22 cây số rưỡi một ngày trong cả chuyến đi, mặc dù hầu hết các ngày tôi thực sự đi nhiều hơn thế vì vận tốc trung bình dự kiến ấy tính cho cả những ngày nghỉ sau mỗi một hoặc hai tuần, khi tôi chẳng hề đi một bước nào. Nhưng tôi đã không hề tính đến việc tôi không đủ sức khỏe, hay sự khắc nghiệt thực sự của con đường mòn, cho đến tận khi đặt chân lên nó.

Tôi leo xuống mà trong lòng khá hoảng sợ, mãi cho đến khi tuyết chuyển lại thành hơi nước rồi hơi nước thành màu xanh và màu nâu rõ ràng của những ngọn núi xa gần bao quanh. Chúng khúc khuỷu gập ghềnh, cắt một đường in rõ lên nền trời xam xám. Thứ âm thanh duy nhất khi tôi bước đi là tiếng giày lạo xạo trên con đường mòn nhiều sỏi đá và tiếng rin rít của cái ba lô cứ dần dần làm tôi điên hết cả đầu. Tôi dừng lại, tháo ba lô ra rồi lấy dầu dưỡng môi bôi trơn cái khung của nó ở chỗ mà tôi nghĩ đã gây ra tiếng rin rít ấy, nhưng khi đi tiếp tôi nhận ra rằng chẳng ăn thua gì. Tôi nói to lên với mình vài câu để quên đi chuyện đó. Mới chỉ hơn 48 tiếng kể từ khi tôi chào tạm biệt những người đàn ông cho đi nhờ xe đến con đường mòn, nhưng cảm giác như thể đã qua một tuần rồi và giọng nói của tôi bật ra nghe hoàn toàn lạ lẫm. Tôi nghĩ mình sẽ sớm gặp được một người đi bộ khác. Ngạc nhiên thay cho tới giờ vẫn chưa thấy ai cả, mặc dù sự đơn độc ấy thành ra lại hữu ích ngay một giờ sau đó, khi đột nhiên tôi có nhu cầu cấp bách được dùng nhà vệ sinh, mặc dù ở ngoài này việc sử dụng nhà vệ sinh có nghĩa là ngồi xổm lên một cái hố tự đào và bĩnh vào đó. Chính vì lý do này. tôi đã mang theo cái bay bằng thép không gỉ đang gài ngang cái cạp eo của ba lô, nằm gọn trong cái vỏ bao nylon màu đen in mấy chữ Bạn đào nó ở đằng trước.

Đó là cách của dân ba lô, bởi vậy chẳng thể làm khác được. Tôi đi tiếp tới một điểm có vẻ hợp lý để liều mình rẽ vài bước ra khỏi con đường mòn. Tôi tháo ba lô, lôi cái bay ra khỏi bao, rồi lao ra sau một bụi cây xô thơm để đào. Đất ở đây sỏi đá, màu be hơi đỏ và cứng. Đào xong một lỗ ở đó giống như thể cố khoan xuyên qua một cái kệ bếp bằng đá granite rắc cát và đá cuội. Chỉ có búa khoan mới làm được. Hoặc một người đàn ông – tôi giận dữ nghĩ trong khi cố đâm cái bay xuống đất cho đến khi cổ tay như sắp gãy vụn. Tôi chọc đi chọc lại vô ích, cả thân thể như đau cứng trong mồ hôi lạnh toát. Cuối cùng, tôi phải đứng dậy chỉ để không bĩnh ra quần. Chẳng còn cách nào khác, tôi đành kéo quần xuống – lúc ấy tôi không mặc quần lót vì chúng chỉ khiến cho vết chà xát ở hông thêm đau – rồi cứ vậy mà ngồi xuống rồi đi. Xong việc, tôi nhẹ hết người nhưng cũng yếu đến mức suýt thì ngã nhào xuống đống phân nóng của mình.

Sau đó, tôi loạng choạng đi quanh gom đá, vun thành một ụ nhỏ lên đống phân, vùi đi dấu vết trước khi tiếp tục lên đường.

Tôi nghĩ mình đang đến Suối Cây Sồi Vàng, nhưng đến bảy giờ vẫn chẳng thấy nó đâu. Tôi chẳng quan tâm. Mệt đến mức còn chẳng thấy đói bụng, tôi lại bỏ bữa tối, để tiết kiệm số nước phải dùng. Tôi tìm thấy một chỗ khá bằng phẳng để dựng lều. Cái nhiệt kế nhỏ xíu đu đưa bên hông ba lô chỉ 42 độ. Tôi lột bộ quần áo đẫm mồ hôi ra rồi trải chúng lên một bụi cây để hong khô trước khi lồm cồm bò vào trong lều.

Buổi sáng hôm sau, tôi phải mạnh tay lắm mới mặc quần áo vào được. Qua một đêm, chúng khô cứng lại như tấm ván.

Tôi đến được Suối Cây Sồi Vàng sau một vài giờ đi bộ vào ngày thứ ba. Hình ảnh cái bể nước bê tông hình vuông đã cổ vũ tôi tiến bước, không phải chỉ vì ở con suối đó có nước, mà còn vì rõ ràng có bàn tay con người xây dựng lên cái bể này. Tôi thả tay mình vào nước, chọc ngoáy mấy con bọ đang bơi trên mặt nước. Tôi lấy đồ lọc nước ra, thả ống hút vào trong bể và bắt đầu bơm như đã thực hành trong bồn nước ở bếp ở Minneapolis. Tôi nhớ là lúc trước làm dễ hơn, có lẽ vì khi tập tôi chỉ bơm có vài lần. Còn bây giờ, dường như phải lên gân nhiều hơn để ấn cái bơm. Rồi đến khi tôi lấy đủ sức bơm được thì cái ống hút lại nổi lềnh bềnh trên mặt nước, chỉ hút được không khí. Tôi bơm rồi cứ bơm cho đến tận khi không thể bơm được nữa và phải nghỉ một lát; rồi tôi lại bơm tiếp, cuối cùng cũng đầy cả hai chai và cái túi bướu lạc đà. Mất gần một tiếng đồng hồ, nhưng bắt buộc phải làm. Nguồn nước tiếp theo cách đây những hơn 30 cây số khổ ải nữa.

Ngày hôm đó tôi đã định đi tiếp, nhưng cuối cùng lại ngồi ở cái ghế cắm trại gần bờ suối. Trời cuối cùng cũng ấm lên, mặt trời tỏa nắng xuống cánh tay và đôi chân trần của tôi. Tôi cởi áo sơ mi ra, kéo quần soóc xuống thấp, và khép mắt lại, hy vọng Mặt trời sẽ xoa dịu những mảng da trên thân thể đã bị cái ba lô làm xây xát. Khi mở mắt ra, tôi nhìn thấy một con thằn lằn nhỏ ở tảng đá gần đấy. Trông như nó đang làm động tác chống đẩy.

“Chào thằn lằn,” tôi nói, và nó ngừng chống đẩy, đứng im phăng phắc rồi thoắt biến mất.

Tôi cần phải bù lại thời gian. Tôi đã tụt lại so với kế hoạch, nhưng ngày hôm đó tôi không tài nào dứt mình khỏi khoảng đất xanh tươi nhỏ nhắn của những cây sồi sung sức bao quanh suối Cây Sồi Vàng. Ngoài những khoảng thịt trên người, cơ bắp và các đốt xương cũng đau đớn vì đi bộ, bàn chân ngày càng nhiều nốt rộp. Tôi ngồi bệt xuống đất xem xét chúng, biết rằng chẳng thể làm gì để ngăn những vết này thêm tồi tệ. Tôi cẩn thận rà ngón tay qua những vết đó rồi lên tới vết thâm tím to bằng một đồng xu nổi lên ở mắt cá chân – đó không phải vết thương trong chuyến đi PCT, mà là bằng chứng cho sự ngu ngốc của tôi trước khi đến với con đường mòn này.

Vì vết thâm này mà tôi quyết định không gọi cho Paul khi tôi thấy quá đơn côi trong nhà nghỉ ở Mojave; vết thâm này chính là trung tâm câu chuyện mà tôi biết chỉ cần nghe giọng tôi là anh sẽ biết. Câu chuyện về việc tôi đã quyết tâm như thế nào để tránh xa khỏi Joe trong hai ngày ở Portland trước khi lên máy bay đến Los Angeles nhưng cuối cùng vẫn gặp anh ta. Câu chuyện về cách tôi rút cục đã chích heroin với anh ta cho dù đã không hề động vào nó kể từ lần anh ta đến Minneapolis thăm tôi sáu tháng trước đó.

“Đến lượt em.” Tôi hối thúc sau khi nhìn thấy anh ta chích thuốc. Khi ấy con đường mòn PCT đột nhiên như ở tương lai quá xa xôi, mặc dầu thực tế là chỉ còn cách có 48 tiếng.

“Đưa mắt cá chân em đây.” Joe nói khi không tìm được ven trên cánh tay tôi.

Tôi ở hẳn một ngày tại suối Cây Sồi Vàng, tay cầm la bàn, đọc Đừng bị lạc. Tôi xác định ra phía bắc, phía nam, đông và tây. Để lại đồ đạc sau lưng, tôi hân hoan đi xuống một con đường nhỏ dẫn đến suối và vừa đủ cho ô tô chạy xem có thấy gì không. Cảm giác đi bộ mà không đeo ba lô thật tuyệt vời, dù lúc này chân và các cơ bắp khắp người tôi vẫn đang nhức nhối. Cảm giác như không chỉ thẳng được người lên mà còn có thể bay lên, như thể có hai đai cao su từ trên trời buộc vào vai tôi vậy. Mỗi bước đi là một bước nhảy, nhẹ bỗng.

Khi đã đến được nơi thông thoáng, tôi dừng lại và phóng mắt nhìn qua khoảng không trước mặt. Chỉ thấy thêm nhiều ngọn núi hoang mạc, đẹp và hoang sơ, thêm nhiều hàng quạt gió thân trắng gầy guộc xa xa. Tôi trở lại lều, nhóm lò, gắng tự nấu bữa ăn nóng đầu tiên trên con đường này, nhưng dù thử đủ cách vẫn không thể giữ lửa trong lò. Tôi lôi sổ hướng dẫn ra, đọc phần xử lý sự cố. Lúc ấy tôi mới biết mình bơm không đúng loại ga cho cái bếp. Tôi đã bơm ga không chì trong khi đáng lẽ phải dùng loại ga trắng chuyên biệt, và bây giờ thì chỗ đánh lửa bị kẹt, tôi thử nhiều lần đến nỗi nó đen muội lại.

Dù sao tôi cũng chẳng thấy đói tí nào. Cơn đói giống như một ngón tay bị liệt, hiếm khi có cảm giác gì. Tôi đã ăn một nắm sợi cá ngừ và ngủ trước sáu giờ mười lăm phút.

Trước khi lên đường vào ngày thứ tư, tôi chăm sóc mấy vết thương của mình. Một nhân viên ở REI đã khuyên tôi mua một hộp Spenco 2nd Skin – miếng dính để chữa vết cháy nắng cũng có thể rất hiệu quả với những nốt phồng rộp. Tôi dán lên hết phần da rỉ máu hoặc phồng rộp hoặc mẩn đỏ – đầu mấy ngón chân và sau gót chân, chỗ xương hông, khắp cả phần vai trước và lưng dưới. Làm xong, tôi rũ mấy cái tất ra, cố gắng làm cho chúng thật mềm trước khi xỏ vào. Tôi có hai đôi, nhưng đôi nào cũng cứng bụi và khô mồ hôi. Như thể chúng được làm từ bìa cứng chứ không phải bằng vải, mặc dù cứ bốn tiếng tôi lại đổi một lần, đi một đôi còn đôi kia phơi ra, lủng lẳng ở mấy cái dây chằng có móc trên ba lô.

Sáng đó, sau khi rời khỏi những con suối, lại oằn mình với 11,5 cân nước, tôi nhận ra mình đang có một kiểu thú vui hồi tưởng lạ lùng và khó hiểu. Nhiều lúc giữa vô vàn đớn đau, tôi nhận ra vẻ đẹp xung quanh tôi, sự kỳ diệu của vạn vật, cả nhỏ bé lẫn lớn lao: màu sắc của một bông hoa hoang mạc quẹt qua tôi trên đường mòn hoặc vòm trời rộng lớn khi Mặt trời lẩn xuống sau rặng núi. Đang say trong mộng tưởng, tôi bỗng trượt chân trên sỏi rồi ngã oạch xuống mặt đường khô cứng, mạnh đến ná thở. Tôi nằm im thế hết cả phút, cứng người vì cả vết thương đang nhức nhối ở chân và sức nặng khổng lồ của cái ba lô đang ghìm chặt thân tôi vào đất. Khi lồm cồm bò nhấc người dậy từ cái ba lô và xem xét hậu quả, tôi thấy một vết thương kéo dài ở ống quyển đang ri rỉ máu, một cục u to bằng nắm đấm xuất hiện bên dưới vết thương. Tôi vẩy một ít nước quý giá lên, cố rửa hết bụi đất và đá dăm, ấn một cục băng gạc lên cho đến khi máu bớt chảy, rồi tôi tập tễnh bước đi.

Thời gian còn lại của chiều hôm đó tôi bước đi mà mắt chăm chăm vào con đường ngay trước mặt, sợ mình sẽ lại trượt chân ngã lần nữa. Thế rồi thứ tôi kiếm tìm những ngày vừa rồi cuối cùng cũng xuất hiện: dấu chân của sư tử núi. Con sư tử đã đi trên con đường này, cùng hướng với tôi và trước tôi chẳng mấy xa – dấu chân nó hằn rõ trên đất trong một đoạn khoảng nửa cây số. Cứ đi được mấy phút, tôi lại dừng lại nhìn quanh. Ngoài những mảng xanh nho nhỏ, khung cảnh gần như chỉ là một vùng vàng nâu lẫn lộn, y như màu của sư tử núi. Tôi bước tiếp, vừa đi vừa nghĩ về bài báo mới đọc nói về ba người phụ nữ ở California – mỗi người bị một con sư tử núi giết ở một thời điểm khác nhau trong năm trước đó – và tôi nhớ đến những chương trình động vật hoang dã từng xem từ khi còn nhỏ, trong đó những con thú ăn thịt rình theo con vật mà chúng cho là yếu nhất trong đàn. Chẳng nghi ngờ gì nữa, tôi chính là con vật đó: cái con vật bị xé thịt phanh thây. Tôi hát thật to những bài hát ngăn ngắn nảy ra trong đầu – “Twinkle, Twinkle, Little Star” (Ngôi sao nhỏ lấp lánh) và “Take Me Home, Country Roads” (Đưa tôi về, đường quê yêu dấu) – vừa mong tiếng hát run sợ của mình có thể dọa được con sư tử ấy tránh xa, vừa sợ tiếng hát có thể đánh động cho con vật ấy biết được sự hiện diện của tôi, cứ như thể là máu rỉ ở chân và cái mùi cơ thể hôi hám bốc lên chưa đủ mời gọi nó vậy.

Khi chăm chú nghiên cứu mặt đất, tôi nhận ra tôi đã đi đủ xa và bây giờ địa hình đã bắt đầu thay đổi. Xung quanh tôi đất đai vẫn khô cằn, chủ yếu là cây chaparral và bụi xô thơm như hồi đầu, nhưng bây giờ những cây joshua vốn nổi bật ở hoang mạc Mojave chỉ còn lác đác. Những cây bách xù, thông dẻ và sồi thấp phổ biến hơn cả. Thỉnh thoảng, tôi đi qua những đồng cỏ râm mát rậm rạp. Với tôi, cỏ và những cây tán rộng vừa tầm là một nguồn an ủi. Chúng báo hiệu sẽ có nước và sự sống. Chúng ngầm khích lệ tôi rằng tôi cũng có thể hoàn thành chuyến đi này.

Ấy là cho đến khi tôi gặp một cái cây chặn ngang lối đi. Cái cây đổ rạp ra đường, những cành cây chống cho thân cây cách mặt đất một khoảng không đủ để chui qua nhưng cũng quá cao chẳng trèo qua nổi, nhất là với cái ba lô trĩu nặng này nữa. Đi vòng qua cũng chẳng xong vì con đường mòn có một bên quá dốc, còn bên kia thì quá dày bụi. Tôi đứng đực ra đó một hồi lâu, cố gắng tìm lối đi qua cái cây. Dù thế nào tôi cũng phải qua được cái cây này, không cần biết khó khăn bất khả thế nào. Chứ chẳng lẽ tôi lại quay gót trở về nhà nghỉ ở Mojave. Tôi nghĩ đến căn phòng 18 đô-la tí hin với một ham muốn mãnh liệt, khát khao được quay về giống như cơn lũ ùa tràn trong tôi. Tôi dựa lưng vào cái cây, tháo ba lô ra, và đẩy nó qua bên kia thân cây, cố hết sức không làm nó rơi xuống đất quá mạnh, lỡ ra cái túi bướu lạc đà có thể bung ra vì cú va đập ấy. Rồi tôi theo chân nó trèo qua cái cây, hành hạ đôi tay vốn đã mềm nhũn do cú ngã trước đó. Trong hơn 1,5 km tiếp theo tôi gặp phải ba cái cây đổ nữa. Cho đến khi vượt qua cả ba, vết thương ở ống chân đã mở miệng rộng hơn và lại tiếp tục chảy máu.

Chiều ngày thứ năm, khi đang đi trên một dải đất hẹp và dốc của con đường mòn, tôi nhìn lên và thấy một con vật to lớn màu nâu và có sừng đang phi về phía mình.

“Nai!” Tôi hét, dù biết đấy chẳng phải là nai. Trong nỗi khiếp sợ, tôi không thể định hình nổi mình đang nhìn thấy cái gì và nai là con trông giống với nó nhất. “Nai!” Tôi la lên tuyệt vọng khi nó đến gần. Tôi cuống cuồng nhảy bổ vào đám cây manzanita và cây sồi thấp dọc đường mòn, chui vào chỗ sâu nhất giữa những cành cây gai nhọn, cái ba lô nặng trĩu thì cứ níu lại.

Lúc tôi làm thế, cái thứ giống như quái vật kia đến gần và tôi nhận ra mình đang sắp bị một con bò sừng dài vùng Texas giày xéo.

“Naiiiiii!” Tôi la to hơn, tay chộp lấy cái dây màu vàng buộc vào khung ba lô, cái còi to mồm nhất thế gian buộc ở đầu kia sợi dây. Tìm thấy cái còi, tôi đưa nó lên môi rồi mắt nhắm tịt lại, lấy hết sức bình sinh thổi một hồi cho đến khi phải dừng lại lấy hơi.

Lúc tôi mở mắt ra thì con bò đã đi rồi.

Phần da trên đầu ngón tay trỏ phải của tôi cũng đã đi nốt, vì bị những cành manzanita lởm chởm gai cào toạc trong cơn hoảng loạn của tôi.

Mỗi khi nhắc đến việc đi bộ trên đường mòn Pacific Crest mùa hè ấy, tôi nhận ra một điều vô cùng sâu sắc – nhưng cũng vô cùng đơn giản như vô vàn thứ khác – đó chính là tôi có ít lựa chọn đến nhường nào và thường xuyên phải làm cái điều mình ít muốn nhất ra sao. Tôi chẳng có chỗ trốn thoát hay thoái lui. Chẳng có một ly martini để được tê mê, hay một trận cuồng hoan để khỏa lấp. Hôm đó, khi tôi bám chặt lấy cái cây chaparral, cố gắng rịt lại ngón tay đang chảy máu, nghe thấy bất cứ âm thanh nào cũng sợ rằng con bò đang quay lại, tôi đã xem xét đến những lựa chọn của mình. Chỉ có hai và chúng cơ bản đều như nhau cả. Tôi có thể quay ngược hướng trở lại nơi xuất phát, hoặc tôi có thể đi tiếp hướng đã định đi. Con bò kia, như tôi rầu rĩ nhận định, có thể ở cả hai hướng, bởi lẽ lúc ấy tôi đang nhắm tịt mắt, không nhìn thấy nó chạy đi đằng nào. Tôi chỉ có thể lựa chọn giữa con bò đưa tôi quay trở lại hoặc con bò đưa tôi bước tiếp.

Và thế là tôi bước tiếp.

Tôi phải cố hết sức lực mới đi đủ ngót 15 cây số một ngày. 15 cây số một ngày là một thành tích thể lực vượt xa tất cả những gì tôi từng làm. Toàn thân đau đớn. Ngoại trừ trái tim tôi. Tôi chẳng gặp một ai, nhưng cũng kỳ lạ y như thế, tôi chẳng hề nhớ ai. Tôi chẳng thiết gì ngoại trừ thức ăn và nước uống, và được phép hạ cái ba lô xuống. Tuy vậy tôi vẫn vác nó trên lưng. Lên rồi xuống, rồi vòng vèo qua những ngọn núi khô cằn, nơi những cây thông Jeffrey và cây sồi đen nối nhau theo dọc con đường, băng qua những con đường cho xe chạy in nhiều vết xe tải lớn, mặc dù chẳng thấy bóng ai ở đó cả.

Vào sáng ngày thứ tám, tôi thấy đói và đổ hết đồ ăn ra đất để xem còn bao nhiêu, bất thần tôi thấy thèm một bữa ăn nóng ghê gớm. Thậm chí ngay cả trong tình trạng kiệt quệ và chẳng còn cảm giác ăn uống gì, tôi cũng đã ăn hầu hết những thứ không phải nấu – granola và các hạt, trái cây, thịt ngỗng và thịt cá ngừ sấy khô, những thanh protein và sô cô la và bột Ngon Hơn Sữa. Hầu hết thực phẩm còn lại đều cần phải nấu và tôi lại có một cái bếp không lên lửa. Phải đến tận đồng cỏ Kennedy mới có hộp tiếp tế, tức là phải đi tổng cộng hơn 217 km từ điểm xuất phát. Với cùng khoảng thời gian tôi đã ở trên con đường này, một người đi bộ kinh nghiệm hẳn đã thanh toán xong 217 km này rồi. Với tốc độ đang di chuyển, tôi thậm chí còn chưa đi được một nửa quãng đường ấy. Và kể cả nếu tôi đến được đồng cỏ Kennedy với số đồ ăn đang có, thì tôi vẫn cần phải sửa cái bếp và bơm đúng loại ga – và đồng cỏ Kennedy, vốn dĩ là vùng ở trên cao dành cho đám thợ săn, khách bộ hành, người câu cá hơn là một thị trấn, lại chẳng có chỗ nào để sắm ga và sửa bếp. Tôi ngồi dưới nền đất, bao quanh là những cái túi zip đựng đồ ăn liền mà tôi không thể nấu nướng được, và quyết định sẽ đổi hướng. Cách chỗ tôi ngồi không xa, đường mòn PCT vắt ngang qua một mạng lưới đường cho xe chạy ra nhiều hướng.

Tôi rẽ vào một con đường, nghĩ rằng thế nào cũng tìm thấy dân cư sống dọc đường cao tốc, vốn song song và cách con đường mòn khoảng 32 km về phía đông. Tôi bước mà không biết đích xác đang đi đường nào, chỉ có niềm tin rằng sẽ tìm ra được thứ gì đó, cứ thế đi và đi dưới ánh mặt trời nóng rỡ. Tôi có thể ngửi thấy mùi của chính mình khi di chuyển. Tôi có đem theo lăn khử mùi và sáng nào cũng lăn dưới cánh tay, nhưng giờ thì chẳng ăn thua gì nữa. Đã hơn một tuần nay tôi chưa tắm rửa. Người tôi đầy bụi đất và máu, tóc thì bết bụi và khô quánh mồ hôi, bết vào đầu dưới mũ. Mỗi ngày tôi cảm thấy cơ bắp một khỏe hơn và đồng thời, với cùng một mức độ, thấy dây chằng và khớp xương rệu rã hơn. Chân tôi đau cả trong lẫn ngoài, da thịt xây xát vì phồng rộp, xương và cơ kiệt quệ theo từng dặm đường. Con đường này bằng phẳng hoặc chỉ hơi dốc xuống – quả là một quãng giải lao sau bằng đấy đoạn đường mải miết lên xuống, nhưng tôi vẫn thấy mệt mỏi. Trong những khoảng dài dằng dặc, tôi cố tưởng tượng là mình thực ra không có bàn chân, chân mình thật ra là hai gốc cây vững chãi, có thể chịu đựng bất cứ cái gì.

Sau bốn tiếng đồng hồ, tôi bắt đầu thấy hối tiếc vì quyết định của mình. Tôi có thể chết đói hoặc bị những con bò sừng dài đột kích và giết hại, nhưng trên con đường mòn PCT, ít nhất tôi còn biết mình đang ở đâu. Tôi đọc lại cuốn sách hướng dẫn, cho đến lúc này tôi còn chẳng chắc chắn được liệu mình có ở trên một trong những con đường mà họ miêu tả qua loa không nữa. Mỗi tiếng trôi qua, tôi lại lôi bản đồ và la bàn ra để xem đi xem lại, kiểm tra xem mình đang ở đâu. Tôi lôi cuốn Đừng để lạc ra đọc lại cách sử dụng bản đồ và la bàn cho chính xác. Tôi nghiên cứu Mặt trời. Tôi đi qua một đàn bò sữa be bé không có hàng rào gì cả, và tim tôi run bắn lên khi nhìn thấy chúng, dẫu cho chẳng có con nào lao về phía tôi. Chúng chỉ ngừng ăn, ngẩng đầu lên nhìn tôi đi qua trong khi tôi khẽ gọi chúng: “Bò, bò, bò.”

Vùng đất mà con đường này xuyên qua có những chỗ xanh tươi đến bất ngờ, chỗ khác lại khô cằn sỏi đá đến kinh ngạc, và đã hai lần tôi đi qua những chiếc xe kéo nằm im lìm và kỳ dị ven đường. Tôi bước đi mải băn khoăn về vẻ đẹp và sự tĩnh lặng này, nhưng đến chiều tà, nỗi lo sợ đã dâng lên đến tận cổ họng.

Tôi đang ở trên đường, nhưng đã tám ngày nay tôi không nhìn thấy một bóng người. Đây là thời đại văn minh, thế nhưng ngoài những con bò chăn thả tự nhiên và hai chiếc xe kéo bỏ hoang, còn lại bản thân con đường chẳng có dấu hiệu của thế giới văn minh gì cả. Tôi cảm thấy như thể đang xem một bộ phim khoa học viễn tưởng, như thể mình là người duy nhất còn sót lại trên hành tinh này, và lần đầu tiên kể từ lúc bắt đầu cuộc hành trình, tôi cảm thấy như thể mình sắp khóc. Tôi lấy một hơi thật sâu để kiềm lại nước mắt và cởi ba lô ra, đặt nó trên nền đất để lát sau đeo lại. Đoạn đường trước mặt có một chỗ rẽ, tôi bỏ ba lô lại, đi theo lối đó xem có thấy gì không.

Và tôi thấy ba người đàn ông ngồi trong buồng lái của một chiếc xe bán tải màu vàng.

Một người da trắng. Một người da đen. Một người Mỹ Latin.

Tôi mất khoảng 60 giây để đi đến chỗ họ. Họ nhìn tôi, vẻ mặt y như khi tôi nhìn thấy con bò sừng dài hôm trước. Cứ như thể họ sẽ la nên “Nai!” bất cứ lúc nào. Khi nhìn thấy họ, tôi mừng không để đâu cho hết. Nhưng khi sải bước về phía họ, cả người tôi râm ran với cái nhận thức rằng mình không còn là ngôi sao đơn độc trong bộ phim về một hành tinh không có con người nữa. Bây giờ tôi lại ở trong một thể loại điện ảnh hoàn toàn khác: Tôi là người đàn bà duy nhất với ba gã đàn ông không rõ mục đích, tính cách và xuất xứ đang chằm chằm quan sát tôi từ trong một chiếc xe tải màu vàng.

Khi tôi giải thích cho họ biết tình hình của mình qua cửa sổ bên buồng lái, họ im lặng nhìn tôi, mắt họ thay đổi từ chỗ hoảng hốt đến kinh ngạc rồi giễu cợt cho đến khi phá ra một tràng cười lớn.

“Cô có biết là cô đang đi vào đâu không cô bé?” Người đàn ông da trắng hỏi tôi khi ông ta định thần lại, còn tôi thì lắc đầu. Ông ấy và người da đen trông khoảng 60 tuổi, còn cậu người Latin thì chắc chỉ mười mấy đôi mươi.

“Cô có biết đây là núi không?” Ông hỏi. Ông chỉ thẳng ra trước mặt, qua kính chắn gió từ chỗ ông ngồi sau vô lăng. “Chúng tôi đang chuẩn bị thổi tung ngọn núi này lên.” Ông ấy giải thích cho tôi rằng có một đội khai mỏ đã mua quyền sử dụng mảnh đất này và họ đang khai thác đá trang trí mà người ta dùng trong vườn cây. “Tôi tên là Frank.” Ông nói, gõ vào vành mũ cao bồi đang đội. “Và nói đúng ra là cô đang xâm phạm lãnh thổ người khác đấy, cô gái trẻ ạ, nhưng chúng tôi sẽ không bắt bí gì cô đâu.” Ông nhìn tôi và nháy mắt. “Chúng tôi chỉ là thợ mỏ. Chúng tôi không sở hữu mảnh đất này, nếu không chúng tôi đã phải bắn cô rồi.”

Ông lại phá ra cười rồi chỉ sang cậu người Latin ở giữa và nói với tôi tên anh ta là Carlos.

“Tôi là Walter.” Người da đen ngồi ở bên cửa sổ ghế phụ nói.

Họ là những người đầu tiên tôi gặp kể từ hai người đàn ông trong chiếc bán tải với những chiếc đĩa Colorado, những người đã thả tôi lại bên đường hơn một tuần trước. Khi cất tiếng nói, tôi nghe giọng mình thật buồn cười, có vẻ cao hơn và nhanh hơn giọng nói mà tôi còn nhớ, như thể đấy là cái gì đó mà tôi không hoàn toàn nắm bắt và điều khiển được, như thể mọi từ đều là một con chim nhỏ đang vỗ cánh tung bay. Họ bảo tôi lên sau xe, rồi chúng tôi lái một đoạn ngắn đến quanh lối rẽ để lấy ba lô của tôi. Frank dừng lại và tất cả bọn họ bước ra. Walter nhấc cái ba lô và bị sốc vì trọng lượng của nó.

“Tôi đã ở Hàn Quốc.” Ông ấy nói, cũng phải cố gắng mới nhấc được nó lên cái ghế ngồi bằng kim loại của cái xe tải. “Và chúng tôi chưa từng bao giờ phải mang một cái ba lô nặng như thế này. Hay cũng có thể có một lần rồi, nhưng đấy là khi tôi bị phạt.”

Thế là họ quyết định ngay tắp lự, chẳng hỏi gì mấy đến tôi, rằng tôi sẽ về nhà với Frank, vợ ông sẽ nấu cho tôi bữa tối và tôi có thể tắm rửa và ngủ trên một cái giường. Vào buổi sáng, ông ấy sẽ giúp tôi đến được nơi nào đó để sửa cái bếp của mình.

“Bây giờ thì hãy nói lại cho tôi biết tất cả những chuyện này là sao nào?” Frank đã hỏi thế vài lần, và lần nào cả ba người bọn họ cũng lắng nghe với niềm say sưa và vẻ bối rối. Họ sống cách đường mòn Pacific Crest khoảng 32 cây số nhưng chưa một ai từng nghe về nó. Không một ai có thể hiểu nổi một người phụ nữ làm cái gì mà phải thân gái một mình đi bộ qua con đường mòn ấy, và cả Frank lẫn Walter đều bảo tôi thế, một cách hài hước, tử tế.

“Em lại thấy khá là ngầu đấy.” Sau một hồi Carlos mới nói. Cậu ta bảo tôi cậu ta 18 tuổi và chuẩn bị nhập ngũ.

“Có thể thay vì nhập ngũ cậu cũng nên làm thế.” Tôi gợi ý.

“Khồng!” Cậu ta nói.

Họ lại lên xe tải và tôi ngồi một mình ở cabin sau trên một quãng vài cây số, cho đến khi chúng tôi đến được nơi mà Walter đỗ xe tải của ông. Ông và Carlos lái chiếc xe đó đi, để tôi lại một mình với Frank, ông còn phải làm việc thêm một giờ nữa.

Tôi ngồi trong buồng lái của chiếc xe tải vàng, nhìn Frank lái máy kéo đi tới đi lui để san đường. Lần nào đi qua, ông cũng vẫy tay với tôi và khi ông lái ra xa, tôi lén ngó xem những thứ trên xe. Trong ngăn chứa đồ lặt vặt có một chai whiskey bạc. Tôi tợp một ngụm nhỏ, rồi nhanh chóng để lại chỗ cũ, môi tôi bỏng ran. Tôi thò tay xuống dưới ghế, lôi ra một hộp đen mỏng, mở nó ra và nhìn thấy một khẩu súng màu bạc như chai whiskey, tôi đóng cái hộp ấy lại và đẩy xuống dưới chỗ ngồi. Chùm chìa khóa lủng lẳng trên lỗ khóa, và tôi vẩn vơ nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi khởi động xe rồi cao chạy xa bay. Tôi tháo giày rồi xoa bóp bàn chân. Vết thâm nhỏ ở mắt cá do chích heroin ở Portland vẫn còn đó, nhưng giờ đã mờ sang màu vàng héo úa. Tôi lần ngón tay lên vết đó, lên cục u nho nhỏ ở ngay chính giữa, ngạc nhiên với sự lố bịch của bản thân mình, và rồi tôi kéo tất lại để không phải nhìn thấy nó nữa.

“Cô là loại đàn bà gì vậy?” Frank hỏi khi ông xong việc và leo lên chiếc xe tải ngồi cạnh tôi.

“Loại gì là loại gì cơ ạ?” Tôi hỏi. Chúng tôi nhìn nhau chằm chặp và ánh mắt ông hiển hiện ẩn ý gì đó, tôi nhìn đi chỗ khác.

“Cô có giống Jane không? Như trong Tarzan ấy?”

“Chắc thế ạ.” Tôi nói và cười to, mặc dầu có phần hơi sờ sợ, chỉ mong Frank sẽ khởi động máy và lái chiếc xe tải đi. Frank cao to, dong dỏng, gân guốc và rám nắng. Ông là một người thợ mỏ, nhưng tôi thấy giống với một gã cao bồi hơn. Bàn tay ông nhắc tôi nhớ đến bàn tay của tất cả những người đàn ông mà tôi biết từ lúc lớn lên, những người đàn ông lao động chân tay để kiếm sống, những người đàn ông tay chẳng bao giờ sạch cho dù họ có kỳ cọ kỹ càng đến mức nào. Khi ngồi đó với ông, tôi có cảm giác giống những khi ngồi một mình với một người đàn ông bất kỳ – tức là bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra. Tức là ông có thể cứ tiếp tục làm công việc của mình, khéo léo và tử tế, hoặc chộp lấy tôi và mọi sự thay đổi hoàn toàn chỉ trong nháy mắt. Ngồi trong xe tải với Frank, tôi theo dõi bàn tay ông, mọi chuyển động của ông, mỗi tế bào trên cơ thể tôi đều cảnh giác cao độ, mặc dầu tôi cố làm ra vẻ thoải mái tự nhiên như thể vừa mới chợp được một giấc.

“Tôi có cái nho nhỏ này cho hai ta.” Frank nói, với tay lấy chai whiskey bạc trong hộp đựng đồ. “Đây là phần thưởng của tôi sau một ngày làm việc vất vả.” Ông vặn nắp chai và đưa cho tôi. “Ưu tiên phụ nữ trước.”

Tôi cầm lấy chai rượu từ tay ông rồi đưa lên môi, để cho dòng whiskey chảy vào trong miệng.

“Đúng rồi. Cô chính là kiểu phụ nữ đó. Vậy tôi sẽ gọi cô là Jane.” Ông lấy cái chai từ chỗ tôi rồi tu một hơi dài.

“Thực ra cháu không hoàn toàn ở ngoài này một mình đâu.” Tôi buột miệng, bịa ra một câu nói dối. “Chồng cháu – anh ấy tên là Paul – anh ấy cũng đi bộ như cháu. Anh ấy bắt đầu ở đồng cỏ Kennedy. Chú có biết nơi đó ở đâu không? Cả hai bọn cháu đều muốn thử cảm giác đi một mình xem nó thế nào, vậy nên anh ấy đi theo hướng nam, còn cháu đi theo hướng bắc để gặp nhau ở giữa, rồi đi cùng nhau cho hết mùa hè này.”

Frank gật đầu rồi tu một ngụm nữa từ cái chai bạc. “Ồ, thế anh ta còn điên khùng hơn cả cô nữa.” Ông ấy nói, sau khi nghĩ một lát. “Phải là một kiểu đàn bà điên khùng thì mới làm chuyện như cô đang làm. Nhưng gã nào để cho vợ mình đi như vậy thì cũng là điên khùng nốt.”

“Vâng.” Tôi nói, cứ như thể tôi đồng ý với ông. “Dù sao thì mấy ngày nữa bọn cháu cũng gặp nhau rồi.” Tôi nói y như thật đến nỗi bản thân tôi cũng tin vào điều đó – rằng Paul vào đúng lúc ấy cũng đang tìm đường đến chỗ tôi. Rằng trên thực tế chúng tôi chưa từng đưa đơn ly dị hai tháng trước, vào một ngày tuyết đổ tháng tư. Rằng anh ấy đang đến vì tôi. Hoặc rằng anh ấy sẽ biết nếu tôi không thể đi thêm trên con đường mòn này. Rằng nếu tôi biến mất thì chỉ trong vài ngày thế nào anh ấy cũng hay tin.

Nhưng sự thật lại ngược lại. Những con người trong cuộc đời tôi giống như những miếng băng gạc bị gió hoang mạc thổi bay vào ngày đầu tiên trên con đường mòn. Tan tác và rồi biến mất. Chẳng có ai chờ đợi dẫu chỉ là một cuộc gọi khi tôi đến được chỗ dừng chân đầu tiên. Hoặc thứ hai, hoặc thứ ba.

Frank ngả người ra sau để chỉnh lại cái dây an toàn to bản bằng kim loại. “Tôi còn có thứ khác để thưởng cho mình sau một ngày làm việc mệt nhọc.” Ông nói.

“Cái gì thế ạ?” Tôi cười ngập ngừng hỏi, tim đập thình thịch. Bàn tay tôi râm ran, chộn rộn đặt trong lòng. Tôi nghĩ đến cái ba lô đang ở quá xa sau thùng xe. Trong nháy mắt, tôi quyết định sẽ bỏ nó lại nếu phải đẩy cửa xe ra và tháo chạy.

Frank với tay xuống dưới chỗ ngồi, chỗ khẩu súng nằm trong một chiếc hộp đen nhỏ.

Ông ta lôi ra một túi nhựa trong. Bên trong là những sợi cam thảo mảnh khảnh dài màu đỏ, mỗi túm trông như một cái dây thòng lọng. Ông ta đưa cho tôi cái túi lúc này đã mở: “Cô muốn ăn một ít không, cô Jane?”

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.