Đôi khi, dường như đường mòn Pacific Crest là một ngọn núi dài mà tôi cứ leo lên mãi. Dường như đến cuối cuộc hành trình tại sông Columbia tôi sẽ đến đỉnh chứ không phải là điểm thấp nhất của con đường. Cái cảm giác đi lên mãi ấy không phải chỉ là ẩn dụ. Gần như lúc nào tôi cũng thấy mình đang đi lên theo đúng nghĩa đen, dù nghe vậy thật vô lý. Có những lúc tôi gần như phát khóc với sự tàn nhẫn của nó, cơ bắp của tôi và phổi của tôi như vỡ ra vì gắng sức. Chỉ đến khi nghĩ mình không thể đi lên tiếp được nữa thì con đường mới lại hạ dần và xuôi dốc.
Mấy phút đầu được đi xuống mới sung sướng làm sao! Tôi cứ đi xuống, xuống, xuống mãi cho tới khi việc đi xuống cũng trở nên khốn khổ, đau đớn và tàn nhẫn đến mức tôi lại cầu cho con đường đi lên. Tôi nhận ra việc đi xuống giống như nắm lấy sợi len bị tuột của cái áo len mà bạn mất hàng giờ đồng hồ để đan và kéo nó ra cho đến khi toàn bộ cái áo bị tháo tung thành một đống len sợi. Đi bộ trên PCT là một nỗ lực đan rồi lại tháo áo hết lần này đến lần khác khiến người ta chỉ muốn phát điên. Như thể mọi thứ đạt được sớm muộn rồi cũng lại bị mất đi vậy.
Khi rời vách núi Castle lúc hai giờ – một tiếng sau Stacy và Rex và vài tiếng trước hai cặp đôi kia – tôi đi đôi giày rộng rãi thoải mái hơn đôi trước hẳn một cỡ. “Tôi là Chân To đây!” Tôi nói đùa vậy khi chào tạm biệt hai cặp đôi. Tôi đi lên và đi lên giữa cái nóng thiêu đốt ban ngày, hăm hở và sung sức vì được lên đường, chút lờ đờ rơi rớt nhanh chóng bốc hơi theo những giọt mồ hôi. Tôi đi lên và đi lên, suốt cả buổi chiều và ngày hôm sau chỉ có đi lên, mặc dù niềm háo hức với đôi giày mới nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho cái vỡ lẽ ảm đạm rằng chân có đi giày xịn thì mọi thứ cũng vẫn thế thôi. Đôi giày mới sẽ lại nhai nát bét đôi bàn chân tôi. Tôi đang đi xuyên qua vùng đất xinh đẹp mà tôi đã mong chờ mãi, cơ thể tôi cuối cùng cũng đáp ứng được với những dặm đường dài. Nhưng vì vấn đề cái chân, nên tôi chìm trong nỗi tuyệt vọng u sầu nhất. Tôi nhớ lại điều ước tôi đã nói ra khi tôi ở cùng với Brent tại thị trấn Belden. Có vẻ đúng là tôi đã ếm ngược lại chính mình khi nói to ra điều ước ấy. Có lẽ chân tôi sẽ chẳng bao giờ ổn được thật.
Lạc lối giữa vòng xoáy của những ý nghĩ cay đắng, trong ngày thứ hai ra khỏi vách núi Castle, tôi gần như giẫm phải hai con rắn chuông đang nằm cuộn tròn trên đường, con nọ chỉ cách con kia có vài kilômét. Mỗi con đã rung chuông cảnh báo tôi đừng có tiến đến gần, báo động tôi đúng vào phút cuối. Tôi kịp lùi lại. Tôi tiếp tục rảo bước, tưởng tượng ra những chuyện không thể tưởng tượng nổi – rằng chân tôi thực ra không gắn với tôi hay nói đúng hơn cảm giác tôi đang có không thực sự là đau mà chỉ đơn giản là một cảm giác.
Nóng ngốt, giận dữ, phát ốm với chính mình, tôi dừng lại ăn trưa dưới bóng râm của một cái cây, trải tấm bạt ra và nằm trên đó. Tôi đã cắm trại với Rex và Stacy vào tối hôm trước và định cũng theo kịp họ vào tối hôm nay – mấy cặp đôi vẫn ở đâu đó đằng sau chúng tôi – nhưng cả ngày hôm đó tôi đi một mình mà chẳng nhìn thấy bóng ai. Tôi dõi theo những con chim săn mồi bay vọt lên từ những đỉnh núi đá xa xa, những lọn mây mỏng mảnh thi thoảng lửng lơ vắt ngang qua bầu trời, cho đến khi ngủ thiếp đi mà không biết. Nửa tiếng sau, tôi giật mình tỉnh dậy vì một cơn mơ – cũng vẫn giấc mơ tôi đã có đêm hôm trước. Trong đó, Chân To đã bắt cóc tôi. Hắn làm việc đó một cách thiện nghệ: hắn tiến đến, kéo tôi vào sâu trong rừng, ở đó có cả một ngôi làng Chân To cùng sinh sống. Trong giấc mơ, tôi vừa ngạc nhiên vừa hãi sợ trước cảnh tượng của bọn chúng. “Làm thế nào mà các người có thể sống ẩn mình khỏi con người lâu như vậy?” Tôi hỏi tên Chân To đã bắt cóc tôi, nhưng hắn chỉ làu bàu gì đó. Khi nhìn hắn, tôi nhận ra đó chẳng phải là Chân To gì cả mà là một người đàn ông đeo mặt nạ và mặc đồ lông lá. Tôi có thể nhìn thấy lớp thịt con người nhợt nhạt qua khe mặt nạ, điều đó khiến tôi hoảng sợ.
Sớm hôm đó khi tỉnh dậy tôi đã xua giấc mơ đó sang một bên, đổ lỗi cho tấm ảnh lưu niệm mua ở Castle, nhưng giờ thì tôi đã mơ thấy nó đến lần thứ hai thì dường như nó không chỉ là một giấc mơ, mà là một điềm báo trước – báo trước cái gì thì tôi chẳng biết. Tôi đứng dậy, vác Quái Vật lên lưng, quét mắt qua những vách đá, những ngọn núi đá, những vách núi cao màu xám và màu gỉ sét bao quanh tôi cái xa cái gần giữa những mảng xanh của cây, trong lòng lạnh lẽo không yên. Tôi thấy hơn cả nhẹ nhõm khi gặp Stacy và Rex tối đó. Hàng giờ liền tôi cứ giật mình thon thót, thấp thỏm vì những tiếng động nho nhỏ từ bụi cây và thấy bất an trong sự yên lặng kéo dài.
“Chân em thế nào rồi?” Stacy hỏi khi tôi dựng lều gần chỗ chị ấy. Để trả lời, tôi chỉ ngồi bệt xuống đất và tháo giày, kéo tất ra và chỉ cho chị xem.
“Ôi.” Chị ấy thì thầm. “Trông tệ quá.”
“Đoán xem ở cửa hàng sáng hôm qua tôi đã nghe thấy gì nào?” Rex hỏi. Anh ta đang quấy một cái nồi gì đấy trên bếp, khuôn mặt vẫn hồng hào vì đã ráng sức vào ngày hôm đó. “Rõ ràng là có cái gọi là Lễ hội Cầu vồng ở hồ Con Cóc đằng trước.”
“Hồ Con Cóc á?” Tôi hỏi, đột nhiên nhớ tới người phụ nữ gặp ở nhà vệ sinh ở ga xe buýt Reno. Lúc ấy cô ta đang trên đường đến đó.
“Đúng vậy.” Rex nói. “Chỉ rẽ chưa tới một cây từ đường mòn vào một lối cách đây hơn 14 cây nữa. Tôi nghĩ chúng ta nên đến đó.”
Tôi vỗ tay sung sướng.
“Lễ hội Cầu vồng là gì?” Stacy hỏi.
Tôi giải thích cho họ trong khi chúng tôi ăn bữa tối – tôi đã đến đó mấy mùa hè trước. Lễ hội Cầu vồng được tổ chức bởi Gia đình Cầu vồng Sống Hòa hợp với Thiên nhiên, một bộ tộc gồm những người được gọi là tư duy tự do, có cùng mục đích chung về hòa bình và tình yêu trên Trái đất. Mỗi mùa hè họ lại tổ chức một dịp cắm trại ở vùng đất trong rừng quốc gia, thu hút hàng nghìn người tham dự. Lễ hội lớn nhất là trong tuần Quốc Khánh, nhưng vẫn duy trì hoạt động xuyên suốt mùa hè dài.
“Có nhóm đánh trống, lửa trại và tiệc tùng.” Tôi kể. “Nhưng hay nhất là mọi người mang bếp ngoài trời đến và làm tất tật từ bánh mì đến các món rau quả, đồ hầm và cơm. Đủ mọi thứ, ai cũng có thể đến ăn uống miễn phí.”
“Bất cứ ai á?” Rex hỏi bằng một giọng khổ não.
“Đúng vậy.” Tôi nói. “Anh chỉ cần mang bát thìa đến thôi.”
Trong khi nói chuyện, tôi quyết định ở lại Lễ hội Cầu vồng vài ngày, kệ xác cái lịch trình của tôi. Tôi cần để cho chân tôi lành lặn lại và để đầu óc được thư giãn, rũ bỏ cái cảm giác hoảng sợ đang lớn dần rằng tôi có thể bị bắt cóc bởi một con quái vật huyền thoại giống người đi hai chân.
Và có thể, chỉ là có thể thôi, tôi sẽ để một anh chàng hippy nóng bỏng đè mình ra.
Sau đó, khi ở trong lều của mình, tôi lục lọi khắp ba lô và tìm thấy cái bao cao su tôi đã mang theo suốt quãng đường này – cái bao cao su tôi đã cứu vớt được từ đồng cỏ Kennedy khi Albert thanh trừng hết số bao cao su khỏi ba lô của tôi. Cái gói trăng trắng nho nhỏ ấy vẫn còn nguyên. Dường như đây là lúc thích hợp để dùng nó. Trong sáu tuần trên con đường mòn này, tôi thậm chí còn chẳng thủ dâm. Cuối mỗi ngày, tôi rã rời đến độ chẳng làm được gì ngoài chuyện đọc sách và ghê sợ mùi mồ hôi nồng nặc của chính mình đến mức tâm trí chẳng nghĩ đến gì ngoài chuyện ngủ.
Ngày hôm sau, tôi đi nhanh hơn bao giờ hết, mỗi bước một nhăn nhó. Con đường lên xuống trong khoảng 1.980 m đến hơn 2.200 m so với mực nước biển, lộ ra hình ảnh những cái hồ pha lê trên cao bên dưới con đường mòn và những ngọn núi trùng điệp khi gần khi xa. Đến trưa thì chúng tôi bắt đầu đi xuống con đường mòn nhỏ xuôi từ PCT xuống hồ Con Cóc.
“Trông không có vẻ lễ hội lắm nhỉ.” Rex nói khi chúng tôi nhìn xuống cái hồ dưới đó hơn 100 m.
“Trông chẳng có vẻ lễ hội gì hết!” Tôi nói. Chỉ có cái hồ được bao quanh bởi một nhóm thông xô lệch với ngọn Shasta ở phía đông – sau khi nhìn thấy nó theo hướng bắc từ vành đai Lạch Hat, giờ thì cuối cùng tôi cũng đang di chuyển qua cái đỉnh núi phô trương 4.267 m của nó.
“Có khi phải đi xa nữa mới nhìn thấy.” Stacy nói, mặc dù khi chúng tôi đến bờ hồ thì rõ ràng là chẳng có hội trại vui vẻ nào, chẳng có đám đông chen chúc rùng rình náo nhiệt nổi sôi nào. Chẳng có bánh mì đen, chẳng có mấy chàng hippy gợi cảm.
Lễ hội Cầu vồng là một trò đùa.
Ba chúng tôi ăn trưa nhệu nhạo gần hồ, ăn những thứ buồn nản mà chúng tôi vẫn ăn. Sau đó, Rex đi bơi hồ còn Stacy và tôi để ba lô lại, đi xuống con đường mòn hơi dốc về phía một con đường cho xe chạy có nói đến trong cuốn sách hướng dẫn. Mặc dù rõ ràng là chẳng có lễ hội gì hết, chúng tôi vẫn không hoàn toàn hết hy vọng là sẽ tìm thấy nó, nhưng mười phút sau đó khi đến con đường đất gập ghềnh, thì quả thật chẳng có gì cả. Không một ai. Tất cả chỉ có cây cối, đất đá và cỏ dại, như lúc nào cũng thế.
“Chắc bọn mình nhận sai tin rồi.” Stacy nói, ngó xung quanh, giọng cao vút với nỗi bực tức và tiếc nuối cũng đang tuôn trào trong tôi. Tôi thấy nỗi thất vọng trong mình kinh khủng và trẻ con như kiểu nổi giận hồi lên ba. Tôi đi đến một tảng đá bằng phẳng gần bên đường, nằm lên đó, nhắm mắt lại để xóa sạch cái thế giới ngu ngốc này, để chuyện này không thể là thứ khiến tôi cuối cùng cũng phải khóc trên đường. Tảng đá ấm áp và trơn láng, rộng như một cái bàn. Cảm giác có nó dưới lưng thật thoải mái đến bất ngờ.
“Chờ đã.” Stacy nói sau một lúc. “Hình như chị nghe thấy cái gì đó.”
Tôi mở mắt và lắng nghe. “Có thể chỉ là tiếng gió.” Tôi chẳng nghe thấy gì.
“Có thể,” Chị ấy nhìn tôi và chúng tôi mỉm cười mệt mỏi với nhau. Chị ấy đội cái mũ che nắng có quai buộc dưới cằm và một cái quần soóc ngắn với đôi ghệt cao tới đầu gối, lúc nào cũng khiến tôi nghĩ tới một cô gái Hướng đạo sinh. Lần đầu gặp chị, tôi hơi thất vọng là chị chẳng giống những người bạn của tôi và tôi lắm. Chị ấy lặng lẽ hơn, vui vẻ, tình cảm hơn, ít nữ tính, nghệ sĩ, hay tỏ ra nghiêm trọng hơn và thuần túy hơn. Nếu gặp nhau ở chỗ khác ngoài con đường này, tôi không biết liệu chúng tôi có thành bạn hay không, nhưng đến lúc này thì chị ấy đã trở nên thân thiết với tôi.
“Chị lại nghe thấy nó.” Chị bất ngờ nói, mắt nhìn dọc con đường.
Tôi đứng dậy và nhìn thấy một xe tải nhỏ xộc xệch đầy nhóc người đang vòng qua khúc cua. Nó có biển số xe vùng Oregon. Nó lái thẳng đến chỗ chúng tôi, phanh két dừng đột ngột cách chúng tôi chỉ vài bước chân. Người lái xe thậm chí còn chưa tắt máy thì bảy người và hai con chó trong xe tải đã bắt đầu nhảy ra. Rách rưới và bẩn thỉu, ăn mặc đặc kiểu hippy, những người này chắc chắn là thành viên của Bộ tộc Cầu vồng. Thậm chí cả những con chó cũng dở hơi một cách kín đáo với những cái khăn rằn và vòng hạt sặc sỡ. Tôi tiến đến chạm vào cái lưng lông lá của chúng khi chúng phóng thẳng qua tôi và chạy vào đám cỏ.
“Xin chào!” Stacy và tôi đồng thanh nói với bốn người đàn ông và ba người phụ nữ đứng trước bọn tôi, mặc dầu đáp lại chỉ là những cái nhìn chăm chăm, lác cả mắt và buồn phiền, như thể họ vừa bước ra từ một cái hang động chứ không phải từ thùng xe hoặc buồng lái của một cái xe tải. Dường như họ đã thức cả đêm hoặc đang tỉnh dần từ cơn phê thuốc, hoặc cả hai.
“Đây có phải là Lễ hội Cầu vồng không?” Người đàn ông ngồi sau tay lái hỏi. Ông ta rám nắng và xương nhỏ. Một cái băng đô trắng cũ bẩn kỳ quặc phủ gần hết đầu ông ta, giữ cho mớ tóc lượn sóng không chạm mặt.
“Chúng tôi cũng đang tìm nó đây, nhưng chỉ có chúng tôi ở đây.” Tôi trả lời.
“Ôi CHÚA khốn nạn của tôi ơi!” Người phụ nữ nhỏ như đứa bé da dẻ xanh xao với khung xương trơ khấc và những hình xăm Celtic gào lên. “Bọn mình lái xe từ tận Ashland khốn kiếp để đến đây chẳng vì cái gì ư?” Cô ta đến nằm vật ra tảng đá mà tôi vừa mới đứng dậy. “Tôi đói quá tôi sẽ chết thật đây.”
“Tôi cũng đói.” Người đàn bà khác rên rỉ – một người lùn, tóc đen, đeo một dải tua rua với những cái chuông bạc nhỏ gắn vào. Cô ta đến đứng cạnh và xoa đầu người phụ nữ nhỏ thó kia.
“Bọn đầu trò chết tiệt!” Người đàn ông buộc băng đô trên đầu gầm lên.
“Đúng con mẹ nó rồi!” Một người đàn ông lầm bầm, anh ta có bờm tóc xanh và một cái khuyên mũi bằng bạc to bự như những cái khuyên thỉnh thoảng người ta vẫn đeo cho bò.
“Các người có biết tôi sẽ làm gì không?” Người đàn ông có cái băng đô hỏi. “Tôi sẽ tự làm cái lễ hội chết tiệt này ở hồ Crater. Tôi không cần bọn đầu trò khốn kiếp kia bảo tôi phải đi đâu. Tôi có sức ảnh hưởng lớn ở quanh đây.”
“Hồ Crater cách bao xa?” Người đàn bà cuối cùng hỏi bằng giọng Úc. Cô ta cao, đẹp, tóc vàng và mọi thứ trên người cô ta đều thật ấn tượng – tóc cô ta tết những lọn xoắn túm lại trên đỉnh đầu, tai cô ta đeo những cái khuyên trông giống xương chim thực sự, mọi ngón tay cô ta đều phủ đầy những cái nhẫn kỳ quái.
“Không quá xa đâu, cưng.” Người đàn ông đeo băng đô nói.
“Đừng gọi tôi là ‘cưng’!” Cô ta trả lời.
“Thế ở Úc, ‘cưng’ là từ xúc phạm à?” Anh ta hỏi.
Cô ta thở dài rồi gầm lên.
“Thôi được rồi, em yêu, tôi sẽ không gọi em là ‘cưng’ nữa.” Anh ta ngửa cổ lên trời cười khùng khục. “Nhưng tôi sẽ gọi em là ‘em yêu’ nếu tôi thích thế đấy. Giống Jimi Hendrix nói đấy: ‘Tôi gọi mọi người là em yêu.’”
Mắt tôi gặp ánh mắt của Stacy.
“Chúng tôi cũng đang cố gắng tìm lễ hội ấy.” Tôi nói. “Chúng tôi nghe nói nó được tổ chức ở đây.”
“Chúng tôi đang đi đường mòn Pacific Crest.” Stacy thêm vào.
“Tôi. Cần. Thức. Ăn!” Người phụ nữ như trẻ con kia gào lên bên tảng đá.
“Tôi có một ít đấy, cô có thể ăn.” Tôi nói. “Nhưng ở tận hồ kia.”
Cô ta chỉ nhìn tôi, khuôn mặt chẳng biểu lộ gì, mắt cô ta đờ đẫn. Tôi băn khoăn không biết cô ta bao nhiêu tuổi. Dường như cô ta bằng tuổi tôi, thế nhưng trông vẻ bề ngoài cô ta có thể chỉ hơn 12 tuổi.
“Xe của đằng ấy còn chỗ không?” Người phụ nữ Úc tự tin hỏi. “Nếu các đằng ấy định quay lại Ashland, thì cho đằng này đi nhờ xe với.”
“Chúng tôi đi bộ.” Tôi đáp lại cái nhìn vô hồn của cô ta. “Chúng tôi có ba lô. Chúng tôi để chúng ở bên hồ.”
“Thực ra chúng tôi đang đi đến Ashland.” Stacy nói. “Nhưng phải mất 12 ngày chúng tôi mới đến đấy.” Cả hai chúng tôi cùng cười to mặc dù những người kia thì không.
Họ lục tục trở lại xe và lái đi sau vài phút, còn Stacy và tôi đi bộ trở lại hồ Con Cóc. Khi về đến nơi, chúng tôi thấy hai cặp đôi kia đang ngồi với Rex và tất cả chúng tôi cùng nhau quay trở lại PCT, mặc dù chẳng bao lâu sau thì tôi bị thảm họa cái chân đau kéo rớt lại phía sau, là người cuối cùng khập khiễng bò vào lều tối đó.
“Bọn em không nghĩ chị đến được đây đâu.” Sarah nói. “Bọn em nghĩ chị dừng lại dựng lều rồi cơ.”
“Ồ, chị đây rồi mà.” Tôi trả lời, thấy hơi tự ái, mặc dù tôi biết cô ấy chỉ có ý an ủi tôi khỏi vụ chân đau. Trong khi chúng tôi ăn uống và kể cho nhau nghe những chuyện ở vách Castle, Sam đã nói đùa rằng biệt danh đi đường của tôi nên là Người đi bộ Đen đủi sau khi tôi kể cho họ nghe vô vàn tai nạn của mình. Tôi cười – Người đi bộ Đen đủi nghe có vẻ hợp – nhưng tôi không muốn là người đi bộ đó. Tôi muốn trở thành một nữ hoàng Amazon chất ngầu.
Buổi sáng, tôi tỉnh dậy trước những người khác, lặng lẽ trộn Ngon Hơn Sữa vào một cái xoong với nước lạnh và granola để lâu lờn lợt cùng với nho khô. Tôi đã tỉnh dậy với một giấc mơ Chân To khác, gần giống y hệt hai giấc mơ trước. Khi tôi ăn sáng, tôi thấy mình đang lắng nghe cẩn thận âm thanh từ những cái cây vẫn còn tôi tối. Tôi rời đi trước cả khi những người khác chui ra khỏi lều, thấy vui vì được là người dẫn đầu. Kiệt sức, chậm chạp, chân đau và đen đủi là vậy nhưng tôi đang bắt kịp người khác – những người mà tôi vẫn cho là những kẻ bộ hành thực thụ. 27 và 30 km mỗi ngày, ngày nọ qua ngày kia, đã thành việc bắt buộc.
Đi được một giờ, tôi nghe thấy một tiếng động lớn trong các bụi cây và cây cối bên cạnh. Tôi chết cứng người, không biết nên kêu to lên hay cứ đứng im phăng phắc như thế. Thật là ngớ ngẩn, nhưng tôi không thể nào không nghĩ đến nó: hình ảnh người đàn ông với cái mặt nạ Chân To trong những giấc mơ xẹt ngang qua đầu tôi.
“A!” Tôi kêu lên khi con quái vật lông lá hiện hình trước mặt tôi, gần đến mức tôi có thể ngửi thấy mùi của nó. Là một con gấu, ngay sau đó tôi đã nhận ra. Đôi mắt của nó ơ hờ lướt qua tôi trước khi khịt mũi rồi quay đi và chạy tuốt ngược lên phương bắc của con đường.
Tại sao chúng lại cứ phải chạy theo cái hướng mà tôi sẽ đi?
Tôi đợi vài phút rồi tiếp tục đi, thấp thỏm lần theo con đường, rống lên những câu hát: “Ồ anh có thể uống cả một vại đầy emmmm, người yêu dấu, và anh sẽ vẫn đứng trên đôi chân mình.” Tôi ngân lên thật lớn.
“Cô ấy là một cái máy chạy nhanh, cô ấy giữ cho máy mình sạch sẽ...!” Tôi gầm lên.
“Hết giờ rồi những lá chè nhỏ ở Chè Tetley!” Tôi thẽ thọt.
Cách này hiệu quả thật. Tôi không đâm sầm vào con gấu kia nữa. Không đâm sầm vào tên Chân To nào.
Thay vì thế, tôi gặp một thứ mà tôi thực sự phải sợ: một khoảng băng lớn phủ lấy con đường mòn theo một góc 40 độ. Trời nóng là thế, nhưng tuyết vẫn chưa tan hết ở những đoạn dốc mặt hướng về phía bắc. Tôi có thể nhìn thấy bờ tuyết bên kia. Tôi có thể ném một hòn đá qua bên đó. Nhưng tôi không thể ném được chính mình. Tôi phải đi bộ qua. Tôi nhìn xuống ngọn núi, mắt dõi theo đường tuyết: mình có thể trượt và rớt xuống mất. Núi kết thúc ở rất xa nơi những tảng đá lởm chởm bên dưới. Xa hơn nữa chỉ là không trung.
Tôi bắt đầu mở đường đi qua khoảng băng tuyết, thúc giày vào băng mỗi khi bước một bước, nắm chặt lấy cái gậy tuyết. Với kinh nghiệm đã có ở Sierra, thay vì cảm thấy tự tin trên tuyết, giờ tôi lại run rẩy hơn, ý thức hơn về rủi ro có thể xảy ra. Một chân bị trượt và tôi ngã chống tay lên nền băng; tôi từ từ nhỏm dậy bằng cả hai đầu gối khuỵu xuống. Mình sẽ ngã mất – trong đầu tôi luẩn quẩn ý nghĩ đó, cứng người nhìn xuống những tảng đá bên dưới, tưởng tượng mình đang lật nhào lăn xuống chúng. Tôi nhìn lại điểm vừa xuất phát và điểm đang hướng đến, thấy cả hai đều xa như nhau. Tôi cách xa cả hai, bởi vậy tôi buộc mình phải tiến lên phía trước. Tôi chống người lên hai tay và bò ngang qua hết phần đường còn lại, hai chân run rẩy không thể nào điều khiển được, cây gậy tuyết loẹt quẹt bên cạnh, lủng lẳng treo ở cổ tay bằng cái dây cầm nylon màu hồng.
Khi đến được bờ bên kia, tôi cảm thấy ngu ngốc và yếu đuối, tội nghiệp cho chính mình, thấy mỏng manh theo cái cách chưa từng thấy trên con đường này, thấy ghen tị với những cặp đôi có nhau kia, ghen tị bởi Rex và Stacy có thể dễ dàng trở thành một cặp bộ hành đến thế – khi Rex rời con đường mòn ở thung lũng Seiad, Stacy sẽ gặp bạn của cô ấy là Dee bởi vậy họ có thể đi cùng nhau xuyên qua Oregon, nhưng tôi thì mãi mãi chỉ có một mình. Và tại sao? Đi một mình để được cái gì? Mình không sợ. Tôi nói, gọi lên câu thần chú cũ để trấn tĩnh tâm trí. Nhưng không giống như những lần trước đây tôi thường cầu khấn nó. Có lẽ vì nó chẳng còn đúng hoàn toàn nữa.
Có lẽ cho đến lúc này tôi đã đi đủ xa, đã đủ dũng cảm để mà biết sợ.
Khi dừng lại ăn trưa, tôi nấn ná cho đến khi những người kia bắt kịp mình. Họ kể là họ gặp một kiểm lâm vùng núi cảnh báo có một vụ cháy rừng ở phía tây và phía bắc, gần thung lũng Vui Vẻ. Lúc này nó chưa ảnh hưởng đến PCT, nhưng anh ta nói là nên cảnh giác. Tôi để tất cả bọn họ đi trước, nói rằng tôi sẽ bắt kịp trước khi đêm xuống, và bước một mình trong cái nóng của buổi chiều. Một vài giờ sau, tôi đến một con suối ở một đồng cỏ yên bình và dừng lại lấy nước. Nơi đây đẹp đến nỗi tôi chẳng muốn rời đi, bởi vậy tôi cứ chần chừ, thả chân xuống suối cho đến khi nghe thấy tiếng chuông cứ to dần lên mãi. Tôi vừa mới gập người với tới hai bàn chân thì một con lạc đà không bướu màu trắng vòng qua khúc cua và lao thẳng đến chỗ tôi với cái hàm răng nhe nhởn.
“Aaa!” Tôi la lên y như lúc tôi nhìn thấy gấu, nhưng đã tóm được cái dây dắt treo lủng lẳng trên cương của nó, đây là thói quen cũ từ hồi còn bé với mấy con ngựa. Con lạc đà này chở một cái ba lô treo những cái chuông bạc không khác mấy những cái chuông của người phụ nữ tôi gặp ở hồ Con Cóc. “Yên nào.” Tôi nói với nó khi tôi đứng đó, chân đất, và kinh ngạc không biết làm gì tiếp theo.
Trông con lạc đà cũng có vẻ kinh ngạc, nét mặt vừa khôi hài vừa trang nghiêm. Tôi sực nhớ là nó có thể cắn tôi, nhưng tôi chẳng có cách nào biết được. Tôi chưa bao giờ ở gần một con lạc đà như thế. Thậm chí ở xa cũng chưa. Tôi chẳng có trải nghiệm gì với lạc đà và tôi còn chẳng thể chắc chắn 100% rằng đây là một con lạc đà. Nó có mùi giống vải bố và hơi thở vào buổi sáng. Tôi khẽ kéo nó về phía đôi giày của mình, sục chân vào đôi giày rồi vỗ về cái cổ dài tua tủa lông cứng của nó thật oai, hy vọng có thể khiến nó cảm thấy tôi rất uy quyền. Sau vài phút, một người phụ nữ già tóc tết hai bên đi đến.
“Cháu bắt được nó rồi à! Cảm ơn cháu!” Bà ấy nói, cười hớn hở, ánh mắt lấp lánh. Nếu không có cái ba lô nhỏ trên lưng thì bà giống như một người phụ nữ bước ra từ trong truyện cổ tích, nhỏ xinh, mũm mĩm với đôi má hồng. Một cậu bé bước sau bà và một con chó to màu nâu theo sau cậu ta. “Bác vừa thả ra thì nó chạy đi luôn.” Người phụ nữ nói, cười vang và lấy lại cái dây dắt con lạc đà từ tay tôi. “Bác đã đoán cháu sẽ tóm được nó – bọn bác gặp các bạn cháu ở trên kia, họ nói cháu đang đi theo sau. Bác là Vera, đây là bạn bác, Kyle.” Bà nói, chỉ vào cậu bé. “Năm tuổi nhé.”
“Chào em,” tôi nói, đưa mắt nhìn xuống cậu bé. “Chị là Cheryl.” Cậu có một cái vỏ chai xi rô lá phong bằng thủy tinh đựng đầy nước lủng lẳng đeo trên vai bằng một sợi dây dày. Thật lạ khi nhìn thấy thủy tinh trên đường mòn – và cũng thật lạ khi nhìn thấy cậu bé. Từ rất lâu rồi tôi mới gặp một đứa trẻ.
“Em chào chị.” Cậu bé trả lời, đôi mắt màu xám nước biển của cậu nhìn lên bắt gặp mắt tôi.
“Đây là Sao Băng, cháu vừa gặp rồi.” Vera nói, vỗ vỗ vào cổ con lạc đà.
“Bà quên mất Miriam rồi!” Kyle nói với Vera. Cậu đặt bàn tay bé nhỏ lên đầu con chó. “Đây là Miriam ạ.”
“Xin chào, Miriam. Em đi bộ vui chứ?” Tôi hỏi Kyle.
“Chúng em đang rất vui đây.” Cậu bé trả lời, giọng trịnh trọng lạ lùng, rồi đi đến bên con suối khỏa tay xuống nước.
Tôi nói chuyện với Vera trong khi Kyle ném lá cỏ vào nước và nhìn chúng trôi đi mất. Bà kể với tôi là bà sống trong một thị trấn nhỏ ở trung tâm Oregon và thường xuyên du lịch bụi. Kyle và mẹ cậu bé đã rơi vào một chuyện kinh khủng, bà hạ thấp giọng, họ sống trên đường phố Portland. Vera gặp họ chỉ vài tháng trước, thông qua một tổ chức mà tất cả những người liên quan đến đều gọi là Nguyên tắc Sống cơ bản. Mẹ Kyle đã nhờ Vera đem Kyle theo trong chuyến đi này trong khi cô ấy sắp xếp lại mọi thứ trong đời.
“Bà đã hứa là không kể với mọi người về chuyện của cháu cơ mà!” Kyle la to, chạy qua chỗ chúng tôi.
“Bà có kể về chuyện của cháu đâu.” Vera nhẹ nhàng chối.
“Vì cháu có chuyện rắc rối lớn và cháu không muốn nói với những người mà cháu không biết về những rắc rối ấy.” Kyle nói, mắt nó lại gặp mắt tôi.
“Nhiều người có rắc rối lớn lắm.” Tôi nói. “Chị cũng đang có rắc rối to đây.”
“Rắc rối của chị kiểu gì?” Nó hỏi.
“Giống như rắc rối với bố chị.” Tôi ngập ngừng nói, ước là mình đừng thốt ra như vậy. Tôi đã không dành nhiều thời gian với trẻ con để biết chắc chắn là nên thành thật ở mức nào với một đứa trẻ năm tuổi. “Chị không thực sự có bố,” tôi giải thích bằng một giọng vui vẻ.
“Em cũng chẳng có.” Kyle nói. “À thì ai cũng có bố, nhưng em chẳng biết gì về bố em nữa ấy. Em từng biết ông ấy khi em còn bé tí, nhưng em chẳng nhớ gì hết.” Nó mở lòng bàn tay và nhìn xuống chúng. Chúng đầy những lá cỏ nhỏ tí. Chúng tôi nhìn chúng bay đi theo gió. “Mẹ chị thì sao?” Nó hỏi.
“Mẹ chị mất rồi.”
Nó ngẩng phắt về phía tôi, nét mặt thay đổi từ giật mình sang bình lặng. “Mẹ em thích hát. Chị có thích nghe một bài hát mẹ dạy em không?”
“Có chứ.” Tôi nói. Rồi không một chút ngại ngần, nó hát từng lời ca và điệp khúc bài “Red River Vally” (Thung lũng dòng sông đỏ) bằng giọng trong trẻo đến mức tôi cảm thấy nhói lòng. “Cảm ơn em.” Tôi nói, nửa như chết lặng lúc nó dừng lại. “Đây hẳn là điều tuyệt vời nhất mà chị nghe được trong suốt đời này.”
“Mẹ em dạy em rất nhiều bài hát.” Cậu bé trang trọng nói. “Mẹ là ca sĩ.”
Vera chụp cho tôi một tấm ảnh, rồi tôi cất Quái Vật lên lưng. “Tạm biệt Kyle. Tạm biệt bác Vera. Tạm biệt Sao Băng.” Tôi gọi lại khi bước lên đường.
“Chị Cheryl!” Kyle la to lên khi tôi sắp đi khỏi tầm nhìn.
Tôi dừng chân và quay lại.
“Con chó tên là Miriam.”
“Tạm biệt Miriam!” Tôi nói.
Chiều muộn, tôi đến một chỗ bóng râm có một cái bàn dã ngoại – một thứ xa xỉ hiếm hoi trên đường. Khi đến nơi, tôi nhìn thấy một quả đào trên mặt bàn và dưới đó là một dòng tin nhắn.
Cheryl!
Chúng tôi được những người đi bộ trong ngày cho cái này. Ăn ngon nhé!
Sam và Helen
Tôi hạnh phúc vô cùng vì quả đào này, tất nhiên rồi – hoa quả và rau tươi có thể sánh với nước chanh Snapple trong giấc mộng ăn uống của tôi – nhưng còn hơn thế, tôi xúc động vì Sam và Helen đã để lại nó cho tôi. Chắc chắn là họ cũng có những giấc mộng ăn uống thiết tha nghiến ngấu như tôi. Tôi ngồi trên cái bàn dã ngoại và sung sướng cắn quả đào, nước quả ngon tuyệt trần dường như đang lần tới từng tế bào trong người tôi. Quả đào này khiến chuyện bàn chân tôi là một đám thịt đau nhức chẳng đến nỗi quá tệ nữa. Lòng tốt đi kèm với nó đã làm dịu đi nhiệt độ và sự buồn chán của ngày hôm đó. Ngồi ăn quả đào, tôi nhận ra mình chẳng thể nào cảm ơn được Sam và Helen vì đã để nó lại cho tôi. Tôi đã sẵn sàng cô độc lần nữa; tôi sẽ dựng lều một mình tối đó.
Khi ném cái hột đào đi, tôi thấy bao quanh mình là hàng trăm cây đỗ quyên đủ các sắc hồng và cam nhạt, một vài cánh hoa đang bay đi trong gió. Dường như chúng là một món quà cho tôi, giống như quả đào, giống như bài hát “Thung lũng dòng sông đỏ” của Kyle. Bất kể con đường có thể khó khăn và làm người ta phát điên đến nhường nào, hầu như không có một ngày nào trôi qua lại không đem theo một điều kỳ diệu nào đó của con đường – những sự việc bất ngờ và ngọt ngào nổi bật lên hẳn giữa những thử thách khó khăn trên đường. Trước khi đứng lên để đeo Quái Vật, tôi nghe thấy tiếng bước chân và quay lại. Một con nai đang đi trên đường mòn về phía tôi, dường như không nhận ra sự hiện hiện của tôi. Tôi động khẽ một tiếng để không làm nó giật mình, nhưng thay vì phóng vèo đi mất, nó chỉ dừng lại và nhìn tôi, khịt khịt về phía tôi trước khi chầm chậm tiếp tục tiến đến. Bước được một bước nó lại dừng lại để xem có nên đi tiếp hay không, rồi cứ thế nó tiến gần hơn và gần hơn cho đến khi chỉ còn cách tôi độ ba mét. Mặt nó điềm tĩnh và tò mò, mũi nó nở to hết sức, vươn về phía tôi. Tôi ngồi yên, nhìn nó chẳng mảy may hãi sợ, cũng giống như nhiều tuần trước khi con cáo đứng dò xét tôi trong tuyết.
“Không sao đâu mà.” Tôi thì thầm với con nai, không biết mình sẽ nói gì cho đến khi tôi nói với nó: “Mày an toàn trong thế giới này mà.”
Khi tôi nói, cứ như thể một câu thần chú đã bị phá vỡ vậy. Con nai chẳng còn chú ý đến tôi nữa, mặc dù nó vẫn không chạy. Nó chỉ cất cái đầu lên rồi bước đi, gặm gặm lá cây trong khi những cái móng guốc duyên dáng đi xuyên qua những bông hoa đỗ quyên.
Mấy ngày sau, tôi đi một mình, lên rồi xuống rồi lại lên nữa, đi qua đỉnh Etna và đến núi Đá cẩm thạch trên quãng đường dài, nóng và khổ ải tới thung lũng Seiad, đi qua những cái hồ nơi lũ muỗi buộc tôi lần đầu tiên phải trét kem DEET lên người và bước vào đường của những người đi bộ trong ngày. Họ cho tôi hay về những vụ cháy rừng đang hoành hành ở phía tây mặc dầu vẫn chưa lan đến PCT.
Một tối, tôi dựng lều ở một chỗ nhiều cỏ, từ đây có thể nhìn thấy dấu vết của những đám lửa này: một lớp khói mờ bao trùm bầu trời phía tây. Tôi ngồi trên cái ghế của mình một tiếng đồng hồ, nhìn phóng qua vùng đất khi Mặt trời tỏa màu nắng nhạt lên lớp khói đó. Tôi đã được ngắm nhiều cảnh hoàng hôn đẹp đến nghẹt thở ở PCT, nhưng lần này thì ngoạn mục hơn bất kỳ lần nào khác. Ánh sáng mờ đi, tan chảy thành ngàn sắc thái vàng, hồng, cam và tím qua những sóng đất xanh. Tôi có thể đang đọc Người Dubline hoặc chìm vào giấc ngủ trong cái tổ kén túi ngủ, nhưng đêm nay bầu trời mê hoặc đến mức không thể rời mắt ra được. Ngắm nhìn bầu trời, tôi nhận ra mình đã vượt qua được nửa chặng đường. Tôi đã ở trên con đường mòn này được 50 ngày hoặc hơn. Nếu tất cả đúng như kế hoạch đã định thì 50 ngày nữa tôi sẽ đi xong PCT. Lúc đó, mọi chuyện có thể xảy ra với tôi hẳn sẽ đều xảy ra cả rồi.
“Ồ hãy nhớ đến đến thung lũng dòng sông đỏ và anh chàng cao bồi yêu cô rất thật...” Tôi hát, giọng nhỏ dần, không biết phần lời còn lại. Những hình ảnh khuôn mặt Kyle bé nhỏ và ngón tay em ùa đến với tôi cùng những vọng âm của giọng ca tinh khiết không chút vẩn đục ấy. Tôi băn khoăn liệu sẽ có lúc nào tôi trở thành một bà mẹ, và “chuyện kinh khủng” mà mẹ Kyle dính vào là chuyện gì, bố em có thể đang ở đâu và bố tôi đang ở đâu. Ông đang làm gì ngay lúc này nhỉ? Đôi lúc tôi vẫn nghĩ vậy trong suốt cuộc đời mình, nhưng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng ra. Tôi không biết về cuộc đời của chính bố mình. Ông ở đó, nhưng vô hình, là con quái vật núp bóng trong rừng; là đám cháy đằng xa chẳng thấy gì ngoài khói.
Đó là bố tôi: người đàn ông chưa từng làm bố của tôi. Lần nào tôi cũng ngỡ ngàng vì điều đó. Hết lần này đến lần khác. Trong số tất cả những chuyện hoang dại, việc ông ấy không thể yêu tôi theo đúng cách luôn luôn là điều hoang dại nhất. Nhưng đêm nay khi nhìn vào vùng đất đang tối dần sau khoảng 50 đêm gì đấy trên PCT, tôi chợt nhận ra rằng tôi không còn ngỡ ngàng bởi ông nữa.
Có quá nhiều điều để mà ngỡ ngàng trong thế giới này.
Chúng mở ra bên trong tôi như thể một dòng sông. Giống như tôi không biết mình có thể thở và rồi tôi đã thở. Tôi cười phá lên với niềm vui ấy, và ngay sau đó tôi khóc những giọt nước mắt đầu tiên trên PCT. Tôi khóc, khóc và khóc. Tôi không khóc vì hạnh phúc. Tôi không khóc vì đau buồn. Tôi không khóc vì mẹ tôi hoặc bố tôi hay vì Paul. Tôi khóc vì tôi đã đủ đầy. Đủ đầy 50 ngày, hay hơn gì đó, cực nhọc trên con đường mòn này và cũng đủ đầy 9.760 ngày trước chúng.
Tôi đến. Tôi đi. California cuộn chảy sau tôi giống như một chiếc khăn lụa dài. Tôi không cảm thấy mình giống một con ngớ ngẩn nữa. Và tôi không cảm thấy mình như là một nữ hoàng Amazon chất ngầu nữa. Tôi thấy trong mình mạnh mẽ, nhún nhường và đầy nội lực, như thể tôi cũng được an toàn trong thế giới này.