HỘP MƯA

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 185 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15 - HỘP MƯA

❊ ❊ ❊

Đêm áp chót ở California, tôi tỉnh dậy lúc trời vẫn còn tối bởi tiếng gió quất cành cây và những hạt mưa táp vào lều. Cả mùa hè dài trời đã khô hạn đến nỗi tôi chẳng còn trùm cái bạt mưa lên nữa, chỉ ngủ dưới một vuông vải mắt lưới rộng che giữa tôi và bầu trời. Tôi bò chân đất ra ngoài bóng tối để kéo cái bạt che lên mái lều, người run rẩy mặc dầu mới chỉ đầu tháng tám. Đã nhiều tuần, nhiệt độ ở quanh khoảng 32 đến 37 độ, thỉnh thoảng lên đến 38, nhưng với gió và mưa, thời tiết trở mình hẳn. Chui lại vào trong lều, tôi mặc cái quần legging và chiếc áo khoác nỉ có mũ trùm đầu, bò vào trong túi ngủ và kéo nó lên đến tận cằm, nịt chặt cái mũ trùm đầu. Sáu giờ, tôi tỉnh dậy, cái nhiệt kế nhỏ trên ba lô chỉ gần ba độ.

Tôi đi dọc theo sống núi cao trong mưa, mặc trên người gần hết những gì tôi có. Mỗi lần dừng lại nhiều hơn vài phút, tôi thấy lạnh đến mức răng va vào nhau lập cập như điên, cho đến khi tôi bước tiếp và lại bắt đầu đổ mồ hôi. Cuốn sách hướng dẫn có nói rằng, vào những ngày trời quang mây tạnh, ta có thể nhìn thấy Oregon ở phía bắc, nhưng tôi chẳng thể nhìn thấy vì màn sương dày đã làm mờ đi bất cứ thứ gì cách chỉ ba mét. Tôi không cần nhìn thấy Oregon. Tôi có thể cảm thấy nó, thực hùng vĩ phía trước tôi. Tôi sẽ đi hết từ đầu này đến đầu kia của nó nếu đến được Cầu của Chúa. Tôi sẽ trở thành ai nếu tôi làm được thế? Tôi sẽ trở thành ai nếu tôi không làm được?

Giữa buổi sáng, Stacy xuất hiện trong sương mù, chị ấy đang đi ngược về nam. Ngày hôm trước chúng tôi đã cùng nhau rời khỏi Seiad, sau khi cắm trại một tối với Rex và hai cặp đôi kia. Buổi sáng, Rex đã bắt xe buýt trở về với cuộc sống bình thường, trong khi những người còn lại chúng tôi tiếp tục đi bộ, chia tay nhau sau vài giờ. Tôi khá chắc chắn là mình sẽ không gặp lại hai cặp đôi này trên đường, nhưng Stacy và tôi đã hẹn gặp nhau ở Ashland, nơi chị ấy sẽ ở lại vài ngày chờ người bạn tên Dee, trước khi họ cùng nhau đi xuyên qua Oregon. Bây giờ, tôi lại giật mình khi gặp chị ấy, như thể chị là nửa người nửa ma vậy.

“Chị đang phải quay về Thung lũng Seiad đây.” Chị ấy kể rằng mình bị cảm lạnh, bàn chân phồng rộp, còn đuôi túi ngủ bị ướt sũng từ tối hôm trước và chẳng có hy vọng hong khô được nó trước khi trời tối. “Chị sẽ bắt xe buýt đi Ashland.” Chị nói. “Đến gặp chị ở nhà nghỉ khi em tới đó nhé.”

Tôi ôm chị trước khi chị đi tiếp, trong có vài giây, sương mù đã nuốt chửng lấy chị.

Sáng tiếp theo, tôi tỉnh dậy sớm hơn bình thường, bầu trời xám nhạt như không thể nhạt hơn được nữa. Mưa đã ngừng và trời đã hửng ấm. Tôi cảm thấy phấn chấn khi đeo Quái Vật lên và rời khỏi chỗ cắm trại: đây là những kilômét cuối cùng của tôi ở California.

Khi tôi chỉ còn cách biên giới hơn 1,5 km thì một cành cây đua ra khỏi mép đường vướng vào cái vòng đeo tay William J. Crockett và bật nó tung ra, bay vào đám bụi cây dày. Tôi hoảng hốt nhìn khắp những hòn đá, bụi cây và cây lớn, và khi mò vào trong đám cỏ thì tôi đã biết lần này mình thua rồi. Mình sẽ chẳng thể tìm thấy cái vòng đeo tay. Tôi đã không nhìn thấy nó rơi vào chỗ nào. Nó chỉ phát ra một tiếng păng rất khẽ khi bay khỏi người tôi. Thật là ngớ ngẩn khi để mất cái vòng đúng lúc này, một điềm xấu rõ ràng báo hiệu những khó khăn phía trước. Tôi cố gắng suy nghĩ theo hướng tích cực để sự mất mát đó thành tượng trưng của điều gì đó tốt đẹp – tượng trưng cho những thứ tôi không còn cần nữa, hay có lẽ, tượng trưng cho việc vơi đi được số đồ đạc cồng kềnh – nhưng rồi cái ý tưởng ấy bị dẹp đi ngay và tôi chỉ nghĩ đến William J. Crocket: người đàn ông từ Minnesota đã chết tại Việt Nam khi ở độ tuổi tôi, thi thể vẫn chưa được tìm thấy, và gia đình ông chắc chắn vẫn chưa thể nguôi niềm tiếc thương. Cái vòng của tôi chẳng biểu tượng cho điều gì ngoài cuộc đời mà ông đã mất khi còn quá trẻ. Vũ trụ này đơn giản là đã cuốn lấy cuộc đời ấy vào cái hố đen đói khát và tàn nhẫn của nó.

Chẳng thể làm được gì nữa ngoài việc bước tiếp.

Chỉ mấy phút sau tôi đã đến được biên giới. Tôi dừng lại để cảm nhận: California và Oregon, một kết thúc và một khởi đầu chạm vào nhau. Trọng đại là vậy, nhưng trông lại chẳng có gì đánh dấu trọng đại cả. Chỉ có một cái hộp kim loại màu nâu đựng sổ nhật ký đường mòn và một biển báo WASHINGTON: 801 KM – còn không cả đả động gì đến Oregon.

Nhưng tôi biết 801 km này là gì. Hai tháng ở California, nhưng dường như tôi đã già đi cả mấy tuổi kể từ lúc đứng một mình trên con đèo Tehachapi với cái ba lô và hình dung ra thời điểm đến được nơi này. Tôi đến chỗ cái hộp kim loại, lôi cuốn sổ nhật ký đường mòn ra và lật giở nó, đọc mấy bài viết từ những tuần trước. Có ghi chú của vài người tôi chưa bao giờ nhìn thấy tên hay của vài người khác tôi chưa từng gặp, nhưng tôi cảm thấy mình biết họ vì đã theo dấu họ suốt cả một mùa hè. Những bài viết gần đây nhất là của hai cặp đôi nọ – John và Sarah, Helen và Sam. Bên dưới những dòng hân hoan của họ, tôi viết những lời của riêng mình, ngập tràn cảm xúc đến mức cuối cùng tôi chọn viết thật ngắn: “Tôi đã làm được!”

Oregon. Oregon. Oregon.

Tôi đã tới Oregon. Tôi tiến bước vào trong Oregon, thấp thoáng thấy những ngọn núi của Đỉnh Shasta uy quyền ở phía nam và thấp hơn nhưng đường bệ hơn là Đỉnh McLoughlin ở phía bắc. Tôi đi lên cao trên một cái sống núi, gặp những đoạn băng tuyết ngắn, băng qua chúng với sự giúp đỡ của cây gậy tuyết. Tôi có thể nhìn thấy những con bò đang gặm cỏ trên những cánh đồng cỏ xanh trên cao, không xa bên dưới tôi, những cái chuông to vuông vắn của chúng kêu lanh canh mỗi khi chúng di chuyển. “Xin chào, bò Oregon!” Tôi gọi chúng.

Tối đó, tôi dựng lều dưới Mặt trăng gần tròn, bầu trời sáng và lạnh. Tôi mở cuốn Waiting for the Barbarians (Chờ đợi những người man rợ) của J. M. Coetzee, nhưng chỉ đọc được vài trang vì không thể nào tập trung nổi; đầu óc tôi cứ lang thang nghĩ ngợi về Ashland. Cuối cùng thì tôi cũng đã đến gần nó đủ để có thể cho phép mình nghĩ về nó. Ở Ashland sẽ có thức ăn, âm nhạc và rượu và những người chẳng biết gì về PCT. Và quan trọng nhất, sẽ có tiền, và không chỉ 20 đô như bình thường. Tôi đã đặt 250 đô-la séc du lịch vào cái hộp gửi đến Ashland, lúc đầu tôi tin rằng nó sẽ là cái hộp chào mừng tôi ở đúng điểm kết thúc chuyến đi. Cái hộp không chứa thực phẩm hay đồ tiếp tế. Chỉ có những tờ séc du lịch và một bộ đồ “bình thường” để mặc – cái quần bò Levi’s xanh bạc màu yêu thích, một cái áo phông đen bó sát, một cái áo lót dây đen mới tinh cùng quần lót đồng bộ. Nhiều tháng trước, tôi đã nghĩ mình sẽ mặc những thứ này để ăn mừng khi kết thúc hành trình và bắt xe đi nhờ quay trở lại Portland. Khi tôi thay đổi kế hoạch ban đầu, tôi đã nhờ Lisa đặt cái hộp nhỏ này vào một trong những cái hộp khác mà tôi đựng thức ăn và đồ tiếp tế rồi ghi địa chỉ lại là tới Ashland, thay vì một trong những điểm dừng ở Sierra Nevada mà tôi sẽ không đến nữa. Tôi không thể chờ nổi cái giây phút được đặt tay lên nó – cái hộp ở trong hộp – và được mặc những thứ quần áo bình thường trong nguyên một dịp cuối tuần.

Ngày hôm sau, tôi đến được Ashland vào khoảng giờ ăn trưa, sau khi đi nhờ một chuyến từ đường mòn với một nhóm tình nguyện viên AmeriCorps.

“Cô đã nghe tin động trời này chưa?” Một người trong số họ hỏi tôi sau khi tôi leo lên chiếc xe tải của họ.

Tôi lắc đầu mà không giải thích là tôi chẳng nghe thấy tin gì, động trời hay không động trời, đã hai tháng nay rồi.

“Cô biết nhóm Grateful Dead chứ?” Anh ta hỏi, và tôi gật đầu. “Jerry Garcia chết rồi.”

Tôi đứng trên vỉa hè trong trung tâm thị trấn và cúi nhìn bức ảnh khuôn mặt của Garcia với màu mơ ảo trên trang đầu một tờ báo địa phương. Tôi cố đọc qua cái cửa sổ bằng nhựa trong suốt của thùng đựng báo, chẳng có tiền để mua lấy một tờ. Tôi có thích vài bài hát của Grateful Dead, nhưng tôi chưa bao giờ sưu tầm những băng đĩa ghi lại các chương trình biểu diễn trực tiếp của họ hoặc theo họ khắp đất nước này như vài người bạn hâm mộ Grateful Head. Tôi cảm thấy cái chết của Kurt Cobain vào năm trước gần gũi hơn với mình – kết cục buồn thảm và bạo lực của anh ta không chỉ là lời cảnh tỉnh cho những thác loạn quá đà của thế hệ tôi, mà còn cả của riêng tôi. Thế nhưng cái chết của Garcia thì tưởng như to tát hơn nhiều, như thể nó là kết thúc của không chỉ một khoảnh khắc, mà còn của một thời đại đã kéo dài hết cả cuộc đời tôi.

Tôi đi bộ với Quái Vật trên lưng qua một vài tòa nhà đến bưu điện, ngang những biển tự làm ốp lên cửa sổ mấy tiệm hàng ghi: CHÚNG TÔI YÊU ANH, JERRY, HÃY AN NGHỈ. Những con đường nhộn nhịp chen lẫn khách du lịch ăn mặc đẹp đẽ đang đổ ra tận hưởng dịp cuối tuần và những người trẻ tuổi thuộc đội thanh niên cấp tiến của vùng Hạ tây bắc Thái Bình Dương tụ họp thành tốp dọc theo các vỉa hè và đang tỏa ra một không khí căng thẳng hơn thường ngày vì cái tin kia. “Này!” Vài người trong số họ nói với tôi khi tôi đi qua, một vài người còn kèm thêm từ “chị gái” ở cuối câu. Những người này đủ thành phần tuổi tác từ thanh thiếu niên đến người về hưu, mặc những bộ quần áo khiến họ trông vừa là dân hippy vừa là người vô chính phủ vừa là hội chơi rock vừa là giới nghệ sĩ ăn mặc dị hợm nhưng cực chất. Trông tôi cũng như thể một trong số họ – tóc tai bờm xờm, rám nắng, xăm trổ; trĩu nặng với toàn bộ tài sản của mình – và tôi cũng có mùi như họ, chỉ chắc chắn là tệ hơn thôi, bởi lẽ tôi đã không được tắm rửa tử tế kể từ vài tuần trước lúc ở khu cắm trại ở vách núi Castle và bị say. Thế nhưng tôi vẫn cảm thấy quá lạc lõng với họ, với tất cả mọi người, như thể tôi vừa đáp xuống đây từ một hành tinh khác và một thời đại khác.

“Này!” Tôi kêu lên ngạc nhiên khi đi qua một trong những gã đàn ông trầm lặng trên cái xe tải tấp lại ở hồ Con Cóc, nơi Stacy và tôi tìm kiếm mãi cái Lễ hội Cầu vồng, nhưng anh ta đáp lại bằng một cái gật đầu hờ hững, không có vẻ gì là nhớ ra tôi.

Tôi đến được bưu điện và đẩy cửa ra, nhe nhởn cười háo hức, nhưng khi tôi nói tên mình cho người phụ nữ ngồi sau quầy, cô ta quay lại chỉ với một phong thư nhỏ dày cộp gửi đến cho tôi. Không có hộp nào cả. Không có hộp trong hộp nào cả. Không có quần Levi’s hay áo lót dây đen hay 250 đô-la séc du lịch hay thức ăn mà tôi cần để đi đến điểm dừng tiếp theo ở Vườn quốc gia Hồ Crater.

“Phải có một cái hộp cho tôi chứ!” Tôi nói, tay cầm phong thư dày nhỏ.

“Mai cô quay lại kiểm tra xem.” Người phụ nữ thờ ơ đáp.

“Cô có chắc không?” Tôi lắp bắp. “Ý tôi là... Chắc chắn nó phải đến đây chứ nhỉ.”

Người phụ nữ chỉ lắc đầu lạnh lùng. Cô ta chẳng quan tâm gì đến tôi cả. Tôi bẩn thỉu, ngửi mùi như hội thanh niên cấp tiến của vùng Hạ Tây bắc Thái Bình Dương. “Tiếp”, cô ta nói, ra hiệu cho người đang ông đang đứng đầu hàng.

Tôi thất thểu bước ra ngoài, sợ hãi và phát điên đến đờ cả người. Tôi đang ở Ashland, Oregon, và chỉ có 2,29 đô. Tôi cần tiền thuê nhà nghỉ tối nay. Tôi cần thức ăn trước khi lên đường. Nhưng nhiều hơn bất cứ thứ gì – sau 60 ngày đi bộ với cái ba lô của mình, ăn thực phẩm sấy khô có vị như giấy các tông hâm nóng, và hoàn toàn chẳng liên lạc gì với con người suốt chặng đường đôi khi kéo dài đến hàng tuần trong khi hết đi lên lại đi xuống những ngọn núi với nhiệt độ và địa hình thay đổi như xuất quỷ nhập thần – tôi cần được sống thoải mái. Chỉ vài ngày thôi. Làm ơn mà.

Tôi đi đến bốt điện thoại trả trước gần đấy, hạ Quái Vật xuống đất và đi vào trong bốt. Đứng bên trong, tôi thấy mình ổn đến không ngờ, như thể tôi không bao giờ muốn rời cái căn phòng trong suốt tí xíu này vậy. Tôi nhìn cái phong thư dày cộp. Của bạn tôi, Laura ở Minneapolis. Tôi bóc phong bì và lôi thư ra: một lá thư gấp quanh một cái dây chuyền cô ấy làm cho tôi để kỷ niệm cái tên mới của tôi. Nó là một sợi dây nhiều hạt có những chữ bằng bạc ghép thành STRAYED. Lúc mới nhìn trông nó như là STARVED (chết đói) vì chữ Y hơi khác với những chữ cái còn lại – béo và bẹt hơn, được đúc theo một khuôn khác, và đầu óc tôi đã ghép những chữ cái này vào thành cái từ quen thuộc kia. Tôi đeo cái vòng cổ lên và nhìn ngực mình phản chiếu méo mó trên bề mặt kim loại bóng loáng của cái điện thoại. Sợi dây mới rủ xuống phía dưới chiếc vòng cổ tôi đã đeo từ hồi ở đồng cỏ Kennedy – cái hoa tai bạc mặt đá ngọc lam từng là của mẹ.

Tôi nhấc điện thoại lên và cố gọi cho Lisa để hỏi về cái hộp của tôi, nhưng không có ai trả lời.

Tôi thất thểu buồn bã đi trên đường, cố kiềm chế để không muốn gì cả. Không bữa trưa, không bánh nướng xốp và bánh quy bày trên các cửa sổ hiệu bánh, không cà phê latte trong những chiếc cốc giấy trên những bàn tay sạch tinh của khách du lịch. Tôi đi đến nhà nghỉ xem có thể gặp Stacy không. Chị ấy không có ở đó, người đàn ông làm việc ở quầy tiếp tân nói với tôi thế, nhưng sẽ sớm quay lại – chị ấy đã thuê phòng cho tối đó rồi. “Cô cũng muốn thuê phòng chứ?” Anh ta hỏi tôi, nhưng tôi chỉ lắc đầu.

Tôi đi đến cửa hàng thực phẩm hữu cơ, đám thanh niên tiến bộ vùng Hạ tây bắc Thái Bình Dương đang kiểu như cắm trại ban ngày ngay trên bãi cỏ và vỉa hè ngay trước cửa hàng. Gần như ngay lập tức tôi thấy một người đàn ông đã gặp ở hồ Con Cóc – người đàn ông đeo băng đô, người dẫn đầu của đoàn, người giống như Jimi Hendrix gọi tất cả mọi người là cưng. Anh ta ngồi trên vỉa hè gần bậc thềm của cửa hàng, tay cầm một cái biển làm từ giấy bìa nhỏ nguệch ngoạc mấy chữ xin tiền viết bằng bút đánh dấu dòng. Trước mặt anh ta là một cái cóng cà phê rỗng có lác đác mấy đồng xu.

“Chào anh.” Tôi dừng lại trước anh ta, cảm thấy an tâm khi bắt gặp một khuôn mặt quen thuộc, dù đó là khuôn mặt của con người này. Anh ta vẫn đeo cái băng đô bẩn thỉu lạ lùng đó.

“Chào bé.” Anh ta trả lời, rõ ràng là không nhớ ra tôi. Anh ta không hỏi xin tiền tôi. Rõ ràng rồi, nhìn tôi là biết tỏng tôi chẳng có đồng nào. “Cô du lịch quanh đây à?” Anh ta hỏi.

“Tôi đang đi bộ trên đường mòn Pacific Crest.” Tôi nói để gợi cho anh ta nhớ.

Anh ta gật đầu mà chẳng tỏ vẻ gì là nhận ra. “Có nhiều người từ ngoài thị trấn đang đến đây để dự lễ của Dead.”

“Có lễ gì à?” Tôi hỏi.

“Tối nay sẽ có gì đó.”

Tôi băn khoăn liệu anh ta đã tổ chức được một Lễ hội Cầu vồng nhỏ ở hồ Crater như đã nói chưa, nhưng không hỏi hẳn ra với anh ta. “Vui vẻ nhé.” Tôi nói rồi bước đi.

Tôi đi vào cửa hàng thực phẩm hữu cơ, khí lạnh tỏa ra từ điều hòa nhiệt độ cảm giác thật lạ lẫm trên chân tay tôi. Tôi đã từng ở trong những cửa hàng tiện lợi và những cửa hàng tạp phẩm nhỏ dành cho khách du lịch ở mấy điểm dừng chân tiếp tế dọc đường PCT, nhưng chưa từng ở trong một cửa hàng như thế này kể từ khi bắt đầu chuyến đi. Tôi đi lên rồi đi xuống dọc các hành lang, nhìn vào những thứ mà tôi không thể có được, mụ mị bởi sự thừa mứa ê hề chung quanh. Sao tôi lại có thể từng xem những thứ này là bình thường nhỉ? Những lọ dưa muối và những cái bánh mì tươi ngon đóng trong túi giấy, những chai nước cam và những bịch kem chanh, và, trên hết là, các loại nông sản sáng bừng lên trong những cái sọt khiến tôi như phát đui. Tôi nấn ná, ngửi các thứ – cà chua và rau xà lách mỡ, quả xuân đào và chanh. Tôi chỉ có thể cố hết sức để kiềm chế không tuồn cái gì đó vào túi mình.

Tôi đi đến khu chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp, xịt mấy mẫu sữa dưỡng da miễn phí vào lòng bàn tay, xoa xoa vài loại lên khắp cơ thể, đủ loại mùi hương khiến tôi chất ngất – mùi đào và mùi dừa, mùi oải hương và mùi quýt. Tôi cân nhắc những tuýp son môi mẫu và đánh thử một loại tên là Plum Haze bằng một cái tăm bông Q-tip hữu cơ, tái chế đặt trong cái bình thủy tinh nắp bạc như bình thủy tinh trong bệnh viện nằm gần đó. Tôi lau vết son lem bằng một cái khăn giấy hữu cơ, tái chế rồi nhìn mình trong cái gương tròn trên một cái kệ gần kệ trưng bày son môi. Tôi chọn Plum Haze vì nó có màu giống với son môi tôi thường tô trước khi đi PCT, nhưng bây giờ, tô màu đó trông tôi như một con hề với cái miệng phô trương và đỏng đảnh đối lập hẳn với khuôn mặt dãi dầu.

“Tôi có thể giúp gì cho cô không?” Một người phụ nữ đeo kính kiểu bà già có biển tên ghi JEN G. hỏi tôi.

“Không, cảm ơn.” Tôi nói. “Tôi chỉ xem thôi.”

“Màu đấy rất hợp với cô. Nổi bật hẳn màu mắt xanh của cô.”

“Cô nghĩ thế à?” Tôi hỏi, đột nhiên cảm thấy xấu hổ. Tôi nhìn mình trong chiếc gương tròn nhỏ xíu, như thể tôi đúng là đang tính mua son môi Plum Haze không bằng.

“Tôi cũng thích cái vòng cổ của cô.” Jen G. nói. “Starved – chết đói. Nghe buồn cười nhỉ.”

Tôi đặt tay lên nó. “Thực ra nó ghi là Strayed – lạc lối. Họ của tôi đấy.”

“Ồ, thế á.” Jen G. nói, bước lại gần để nhìn nó. “Tôi nhìn nhầm mất rồi. Mà nghe cả hai đều buồn cười cả.”

“Lừa thị giác ấy mà.” Tôi nói.

Tôi đi xuống hành lang đến chỗ quầy bán đồ ăn nhanh, ở chỗ đó tôi lôi một tờ giấy ăn sần sùi từ cái máy pha chế và lau hết chỗ son Plum Haze trên môi, và rồi nghiên cứu lựa chọn nước chanh. Thật thất vọng là họ không có Snapple. Tôi lấy số tiền cuối cùng mua nước chanh tự nhiên, hữu cơ, vừa mới vắt và không chất bảo quản, rồi cầm nó quay trở lại ngồi trước cửa hiệu. Quá sung sướng vì đã đến thị trấn nên trước đó tôi vẫn chưa ăn trưa, vì vậy tôi lấy một thanh protein và mấy hạt đã cũ từ trong ba lô và ăn chúng trong khi nghiêm cấm bản thân không được nghĩ đến cái bữa ăn mà tôi đã lên kế hoạch trước đó: món xa lát Caesar với ức gà rán và một rổ bánh mì Pháp vỏ giòn quết dầu ô liu và Coca Diet để uống, rồi kem chuối để tráng miệng. Tôi uống nước chanh và nói chuyện với bất cứ ai đi đến. Tôi nói chuyện với một người đàn ông quê Michigan chuyển tới Ashland để nhập học ở trường đại học địa phương, một người đàn ông khác chơi trống trong một ban nhạc; một người phụ nữ là thợ gốm chuyên nặn những hình các vị thần, và một người khác hỏi tôi bằng giọng Âu là liệu tôi có đến buổi tưởng niệm Jerry Garcia tối đó không.

Cô ta đưa cho tôi một tờ rơi có tiêu đề Tưởng niệm Jerry.

“Câu lạc bộ đó gần nhà nghỉ, nếu em ở nhà nghỉ đó.” Cô ta bảo tôi. Trông cô phúng phính và xinh đẹp, mái tóc vàng hoe buộc hững hờ bằng một sợi dây ở sau đầu. “Bọn chị cũng đang đi phượt quanh quanh.” Cô nói, tay chỉ cái ba lô của tôi. Tôi không hiểu “bọn chị” là ý chỉ ai, cho đến khi một người đàn ông xuất hiện bên cạnh cô. Hai người có vẻ ngoài trái ngược nhau – anh kia cao và gầy đến phát sợ, mặc một cái váy quây màu hạt dẻ chỉ quá cái đầu gối xương xẩu một chút, tóc hơi ngắn buộc thành bốn hay năm cái đuôi lơ thơ trên đầu.

“Cô đi nhờ xe đến đây à?” Người đàn ông hỏi. Anh ta là người Mỹ.

Tôi giải thích với họ về việc đi bộ trên đường mòn PCT, về việc tôi đã định ở lại Ashland cuối tuần này thế nào. Người đàn ông thì thờ ơ nhưng người phụ nữ thì hết sức ấn tượng.

“Tên chị là Susanna, quê Thụy Sĩ.” Cô nói, nắm lấy tay tôi. “Bọn chị gọi những gì em đang làm là hành hương. Nếu em thích, chị sẽ xoa chân cho em.”

“Ôi, cảm ơn chị, nhưng chị không phải làm thế đâu.” Tôi nói.

“Chị muốn thế mà. Vinh dự lắm mới được làm thế đấy. Người Thụy Sĩ bọn chị làm thế. Chị sẽ quay lại.” Cô quay vào cửa hàng thực phẳm hữu cơ, tôi gọi với theo bảo với cô ấy là cô thật tử tế làm sao. Khi cô ấy đi khuất, tôi nhìn bạn trai của cô. Mái tóc anh ta làm tôi nhớ đến con búp bê Kewpie.

“Cô ấy thực sự thích làm như thế, nên không phải lo đâu.” Anh ta nói, ngồi xuống bên cạnh tôi.

Vài phút sau Susanna xuất hiện, tay khum khum trước bụng, trong lòng bàn tay là một cốc dầu thơm. “Bạc hà đấy.” Cô nói và mỉm cười với tôi. “Em cởi giày với tất ra đi.”

“Nhưng chân em...” Tôi lưỡng lự. “Vẹo hết cả xong lại còn bẩn thỉu...”

“Chị muốn thế mà!” Cô kêu lên, bởi thế tôi nghe lời cô; chẳng mấy chốc cô bắt đầu xức đầy bạc hà lên tôi. “Chân em rất khỏe.” Susanna nói. “Giống chân của mấy con vật ấy. Cầm thế này chị thấy nó khỏe thế nào. Te tua thế nào nữa. Em mất mấy cái móng chân rồi này.”

“Vầng.” Tôi lẩm bẩm, hạ khuỷu tay xuống cỏ, mắt lim dim khép lại.

“Các linh hồn bảo chị làm điều này.” Cô ấy nói khi ấn những ngón tay cái vào lòng bàn chân tôi.

“Các linh hồn bảo chị thế á?”

“Đúng vậy. Khi chị nhìn thấy em, các linh hồn thì thầm với chị là chị có gì đó cho em, bởi vậy chị đến chỗ em với tờ rơi này nhưng rồi chị hiểu ra là còn có thứ khác nữa. Ở Thụy Sĩ, bọn chị cực kỳ kính trọng những người hành hương như thế này.” Cô ấy xoay từng ngón từng ngón chân tôi giữa những ngón tay của mình, nhìn lên tôi và hỏi: “Mấy chữ trên vòng cổ của em nghĩa là gì vậy – nghĩa là em đói à?”

Và đúng là thế trong mấy tiếng tiếp theo, khi tôi lượn lờ trước cửa hàng hợp tác xã. Tôi đói thật. Tôi thấy mình chẳng là mình nữa. Tôi chỉ thấy giống một cái xô đầy khao khát, một thứ đói khát, héo tàn. Một người cho tôi cái bánh nướng xốp chay, người khác cho ít xa lát diêm mạch có cả nho. Vài người tiến đến để tỏ lòng ngưỡng mộ cái hình xăm con ngựa hoặc hỏi về cái ba lô của tôi. Khoảng bốn giờ, Stacy đến và tôi kể với chị tình thế khó khăn của mình; chị ấy đề nghị cho tôi vay tiền cho tới khi nào cái hộp tiếp tế đến.

“Để em thử đến bưu điện lần nữa.” Tôi nói, vừa ghét phải nhận lời đề nghị của chị ấy, vừa thấy thật biết ơn chị. Tôi quay trở lại bưu điện và đứng xếp hàng, thất vọng khi nhìn thấy vẫn người phụ nữ đó, người đã nói với tôi rằng chưa có cái hộp của tôi. Khi tôi tiến đến chỗ cô ta, tôi hỏi về cái hộp như thể tôi chưa từng đến đây trước đó vài tiếng. Cô ta đi vào phòng sau và trở ra, tay bê cái hộp, đẩy nó qua quầy cho tôi mà không nói một câu xin lỗi nào.

“Vậy là nó vẫn ở đây từ trước đó.” Tôi nói, nhưng cô ta không quan tâm, chỉ trả lời rằng trước đó hẳn là cô ta không nhìn thấy nó.

Tôi quá sung sướng nên không thèm tức giận, đi cùng Stacy đến nhà nghỉ, cái hộp ôm trong lòng. Tôi nhận phòng và đi theo Stacy lên lầu, xuyên qua phòng tập thể chính dành cho phụ nữ tới một phòng thụt vào trong trông nhỏ nhắn riêng tư nằm bên chái nhà. Trong phòng có ba cái giường đơn. Stacy ngủ một giường, bạn của chị, Dee, ngủ một giường và họ dành cái thứ ba cho tôi. Stacy giới thiệu tôi với Dee và chúng tôi nói chuyện trong lúc tôi mở cái hộp của mình. Đây rồi: chiếc quần jean cũ của tôi, áo lót và quần lót mới của tôi, và tiền, nhiều tiền hơn tất thảy số tiền tôi từng có kể từ khi bắt đầu chuyến đi này.

Tôi đến nhà tắm và đứng dưới vòi nước nóng kỳ cọ thân mình. Đã hai tuần tôi không tắm, và nhiệt độ trong hai tuần này thì lên xuống từ âm một đến ngót nghét 38 độ. Tôi có thể cảm nhận dòng nước tẩy trôi đi những lớp mồ hôi, như thể chúng cũng là một lớp da thực sự. Khi tắm xong, tôi ngắm mình trần truồng trong gương: người tôi gầy hơn lần gần nhất tôi nhìn thấy, tóc sáng màu chưa từng có kể từ khi tôi còn là một cô nhóc. Tôi mặc cái áo lót mới, quần lót mới, áo phông và chiếc quần jean Levi’s bạc màu, bây giờ nó đã rộng hơn, mặc dù ba tháng trước tôi suýt thì không ních vừa nổi, rồi tôi trở lại căn phòng thụt vào ấy, xỏ chân vào giày. Đôi giày không còn mới nữa – chúng bẩn và ngốt, nặng và đau – nhưng chúng là đôi giày duy nhất tôi có.

Vào bữa tối với Stacy và Dee, tôi gọi mọi thứ muốn ăn. Sau đó, tôi đến hiệu giày và mua một đôi xăng đan thể thao Merrell màu xanh và đen, kiểu mà đáng ra tôi nên mua trước khi thực hiện chuyến đi này. Chúng tôi quay trở lại nhà nghỉ nhưng chỉ vài phút sau tôi và Stacy lại ra ngoài, tới lễ tưởng niệm Jerry Garcia ở một câu lạc bộ gần đó, để Dee ở lại ngủ. Chúng tôi ngồi ở một cái bàn trong một khu vực nhỏ có dây chăng tách biệt với sàn nhảy, uống rượu trắng, quan sát những người phụ nữ đủ mọi lứa tuổi, vóc dáng và một người đàn ông chuyên biểu diễn trong dịp đặc biệt đang quay cuồng với những bài hát của Grateful Dead hết bài này đến bài khác. Đằng sau những vũ công là màn hình chiếu một loạt hình ảnh, một số là vòng xoáy mờ ảo trừu tượng, số khác là hình ảnh chân phương về Jerry và ban nhạc của ông.

“Chúng tôi yêu anh, Jerry!” Người phụ nữ ở bàn kế bên nói to lên khi một hình ảnh của ông xuất hiện.

“Chị có lên nhảy không?” Tôi hỏi Stacy.

Chị ấy lắc đầu. “Chị phải về nghỉ thôi. Sáng mai chị phải đi sớm rồi.”

“Chắc em sẽ ở lại một chút.” Tôi nói. “Nhớ gọi em dậy để chào tạm biệt nếu sáng mai em vẫn còn ngủ nhé.” Sau khi chị ấy đi khỏi, tôi gọi thêm một cốc rượu nữa và ngồi nghe nhạc, nhìn ngắm mọi người, ngập trong niềm hạnh phúc giản đơn là được ngồi trong một căn phòng giữa những người khác vào một tối mùa hè với âm nhạc rộn rã. Nửa tiếng sau tôi đứng dậy định bỏ về thì người ta chơi đến bài “Chiếc hộp mưa”. Đó là một trong những bài hát của Dead mà tôi yêu thích và tôi thì lại đang hơi phấn khích, bởi vậy tôi bốc đồng nhảy lên sàn và bắt đầu nhảy, và rồi gần như phải hối tiếc ngay lập tức. Đầu gối tôi cứng đơ sau ngần ấy thời gian đi bộ, hông tôi kém linh hoạt một cách lạ lùng. Nhưng khi tôi định rời đi thì người đàn ông từ Michigan mà tôi gặp trước đó trong ngày xuất hiện trước mặt tôi, trông như đang nhảy cùng tôi, lượn tới lượn lui quanh tôi như con quay hồi chuyển hippy, ngón tay vẽ ra một chiếc hộp tưởng tượng trong không khí trong khi gật đầu với tôi như thể tôi biết cái quái quỷ ấy có nghĩa là gì, và lúc đó mà rời đi thì có vẻ là bất lịch sự.

“Tôi luôn nghĩ đến Oregon khi tôi nghe bài này.” Anh ta gào lên át tiếng nhạc khi tôi nhịp theo điệu bugi-ugi lỗi nhịp. “Cô hiểu không?” Anh ta hỏi. “Hộp mưa ấy? Cũng giống như Oregon là một cái hộp mưa ấy?”

Tôi gật đầu và cười to, cố gắng tỏ ra mình cũng đang vui vẻ, nhưng ngay khi bài hát ấy dứt, tôi phóng ra thật xa để đứng gần một bức tường thấp chạy dọc quán bar.

“Này!” Một lát sau một người đàn ông gọi tôi và tôi quay lại. Anh ta đứng ở bên kia bức tường cao đến eo, tay cầm một cái bút đánh dấu và một cái đèn pin – một nhân viên trong câu lạc bộ, có vẻ là người điều hành khu vực mà bạn có thể uống – mặc dầu trước đó tôi không chú ý có anh ta ở đó.

“Vâng.” Tôi đáp lại. Anh ta đẹp trai và nhìn già hơn tôi một chút, tóc đen lượn sóng chạm vai. Chiếc áo phông của anh ta có dòng chữ WILCO chạy ngang qua. “Tớ thích ban nhạc này.” Tôi nói, chỉ vào chiếc áo của anh ta.

“Cậu biết họ à?” Anh ta hỏi.

“Tất nhiên là biết chứ.” Tôi nói.

Đôi mắt nâu của anh ta nheo cười. “Tuyệt cú mèo,” anh ta nói, “tớ là Jonathan.” Và anh ta bắt tay tôi. Âm nhạc nổi lên trước khi tôi có thể nói với anh ta tên tôi, nhưng anh ta đã ghé vào tai tôi và hỏi tôi quê ở đâu bằng một giọng nói duyên dáng. Dường như anh ta biết tôi không phải người Ashland. Tôi hét lại với anh ta, giải thích súc tích nhất về PCT, rồi anh ta lại ghé vào tai tôi lần nữa, hét lên một câu thật dài mà tôi không thể nghe ra vì tiếng nhạc ồn ã. Nhưng tôi chẳng quan tâm, bởi cái cách tuyệt vời mà đôi môi anh ta cà vào mái tóc tôi và hơi thở của anh ta phả vào cổ tôi để rồi sau đó tôi có thể cảm thấy nó truyền xuống khắp cơ thể mình.

“Cái gì cơ?” Tôi hét lại khi anh ta nói xong, và anh ta lại nói lại lần nữa, lần này chậm hơn và to hơn, và tôi hiểu rằng tối nay anh ta làm việc muộn, nhưng tối mai anh ta sẽ được nghỉ lúc 11 giờ, anh ta hỏi liệu tôi muốn đến gặp ban nhạc đang trình diễn kia và sau đó đi chơi với anh ta không.

“Có chứ!” Tôi hét lên, dù vẫn nửa muốn bắt anh ta nói lại để miệng anh ta có thể làm lại điều kia với tóc và cổ tôi lần nữa. Anh ta đưa cho tôi cái bút đánh dấu và ra hiệu tôi viết tên mình lên lòng bàn tay anh ta để anh ta có thể ghi tên tôi lên danh sách khách mời. Cheryl Strayed, tôi nắn nót, hai tay run rẩy. Khi tôi viết xong, anh ta nhìn cái tên và giơ ngón tay cái lên với tôi, tôi vẫy tay chào và bước ra cửa, trong lòng ngất ngây.

Tôi có một cuộc hẹn.

Có phải tôi có một cuộc hẹn không nhỉ? Tôi bước đi trên những con phố ấm áp, băn khoăn về bản thân mình. Suy cho cùng, có thể tên tôi sẽ không ở trong danh sách đó. Có thể tôi đã nghe nhầm anh ta. Có thể thật là nực cười khi đi hẹn hò với ai đó mới chỉ nói chuyện và chủ yếu ấn tượng chỉ là bởi anh ta đẹp trai và thích Wilco. Chắc chắn là tôi đã từng hẹn hò vì những lý do còn xa mới được như thế, nhưng lần này thì khác. Mình đã khác. Có phải không?

Tôi trở lại nhà nghỉ, bước lặng lẽ qua những cái giường nơi những người phụ nữ xa lạ đang nằm ngủ và đi đến cái phòng thụt vào dưới chái nhà, nơi Dee và Stacy cũng đang ngủ. Tôi cởi quần áo ra và chui vào cái giường thực sự mà bất ngờ thay lại là của tôi tối đó. Tôi nằm chong mắt khoảng một giờ, lấy tay rờ khắp cơ thể mình, tưởng tượng sẽ thế nào nếu bàn tay của Jonathan chạm vào tối hôm sau: gò ngực và cái bụng phẳng, những bó cơ trên chân – mọi thứ có vẻ tàm tạm – nhưng khi đến khoảng hông to bằng lòng bàn tay rờ vào nửa giống vỏ cây nửa như mảng da của một con gà chết bị vặt lông, tôi nhận ra là trong buổi hẹn hò ngày mai chẳng đời nào tôi có thể cởi quần ra được. Thế cũng may. Có ông trời biết, tôi đã cởi quần nhiều lần đến không đếm nổi, chắc chắn là trên cả mức tốt đẹp dành cho tôi.

Tôi dành cả ngày hôm sau để tự thuyết phục mình đừng gặp Jonathan tối đó. Suốt thời gian đó, khi đi giặt đồ, khi ăn uống thỏa thuê ở các nhà hàng, và khi lượn lờ trên những con phố ngắm nhìn mọi người, tôi cứ tự hỏi mình: Suy cho cùng cái anh chàng đẹp trai hâm mộ Wilco này là gì với mình cơ chứ? Thế nhưng cũng cùng lúc ấy, trong đầu tôi cũng tưởng tượng ra những việc chúng tôi có thể sẽ làm.

Mà quần tôi vẫn còn trên người.

Tối đó, tôi tắm rửa, mặc quần áo và đi tới cửa hàng thực phẩm hữu cơ để bôi ít son Plum Haze và dầu lan tây từ những mẫu thử miễn phí trước khi lững thững bước đến người phụ nữ đứng canh ở cửa câu lạc bộ nơi Jonathan làm việc. “Hình như tôi ở trong danh sách này.” Tôi nói bình thản, và nói tên tôi, sẵn sàng tinh thần bị từ chối.

Không nói một lời nào, cô ta đánh dấu vào tay tôi một vết mực đỏ.

Jonathan và tôi nhìn thấy nhau ngay khi tôi bước vào; anh vẫy tay với tôi từ trên bục cao tít, nơi anh lo khâu ánh sáng. Tôi lấy một cốc rượu và đứng nhấm nháp nó trong tư thế mà tôi hy vọng là duyên dáng, lắng nghe ban nhạc gần cái tường thấp nơi tôi gặp Jonathan tối trước. Đây là một ban nhạc bluegrass khá nổi tiếng đến từ Bay Area. Họ dành một bài hát cho Jerry Garcia. Âm nhạc hay, nhưng tôi không thể nào tập trung nổi vì đang cố tỏ ra hài lòng và thoải mái như thể tôi đến chính câu lạc bộ này chỉ để nghe chính ban nhạc này cho dù Jonathan có mời tôi hay không. Và trên tất cả, tôi đang cố để nhìn hoặc không nhìn về phía Jonathan, lần nào nhìn sang anh ấy tôi cũng thấy anh đang nhìn tôi, khiến tôi lo rằng biết đâu anh đang nghĩ chính tôi mới là người nhìn anh suốt, vì biết đâu việc lần nào tôi nhìn anh cũng thấy anh đang nhìn mình chỉ là ngẫu nhiên lúc đó anh cũng vừa mới nhìn tôi chứ thực sự không phải lúc nào cũng nhìn tôi suốt như thế, biết đâu chính anh lại đang băn khoăn rằng tại sao cái cô này cứ nhìn mình thế nhỉ? Bởi vậy, tôi đã không nhìn sang anh trong liền ba bài bluegrass dài, một trong ba bài là đơn ca ngẫu hứng dài thườn thượt như là vô tận cho đến khi khán giả vỗ tay cảm kích khiến tôi không thể chịu đựng được nữa, tôi nhìn và anh không chỉ nhìn tôi mà còn vẫy tay với tôi nữa.

Tôi vẫy tay lại.

Tôi quay đi và đứng thêm phần lặng yên và thẳng thớm, nhận thức rất rõ rằng trông mình đang nóng bỏng và thanh tú thế nào, cảm thấy ánh mắt của Jonathan trên bộ mông và đùi rắn chắc của tôi, trên bộ ngực đẩy cao nhờ chiếc áo lót ngọt ngào bên dưới cái áo ôm sát người, trên mái tóc sáng và nước da màu đồng, trên đôi mắt xanh da trời thậm chí còn xanh hơn bởi son môi Plum Haze – cảm giác đó kéo dài hết một bài hát. Rồi ngay sau đó cảm giác ấy đảo ngược, tôi lại thấy mình là một con quái vật gớm guốc với hai bên hông vừa giống da gà bị vặt lông vừa như vỏ cây khô và một khuôn mặt rám nắng, nhàu nhĩ với mái tóc dãi dầu sương gió và một cái bụng xệ ra không thể che giấu nổi trừ khi tôi nằm xuống hoặc nín thở – mặc dù đã đi bộ bao nhiêu và hao hụt bao nhiêu cân, mặc dù cái dây thắt ba lô trong hai tháng đã giày vò như phá hẳn nó. Nhìn nghiêng, cái mũi tôi gồ ra đến mức một người bạn đã có lần nhận xét rằng trông tôi như một con cá mập. Và còn đôi môi lố bịch và phô trương của tôi nữa! Tôi lén ấn môi vào mu bàn tay để xóa đi chỗ son Plum Haze trong khi tiếng nhạc đang nổi lên rầm rầm.

Ơn trời là cũng đến lúc giải lao. Jonathan đến bên cạnh tôi, tha thiết nắm lấy tay tôi, nói rằng anh rất vui khi tôi đến. Anh hỏi tôi có muốn một cốc rượu nữa không.

Tôi không muốn rượu. Tôi chỉ muốn mau đến 11 giờ để anh ấy có thể đi về với tôi và tôi có thể hết băn khoăn mình là một em búp bê hay tượng máng xối và anh đã nhìn mình suốt hay nghĩ là mình đang nhìn anh.

Chúng tôi vẫn còn một tiếng rưỡi nữa phải đợi.

“Vậy chúng ta sẽ làm gì sau đó?” Anh hỏi. “Em ăn tối chưa?”

Tôi nói tôi ăn rồi, nhưng tôi làm gì cũng được. Tôi không đả động gì đến chuyện hiện tại tôi có thể liền lúc ăn hết ngót bốn bữa tối.

“Anh sống trong một trang trại hữu cơ cách đây hơn 24 cây. Đi loanh quanh buổi tối thì thích lắm. Bọn mình có thể đi đến đó, anh sẽ lái đưa em về khi nào em muốn.”

“Được thôi.” Tôi nói, đưa qua đưa lại cái bông tai mặt ngọc bằng bạc nhỏ trên sợi dây duyên dáng. Tôi đã quyết định không đeo cái vòng cổ Strayed/Starved, phòng trường hợp Jonathan nghĩ nó là Starved. “Chắc em sẽ ra ngoài hít thở một chút.” Tôi nói. “Nhưng 11 giờ em sẽ quay lại.”

“Tuyệt cú mèo.” Anh nói, xiết tay tôi một lần nữa trước khi trở lại chỗ của mình và ban nhạc lại bắt đầu.

Ngây ngây vui sướng, tôi bước ra ngoài trời tối, chiếc túi nylon màu đỏ thường để đựng cái bếp giờ đang treo lủng lẳng trên cổ tay tôi. Tôi đã bỏ gần hết những cái túi kiểu như vậy ở lại đồng cỏ Kennedy vì không muốn mang thêm nhiều thứ nặng, nhưng cái túi này thì tôi giữ lại vì tôi tin rằng cái bếp cần được bảo vệ. Tôi đã biến nó thành cái xắc để dùng khi ở Ashland, mặc dù nó phảng phất mùi xăng dầu. Tất cả những thứ bên trong đều được giữ trong một cái túi có khóa zip. Cái túi này zip lại đúng là một cái xắc trong – nó đựng tiền, bằng lái xe, kem dưỡng môi, một cái lược, và một tấm thẻ mà những người làm ở nhà nghỉ đã đưa cho tôi để tôi có thể lấy Quái Vật, cái gậy tuyết và cái hộp thực phẩm ra khỏi khu để đồ của họ.

“Xin chào.” Một người đàn ông đứng bên vỉa hè ngoài quán bar nói. “Cô thích ban nhạc này à?” Giọng ông ta trầm lắng.

“Vâng.” Tôi mỉm cười lịch sự với ông ta. Ông ta trông gần 50 tuổi, mặc quần jean có dây đeo và áo phông sờn. Ông ta có bộ râu quai nón quăn thành lọn đến ngực và mái tóc đang ngả bạc chảy thẳng xuống vai từ trên đỉnh đầu hói.

“Tôi từ núi xuống đây. Thỉnh thoảng tôi thích đến đây và nghe nhạc.” Người đàn ông nói.

“Cháu cũng thế. Ý là cháu cũng từ núi xuống ạ.”

“Cô sống ở đâu?”

“Cháu đang đi đường mòn Pacific Crest.”

“Ồ, chắc rồi.” Ông ta gật đầu. “PCT. Trước đây tôi cũng từng leo lên đấy. Chỗ của tôi là ở hướng khác. Tôi sống ở đó trong một cái lều chóp, khoảng bốn hoặc năm tháng trong năm.”

“Chú sống trong lều chóp ấy ạ?” Tôi hỏi.

Ông ta gật đầu. “Đúng thế. Chỉ mình tôi. Tôi thích thế, nhưng đôi khi cũng thấy cô đơn. À tên tôi là Clyde nhé.” Ông ta đưa tay ra.

“Cháu là Cheryl.” Tôi nói, bắt tay ông.

“Cô có muốn đến uống trà với tôi không?”

“Cháu cảm ơn ạ, nhưng cháu lại đang chờ một người bạn làm xong việc.” Tôi nhìn vào cánh cửa của câu lạc bộ, như thể Jonathan sẽ xuất hiện từ đó bất cứ lúc nào.

“À, xe tải của tôi ngay kia, chúng ta không cần phải đi đâu cả.” Ông ta nói và chỉ về một chiếc xe tải chở sữa cũ kỹ ở khu đỗ xe. “Lúc nào không ở lều thì tôi ở đó. Tôi sống ẩn dật cả mấy năm rồi, nhưng đôi khi xuống thị trấn nghe một ban nhạc cũng hay.”

“Cháu hiểu ý chú ạ.” Tôi nói. Tôi thích ông và thích cái cách lịch sự của ông. Ông nhắc tôi nhớ đến vài người đàn ông ở Bắc Minnesota. Họ từng là bạn của mẹ tôi và dượng Eddie, họ sâu sắc và cởi mở, hoàn toàn đứng ngoài dòng đời. Tôi chẳng mấy khi gặp lại họ kể từ khi mẹ mất. Giờ thì tưởng như tôi chưa từng biết họ và sẽ không thể nào biết họ lần nữa. Mọi thứ tồn tại ở nơi tôi lớn lên dường như giờ đã quá xa xôi, chẳng thể nào tìm lại được nữa.

“Rất vui được gặp cô, Cheryl.” Clyde nói. “Tôi sẽ đun nước để pha trà. Như tôi nói đấy, mời cô đến uống trà với tôi.”

“Chắc chắn rồi ạ.” Tôi đáp ngay. “Cháu sẽ xin một cốc.”

Chưa bao giờ tôi xem một căn nhà di động trong xe tải mà không thấy đây là thứ chất nhất trên đời, và ngôi nhà của Clyde không phải là ngoại lệ. Ngăn nắp và hiệu quả, duyên dáng và nghệ thuật, hiện đại và tiện ích. Có một gian bếp nhỏ trong đó có cái bếp bằng gỗ, một hàng nến và một dây bóng điện Giáng sinh tỏa bóng huyền ảo khắp căn phòng. Một giá đầy sách bao quanh ba mặt của xe tải, với một cái giường dựa vào đó. Tôi đá đôi xăng đan mới ra và nằm vắt ngang giường, lôi mấy cuốn khỏi giá sách khi Clyde đặt ấm nước lên bếp. Có những cuốn sách nói về việc trở thành tu sĩ và những cuốn khác thì nói về người sống trong hang động, người sống ở Bắc Cực, ở rừng Amazon và trên một hòn đảo cách xa bờ biển ở bang Washington.

“Đây là cúc la mã tôi tự trồng đấy.” Clyde nói, rót nước sôi vào trong một cái ấm nhỏ. Trong lúc đợi trà ngấm, ông thắp mấy cây nến và đến ngồi cạnh tôi trên giường, còn tôi nằm sấp, hai khuỷu tay chống, lật giở một cuốn sách minh họa về những vị nam thần và nữ thần Hindu.

“Chú có tin vào tiền kiếp không ạ?” Tôi hỏi khi chúng tôi nhìn vào những bức vẽ khó hiểu, đọc những đoạn chú thích trên từng trang.

“Tôi không tin.” Ông nói. “Tôi tin chúng ta ở đây chỉ một lần và việc chúng ta làm gì mới đáng nói. Cô tin vào cái gì?”

“Cháu vẫn đang tìm xem cháu tin vào cái gì,” tôi đón lấy cái cốc nóng.

“Tôi còn thứ khác đấy, một thứ nho nhỏ tôi thu hoạch được ở trong rừng.” Ông lôi ra từ trong túi áo một cái rễ cây xương xẩu nhìn giống củ gừng và đặt trên lòng bàn tay cho tôi xem. “Đây là thuốc phiện nhai được.”

“Thuốc phiện ấy ạ?” Tôi hỏi.

“Chỉ dịu hơn thôi. Làm mình phê phê thoải mái thôi. Cô muốn một ít không?”

“Tất nhiên rồi.” Tôi nhanh nhảu nói, và nhìn ông cắt một mẩu rồi đưa cho tôi, cắt một mẩu khác cho ông và cho nó vào miệng.

“Cứ thế nhai ạ?” Tôi hỏi, và ông ta gật đầu. Tôi cho nó vào miệng và nhai. Giống như nhai gỗ vậy. Một giây sau tôi mới nhớ ra tốt nhất là tránh xa hoàn toàn thuốc phiện, hay bất cứ thể loại rễ cây nào mà một người đàn ông lạ đưa cho mình, không cần biết ông ta có vẻ tử tế và vô hại thế nào. Tôi nhổ nó ra tay mình.

“Cô không thích à?” Ông ta hỏi, cười và nhấc một cái xô rác nhỏ để tôi có thể ném vào đó.

Tôi ngồi nói chuyện với Clyde trong xe tải của ông đến tận 11 giờ, rồi ông tiễn tôi đến cửa trước của câu lạc bộ. “Chúc đi rừng may mắn.” Ông nói, và chúng tôi ôm nhau tạm biệt.

Lát sau, Jonathan xuất hiện và dẫn tôi đến xe hơi của anh, một chiếc Buick Skylark mà anh gọi là Beatrice.

“Thế công việc thế nào?” Tôi hỏi. Cuối cùng cũng được ngồi bên cạnh anh ấy, tôi không cảm thấy hồi hộp như khi ở trong quán bar và như khi anh cứ nhìn tôi mãi.

“Tốt.” Anh nói. Khi lái xe vào trong đêm tối ra ngoài Ashland, anh nói với tôi về chuyện sống ở cái nông trại hữu cơ của bạn bè anh. Anh được sống ở đó miễn phí, đổi lại anh sẽ làm vài việc, anh giải thích vậy khi nhìn qua tôi, khuôn mặt được ánh sáng của bảng điều khiển chiếu sáng mờ mờ. Anh rẽ xuống một con đường rồi một con đường khác cho đến khi tôi hoàn toàn không biết đây là đâu tính từ Ashland, nghĩa là tôi chẳng biết mình đang ở đâu tính từ chỗ Quái Vật nữa. Tôi thấy hối hận là không mang nó theo. Tôi đã không ở xa cái ba lô của tôi như thế này kể từ khi bắt đầu đi PCT, và chuyện này khiến tôi thấy không quen. Jonathan rẽ vào một con ngõ cho xe ô tô, lái qua một ngôi nhà tối đèn có một con chó sủa inh ỏi, và đi theo một con đường đất bạc màu dẫn chúng tôi trở lại giữa những hàng ngô và hàng hoa, cho đến khi cuối cùng ánh đèn xe cũng quét qua một cái lều hình hộp rộng dựng trên một cái nền gỗ, rồi anh dừng xe lại.

“Chỗ của anh đây.” Anh nói và chúng tôi bước ra. Không khí lạnh hơn ở Ashland. Tôi rùng mình và Jonathan quàng tay quanh người tôi tự nhiên như thể đã làm chuyện đó hàng trăm lần rồi. Chúng tôi đi bộ giữa những cây ngô và luống hoa dưới ánh trăng tròn vành vạnh, nói chuyện về đủ các ban nhạc và nhạc công mà một trong hai hoặc cả hai người cùng yêu thích, kể lại những những buổi trình diễn mà chúng tôi đã xem.

“Anh xem Michelle Shocked biểu diễn ba lần rồi đấy.” Jonathan nói.

“Ba lần cơ ạ?”

“Một lần anh lái xuyên qua bão tuyết để đến xem. Chỉ có khoảng mười khán giả.”

“Ôi.” Tôi nói và nhận ra rằng làm sao có thể giữ quần trước một người đàn ông đã từng xem Michelle Shocked đến ba lần cơ chứ, chẳng cần biết mảng da thịt ở hông tôi trông khủng khiếp đến mức nào.

“Ôi.” Anh ấy nói lại với tôi, đôi mắt nâu tìm thấy mắt tôi trong bóng tối.

“Ôi.” Tôi nói.

“Ôi.” Anh lặp lại.

Chúng tôi chỉ nói có một từ, nhưng đột nhiên tôi thấy bối rối. Dường như chúng tôi đang chẳng còn nói về Michelle Shocked nữa.

“Đây là hoa gì nhỉ?” Tôi hỏi, chỉ vào những khóm hoa nở khắp xung quanh chúng tôi, bất thần sợ rằng anh sẽ hôn tôi. Không phải là tôi không muốn hôn anh. Mà vì tôi chưa từng hôn ai kể từ khi hôn Joe hơn hai tháng trước, và lần nào không hôn hít gì lâu như thế tôi đều chắc chắn là mình đã quên cách hôn rồi. Để trì hoãn nụ hôn ấy, tôi hỏi anh về công việc ở nông trại và ở câu lạc bộ, về quê quán và gia đình, về người bạn gái mới đây nhất của anh và họ đã ở bên nhau bao lâu rồi và tại sao lại chia tay, anh chỉ trả lời mà chẳng hỏi lại tôi điều gì.

Điều đó chẳng quan trọng với tôi lắm. Bàn tay anh quàng qua vai tôi cảm giác thật dễ chịu, và rồi còn dễ chịu hơn nữa khi anh dịch nó xuống dưới eo tôi và đến lúc chúng tôi xoay người trở lại lều của anh và anh quay sang hôn tôi thì tôi nhận ra tôi vẫn biết cách hôn như thế nào. Tất cả những thứ anh trả lời không đúng trọng tâm hay việc anh không hỏi lại tôi điều gì đều tan biến mất.

“Thế này thích thật.” Anh nói và chúng tôi mỉm cười với nhau, thẹn thùng đúng kiểu hai người lần đầu hôn nhau. “Anh rất vui vì em đến đây.”

“Em cũng thế.” Tôi nói. Tôi căng thẳng nhận ra bàn tay anh đặt trên eo tôi thật ấm qua làn vải mỏng của chiếc áo phông, lần lần mép trên chiếc quần jean. Chúng tôi đang đứng ở khoảng giữa chiếc xe hơi của Jonathan và lều của anh. Đó là hai con đường dành cho tôi: quay trở lại, ngủ một mình trên chiếc giường dưới chái nhà nhô ra của nhà nghỉ ở Ashland, hoặc leo lên giường với anh.

“Nhìn lên trời kìa.” Anh nói. “Toàn sao là sao.”

“Đẹp nhỉ.” Tôi nói, mặc dù không nhìn lên trời. Tôi nhìn khắp vùng đất tối điểm xuyết bởi những chấm sáng li ti, những ngôi nhà và những nông trại trải dài khắp thung lũng. Tôi nghĩ đến Clyde, hoàn toàn một mình dưới cùng một bầu trời, đọc những cuốn sách hay trong chiếc xe tải của ông. Tôi băn khoăn không biết PCT ở đâu. Dường như là ở đâu đó rất xa xôi. Tôi nhận ra tôi chưa kể với Jonathan bất cứ điều gì về nó ngoài mẩu thông tin mà tôi hét vào tai anh giữa tiếng nhạc vào đêm hôm trước. Anh đã không hỏi gì.

“Anh không biết đó là gì nữa.” Jonathan nói. “Giây phút nhìn thấy em, anh biết là anh phải đến và nói chuyện với em. Anh biết em chắc chắn là tuyệt cú mèo.”

“Anh cũng tuyệt cú mèo.” Tôi nói, mặc dù tôi chưa dùng từ tuyệt cú mèo bao giờ.

Anh nghiêng người về phía trước và hôn tôi lần nữa, tôi hôn lại anh nồng thắm hơn trước. Chúng tôi đứng đó hôn nhau giữa cái lều và chiếc xe hơi của anh với những luống ngô, hoa và trăng sao, cảm tưởng như đó là điều tuyệt vời nhất trên thế gian này. Tay tôi lần chầm chậm lên mái tóc xoăn của anh, xuống đôi vai vững vàng của anh, dọc theo cánh tay khỏe khoắn của anh và quanh tấm lưng rắn chắc của anh, ghì tấm thân đàn ông tuyệt đẹp của anh vào thân người tôi. Chưa có lúc nào làm chuyện này mà tôi không nhớ lại rằng mình đã yêu đàn ông nhiều như thế nào.

“Em có muốn vào trong không?” Jonathan hỏi.

Tôi gật đầu. Anh bảo tôi chờ ngoài này để anh vào trong bật điện và bình sưởi lên. Chỉ phút sau anh đã trở lại, vén cái rèm cửa ra cho tôi, và tôi bước vào trong.

Đó là một kiểu lều mà tôi chưa từng được ở bên trong bao giờ. Một kiểu lều sang trọng, ấm áp nhờ một cái máy sưởi tí xíu và thấp vừa đủ để đứng trong lều. Căn lều có lối đi lại rộng rãi và không bị vướng bởi cái giường đôi ở ngay giữa. Ở hai bên giường có những tủ ngăn nhỏ nhắn bằng giấy các tông, bên trên là hai bóng điện chạy bằng pin trông giống như hai ngọn nến.

“Yêu quá.” Tôi nói khi đứng cạnh anh ở khoảng nhỏ giữa cánh cửa và đầu giường, rồi anh kéo tôi về phía anh và chúng tôi hôn lần nữa.

“Hỏi cái này thì hơi buồn cười.” Một lúc sau anh nói. “Anh không muốn phỏng đoán, vì nếu chúng ta chỉ, em biết đấy, đi loanh quanh thôi anh cũng vui rồi – thế là tuyệt cú mèo rồi – hoặc nếu em muốn anh đưa em quay trở lại nhà nghỉ – ngay bây giờ, nếu em muốn, dù anh hy vọng em không muốn thế. Nhưng... trước khi, không phải là chúng ta nhất thiết phải làm điều này – nhưng trong trường hợp chúng ta... Ý anh là, anh không bị sao cả, không bị bệnh tật hay bất cứ thứ gì, nhưng nếu chúng ta... Em có bao cao su đấy không?”

“Anh không có bao cao su à?” Tôi hỏi.

Anh lắc đầu.

“Em cũng không có bao cao su.” Tôi nói. Đó là điều buồn cười nhất trên đời, bởi thực tế là tôi đã mang một cái bao cao su đi qua khắp những hoang mạc thiêu đốt và những dốc băng ngất trời và những rừng những suối, qua những ngày đau đớn, chán ngắt và phấn chấn chỉ để tới đây, trong một cái lều sang trọng được sưởi ấm, với một cái giường đôi và ánh nến chạy bằng pin, nhìn vào đôi mắt của một người đàn ông nóng bỏng, ngọt ngào, miệt mài, mắt nâu và yêu thích Michelle Shocked mà không có cái bao cao su ấy, chỉ vì tôi có hai khoảng da thịt to bằng lòng bàn tay ở bên hông nhăn nheo thô nhám và tôi đã thề thốt ác liệt là sẽ không cởi quần ra nên đã bỏ lại nó trong túi đồ sơ cứu trong ba lô tại cái thị trấn mà có Chúa mới biết là đâu đó thay vì làm cái điều có lý và thực tế hơn là nhét nó vào trong chiếc ví giả nhỏ phảng phất mùi dầu trắng của mình.

“Không sao mà.” Anh thì thầm, nắm lấy hai bàn tay tôi. “Bọn mình ngồi chơi thôi cũng được. Thực ra có khối thứ mình có thể làm.”

Và thế là chúng tôi lại hôn nhau. Rồi hôn, hôn và hôn, bàn tay anh lang thang khắp trên áo quần tôi, bàn tay tôi lang thang khắp trên áo quần anh.

“Em có muốn cởi áo ra không?” Được một lúc, anh thì thầm, kéo người ra khỏi tôi, và tôi cười vì tôi thực muốn cởi áo mình ra, thế rồi tôi cởi và anh đứng đó nhìn tôi trong chiếc áo lót dây đen mà tôi đã gói ghém hàng tháng trước vì tôi nghĩ khi đến Ashland mình có thể muốn mặc nó và tôi lại cười lần nữa khi nhớ về điều đó.

“Em cười gì thế?” Anh hỏi.

“Chỉ là... Anh có thích cái áo lót của em không?” Tôi vẫy tay khoa trương để diễn tả. “Nó đã đi quãng đường hơi xa đấy.”

“Anh rất vui vì nó đã tìm được đường đến đây.” Anh nói rồi đưa tay ra, khẽ chạm ngón tay lên gờ của một trong những cái dây áo gần xương cổ tôi. Nhưng thay vì kéo nó tụt khỏi vai tôi như tôi nghĩ, anh lại đưa ngón tay chầm chầm dọc theo gờ trên phía trước của cái áo và rồi lần hết quanh đường gờ dưới. Tôi nhìn khuôn mặt anh trong khi làm thế. Cảm giác còn nồng nàn gần gũi hơn cả hôn anh. Cho đến lúc đã lần hết theo đường gờ của cái áo, anh chẳng động chút nào vào tôi nhưng tôi đã ướt đến mức khó mà đứng dậy nổi.

“Lại đây nào.” Tôi nói, kéo anh về với tôi và rồi ngả lên giường, hất đôi xăng đan ra. Cả hai vẫn còn mặc quần jean, nhưng anh ấy đã cởi áo ra và tôi thì đã cởi áo lót và ném nó vào góc lều, chúng tôi hôn nhau và lăn mình lên nhau cho đến khi mệt lử và nằm bên cạnh nhau và hôn thêm nữa. Bàn tay anh lang thang khắp nơi từ tóc tôi đến ngực tôi đến eo tôi và cuối cùng là cởi cúc quần trên của tôi, đúng lúc tôi nhớ về những mảng thịt nhăn nhúm trên hông, tôi lăn người ra khỏi anh.

“Anh xin lỗi.” Anh nói. “Anh tưởng em...”

“Không phải thế. Chỉ là... Có vài thứ em nên nói với anh trước.”

“Em có chồng rồi à?”

“Không.” Tôi nói, mặc dù phải một giây sau tôi mới nhận ra mình đang nói sự thật. Paul xẹt qua tâm trí tôi. Và đột nhiên, tôi ngồi dậy... “Anh có vợ không?” Tôi hỏi, quay ra chất vấn Jonathan đang nằm đằng sau tôi.

“Không vợ. Không con.” Anh trả lời.

“Anh bao nhiêu tuổi?” Tôi hỏi.

“34.”

“Em 26.”

Chúng tôi ngồi ngẫm nghĩ về chuyện đó. Anh 34 tuổi, thật hoàn hảo với tôi. Dù anh không hỏi bất kỳ điều gì về tôi, nhưng ít nhất tôi đã lên giường với một người đàn ông không còn là cậu trai nữa.

“Em muốn nói gì với anh?” Anh hỏi, đặt tay lên tấm lưng trần của tôi. Khi anh làm thế, tôi bắt đầu nhận ra mình đang run rẩy. Tôi băn khoăn không biết anh có nhận ra điều đó hay không.

“Em cứ hơi tự ti về cái này. Da trên hông em... Kiểu... Anh có nhớ tối qua em bảo anh là em đang dở chuyến đi bộ trên đường mòn tên là PCT không? Em phải đeo ba lô suốt, chỗ hông mà quai ba lô cọ xát vào da ấy, nó thành ra...” Tôi tìm cách giải thích để tránh phải dùng đến mấy cụm vỏ cây và da gà chết bị vặt lông – “nó xù xì, kiểu chai lại vì đi bộ quá nhiều. Em chỉ không muốn anh bị sốc nếu...”

Giọng tôi nhỏ dần, hết hơi, lời tôi nói bị nuốt trọn vào cơn khoái cảm thuần khiết trên khoảnh lưng nhỏ nơi đôi môi của anh đặt lên, trong khi tay anh vòng ra trước để hoàn thành nhiệm vụ cởi khuy quần jean của tôi. Anh ngồi dậy, bộ ngực trần của anh tì vào tôi. Anh gạt mái tóc tôi sang bên, rồi hôn vào cổ và vai tôi cho đến khi tôi quay lại và kéo anh xuống với tôi trong khi tôi trườn cởi cái quần ra còn anh thì hôn dọc xuống thân người tôi từ tai đến họng đến xương cổ đến ngực đến rốn và đến cạp quần lót, anh đã tự kéo nó xuống khi hôn đến những mảng thịt trên xương hông mà tôi mong anh đừng động đến.

“Ôi em yêu.” Anh thì thầm, miệng anh mềm mại, ấn vào phần chai sạn nhất của tôi. “Em không phải lo gì hết đâu.”

Thật vui hết sức. Còn hơn cả vui. Giống như là một lễ hội trong lều ấy. Chúng tôi ngủ lúc sáu giờ và hai giờ sau thì tỉnh dậy, kiệt sức nhưng tỉnh táo, cơ thể chúng tôi cũng thao thức chẳng ngủ thêm nổi.

“Hôm nay anh được nghỉ.” Jonathan nói, anh ngồi dậy. “Em có muốn đi ra biển không?”

Tôi ưng theo mà không biết chính xác biển ở chỗ nào. Ngày hôm đó tôi cũng nghỉ, ngày nghỉ cuối cùng. Ngày mai tôi sẽ trở lại với con đường, thẳng tiến đến hồ Crater. Chúng tôi mặc quần áo và lái xe trên một con đường uốn lượn khá xa, mất vài tiếng đồng hồ xuyên qua khu rừng và lên vùng núi ven biển. Chúng tôi uống cà phê, ăn bánh nướng và nghe nhạc khi lái xe đi, quẩn quanh cái chủ đề đã nói tối hôm trước: âm nhạc, dường như đó là chủ đề duy nhất mà chúng tôi có thể thảo luận. Đến lúc tấp vào một thị trấn ven biển trên là Brookings, tôi hơi tiếc nuối vì đã đồng ý đến đây, không chỉ vì niềm ham thích của tôi đối với Jonathan đang phai nhạt mà còn vì chúng tôi đã lái xe tận ba tiếng đồng hồ. Cảm giác thật lạ lùng khi đi xa khỏi PCT, như thể tôi đã phản bội nó theo một cách nào đó vậy.

Bãi biển tuyệt đẹp đã khiến tôi quên đi cảm giác đó. Khi bước dọc bờ biển bên cạnh Jonathan, tôi nhận ra trước đây tôi cũng từng ở chính bãi biển này, với Paul. Chúng tôi đã cắm trại ở khu cắm trại trong vườn quốc gia gần đó trong chuyến phượt dài ngày sau khi rời New York – chuyến đi mà chúng tôi đã đến được với Hẻm Lớn và Vegas, Big Sur và San Francisco, và cuối cùng đến Portland. Chúng tôi đã dừng lại cắm trại ở chính bãi biển này trên đường đi. Chúng tôi đốt lửa, nấu bữa tối và chơi bài ở một cái bàn dã ngoại, rồi bò vào sau xe tôi để làm tình trên một tấm nệm. Ký ức đó giống như một cái áo choàng trên da dẻ tôi. Tôi vẫn nhớ tôi là ai khi ở đấy cùng Paul, tôi đã tưởng điều gì sẽ xảy ra, những gì đã xảy ra thực, tôi là ai lúc này, và mọi thứ đã thay đổi như thế nào.

Jonathan đã không hỏi tôi đang nghĩ gì mặc dù tôi trở nên im lặng. Chúng tôi chỉ sóng bước bên nhau trong yên lặng, đi qua chẳng mấy người mặc dù đó là chiều chủ nhật, đi bộ và đi bộ cho tới tận khi chẳng còn ai ngoài chúng tôi.

“Dừng ở đây nhé?” Jonathan hỏi khi chúng tôi đến một chỗ có một vòm đá tối ở phía sau. Tôi nhìn anh trải ra một tấm khăn, đặt túi đồ ăn trưa mà anh mua ở Safeway lên trên đó, và ngồi xuống.

“Em muốn đi bộ một chút, anh không phiền chứ.” Tôi nói, để lại đôi xăng đan gần cái khăn. Thật tuyệt vời khi được ở một mình, gió vờn mái tóc tôi, cát xoa dịu bàn chân tôi. Khi đi bộ, tôi nhặt những viên đá xinh xắn mà tôi sẽ không thể mang theo. Đến chỗ xa xa không thể nhìn ra Jonathan nữa, tôi cúi xuống và viết tên của Paul lên cát.

Tôi đã làm thế nhiều lần trước đó. Tôi đã làm thế trong nhiều năm trời – bất cứ khi nào tới một bãi biển kể từ khi yêu Paul lúc 19 tuổi, bất kể chúng tôi có đi cùng nhau hay không. Nhưng lần này viết tên anh ấy, tôi biết đây là lần cuối cùng. Tôi không muốn làm đau anh nữa, không muốn cứ phải tự hỏi mình có sai lầm không khi rời xa anh như thế, không muốn giày vò bản thân với đủ những kiểu tôi đã giày vò anh nữa. Sẽ thế nào nếu tôi tha thứ cho chính mình? Tôi nghĩ. Sẽ thế nào nếu tôi tha thứ cho bản thân, dù tôi đã làm điều gì đó lẽ ra tôi không nên làm? Sẽ thế nào nếu tôi là một kẻ nói dối, một kẻ phản bội và chẳng có lời nào biện minh cho những gì đã làm ngoài việc vì tôi muốn thế và cần phải làm thế? Sẽ thế nào nếu tôi cảm thấy hối tiếc, nhưng nếu có thể quay ngược thời gian thì tôi cũng sẽ không làm khác đi? Sẽ thế nào nếu tôi thực sự muốn ngủ với tất cả những người đàn ông này? Sẽ thế nào nếu ma túy đã dạy tôi một điều gì đó? Sẽ thế nào nếu có là câu trả lời hợp lý thay vì không? Sẽ thế nào nếu chính những lý do khiến tôi làm tất cả những điều mà mọi người nghĩ tôi không nên làm đã đưa đẩy tôi đến đây? Sẽ thế nào nếu tôi không bao giờ được cứu rỗi? Sẽ thế nào nếu tôi đã được cứu rỗi rồi?

“Anh có muốn mấy viên này không?” Tôi hỏi Jonathan khi trở lại với anh, xòe ra những viên đá mà tôi đã nhặt được.

Anh mỉm cười, lắc đầu, nhìn tôi để chúng rơi trở về với cát.

Tôi ngồi xuống cạnh anh trên tấm khăn, và anh lôi những thứ trong cái túi Safeway ra – mấy cái bánh sừng bò và phô mai, một bình nhựa hình con gấu nhỏ đựng mật ong, chuối và cam anh đem bóc vỏ cho tôi. Tôi ăn cho tới khi anh lấy một ngón tay quệt đầy mật ong, bôi lên môi tôi, và hôn sạch nó đi, cuối khúc còn cắn tôi thật nhẹ nhàng.

Và thế là bắt đầu một trận chiến mật ong bên bờ biển. Tham gia là anh, tôi, mật ong và chắc chắn là cả một ít cát. Miệng tôi, miệng anh, và mọi chỗ từ cánh tay mềm mại tới ngực tôi. Khắp đôi vai trần phẳng rộng xuống đến núm ti và rốn của anh rồi dọc theo cạp quần của anh, cho đến khi tôi không thể chịu được nữa.

“Ôi.” Tôi thở hổn hển vì dường như đó đã trở thành ngôn ngữ của chúng tôi. Nó biểu đạt cho những gì tôi không nói ra, rằng đối với một gã trai không phải là người hay nói cho lắm thì anh là một người tuyệt vời ở trên giường. Và tôi thậm chí còn chưa làm tình với anh.

Chẳng nói một lời, anh lấy một cái hộp bao cao su từ cái túi Safeway và xé nó ra. Khi anh đứng dậy, anh với lấy tay tôi và kéo tôi đứng dậy theo. Tôi theo anh qua bãi cát đến chỗ có nhiều đá tạo thành một cái vòm và chúng tôi quây vào trong nó, tạm coi là đủ riêng tư trên một bãi biển công cộng – một cái khe giữa những tảng đá tối giữa thanh thiên bạch nhật. Làm tình ngoài trời không phải là điều tôi thích cho lắm. Tôi chắc chắn trên hành tinh này có một người phụ nữ sẽ chọn những chỗ ngoài trời mặc cho đó là nơi bệ rạc tạm bợ nhất, nhưng tôi chưa từng gặp cô ta, mặc dù vào ngày hôm đó tôi quyết định rằng có những tảng đá che chắn là cũng tương đối ổn rồi. Suy cho cùng, hai tháng vừa qua tôi đã làm tất cả mọi chuyện khác ngoài trời. Chúng tôi cởi quần áo của nhau ra và tôi hạ đôi mông trần lên một tảng đá dốc, quặp chân quanh Jonathan cho đến khi anh xoay người tôi lại và tôi ôm chặt lấy tảng đá. Ngoài những tàn dư của mật ong còn có mùi muối khoáng, cát, mùi lau sậy của rêu đá và phù du. Chẳng bao lâu sau, tôi đã quên mình đang ở ngoài trời, quên cả mùi mật ong, quên cả việc anh có hỏi tôi một câu hỏi nào hay không.

Chẳng có nhiều thứ để nói khi chúng tôi lái xe nhiều tiếng dài trở lại Ashland. Tôi mệt mỏi vì làm tình và thiếu ngủ, vì cát, Mặt trời và mật ong, đến mức chẳng động lời nổi. Chúng tôi yên lặng và bình yên bên nhau, nhạc Neil Young tràn ngập khắp trên con đường về nhà nghỉ, ở đó, không kiểu cách cầu kỳ, chúng tôi kết thúc buổi hẹn hò 24 giờ của mình.

“Cảm ơn anh vì tất cả.” Tôi nói, rồi hôn anh. Trời đã tối rồi, lúc đó là chín giờ tối chủ nhật, thị trấn yên ắng hơn tối trước, ẩn mình ngơi nghỉ, một nửa du khách đã về nhà.

“Địa chỉ của em.” Anh nói, đưa cho tôi một mảnh giấy và một cái bút. Tôi viết địa chỉ của Lisa, trong lòng dâng lên một cảm giác gì đó không hẳn là buồn bã, không hẳn là hối tiếc, và cũng không hẳn là khát khao, mà là hòa trộn của tất cả những thứ đó. Tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời không thể phủ nhận được, nhưng giờ đây tôi cảm thấy trống rỗng. Giống như điều gì đó mà chỉ đến khi đạt được rồi tôi mới biết rằng mình đã muốn nó.

Tôi đưa cho anh mảnh giấy.

“Đừng quên xắc của em.” Anh nói, tay nhặt cái túi đựng bếp nho nhỏ màu đỏ của tôi lên.

“Tạm biệt anh.” Tôi nói, cầm lấy cái xắc từ tay anh và bước đến cửa.

“Đừng nhanh quá thế.” Anh nói, kéo tôi lại với anh. Anh hôn tôi thật mạnh và tôi hôn anh còn nồng nàn hơn, như thể đây là kết thúc của một thời đại đã trải dài toàn bộ cuộc đời tôi.

Sáng hôm sau tôi mặc quần áo đi đường – vẫn cái áo ngực thể thao cũ vấy bẩn và cái quần soóc đi bộ màu xanh hải quân sờn chỉ mà tôi đã mặc từ ngày đầu tiên, cùng một đôi tất len mới và cái áo phông mới cuối cùng mà tôi sẽ mặc từ đây đến hết con đường, một cái áo xám thạch lam có dòng chữ màu vàng ĐẠI HỌC CALIFORNIA BERKELEY ngang ngực. Tôi đi bộ đến cửa hàng thực phẩm hữu cơ, Quái Vật đeo trên lưng, cái gậy tuyết treo lủng lẳng trên cổ tay, và một cái hộp ôm trong tay, chiếm lấy một cái bàn ở khu bán thức ăn trong cửa hàng để sắp xếp lại cái ba lô của mình.

Khi tôi làm xong, Quái Vật đã được xếp đồ gọn ghẽ, ngồi cạnh một cái hộp nhỏ đựng quần jean, áo lót và quần lót mà tôi định gửi trở lại cho Lisa, và một cái túi đựng chỗ thức ăn mà tôi chịu không thể ăn được nữa mà tôi định để lại vào cái hộp miễn phí cho người đi PCT ở bưu điện trên đường ra khỏi thị trấn. Vườn quốc gia hồ Crater là điểm tiếp theo của tôi, khoảng 177 km. Tôi cần trở lại PCT thế nhưng vẫn lưỡng lự rời Ashland. Tôi lục trong cái ba lô của mình, tìm thấy cái vòng đeo cổ Strayed và đeo lên. Tôi với tay và động vào cái lông quạ Doug đã đưa cho tôi. Nó vẫn ở cái chỗ tôi cài vào ba lô ngay từ đầu, dù đã xơ xác và hơi te tua. Tôi kéo khóa cái túi hông lấy bộ đồ sơ cứu, và mở cái túi sơ cứu ra. Cái bao cao su tôi mang theo suốt từ Mojave vẫn còn nguyên ở đó. Tôi lấy nó ra và bỏ vào cái bao đựng đồ bằng nhựa cùng với chỗ thức ăn mà tôi không cần, rồi tôi nhấc bổng Quái Vật lên lưng, đi khỏi cửa hàng đó, mang theo cái hộp cùng túi đồ bằng nhựa.

Đi chưa được bao xa thì tôi gặp người đàn ông đeo băng đô mà tôi đã gặp ở hồ Con Cóc đang ngồi bên đường nơi tôi đã nhìn thấy anh ta trước đây, trước mặt là lon cà phê và tấm biển bằng bìa các tông nhỏ của anh ta. “Tôi đang rời khỏi đây,” tôi nói, dừng lại trước mặt anh ta.

Anh ta nhìn lên và gật đầu. Có vẻ anh ta vẫn không nhận ra tôi – cả từ lần gặp mặt ở hồ Con Cóc lẫn từ vài ngày trước.

“Tôi đã gặp anh khi bọn anh đi tìm Lễ hội Cầu vồng.” Tôi nói. “Tôi ở đấy với một người phụ nữ tên là Stacy. Chúng tôi đã nói chuyện với anh.”

Anh ta gật đầu lần nữa, lắc lắc mấy đồng xu lẻ trong cái lon.

“Tôi có ít đồ ăn ở đây, tôi không cần nữa, nếu anh muốn.” Tôi nói, đặt cái túi đồ bằng nhựa xuống cạnh anh ta.

“Cảm ơn cưng.” Anh ta nói khi tôi bắt đầu bước đi.

Tôi dừng bước và quay đầu lại.

“Này.” Tôi gọi. “Này!” Tôi la to cho đến khi anh ta nhìn tôi.

“Đừng có gọi tôi là cưng.” Tôi nói.

Anh ta chắp hai tay lại với nhau như thể đang cầu nguyện và cúi đầu.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.