MIỀN SÁNG

Hoang Dã - Hành Trình Tìm Lại Mình Trên Đường Mòn Pacific Crest

Lượt đọc: 143 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10 - MIỀN SÁNG

❊ ❊ ❊

Nhà nghỉ hồ Packer hiện ra giống như một cú đấm vậy. Đó là một nhà hàng. Có thức ăn. Và tôi thì cứ như một chú chó chăn cừu Đức vậy. Tôi có thể ngửi thấy mùi thức ăn ngay khi ra khỏi chiếc xe hơi. Tôi cảm ơn cặp đôi cho tôi đi nhờ xe và bước vào tòa nhà nhỏ, để Quái Vật ở ngoài thềm trước khi bước vào trong. Nơi này đông khách du lịch, hầu hết bọn họ đều thuê một trong những cabin đơn giản xung quanh nhà hàng. Họ dường như không chú ý mấy đến ánh mắt tôi nhìn xoáy vào đĩa thức ăn của họ khi tôi tiến tới quầy: những chồng bánh pancake viền thịt lợn ba chỉ, đống trứng bày biện thanh nhã, hoặc – đau khổ nhất là – những cái bánh kẹp bơ ngập trong những ụ khoai tây chiên thái răng cưa. Nhìn thấy chúng tôi như sụm hết cả xuống.

“Cô có nghe tin gì về tuyết dày ở phía bắc trên kia không?” Tôi hỏi người phụ nữ làm việc ở quầy thu tiền. Nhìn cái cách cô ta đưa mắt quan sát cô bồi bàn cầm bình cà phê di chuyển quanh căn phòng, tôi có thể nói cô ta là sếp ở đây. Tôi chưa bao giờ gặp người phụ nữ này nhưng như thể tôi đã làm việc cho cô ta hàng nghìn lần rồi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ xin một công việc vào mùa hè này và dừng chuyện đi PCT lại.

“Từ đây lên chỗ nào cũng ngập tuyết.” Cô ta trả lời. “Tất cả những người đi bộ đường dài năm nay đều bỏ đường này. Họ đều chọn đường cao tốc Gold Lake để đi thay.”

“Cao tốc Gold Lake?” Tôi hỏi, phát cuồng lên. “Có người đàn ông nào qua đây trong mấy ngày qua không? Tên là Greg. Tầm 40 tuổi. Tóc nâu, râu quai nón.”

Cô ta lắc đầu, nhưng cô bồi bàn lảnh lót kể rằng cô đã nói chuyện với một người đi bộ PCT giống thế, dù cô không biết tên anh ta.

“Cô có thể ngồi xuống nếu muốn ăn gì.” Người phụ nữ nói.

Cái thực đơn ở ngay trên quầy và tôi cầm lên chỉ để nhìn qua. “Cô có thứ gì không quá 60 xu không?” Tôi hỏi cô ta với cái giọng pha trò, khẽ đến mức khó lòng át được tiếng ồn ào.

“75 xu một cốc cà phê. Uống thêm tùy thích.” Cô ta trả lời.

“Thực ra tôi có bữa trưa trong ba lô rồi,” tôi nói và bước về phía cửa, đi qua những cái đĩa bỏ đi vun đầy những miếng vụn thức ăn hoàn toàn có thể ăn được mà không ai ngoài tôi, những con gấu và những con gấu mèo có thể sẵn lòng ngấu nghiến. Tôi tiếp tục đi ra ngoài thềm và ngồi cạnh Quái Vật. Tôi lôi 60 xu ra khỏi túi và nhìn vào những đồng xu bạc trong bàn tay như thể nếu cứ nhìn thật chăm chú thì chúng sẽ nhân đôi lên vậy. Tôi nghĩ đến cái hộp đang chờ tôi ở thị trấn Belden với đồng 20 đô bên trong. Tôi đang đói ngấu và đúng thật là tôi có bữa trưa trong ba lô, nhưng lại chẳng có lòng dạ nào mà ăn. Thay vì thế, tôi lật những trang sách cuốn hướng dẫn, một lần nữa lại cố bày ra một kế hoạch mới.

“Cô nghe thấy cháu nói chuyện về đường mòn Pacific Crest trong kia,” một người phụ nữ nói. Bà tầm trung tuổi và mảnh khảnh, mái tóc vàng bạch kim cắt ngắn ôm vào đầu. Mỗi tai bà đeo một viên hoa tai bằng kim cương.

“Cháu đang dành vài tháng để đi qua nó.” Tôi nói.

“Hơi bị ngầu đấy.” Bà mỉm cười. “Cô lúc nào cũng băn khoăn về những người làm chuyện này. Cô biết con đường ở đâu đó trên kia.” Bà nói, chỉ tay về phía tây, “nhưng cô chưa bao giờ tới đó cả.” Bà tiến đến gần hơn và trong một khoảnh khắc tôi nghĩ bà định ôm tôi, nhưng bà chỉ vỗ vào cánh tay tôi. “Cháu không đi một mình chứ hả?” Khi tôi gật đầu, bà cười to và đưa tay lên ngực. “Trời ơi, thế mẹ cháu nói gì về vụ này?”

“Mẹ cháu mất rồi.” Tôi nói, thiểu não và đói đến mức không đủ sức để nói giảm tránh đi với một chút xót thương như bình thường tôi vẫn làm.

“Ôi. Buồn nhỉ.” Kính râm của bà nằm trên ngực, lủng lẳng treo trên một sợi hạt màu tùng lam lấp lánh. Bà cầm chúng và đeo lên. Tên bà là Christine, đang ở cùng chồng với hai cô con gái tuổi teen trong một cabin gần đó. “Cháu có muốn trở lại đó với cô và tắm táp một chút không?” Bà hỏi.

Chồng của Christine, Jeff, làm cho tôi một cái sandwich khi tôi đang tắm. Lúc tôi bước ra từ phòng tắm, nó đã nằm trên một cái đĩa, cắt chéo và viền quanh bởi những lát bánh bắp xanh và dưa chua.

“Nếu cháu thích thêm thịt thì cứ tự nhiên nhé,” Jeff nói, đẩy một khay đầy thịt nguội về phía tôi. Ông đẹp trai và mập mạp, mái tóc đen uốn lượn và xam xám ở hai bên thái dương. Ông ấy là một thẩm phán, Christine kể với tôi vậy trong lúc đi bộ đoạn đường ngắn từ nhà hàng tới cabin của họ. Họ sống ở San Francisco nhưng năm nào cũng ở đây vào tuần đầu tiên của tháng bảy.

“Chắc chỉ cần thêm vài lát thôi, cháu cảm ơn ạ.” Tôi nói và lấy thịt ngỗng ra vẻ thờ ơ.

“Là thực phẩm hữu cơ đấy, nếu cháu quan tâm đến vụ đó.” Christine nói. “Và được nuôi nấng rất tử tế. Bọn cô đã cố gắng theo hướng này. Anh quên pho mát rồi.” Bà trách Jeff, và tới tủ lạnh để lấy pho mát. “Cháu có muốn một ít pho mát thì là Havarti lên sandwich không, Cheryl?”

“Thế này là được rồi ạ. Cảm ơn cô.” Tôi lịch sự nói, nhưng bà vẫn cắt một ít đem đến cho tôi, và tôi giải quyết nhanh đến nỗi bà lẳng lặng quay trở lại bàn bếp và cắt thêm nữa. Bà lấy cái túi bim bim rồi đổ thêm một ụ đầy khác lên đĩa của tôi, rồi bật một lon xá xị và đặt trước tôi. Nếu bà có lôi sạch đồ trong cái tủ lạnh ra thì chắc tôi cũng sẽ đánh bay đến miếng cuối cùng mất. “Cảm ơn cô ạ.” Mỗi lần bà đặt một món khác lên bàn tôi lại nói.

Tôi có thể nhìn thấy Jeff và hai con gái của Christine bên ngoài bếp qua cửa kính trượt. Hai chị em đang ngồi trên cái ghế dựa đôi ngoài hè, xem tạp chí Seventeen (Tuổi mười bảy) và People (Con người), tai đeo tai nghe.

“Con gái cô bao tuổi rồi ạ?” Tôi hỏi, hất đầu về phía hai chị em.

“16 và gần 18,” Christine nói. “Sắp vào năm hai và năm cuối trung học.”

Có lẽ hai chị em cảm thấy ánh mắt của chúng tôi nên ngước nhìn lên. Tôi vẫy tay, và họ ngại ngùng vẫy lại trước khi quay về với những cuốn tạp chí.

“Nếu con cô cũng làm chuyện gì đó như cháu đang làm thì cô thích lắm. Nếu chúng dũng cảm và mạnh mẽ được như cháu.” Christine nói. “Nhưng có thể thực ra không dũng cảm đến thế. Cô nghĩ cô sẽ sợ chết khiếp nếu có đứa nào đi như cháu. Cháu có sợ không, lúc chỉ có một mình ấy?”

“Thỉnh thoảng ạ.” Tôi nói. “Nhưng không nhiều như cô nghĩ đâu.” Mái tóc ướt của tôi nhỏ giọt lên vai chiếc áo sơ mi đã bẩn. Tôi biết là quần áo của tôi bốc mùi, dù bên dưới lớp quần áo này, tôi đang thấy mình sạch sẽ hơn bao giờ hết. Được tắm rửa gần như là một kiểu thoát xác thiên đường sau nhiều ngày đổ mồ hôi lạnh lẽo bên trong lớp quần áo, nước nóng và xà phòng kỳ sạch tôi. Tôi thấy mấy cuốn sách nằm rải rác ở phía đầu bàn bên kia – cuốn Mating (Kết đôi) của Norman Rush, cuốn A Thousand Acres (Một ngàn mẫu) của Jane Smiley, và cuốn The Shipping News (Tin tức tàu chở hàng) của E. Annie Proulx. Tôi đã đọc những cuốn này và rất thích chúng, tôi đã quen thuộc với những cái bìa của chúng, và chỉ cần nhìn thấy chúng là tôi cảm thấy mình đang ở đâu đó như ở nhà vậy. Có lẽ Jeff và Christine sẽ để tôi ở lại đây với họ, tôi nghĩ hết sức vớ vẩn như vậy. Tôi có thể là một trong những đứa con gái của họ, đọc những cuốn tạp chí trong khi phơi nắng ngoài hè. Nếu họ đề nghị, tôi sẽ nói vâng.

“Cháu có thích đọc không?” Christine hỏi tôi. “Nhà cô đến đây và đọc sách. Đó là ý tưởng thư giãn của cả nhà.”

“Cháu chỉ chờ đến cuối ngày để được đọc sách.” Tôi nói. “Cuốn cháu đang đọc là Những câu chuyện hoàn tất của Flannery O’Connor.” Tôi vẫn còn nguyên cuốn đó trong ba lô. Tôi không đốt từng trang từng trang đã đọc của cuốn sách đó, bởi xác định rõ là sẽ chẳng biết bao lâu nữa mới đến được cái hộp tiếp tế tiếp theo, do tuyết và những thay đổi kế hoạch của mình. Tôi đã đọc hết cả quyển và đã đọc lại từ đầu vào đêm trước.

“Ồ, nếu cháu thích thì có thể lấy một trong những cuốn này.” Jeff nói, đứng dậy với lấy cuốn Kết đôi. “Nhà chú đọc hết cả rồi. Hoặc nếu cháu không thích thì có thể lấy cuốn này.” Ông nói, và biến mất vào phòng ngủ. Lát sau, ông trở lại với một cuốn sách bìa mềm to bự của James Michener và đặt cạnh cái đĩa ăn bây giờ đã trống không của tôi.

Tôi nhìn cuốn sách. Nó tên là The Novel (Tiểu thuyết), tôi chưa từng nghe tới hay đọc bao giờ, mặc dù James Michener đã từng là tác giả yêu thích của mẹ tôi. Đến tận khi đi học đại học tôi mới biết được có gì đó sai sai trong chuyện này. Một người mua vui cho đám đông, một trong những giáo sư đã chế giễu như vậy sau khi hỏi tôi đọc những sách nào. Ông ta khuyên tôi rằng không nên quan tâm đến kiểu nhà văn như Michener nếu tôi thực sự muốn trở thành một nhà văn. Tôi cảm thấy mình như một con ngốc vậy. Tất cả những năm tháng tuổi teen, tôi đã nghĩ bản thân mình thật cao siêu khi thấm nhuần những Poland (Ba Lan) và The Drifters (Những tàu thủy lôi), Space (Không gian) và Sayonana (Vĩnh biệt). Trong tháng đầu học đại học, tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi chẳng biết gì về việc người nào là quan trọng và người nào thì không.

“Mẹ có biết đây không phải là văn học thực thụ không?” Tôi nói với mẹ bằng cái giọng khinh thường khi ai đó tặng mẹ cuốn Texas làm quà Giáng Sinh năm đó.

“Thực thụ á?” Mẹ nhìn tôi, tò mò xen lẫn ngạc nhiên.

“Ý con nói là nghiêm túc ấy. Văn chương đích thực xứng đáng để mẹ bỏ thời gian ra đọc ấy.” Tôi trả lời.

“Ồ, thời gian của mẹ chưa bao giờ giá trị đến thế, con có thể muốn biết, bởi lẽ mẹ chưa bao giờ kiếm được nhiều hơn tiền lương tối thiểu và hầu hết là mẹ đã làm nô lệ miễn phí.” Mẹ cười khẽ và đập nhẹ vào cánh tay tôi, nhẹ nhàng thoát khỏi lời phê phán của tôi, mẹ lúc nào cũng làm thế.

Khi mẹ mất và người phụ nữ mà dượng Eddie cuối cùng cũng tái hôn chuyển đến, tôi lấy tất cả những cuốn sách tôi muốn trên giá sách của mẹ. Tôi lấy những cuốn mà mẹ mua đầu những năm 1980, khi chúng tôi lần đầu chuyển đến đất nhà tôi: The Encyclopedia of Organic Gardening (Bách khoa thư về làm vườn hữu cơ), và Double Yoga (Yoga cho hai người). Northland Wildflower (Hoa dại vùng phía bắc) và Quilts to Wear (Mền để mặc). Songs for the Dulcimer (Những bài hát cho đàn Ximbalum) và Breading Baking Basics (Nướng bánh cơ bản). Using Plants for Healing (Thảo dược chữa bệnh) và I Always Look Up the Word Egregious (Tôi luôn nhìn lên từ Xuất sắc). Tôi lấy những cuốn sách mẹ đã đọc cho tôi từng chương từng chương một, trước khi tôi có thể tự mình đọc: cuốn Bambi nguyên bản, The Black Beauty (Người đẹp da đen) và Big House in the Little Woods (Ngôi nhà lớn trong khu rừng nhỏ). Tôi lấy những cuốn sách mẹ có khi là sinh viên đại học trong những năm ngay trước khi mẹ qua đời: The Sacred Hoop (Vòng thánh) của Paula Gunn Allen, The Woman Warrioir (Nữ chiến binh) của Maxine Hong Kingston, This Bridge Called My Back (Cây cầu đó gọi tôi lại) của Cherrie Moraga và Gloria Anzaldua. Cuốn Moby Dick của Herman Melville, cuốn Huckleberry Finn của Mark Twain và cuốn Leaves of Grass (Lá cỏ) của Walt Whitman. Nhưng tôi không lấy sách của James Michener, những cuốn mẹ tôi yêu nhất.

“Cháu cảm ơn ạ.” Giờ thì tôi nói với Jeff, tay cầm lấy cuốn Tiểu thuyết. “Cháu sẽ đổi cuốn này cho cuốn của Flannery O’Connor nếu chú thích. Cuốn đó hay tuyệt vời ạ.” Tôi dừng lại, không nói đến đoạn tôi sẽ phải đốt nó trong rừng tối nay nếu ông ấy không lấy.

“Chắc chắn rồi,” ông trả lời và cười lớn. “Nhưng chú nghĩ là chú đang được lời hơn đấy.”

Sau bữa trưa, Christine lái xe đưa tôi đến trạm kiểm lâm ở Quincy, nhưng người kiểm lâm nói chuyện với tôi dường như chỉ biết lờ mờ về PCT. Năm nay anh ta chưa tới đó, anh ta bảo với tôi vậy, vì vẫn còn nhiều tuyết dày. Anh ta ngạc nhiên khi biết tôi đã ở đó. Tôi quay lại xe của Christine và nghiên cứu cuốn sách hướng dẫn để xác định phương hướng. Nơi hợp lý duy nhất để quay trở lại đường mòn PCT là điểm giao của nó với một con đường khác, cách hơn 22 cây số về phía tây từ điểm chúng tôi đang đứng.

“Mấy cô kia có vẻ biết gì đó.” Christine nói. Tay bà chỉ qua chỗ đậu xe tới một trạm xăng, hai người phụ nữ trẻ đứng cạnh chiếc xe tải có tên của một trại hè sơn bên thành xe.

Tôi tự giới thiệu mình với họ, và vài phút sau ôm Christine chào tạm biệt và leo lên sau xe của họ. Những cô này là sinh viên đại học đang làm việc ở một trại hè; họ sẽ đi qua đúng cái nơi đường mòn PCT giao với con đường này. Họ nói họ rất vui cho tôi đi nhờ, miễn là tôi đợi họ làm xong mấy việc vặt. Tôi ngồi dưới bóng chiếc xe cắm trại của họ trong chỗ đậu xe của một cửa hàng thực phẩm khi họ mua sắm, đọc cuốn Tiểu thuyết. Trời nóng và ẩm – tiết hè trong một buổi sáng nhiệt độ lên cao chưa từng có ở xứ tuyết ấy. Đọc cuốn sách, cảm giác của tôi về sự hiện diện cũng như sự thiếu vắng của mẹ rõ ràng đến mức tôi khó có thể tập trung vào những câu chữ. Tại sao tôi lại nhạo mẹ vì yêu mến Michener? Thực ra, tôi cũng thích Michener – khi 15 tuổi tôi đã đọc Những tàu thủy lôi đến bốn lần. Một trong những điều tồi tệ nhất khi mất mẹ ở tuổi tôi hồi ấy là có quá nhiều thứ để nuối tiếc. Những điều nhỏ nhặt giờ trở nên đau đớn: những lần tôi chế giễu sự tử tế của mẹ bằng cách đảo tròn hai mắt hoặc làm mình làm mẩy đáp lại những cử chỉ của mẹ; hay cái lần tôi nói “Mẹ không ngạc nhiên khi thấy con 21 tuổi và hiểu biết hơn bao nhiêu so với mẹ lúc cũng 21 tuổi à?” Nhớ lại cái thói thiếu khiêm tốn ngông cuồng ấy khiến tôi phát buồn nôn. Tôi đã là một con điên kiêu căng và, giữa khi đó thì mẹ mất. Đúng, tôi đã là một đứa con gái đáng yêu; và đúng, tôi đã ở bên mẹ khi có chuyện, nhưng đáng ra tôi đã có thể làm tốt hơn nữa. Đáng ra tôi đã có thể là đứa con gái tốt nhất thế giới như tôi đã cầu xin mẹ xác nhận.

Tôi khép cuốn Tiểu thuyết và ngồi gần như bất động với sự nuối tiếc khôn nguôi cho đến khi hai cô gái kia xuất hiện, tay đẩy một chiếc xe hàng. Chúng tôi cùng nhau xếp những túi đồ của họ vào trong xe. Những người này trẻ hơn tôi bốn hoặc năm tuổi, tóc họ và khuôn mặt họ sáng sủa, gọn gàng. Cả hai đều mặc quần soóc dáng thể thao, áo ba lỗ và đeo những chiếc vòng đầy màu sắc làm bằng chỉ tết xung quanh cổ chân và cổ tay.

“Bọn mình đang bảo nhau là đi một mình như bạn thì vất vả thật.” Một cô nói sau khi chúng tôi xếp xong mấy túi đồ.

“Bố mẹ bạn nghĩ sao khi bạn đi thế này?” Cô còn lại hỏi.

“Họ chẳng nói gì. Ý mình là – mình không còn bố mẹ nữa. Mẹ mình mất rồi, và mình không có bố – hoặc có, về lý thuyết, nhưng ông ta không hiện diện trong cuộc đời mình.” Tôi leo vào trong chiếc xe tải và nhét cuốn Tiểu thuyết vào Quái Vật để không phải nhìn thấy một thoáng không thoải mái lướt qua khuôn mặt sáng rỡ của họ.

“Ôi chao.” Một người nói.

“Ừm.” Người kia nói.

“Nghĩ lại thì mình tự do. Mình có thể làm bất cứ thứ gì mình muốn.”

“Ừm.” Người vừa ôi chao nói.

“Ôi chao.” Người vừa ừm nói.

Họ lên trước xe ngồi và chúng tôi lái đi. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn những cây cao chọc trời lướt qua về phía sau, lòng nghĩ đến dượng Eddie. Tôi thấy hơi tội lỗi khi đã không đả động gì đến dượng ấy khi hai cô gái kia hỏi về cha mẹ tôi. Dượng ấy đã trở thành một người mà tôi chỉ từng quen biết. Tôi vẫn còn yêu quý dượng và tôi đã yêu quý dượng ngay từ đầu, từ buổi tối đầu tiên tôi gặp dượng khi tôi mười tuổi. Dượng không giống bất kỳ ai trong số những người đàn ông mà mẹ hẹn hò suốt thời gian sau khi mẹ ly hôn với bố. Hầu hết những người này chỉ trụ được có vài tuần. Tôi nhanh chóng hiểu ra là họ đều bỏ đi vì sợ hãi cái thực tế rằng nếu gắn cuộc đời họ với mẹ tôi thì cũng có nghĩa là họ phải gắn với cả tôi, Karen và Leif. Nhưng Eddie yêu tất cả bốn người bọn tôi ngay từ đầu. Lúc đó, dượng làm việc trong xưởng sản xuất linh kiện ô tô, dù nghề của dượng là thợ mộc. Dượng có đôi mắt màu xanh nhạt và một cái mũi Đức thẳng thớm và mái tóc nâu buộc như đuôi ngựa dài đến tận ngang lưng.

Tối đầu tiên tôi gặp dượng là lần dượng đến ăn tối ở Tree Loft, khu chung cư chúng tôi sống. Đó là khu chung cư thứ ba chúng tôi sống kể từ khi bố mẹ ly dị. Chỗ nọ cách chỗ kia đều không quá một kilômét bán kính ở Chaska, một thị trấn nằm bên ngoài Minneapolis, cách khoảng một giờ đồng hồ. Cứ khi nào mẹ tìm thấy chỗ nào rẻ hơn thì chúng tôi lại chuyển. Khi dượng Eddie đến, mẹ vẫn đang làm bữa tối, bởi vậy dượng ngồi chơi với Karen, Leif và tôi trên vạt cỏ nhỏ trước nhà. Dượng đuổi bắt theo chúng tôi, bế xốc ngược chúng tôi và giũ giũ người chúng tôi xem liệu có đồng xu nào rơi ra từ túi chúng tôi không; nếu có dượng sẽ cúi xuống vạt cỏ nhặt lên và chạy, và chúng tôi đuổi theo dượng, la hét trong niềm vui sướng đã bị vùi lấp hoàn toàn trong cuộc đời vì chưa bao giờ được một người đàn ông yêu thương đúng cách. Dượng cù chúng tôi và xem chúng tôi biểu diễn những điệu nhảy và lộn nhào. Dượng dạy chúng tôi những bài hát buồn cười và những điệu nhảy jive phức tạp. Dượng vờ đánh cắp mũi và tai chúng tôi rồi cho chúng tôi thấy chúng với ngón tay cái bị kẹp giữa các ngón tay khác của dượng, cuối cùng trả chúng lại cho chúng tôi trong khi chúng tôi cười như nắc nẻ. Đến lúc mẹ gọi chúng tôi vào ăn tối thì tôi đã mê mẩn dượng ấy đến nỗi chẳng còn cả muốn ăn uống gì nữa.

Chúng tôi không có phòng ăn riêng biệt. Có hai phòng ngủ, một phòng tắm và một phòng khách với một hốc tường nhỏ ở góc bày một cái bàn bếp, một bếp đun, một tủ lạnh và mấy cái tủ nhỏ. Giữa phòng là một cái bàn tròn bằng gỗ lớn có bốn chân bị cắt và chỉ cao đến đầu gối. Mẹ tôi đã mua nó với giá mười đô-la từ những người sống ở căn hộ này trước chúng tôi. Chúng tôi ngồi trên sàn nhà, xung quanh chiếc bàn đó để ăn tối. Chúng tôi nói chúng tôi là người Trung Quốc, không biết rằng thực sự thì người Nhật Bản mới ngồi dưới sàn và ăn bên cái bàn thấp như thế. Chúng tôi không được phép có thú nuôi ở Tree Loft, nhưng vẫn nuôi một con chó tên là Kizzy và một con chim hoàng yến tên là Hoàng Yến, nó được bay tự do trong căn hộ nhà tôi.

Nó là một con chim tinh khôn. Nó đi ị lên một góc báo trong cái khay cho mèo ở góc nhà. Tôi không rõ là do mẹ đã huấn luyện hay là tự nó biết làm thế. Vài phút sau khi tất cả chúng tôi ngồi xuống sàn quanh cái bàn, Hoàng Yến bay đến đậu trên đầu dượng Eddie. Thường thì mỗi lần đậu trên đầu chúng tôi, nó chỉ đậu một thoáng rồi bay đi, nhưng Hoàng Yến lại ở lại trên đầu dượng Eddie. Chúng tôi rúc rích cười. Dượng ấy quay sang chúng tôi và hỏi, vờ như không biết, là chúng tôi đang cười gì vậy.

“Có một con hoàng yến trên đầu chú.” Chúng tôi bảo với dượng.

“Cái gì cơ?” Dượng ấy nói, nhìn quanh phòng, giả vờ ngạc nhiên.

“Có một con hoàng yến trên đầu chú.” Chúng tôi hét lên.

“Ở đâu cơ?” Dượng ấy hỏi.

“Có một con hoàng yến trên đầu chú!” Chúng tôi hét lên, phấn khích hết cỡ.

Có một con hoàng yến trên đầu dượng ấy và, thật kỳ diệu, con hoàng yến ở mãi trên đó, suốt bữa tối, suốt cả sau đó, đến tận khi nó buồn ngủ và ở lại làm tổ luôn.

Dượng Eddie cũng vậy.

Ít nhất là cho tới tận khi mẹ tôi mất. Lúc đầu, bệnh tình của mẹ kéo hai chúng tôi lại gần nhau hơn. Chúng tôi trở thành những kẻ đồng sức đồng lòng trong những tuần mẹ ốm – cùng thay ca nhau ở bệnh viện, tham khảo ý kiến nhau về những quyết định thuốc thang, khóc cùng nhau khi biết cái kết sắp đến gần, cùng gặp gỡ giám đốc nhà tang lễ sau khi mẹ qua đời. Nhưng chẳng lâu sau đó, dượng Eddie tránh xa chị em chúng tôi. Dượng hành động như thể dượng chỉ là người bạn chứ không phải là một người cha. Dượng nhanh chóng phải lòng người phụ nữ khác và cô ta sớm chuyển đến nhà chúng tôi với những đứa con của mình. Tới gần ngày giỗ đầu của mẹ, Karen, Leif và tôi cơ bản là chỉ còn có nhau; hầu hết những thứ đồ của mẹ đều ở trong các hộp đồ mà tôi đã gói ghém và cất đi. Dượng yêu quý các con, dượng Eddie nói thế, nhưng sống thì vẫn phải sống. Dượng vẫn là bố của các con, dượng Eddie nói thế, nhưng ông ấy chẳng làm gì để thể hiện điều đó. Tôi trách móc dượng vì chuyện đó, nhưng cuối cùng chẳng có cách nào ngoài việc chấp nhận rằng nhà tôi là thế: chẳng phải là gia đình gì hết.

Họ đã không muốn thì mình chẳng thể làm gì được, mẹ vẫn thường nói thế.

Khi hai cô gái trẻ tấp xe vào bên đường cao tốc hẹp, những cái cây cao nối nhau dọc con đường gần như đã che khuất mặt trời đang lặn dần. Tôi cảm ơn họ vì đã cho đi nhờ và nhìn quanh khi họ lái xe đi. Tôi đang đứng cạnh một biển báo cục kiểm lâm ghi KHU CẮM TRẠI BẠCH MÃ. Chỉ cần đi quá lên một tẹo là tới đường mòn PCT, hai cô gái kia đã bảo tôi thế khi tôi leo ra khỏi xe của họ. Tôi đã chẳng buồn xem bản đồ lúc ngồi trên xe. Sau nhiều ngày lúc nào cũng phải cảnh giác hoài nghi, tôi đã quá mệt mỏi với việc phải kiểm tra đi kiểm tra lại cuốn sách hướng dẫn. Tôi chỉ đơn thuần tận hưởng chuyến đi, ru mình trong sự tự tin của những người phụ nữ biết chắc mình đang đi đâu này. Từ nơi cắm trại, họ nói tôi có thể đi một quãng đường ngắn đưa tôi lên đường mòn PCT. Tôi đọc những trang mới xé ra từ cuốn sách hướng dẫn khi đang đi trên con đường lát gạch uốn lượn của khu cắm trại, căng mắt ra nhìn từng chữ trong ánh sáng đang tắt dần. Tim tôi thót lên vì nhẹ nhõm khi tôi đọc thấy chữ KHU CẮM TRẠI BẠCH MÃ, rồi lại rớt đánh vèo xuống khi tôi đọc tiếp và nhận ra tôi còn cách PCT hơn hai cây số nữa. Với tôi, cái từ “chỉ cần đi quá lên một tẹo” hẳn có ý nghĩa khác với hai cô gái kia.

Tôi nhìn quanh những đầu vòi nước, những căn nhà phụ màu nâu và một cái biển lớn giải thích cách trả tiền để có một chỗ qua đêm. Đó là để tiền vào một cái phong bì rồi sau đó nhét phong bì này qua khe của một cái hộp gỗ. Ngoài mấy cái xe RV và vài cái lều rải rác, khu cắm trại này trống trải một cách kỳ lạ. Tôi đi bộ sang một con đường lát gạch khác, băn khoăn không biết nên làm gì. Tôi không có tiền để trả tiền cắm trại, nhưng trời quá tối không đi bộ trong rừng được. Tôi đến một chỗ cắm trại ở ngoài rìa, nơi xa nhất khỏi cái chỉ dẫn trả tiền chi tiết kia. Ai còn nhìn ra tôi chứ?

Tôi dựng lều, nấu nướng và ăn bữa tối “xa xỉ” trên cái bàn cắm trại với mỗi cái đèn đeo đầu để chiếu đường đi và đi tiểu thoải mái trong hố toilet. Rồi tôi trở về lều và mở cuốn Tiểu thuyết ra đọc. Tôi mới đọc được độ ba trang thì cả căn lều ngập ánh sáng. Tôi mở khóa cửa lều, bước ra chào một cặp đôi lớn tuổi đang đứng trong ánh đèn pha chói mắt của một cái xe tải nhỏ.

“Xin chào.” Tôi ngập ngừng nói.

“Cô phải trả tiền cho chỗ này,” người đàn bà quát lên đáp lại.

“Cháu phải trả tiền ấy ạ?” Tôi nói, giả vờ ngạc nhiên ngây thơ vô tội. “Tôi tưởng chỉ những người có xe hơi mới phải trả phí. Tôi đi bộ. Tôi chỉ có cái ba lô này.” Cặp vợ chồng im lặng lắng nghe, khuôn mặt nhăn nheo tỏ vẻ bực bội. “Tôi sẽ rời đi ngay sớm ngày mai. Muộn nhất là sáu giờ.”

“Nếu cô định ở đây, thì cô phải trả tiền.” Bà già lặp lại.

“12 đô-la một đêm.” Ông già thêm vào, giọng hổn hển.

“Vấn đề là,” tôi nói, “đúng lúc này cháu lại không có tí tiền mặt nào. Cháu đang đi bộ dài ngày. Trên đường mòn Pacific Crest – đường PCT ấy ạ – toàn là tuyết ở trên núi kia – đây là năm tuyết dày kỷ lục – xong cháu phải ra khỏi con đường, cháu không có dự định là sẽ ở đây đâu mà mấy cô cho cháu đi nhờ lại thả cháu xuống sai chỗ, trời thì...”

“Chẳng khác gì đâu, cô phải trả tiền, cô gái.” Ông già rống lên với một sức mạnh đáng kinh ngạc, giọng ông ta như một cái tù và rống lên trong sương mù, khiến tôi câm bặt.

“Nếu cô không thể trả tiền thì cô phải đóng gói và rời khỏi đây.” Bà già nói. Bà ta mặc một chiếc áo ấm trên ngực in hình một cặp gấu mèo con đang nhòm trộm ra từ một cái hang trong thân cây.

“Ở đây có ai đâu ạ! Giờ đang là giữa đêm mà! Có sao đâu nếu cháu chỉ...”

“Quy định là quy định!” Ông già rống lên. Rồi ông ta quay trở vào trong chiếc xe tải, đã xong việc với tôi.

“Chúng tôi rất tiếc, cô gái ạ, nhưng chúng tôi là chủ trại và chúng tôi ở đây để buộc mọi người tuân theo quy định.” Bà già nói. Mặt bà ta dịu lại trong một khoảnh khắc áy náy trước khi lại mím môi thêm vào. “Chúng tôi không muốn phải gọi cảnh sát đâu.”

Tôi cụp mắt xuống và nói với mấy con gấu mèo của bà ta. “Cháu chỉ – cháu nghĩ là cháu chẳng làm hại gì đến ai cả ạ. Ý cháu là, kể cả cháu không ở đây thì cũng có ai dùng chỗ này đâu ạ.” Tôi nói khẽ, cố gắng xin chút mủi lòng cuối cùng kiểu giữa phụ nữ với nhau.

“Chúng tôi có bảo cô rời đi đâu,” bà ta quát như thể đang la mắng bắt một con chó im đi. “Chúng tôi bảo cô phải trả tiền.”

“Thế thì cháu chịu ạ.”

“Có một đường mòn đến PCT, cứ đi qua mấy cái nhà tắm là thấy,” bà già nói, tay chỉ về phía sau. “Hoặc cô có thể đi theo đường này, khoảng hơn một cây rưỡi. Tôi nghĩ đường này đi thẳng hơn đường mòn. Chúng tôi sẽ để đèn sáng cho cô dọn đồ.” Bà ta nói, và quay trở lại xe tải ngồi bên cạnh chồng, giờ tôi không nhìn thấy mặt họ đằng sau ánh đèn pha nữa.

Tôi quay trở lại lều, sửng sốt. Trên đường tôi chưa gặp người lạ nào không tốt bụng cả. Tôi bò vào trong lều, tay run run bật đèn đeo đầu lên, và nhét mọi thứ tôi đã bỏ ra trở lại ba lô mà không quan tâm cái gì vào chỗ nào như mọi khi. Tôi không biết nên làm gì nữa. Bây giờ thì trời đã tối đen rồi, trên cao là mảnh trăng bán nguyệt. Điều duy nhất đáng sợ hơn ý nghĩ phải đi bộ một mình trên một đường mòn lạ lẫm trong đêm tối chính là việc đi bộ trên một con đường lạ lẫm trong đêm tối. Tôi đeo Quái Vật lên và vẫy tay với cặp vợ chồng trong xe tải, chẳng rõ họ có vẫy lại hay không.

Tôi bước đi, tay cầm cái đèn pin đeo đầu. Pin đang gần cạn nên khó có thể soi rõ đường. Tôi đi dọc hết đoạn thềm của dãy nhà tắm, và nhìn thấy con đường mà người phụ nữ kia nói đến. Rồi tôi thận trọng bước vài bước lên con đường mòn đó. Tôi đã quen với cảm giác an toàn khi ở trong rừng, dẫu là trong đêm tối, nhưng đi bộ trong rừng giữa đêm tối là một chuyện hoàn toàn khác vì tôi không thể nhìn thấy gì. Biết đâu tôi lại đâm vào những con vật hoạt động về đêm hoặc vấp phải một cái rễ cây. Biết đâu tôi lại bỏ qua mất một lối rẽ rồi cuối cùng đi đến nơi chẳng định đến. Tôi bước thật chậm, lo âu như cái ngày đầu tiên đi bộ, khi đầu óc lúc nào cũng căng ra sợ bị rắn chuông bổ tới.

Sau một hồi, khung cảnh lờ mờ hiện ra trước mắt. Tôi đang ở trong một khu rừng thông cao và vân sam, những thân cây thẳng đứng không cành của chúng vươn tới những tầng cành cây dày trên cao. Tôi có thể nghe thấy một dòng nước đang chảy róc rách bên trái và cảm thấy lớp lá thông khô êm êm đang lạo xạo dưới chân. Tôi đi với một sự tập trung chưa từng có trong đời, và bởi vậy có thể cảm nhận rõ ràng hơn về con đường và thân thể mình, như thể tôi đang đi với mình trần và chân trần vậy. Nó gợi nhớ đến hồi còn bé khi tôi học cách cưỡi ngựa. Mẹ đã dạy tôi cưỡi con ngựa của mẹ, con Quý Bà. Mẹ để tôi ngồi trên yên cương trong khi mẹ đứng và nắm lấy cái dây dắt buộc vào dây cương của Quý Bà. Lúc đầu tôi sợ hãi bấu chặt lấy cái bờm của nó dù nó chỉ đang đi nước kiệu, nhưng cuối cùng tôi thả lỏng và mẹ bảo tôi cứ nhắm mắt lại để cảm nhận sự di chuyển của con ngựa dưới người mình như thế nào và thân thể mình chuyển động cùng với con ngựa ra sao. Sau đó, tôi đã làm y như thế, tay dang rộng ra hai bên, đi vòng quanh, thân mình nương theo cơ thể của Quý Bà khi chúng tôi di chuyển.

Tôi đi dọc con đường mòn trong vòng 20 phút thì tới một nơi rừng cây mở ra. Tôi cởi ba lô và bò xuống với cái đèn đeo đầu để tìm một chỗ khả dĩ làm nơi ngủ. Tôi dựng lều, bò vào trong, và khóa mình trong chiếc túi ngủ, mặc dù bây giờ tôi chẳng mảy may mệt mỏi gì. Bị đuổi thẳng cổ và cuốc bộ giữa đêm khuya đã tiếp thêm năng lượng cho tôi.

Tôi mở cuốn Tiểu thuyết ra, nhưng cái đèn đeo đầu đang chập chờn và hết pin, bởi vậy tôi tắt nó đi rồi nằm yên trong bóng tối. Tôi đưa đôi bàn tay rờ theo hai cánh tay, ôm chặt lấy mình. Tôi có thể cảm nhận được hình xăm bên dưới những ngón tay phải; có thể lần theo đường nét con ngựa ấy. Người phụ nữ bôi mực cho nó đã nói rằng nó có thể nổi lên trên thịt tôi trong vài tuần, nhưng thực tế là vài tháng sau nó vẫn cứ như thế, như thể con ngựa đó đã bị dập nổi chứ không phải tô mực lên da. Hình xăm ấy không chỉ là một con ngựa đơn thuần. Nó là Quý Bà – con ngựa mẹ tôi đã hỏi bác sĩ ở Bệnh viện Mayo là mẹ có thể cưỡi được nữa không khi ông ta nói mẹ sắp chết. Quý Bà không phải là tên thật của nó – đó chỉ là cách chúng tôi hay gọi. Trong giấy tờ đăng ký, nó là giống Saddlebred Mỹ, tên chính thức phô ra hào quang về dòng giống của mình: Stonewall’s Highland Nancy, bố là Stonewall Senstation và mẹ là Mack’s Golden Queen. Bất chấp tất cả những lý do ngăn trở, mẹ cũng đã mua được con Quý Bà này vào mùa đông khủng khiếp năm ấy khi mẹ và bố cuối cùng cũng, và mãi mãi, chia tay. Mẹ đã gặp một cặp đôi ở nhà hàng nơi mẹ làm bồi bàn. Họ muốn bán con ngựa cái 12 năm tuổi thuần chủng với giá rẻ, và cho dù mẹ không thể mua được với giá rẻ thì mẹ cũng đến nhìn con ngựa và rồi thỏa thuận với cặp đôi này để trả họ 300 đô-la trong vòng sáu tháng, và rồi lại thỏa thuận với một cặp đôi khác có một cái chuồng gần đấy để mẹ làm việc cho họ, đổi lấy nơi ăn chốn ở cho Quý bà.

“Nó thật là tuyệt vời.” Lần nào mẹ cũng nói thế khi miêu tả Quý Bà và đúng là nó tuyệt vời thật. Nó cao hơn 16 gang tay, săn chắc, chân dài, bước cao và duyên dáng như một nữ hoàng. Nó có một ngôi sao trắng ở trước trán, nhưng phần da còn lại đều một màu đỏ hạt dẻ như con cáo tôi đã nhìn thấy trong tuyết.

Lúc mẹ mua nó thì tôi đã sáu tuổi. Chúng tôi sống ở tầng trệt của một khu chung cư tên là Barbary Knoll. Mẹ tôi chỉ mới rời khỏi bố tôi lần cuối cùng. Chúng tôi chẳng có đủ tiền để sống, nhưng mẹ phải có con ngựa đó. Dù mới chỉ là đứa trẻ nhưng bản năng mách bảo cho tôi rằng chính Quý Bà đã cứu vớt cuộc đời mẹ. Quý Bà không chỉ khiến mẹ có thể tránh xa khỏi bố mà còn giúp bà bước tiếp. Ngựa là tôn giáo của mẹ. Khi còn nhỏ, mẹ muốn ở bên cạnh ngựa vào tất cả các ngày chủ nhật khi mẹ bị bắt phải ăn vận để đi lễ nhà thờ. Những câu chuyện mẹ kể cho tôi nghe về ngựa đối lập với những câu chuyện về lối nuôi nấng theo tín điều Công giáo mẹ phải hứng chịu khi đó. Mẹ làm bất cứ điều gì để được cưỡi chúng. Mẹ cào cỏ ở chuồng ngựa và đánh bóng bộ yên cương, chở cỏ khô và rải rơm, bất cứ công việc không tên nào mà mẹ kiếm được để có thể lang thang tới cái chuồng nào gần nhất và cưỡi ngựa của ai đó.

Hết lần này đến lần khác, những hình ảnh mẹ xưa kia là cô gái cao bồi cứ ùa đến với tôi như những khoảnh khắc được đóng khung lại mãi mãi, rõ ràng và chính xác như thể tôi đã đọc chúng trong sách. Những chuyến cưỡi ngựa xuyên đêm trong miền hoang dã của mẹ ở New Mexico cùng với ông ngoại. Những mẹo thi thố liều lĩnh mà mẹ đã tập và trình diễn với những cô bạn gái. Mười sáu tuổi, mẹ đã có riêng một con ngựa, một con ngựa vàng bờm trắng tên Pal mà mẹ đã cưỡi trong những buổi trình diễn và thi thố ở Colorado. Lúc qua đời, mẹ vẫn còn giữ những dây ruy băng đó. Tôi gói chúng trong một cái hộp và giờ thì chúng đang trong nhà kho của Lisa ở Portland. Cái màu vàng cho giải ba ngựa phi thùng, cái màu hồng cho giải năm đi dạo, chạy nước kiệu, nước kiệu nhỏ; cái màu xanh lá cho giải trình diễn và tham gia; và một cái màu xanh da trời cho giải cưỡi ngựa thuần thục qua liên tiếp các chướng ngại vật nào là hố bùn và góc chết, những tên hề cười và những tiếng kèn om sòm, trong khi tay vươn ra giữ thăng bằng một quả trứng trên một chiếc thìa lâu hơn bất kỳ ai.

Ở chuồng ngựa đầu tiên mà Quý Bà ở khi nó về với chúng tôi, mẹ tôi đã làm những việc như khi bà còn là một đứa trẻ: dọn chuồng và rải rơm khô, đẩy đồ tới lui trên một cái xe cút kít. Thường thì mẹ đem theo Karen, Leif và tôi đi cùng. Chúng tôi chơi ở chuồng ngựa trong khi mẹ làm việc. Sau đó, chúng tôi xem mẹ cưỡi Quý Bà đi loanh quanh khu thả, rồi mỗi đứa được cưỡi một lượt. Khi chuyển đến mảnh đất của chúng tôi ở miền bắc Minnesota, chúng tôi có con ngựa thứ hai, một con giống lai bị thiến tên là Roger, mẹ tôi mua vì tôi phải lòng nó và người chủ sẵn sàng cho nó ra đi với giá gần như cho không. Chúng tôi đưa cả hai con về phía bắc trong một cái xe tải đi mượn. Đồng cỏ của chúng chiếm tới một phần tư mảnh đất rộng 40 mẫu của chúng tôi.

Một ngày nọ, tôi về thăm dượng Eddie vào đầu tháng mười hai, gần ba năm sau khi mẹ tôi mất, và bị sốc khi thấy Quý Bà gầy còm và ốm yếu. Nó gần 31 tuổi, với ngựa thế là đã già và thậm chí nếu vẫn khỏe lên được nhờ chăm sóc tử tế, thì cũng chẳng có ai đủ thời gian để làm việc ấy. Dượng Eddie và bạn gái bắt đầu đi đi về về giữa ngôi nhà mà tôi đã lớn lên và một cái xe tải trong một thị trấn nhỏ ngoài Twin Cities. Hai con chó, hai con mèo và bốn con gà mái của chúng tôi đều tự chết hoặc được cho đi. Chỉ có hai con ngựa, Roger và Quý Bà là còn ở lại. Thường thì chúng được một người hàng xóm mà dượng Eddie nhờ cho ăn chăm sóc qua quýt.

Lần đến thăm dượng Eddie vào đầu tháng 12 ấy, tôi nói chuyện với dượng về tình trạng của Quý Bà. Lúc đầu, ông sừng sộ nói rằng ông chẳng hiểu tại sao những con ngựa này lại là vấn đề của ông cả. Tôi không có lòng nào để tranh luận với ông, rằng vì ông là người chồng góa vợ của mẹ tôi nên ông phải có trách nhiệm với mấy con ngựa của bà. Tôi chỉ nói về Quý Bà, kiên nhẫn bàn về việc lập ra một kế hoạch, và sau một lúc ông cũng hạ giọng và chúng tôi thống nhất là nên để Quý Bà ra đi. Nó đã già yếu và bệnh tật rồi; sụt cân một cách đáng báo động; ánh sáng trong mắt đang nhòa dần. Con đã hỏi một bác sĩ thú y, tôi nói với ông. Vị bác sĩ ấy có thể đến chỗ chúng ta và tiêm cho Quý Bà một liều thuốc nhân đạo. Hoặc làm như thế, hoặc chúng ta phải tự mình bắn nó.

Eddie nghĩ chúng tôi nên chọn cách thứ hai. Cả hai chúng tôi đều nhẵn túi. Biết bao đời nay, ngựa đã từ bỏ cuộc sống theo cách ấy rồi. Dường như cả hai chúng tôi đều thấy cách này nhân đạo hơn – thà để nó chết trong tay của một người nó biết và tin tưởng còn hơn là một người lạ. Eddie nói ông sẽ làm trước khi Paul và tôi trở về vào dịp Giáng Sinh trong vài tuần tới. Chúng tôi sẽ không về để đón lễ như một dịp vui bên gia đình: chỉ có Paul và tôi ở trong ngôi nhà ấy. Eddie có kế hoạch đón Giáng Sinh ở chỗ bạn gái của ông cùng với con cô ta. Karen và Leif cũng có kế hoạch riêng – Leif ở St.Paul với bạn gái và gia đình bạn gái, còn Karen ở với người chồng mà chị ấy mới gặp rồi cưới chỉ trong vòng vài tuần vào đầu năm đó.

Tôi thấy thật khổ sở khi cùng Paul đi vào ngõ nhà tôi sau đó một vài tuần vào buổi chiều trước đêm Noel. Trong đầu tôi cứ quay cuồng những tưởng tượng mình sẽ như thế nào khi nhìn ra chuồng cỏ và chỉ thấy mỗi Roger. Nhưng khi tôi bước ra khỏi xe, Quý Bà vẫn ở đó, đang run rẩy trong chuồng của nó, da thịt như chỉ còn treo trên bộ khung trơ xương. Chỉ nhìn thôi cũng thấy đau lòng rồi. Thời tiết lúc ấy đã chuyển lạnh, rét căm căm, nhiệt độ thấp kỷ lục loanh quanh dưới 25 độ âm, gió rít lên làm cho nhiệt độ càng giảm sâu hơn nữa.

Tôi không gọi cho Eddie để hỏi tại sao ông không làm theo những gì chúng tôi đã định. Thay vì thế tôi gọi cho ông ngoại ở Alabama. Cả đời ông đã là một nài ngựa. Chúng tôi nói chuyện một tiếng đồng hồ về Quý Bà. Ông hỏi tôi hết câu này đến câu khác, và đến cuối cuộc nói chuyện ông kiên quyết khẳng định rằng đã đến lúc để nó ra đi. Tôi nói với ông tôi sẽ suy nghĩ về chuyện đó. Sáng hôm sau, bình minh chưa được bao lâu thì chuông điện thoại reo lên.

Đó là ông ngoại. Ông gọi cho tôi không phải để chúc mừng Giáng Sinh. Ông gọi cho tôi để van nài tôi hành động ngay bây giờ. Để Quý Bà chết tự nhiên là tàn nhẫn và vô nhân đạo, ông nài nỉ và tôi biết là ông đúng. Tôi cũng biết rằng việc này có xong hay không là tùy thuộc ở tôi. Tôi không có tiền mời bác sĩ thú y đến cho nó một liều thuốc nhân đạo và thậm chí nếu tôi có thì bấy giờ cũng đang là Giáng Sinh, chắc gì người ta chịu đến. Ông ngoại miêu tả cho tôi chi tiết cách bắn một con ngựa. Khi thấy tôi dao động, ông cam đoan với tôi đây là cách người ta đã làm trong nhiều năm rồi. Tôi cũng lo lắng về chuyện làm gì với cái xác của Quý Bà. Mặt đất còn ở sâu dưới lớp băng, không thể nào mà chôn nó xuống được.

“Cứ để mặc nó thôi.” Ông hướng dẫn. ”Bọn chó sói sẽ lôi xác nó đi.”

“Em nên làm gì?” Tôi khóc với Paul sau khi cúp máy. Lúc ấy chúng tôi không hề biết rằng đây là Giáng Sinh cuối cùng chúng tôi ở bên nhau. Một vài tháng sau, tôi nói với anh về những lần phản bội và anh ấy chuyển ra ngoài. Đến Giáng Sinh tiếp theo thì chúng tôi đang bàn về chuyện ly hôn.

“Cứ làm những gì em cho là đúng.” Anh nói vào sáng Giáng Sinh đó. Chúng tôi đang ngồi bên cái bàn bếp – mọi chỗ nứt nẻ và đường rãnh của nó đều quen thuộc với tôi, thế nhưng dường như tôi cũng đang xa cách ngôi nhà này nhất có thể, chỉ mình tôi trên một tảng băng trôi.

“Em không biết thế nào là đúng nữa.” Tôi nói, mặc dù tôi có biết. Tôi biết chính xác tôi phải làm gì. Vẫn là cái việc mà tôi đã phải làm rất nhiều lần: chọn điều tốt nhất trong hai điều kinh khủng. Nhưng tôi không thể làm thế mà không có em trai tôi. Paul và tôi trước đây đã từng bắn súng – nhờ Leif dạy vào mùa đông trước đó – nhưng chẳng ai trong hai chúng tôi có tự tin để làm chuyện đó. Leif không phải là một tay đi săn khát máu, nhưng ít nhất nó cũng đã làm chuyện đó đủ thường xuyên để biết rằng nó đang làm gì. Khi tôi gọi cho nó, nó đồng ý lái xe về nhà tối đó.

Sáng hôm sau, chúng tôi thảo luận chi tiết những gì phải làm. Tôi nói lại với Leif mọi điều mà ông ngoại đã bảo tôi.

“Được thôi.” Nó nói. “Chị chuẩn bị cho nó đi.”

Bên ngoài, mặt trời tỏa nắng rực rỡ, bầu trời trong vắt như pha lê. Đến 11 giờ, nhiệt độ tăng lên âm 17 độ. Chúng tôi quấn mình trong tầng tầng lớp lớp quần áo. Trời lạnh đến mức cây cối nứt toác ra, đông cứng và nổ bung thành những tiếng nổ lớn mà đêm mất ngủ hôm trước tôi nghe thấy từ giường của mình.

Tôi thì thầm với Quý Bà khi quàng dây cương lên nó, nói với nó tôi yêu nó biết nhường nào khi dắt nó ra khỏi chuồng. Paul đóng cửa chuồng lại sau chúng tôi, giữ Roger ở bên trong để nó không thể đi theo. Tôi dắt Quý Bà qua tuyết băng, quay lại để nhìn nó đi lần cuối cùng. Nó vẫn di chuyển với vẻ duyên dáng và sức mạnh khó tả nổi bằng lời, sải những bước dài với dáng đi nhấc cao chân mà lúc nào mẹ tôi cũng nghẹt thở khi ngắm nhìn. Tôi dẫn nó tới cái cây bu lô mà Paul và tôi đã chọn chiều hôm trước, rồi buộc nó lại bằng cái dây dắt của nó. Cái cây ở tận rìa chuồng cỏ, bên ngoài là cánh rừng đan dày nghiêm nghị, và tôi hy vọng là cách nhà chúng tôi đủ xa để những con chó sói sẽ đến và đem xác nó đi vào ngay tối đó. Tôi nói chuyện với nó và đưa tay vuốt ve bộ lông màu hạt dẻ của nó, thì thầm với nó về tình yêu và nỗi buồn của tôi, cầu xin nó tha thứ và hiểu cho chúng tôi.

Khi tôi nhìn lên, em trai tôi đang đứng đó với khẩu súng trường.

Paul cầm lấy cánh tay tôi và chúng tôi cùng nhau lập cập bước đi trong tuyết để đứng đằng sau Leif. Chúng tôi chỉ cách Quý Bà chưa tới hai mét. Hơi thở ấm của nó giống như một đám mây lụa. Những mảng tuyết đóng băng nâng đỡ chúng tôi được một lát, rồi đổ sụp xuống, nên chúng tôi đều sụt trong tuyết đến tận đầu gối.

“Ngay giữa hai mắt nhé.” Tôi nói với Leif, lặp lại lần nữa những lời của ông ngoại. Ông đã cam đoan rằng nếu làm thế chúng tôi sẽ để nó ra đi được chỉ bằng một phát gọn ghẽ.

Leif cúi người, quỳ trên một đầu gối, Quý Bà nhảy dựng lên rồi cào cào móng guốc trên nền băng và rồi cúi đầu xuống nhìn chúng tôi. Tôi hít một hơi thật sâu và Leif nổ súng. Viên đạn găm vào ngay giữa hai mắt nó, giữa ngôi sao trắng, đúng chỗ chúng tôi mong muốn. Nó lồng lên mạnh đến mức cái dây cương da tung ra thành từng đoạn và rơi khỏi mặt nó, rồi nó đứng bất động, nhìn chúng tôi với vẻ sững sờ.

“Bắn nữa đi!” Tôi hét, và Leif làm ngay tức thì, bắn ba phát liền nhanh gọn vào đầu nó. Nó lảo đảo rồi giật mạnh, nhưng nó không đổ xuống, cũng không chạy mặc dù không còn bị buộc vào gốc cây nữa. Mắt nó hoang dại hướng về chúng tôi, sững sờ với những gì chúng tôi đã làm. Trên mặt nó lỗ chỗ những lỗ đen không máu. Ngay lập tức tôi biết chúng tôi đã sai, không phải vì giết con ngựa, mà sai vì nghĩ rằng chúng tôi nên là những người làm việc này. Đáng lẽ ra tôi nên nài nỉ dượng Eddie làm chuyện này, hoặc trả tiền cho bác sĩ thú y đến đây. Tôi đã hiểu sai về chuyện giết một con vật thì mất gì. Chẳng có gì gọi là một phát gọn ghẽ cả.

“Bắn nó đi! Bắn nó đi!” Tôi khẩn nài, chẳng nhận ra tiếng kêu gào ấy là của chính mình.

“Em hết đạn rồi!” Leif quát.

“Quý Bà!” Tôi la thét. Paul chộp lấy vai tôi kéo về phía anh ấy và tôi đẩy anh ra, hổn hển và rên rỉ như thể ai đó đang đánh tôi đến chết.

Quý Bà bước một bước loạng choạng rồi hai chân trước khuỵu xuống, cả thân người đổ dồn về phía trước trông khủng khiếp như thể một con tàu khổng lồ đang dần chìm xuống biển. Đầu nó quay quay và nó hí lên thật dài. Máu bất thần phun ra thành dòng từ hai lỗ mũi mềm, đập vào tuyết, nóng đến mức kêu xèo xèo. Nó ho và ho, mỗi lần cứ ồng ộc ra từng xô máu, hai chân sau của nó quằn quại trong cơn đau đớn hành hạ chậm rãi bên dưới người nó. Nó lảo đảo ở đó, cố hết sức để đứng lên, trước khi nó đổ kềnh về một bên. Rồi nó đá chân và đập liên hồi, vặn cổ để cố gắng đứng lên lần nữa.

“Quý Bà!” Tôi gào lên. “Quý Bà!”

Leif chộp lấy tôi. “Đừng nhìn nó!” Nó la lên, và chúng tôi cùng quay đi chỗ khác.

“ĐỪNG CÓ NHÌN!” Nó quát lên với Paul và Paul nghe theo.

“Làm ơn hãy đưa nó đi.” Leif cầu khẩn, nước mắt tuôn trào trên mặt. “Đem nó đi. Đem nó đi. Đem nó đi.”

Khi tôi quay lại, Quý Bà cuối cùng cũng hạ đầu xuống đất, mặc dù thân người nó vẫn còn ráng sức và bốn chân vẫn còn xoắn lên. Ba chúng tôi lảo đảo đến gần, chân lại sụt xuống tuyết đến tận đầu gối một cách khổ sở. Chúng tôi nhìn nó trút những hơi thở lớn chầm chậm và rồi cuối cùng cũng thở hắt ra và toàn thân bất động.

Con ngựa của mẹ tôi. Quý Bà. Stonewall’s Highland Nancy đã chết.

Chuyện đó diễn ra trong năm phút hay một tiếng, tôi cũng không biết nữa. Găng tay và mũ của tôi đã rơi, nhưng tôi không thể cúi xuống để nhặt lên. Lông mi tôi đông cứng thành cục. Những lọn tóc bay vào khuôn mặt đầy nước mắt nước mũi của tôi đã cứng lại thành băng, khẽ lạo xạo khi tôi di chuyển. Tôi gạt chúng ra khỏi mặt, chẳng biết được trời đang lạnh thế nào nữa. Tôi quỳ xuống cạnh bụng của Quý Bà và đưa tay xoa dọc thân thể lốm đốm máu của nó lần cuối cùng. Nó vẫn còn ấm, giống như mẹ tôi khi tôi bước vào phòng bệnh và nhìn thấy mẹ đã ra đi mà chẳng có tôi bên cạnh. Tôi nhìn Leif và tự hỏi không biết nó có đang nhớ đến điều ấy không. Tôi bò đến đầu Quý Bà và chạm vào hai cái tai giá lạnh, mềm như nhung. Tôi đặt tay lên những cái lỗ đạn màu đen ở ngôi sao trắng trên đầu nó. Những đường hầm sâu hoắm đầy máu thiêu đốt tuyết xung quanh đã bắt đầu đóng băng lại.

Paul và tôi nhìn Leif lôi ra một con dao, cắt vài túm từ chiếc bờm màu vàng đỏ và lông đuôi của Quý Bà. Nó đưa cho tôi.

“Giờ mẹ có thể đi về thế giới bên kia rồi.” Nó nói, nhìn sâu vào mắt tôi như thể chỉ có hai chúng tôi trên toàn bộ thế giới này. “Người Anh-điêng tin thế – họ tin là khi một chiến binh vĩ đại chết đi, ta sẽ phải giết con ngựa của anh ta để anh ta có thể băng qua bờ sông bên kia. Đó là cách thể hiện lòng tôn trọng. Có thể mẹ bây giờ đang cưỡi ngựa đi rồi.”

Tôi tưởng tượng mẹ tôi đang cưỡi qua một dòng sông rộng lớn trên tấm lưng mạnh mẽ của Quý Bà, cuối cùng cũng rời khỏi chúng tôi sau gần ba năm mẹ mất. Tôi muốn tin đó là thật. Nếu có một điều ước thành sự thật thì tôi ước điều ấy. Không phải là mẹ tôi sẽ cưỡi ngựa trở về với tôi – mặc dù tất nhiên là tôi muốn thế – mà là mẹ và Quý Bà sẽ cùng nhau cưỡi đi. Rằng điều tồi tệ nhất mà tôi từng làm này chính là một sự chữa lành chứ không phải sự hủy diệt.

Tối ấy, cuối cùng tôi cũng ngủ trong khoảng rừng ở đâu đó bên ngoài Khu cắm trại Bạch Mã. Và khi ngủ tôi đã mơ thấy tuyết. Không phải tuyết mà chị em tôi đã giết Quý Bà, mà là tuyết tôi vừa mới đi qua trong vùng núi, nhớ lại về nó còn đáng sợ hơn cả khi trải nghiệm nó. Suốt đêm dài, tôi mơ thấy những thứ đã có thể xảy ra. Là tôi té ngã và trượt dài xuống một con dốc nguy hiểm, trượt xuống một bên vách núi hay đâm sầm xuống những tảng đá bên dưới. Là tôi đi bộ và chưa bao giờ đến được con đường đó, thay vì thế lại lang thang lạc lối và đói khát.

Tôi nghiên cứu cuốn sách hướng dẫn khi ăn sáng vào sáng hôm sau. Nếu đi lên đường mòn PCT như kế hoạch thì tôi sẽ gặp phải nhiều tuyết hơn nữa. Cái ý tưởng ấy khiến tôi kinh hãi, và khi nhìn vào bản đồ tôi nhận ra mình không cần phải làm thế. Tôi có thể đi ngược trở lại Khu cắm trại Bạch Mã và cứ đi theo hướng tây tới hồ Bucks. Từ đó, tôi có thể đi theo con đường mòn cho xe chạy về phía bắc, lên tới đường mòn PCT ở một nơi gọi là Ba Hồ. Hành trình này cũng dài tương đương với đoạn đường PCT, khoảng 24 cây số, nhưng sẽ không cao quá nên có thể không gặp tuyết. Tôi gói đồ, đi ngược lại con đường đêm trước đã đi, và hiên ngang bước qua Khu cắm trại Bạch Mã.

Cả buổi sáng, khi đi về phía tây tới hồ Bucks, rồi đi về phía bắc và phía tây lần nữa dọc theo bờ hồ trước khi đến con đường khấp khểnh cho xe chạy sẽ đưa tôi trở lại đường mòn PCT, tôi đã nghĩ về cái hộp tiếp tế đang chờ ở thị trấn Belden. Không hẳn là nghĩ về cái hộp, mà là về 20 đô-la ở trong đó. Và cũng không hẳn là nghĩ về 20 đô-la, mà là về số thực phẩm và nước uống mà tôi có thể mua bằng chỗ tiền ấy. Tôi dành hàng giờ liền trong cơn ảo mộng nửa mê ly nửa tra tấn, mơ về những cái bánh quy và bánh kẹp pho mát, sô cô la và chuối, táo và những món xa lát trộn rau và, hơn hết thảy, là vài chai nước chanh Snapple. Chuyện này thật ngớ ngẩn. Trước khi đi chuyến này, tôi đã từng uống vài chai nước chanh và cũng hơi thích chúng, nhưng không đặc biệt thích hay có ấn tượng cụ thể nào. Nước chanh Snapple chưa từng là đồ uống khoái khẩu của tôi. Nhưng lúc này nó lại ám ảnh tôi. Hồng hay vàng, không thành vấn đề. Không một ngày nào trôi qua mà tôi không tưởng tượng đến từng chi tiết rằng mình sẽ cảm thấy như thế nào khi được cầm trong tay một chai rồi đưa lên miệng. Vài ngày tôi phải tự cấm mình nghĩ đến nó để khỏi bị hóa điên hoàn toàn.

Con đường dẫn tới Ba Hồ chỉ vừa mới bắt đầu tan tuyết. Những vết cắt lớn mở rộng ở nhiều chỗ ngang qua con đường và tuyết đang tan chảy thành dòng trong những cái rãnh hoác miệng dọc hai bên đường. Tôi đi men theo con đường dưới tán lá cây dày mà không nhìn thấy ai cả. Đến giữa chiều, tôi thấy bên trong mình có cảm giác giật giật quen thuộc. Tôi nhận ra là mình đến kỳ kinh. Kỳ kinh đầu tiên của tôi trên con đường mòn này. Tôi gần như quên béng nó. Nhận thức mới mẻ về thân thể mình từ khi bắt đầu chuyến đi bộ này đã đánh bật những nhận thức cũ. Chẳng còn bận tâm đến mấy cái tiểu tiết như là mình đang béo lên hay gầy đi dù chỉ một xíu. Chẳng có những cái ngày kiểu như ngày tóc xấu nữa. Những phản ứng nhỏ nhất bên trong bị lấn át bởi sự đớn đau thường trực chỗ cái chân đang nhức nhối hay những bó cơ ở vai hoặc phần lưng trên bị chà xát và thiêu đốt mạnh và nóng đến mức mỗi giờ tôi phải dừng lại vài lần để làm một loạt các động tác nhằm được thoải mái trong chốc lát. Tôi tháo ba lô ra, lục lọi cái túi sơ cứu, và tìm được một miếng bọt biển tự nhiên trong một cái túi khóa zip nhỏ. Tôi mới dùng thử nó vài lần trước khi đem nó đi đường PCT. Hồi còn ở Minneapolis, tôi đã nghĩ miếng bọt biển này là cách khôn ngoan để đối phó với kỳ kinh nguyệt trên đường mòn. Nhưng bây giờ, khi cầm nó trong tay, tôi không còn chắc như thế nữa. Tôi cố gắng rửa tay bằng nước trong chai và nhân tiện vò luôn miếng bọt biển rồi vắt sạch, kéo quần xuống, ngồi xổm trên đường rồi đút miếng bọt biển vào chỗ đó sâu nhất có thể, chặn ngay chỗ cổ tử cung.

Vừa kéo quần lên, tôi nghe thấy tiếng động cơ đến gần, ngay sau đó một chiếc xe tải nhỏ màu đỏ với cabin được nới rộng và cái lốp to bự vòng qua chỗ khúc quanh. Người lái xe đâm phanh kít lại khi giật mình nhìn thấy tôi. Tôi cũng giật mình và đội ơn trời đất là lúc đó tôi không đang ngồi xổm, nửa trần truồng và tay thì dò dẫm trong cái ngã ba của mình nữa. Tôi bồn chồn vẫy tay khi chiếc xe đậu lại cạnh tôi.

“Chào đằng ấy.” Người đàn ông nói, và thò đầu qua cửa sổ để mở. Tôi bắt tay anh ta, ý thức được rằng tay mình vừa mới ở đâu ra. Trên xe có hai người đàn ông khác– một người đằng trước và một người đằng sau với hai cậu bé. Mấy người đàn ông trông khoảng 30 tuổi, mấy cậu con trai thì chắc lên tám.

“Cô đến Ba Hồ à?” Người đàn ông hỏi.

“Vâng.”

Anh ta đẹp trai, bảnh bao và da trắng, giống như người ngồi cạnh anh ta và những cậu bé ngồi đằng sau. Người đàn ông còn lại là người Latin và tóc dài, bụng bự căng lên lù lù trước mặt.

“Chúng tôi cũng đang tới đó để câu cá. Chúng tôi muốn cho cô đi nhờ, nhưng chúng tôi còn có đồ đạc.” Anh ta nói, chỉ tay về sau xe tải, đầy ứ đồ cắm trại.

“Không sao đâu. Tôi thích đi bộ mà.”

“Tối nay có cốc tai kiểu Hawaii đấy, cô ghé qua nhé.”

“Cảm ơn!” Tôi nói và nhìn họ lái xe đi xa.

Tôi đi bộ hết cả chiều ấy nghĩ về thứ cốc tai Hawaii. Tôi không biết đích xác chúng là gì nhưng đối với tôi chúng không khác nước chanh Snapple là bao. Khi đến đầu đường, tôi nhìn thấy chiếc xe đỏ và trại của những người đàn ông ấy dựng ở điểm xa nhất về phía tây của Ba Hồ. PCT chỉ ở ngay ngoài ấy. Tôi đi theo con đường ngắn phía đông dọc bờ hồ, tìm một chỗ tách biệt giữa những tảng đá cuội nằm rải rác quanh hồ. Tôi dựng lều và lẩn vào trong rừng để vắt miếng bọt biển rồi lại đút nó vào. Tôi đi xuôi xuống hồ để lọc nước và rửa tay rửa mặt. Tôi nghĩ đến việc lặn xuống để tắm, nhưng nước lạnh băng và tôi thì đang ớn lạnh với không khí núi rừng. Trước khi đến với PCT, tôi đã tưởng tượng vô kể những lần được tắm trong hồ, sông, suối, nhưng sự thực là hiếm hoi lắm tôi mới được lao mình xuống nước. Cuối ngày, tôi thường đau đớn mệt mỏi và rùng mình với cảm giác giống như bị sốt nhưng thực ra chỉ là bị kiệt sức và ớn lạnh do mồ hôi khô. Trong hầu hết các ngày, cố lắm tôi chỉ vã được nước lên mặt, cởi cái áo phông kết mồ hôi và cái quần soóc trước khi bọc mình trong cái áo khoác nỉ có mũ trùm và quần legging để ngủ qua đêm.

Tôi cởi giày, lột cái băng dính và miếng 2nd Skin ra khỏi chân rồi ngâm chân trong nước lạnh như đá. Khi tôi kỳ chân, một cái móng chân khác đã đen lại rụng vào tay tôi. Cho đến lúc này, tôi đã rơi mất hai cái móng. Hồ bình lặng và trong vắt, những cái cây cao chọc trời và bụi um tùm lá giữa những tảng đá mòn viền quanh hồ. Tôi nhìn thấy một con thằn lằn màu xanh sáng trong bùn; trong một khắc, nó đứng im như đá rồi vụt lẩn đi như một tia chớp. Lều của những người đàn ông không xa chỗ tôi là mấy theo dọc bờ hồ, nhưng họ chưa phát hiện ra sự hiện diện của tôi. Trước khi đến gặp họ, tôi đánh răng, bôi dầu dưỡng môi và lấy lược cào qua mái tóc.

“Cô ấy đây rồi.” Người đàn ông ngồi ở ghế hành khách kêu lên khi tôi thong thả tiến đến. “Cũng vừa đúng lúc.”

Anh ta đưa cho tôi một cái cốc nhựa đầy thứ nước màu vàng mà tôi chỉ có thể đoán là cốc tai Hawaii. Có mấy cục đá bên trong. Có rượu vodka. Có nước dứa. Nhấp một ngụm, tôi tưởng mình sẽ ngất xỉu. Không phải vì rượu cồn làm tôi say, mà vì sự kết hợp tuyệt vời hoàn hảo của đường lỏng với rượu.

Hai người đàn ông da trắng là lính cứu hỏa. Anh người Mỹ Latin là một họa sĩ tay ngang còn nghề chính là thợ mộc. Tên anh ta là Francisco, mặc dầu mọi người thường gọi anh ta là Paco. Anh ta là anh em họ với một trong hai người da trắng, từ Mexico City đến chơi, mặc dù ba bọn họ cùng nhau lớn lên ở cùng một tòa nhà ở Sacramento, hai anh lính cứu hỏa vẫn còn sống ở đó. Mười năm trước, Paco đến thăm bà cụ cố của mình ở Mexico rồi phải lòng một cô gái Mexico, và anh đã ở lại đó. Những cậu con trai của hai anh lính cứu hỏa vụt qua chỗ chúng tôi, chơi trò đánh trận giả trong khi chúng tôi ngồi xung quanh một đống lửa xếp đầy củi gỗ chưa nhóm lên. Hai đứa hò hét từng hồi, thở hổn hển, rồi lại kêu phá lên khi bắn trúng nhau bằng khẩu súng nhựa từ sau những tảng đá.

“Cô đùa à! Cô đùa à!” Hai anh lính cứu kêu lên khi tôi giải thích với họ tôi đang làm gì và cho họ xem hai bàn chân bị hành hạ với tám cái móng còn lại. Họ hỏi hết câu này đến câu khác trong khi sửng sốt, lắc đầu và tiếp thêm cho tôi một cốc cốc tai Haiwaii khác cùng những miếng bánh mì tortilla.

“Đàn bà mới là những người có gan.” Paco nói khi anh làm một tô xa lát guacamole. “Đàn ông chúng tôi thích nghĩ mình là người có gan, nhưng chúng tôi đã lầm.” Tóc của anh ta giống như một con rắn thả xuống lưng, một cái đuôi ngựa dài và dày buộc suốt từ trên xuống bởi những chiếc nịt đơn giản. Sau khi lửa được nhóm lên, và sau khi chúng tôi ăn con cá hồi họ bắt được ở hồ cùng món thịt hầm nấu bằng thịt một con nai mà một trong số họ đã bắn được vào mùa đông năm ngoái, chỉ còn tôi và Paco ngồi lại bên đống lửa khi những người đàn ông kia đọc sách cho con họ trong lều.

“Cô có muốn hút một điếu không?” Anh ta lấy điếu thuốc từ túi áo sơ mi, châm lửa, làm một hơi rồi đưa cho tôi. “Vậy đây là Sierras hả?” Anh ta nhìn ra mặt hồ tối. “Tôi lớn lên ở đây mà chưa bao giờ đặt chân đến đây cả.”

“Đó là Miền Sáng.” Tôi nói, đưa lại cho anh ta điếu thuốc. “John Muir đã gọi nó thế. Tôi có thể hiểu tại sao. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng nào như ở đây. Tất cả những lúc bình minh hay hoàng hôn hắt vào núi.”

“Cô đang đi phiêu, đúng không?” Paco nói, nhìn vào đống lửa.

“Tôi không biết nữa.” Tôi nói. “Anh gọi như thế cũng được.”

“Chính thế đấy.” Anh ta nói, nhìn tôi chăm chú. Anh ta đứng dậy. “Tôi có thứ này cho cô.” Anh ta đi đến sau cái xe tải và trở lại với một cái áo phông. Anh ta đưa nó cho tôi và tôi giơ nó ra. Mặt trước áo là một hình lớn ca sĩ Bob Marley, quanh những lọn tóc cuốn của ông ta là hình ảnh những chiếc guitar điện và những bức tượng thời kỳ Tiền Columbia nhìn nghiêng. Mặt sau là bức hình của Haile Selassie, hiện thân của Chúa trong suy nghĩ của người Rastafaria, những đường hoa văn uốn lượn màu đỏ, vàng hoặc xanh lá vàng bao quanh. “Một chiếc áo thiêng đấy,” Paco nói khi tôi nghiên cứu cái áo qua ánh sáng của đống lửa. “Tôi muốn cô có nó vì tôi có thể nhìn thấy cô bước đi với linh hồn của những loài vật, với linh hồn của đất và trời.”

Tôi gật đầu, lặng đi vì cảm xúc và trạng thái nửa như say và niềm tin phê phê rằng chiếc áo ấy thực sự linh thiêng. “Cảm ơn anh.” Tôi nói.

Khi trở lại lều, tay cầm chiếc áo, tôi đứng ngắm các vì sao trước khi bò vào trong. Không đứng gần Paco nữa, không khí mát lạnh làm cho đầu óc tôi tỉnh táo, tôi băn khoăn về việc đi phiêu. Thậm chí đi phiêu có nghĩa là gì cơ chứ? Mình có đang đi phiêu không? Mẹ có đang đi phiêu không? Mẹ đã đi đâu sau khi qua đời? Quý Bà đi đâu? Có đúng là mẹ và Quý Bà đã cùng nhau vượt sang bờ sông bên kia không? Lý trí nói với tôi rằng họ chỉ đơn giản là chết rồi thôi, mặc dù cả mẹ và Quý Bà đều liên tục hiện về trong những giấc mơ tôi. Những giấc mơ về Quý Bà trái ngược với những giấc mơ tôi có về mẹ – trong những giấc mơ về mẹ, mẹ yêu cầu tôi giết mẹ hết lần này đến lần khác. Trong giấc mơ về Quý Bà, tôi chẳng phải giết một ai cả. Tôi chỉ nhận một bó hoa khổng lồ rực rỡ tuyệt trần mà nó mang đến cho tôi trong cái miệng mềm mại ngậm chặt. Nó dụi mũi vào tôi cho đến tận khi tôi đỡ lấy bó hoa, và nhờ việc đưa hoa như thế, tôi biết mình đã được tha thứ. Nhưng có thực là thế không? Đó có phải linh hồn của nó không, hay chỉ là tâm thức của tôi tạo ra những chuyện này?

Sáng hôm sau, tôi mặc cái áo Paco cho khi đi trở lại đường mòn PCT để đi về thị trấn Belden, thoáng thấy ngọn núi Lassen. Nó cách khoảng 80 cây số về phía bắc, là một ngọn núi lửa phủ tuyết vươn lên cao hơn 3.187 m – một mốc quan trọng đối với tôi không phải chỉ bởi kích thước và sự đường bệ của nó, mà còn vì nó là ngọn núi đầu tiên tôi sẽ vượt qua ở dãy Cascade, dãy này tôi sẽ tới ngay ở phía bắc của thị trấn Belden. Từ Lassen về phía bắc, những ngọn núi của dãy High Cascade sắp thành một hàng ngoằn ngoèo giữa hàng trăm ngọn núi khác ít nổi bật hơn, mỗi ngọn đánh dấu một bước tiến trong hành trình của tôi vào những tuần sắp tới. Trong tâm trí tôi, mỗi một ngọn núi dường như là một thanh xà ngang mà tôi đu theo khi còn bé. Nắm được thanh này rồi thì lại đến thanh khác. Từ đỉnh Lassen đến núi Shasta tới núi McLoughlin tới núi Thielsen tới núi Ba Chị Em – Nam, Trung và Bắc – tới núi Washington tới núi Jack Ba ngón tới núi Jefferson và cuối cùng tới núi Mũ Áo, rồi từ đó đi thêm khoảng 80 cây số sẽ đến được Cầu của Chúa. Tất cả đều là núi lửa, thấp thì dưới 2.438 m và cao thì hơn 4.267 m. Chúng đều là một phần nhỏ của Vành Đai Lửa Thái Bình Dương, một chuỗi dài hơn 40.233 km toàn những núi lửa và những rãnh đại dương bao quanh Thái Bình Dương theo hình móng ngựa từ Chile, dọc lên bờ tây của Trung và Bắc Mỹ, băng qua đại dương tới Nga và Nhật Bản, và hạ ngược xuống Indonesia và New Zealand, trước khi kết thúc ở Nam Cực.

Tôi cứ đi xuống, xuống, và xuống mãi trọn ngày cuối cùng ở Sierra Nevada. Từ Ba Hồ tới Belden chỉ hơn 11 cây số, nhưng trong vòng tám cây số, con đường mòn đã đi xuống tận hơn 1.219 m. Lúc tới được Belden, chân tôi đã bị thương theo một kiểu mới: những đầu ngón chân tôi phồng rộp lên. Theo mỗi bước chúng lại trượt về phía trước, đầu ngón chân không ngừng tì vào thành mũi giày bên trong. Đáng ra đó phải là một ngày dễ dàng với tôi, nhưng cuối cùng tôi đã phải lê mình vào thị trấn Belden với đôi chân khập khiễng đau. Và lúc ấy tôi mới biết rằng trên thực tế, nó không phải là một thị trấn. Nó là một tòa nhà nhỏ bên cạnh đường ray xe lửa. Tòa nhà có một quán bar và một cửa hàng nhỏ, kiêm một cái bưu điện, một nhà giặt là nhỏ xíu và một nhà tắm. Tôi kéo đôi giày ra để trên thềm cửa hàng, đi đôi xăng đan vẫn dùng trong lều và tập tễnh bước vào cửa hàng để lấy cái hộp tiếp tế. Chẳng mấy chốc tôi lấy được cái phong bì chứa 20 đô-la, nhẹ nhõm kinh khủng, trong một phút quên phắt mấy cái ngón chân. Tôi mua hai chai nước chanh Snapple và trở lại bậc thềm để uống hết chai này đến chai kia.

“Áo chất đấy!” Một người phụ nữ nói. Bà có mái tóc ngắn xoăn xám và một con chó to màu trắng có đeo xích. “Đây là Odin.” Bà cúi xuống gãi gãi cổ nó, rồi đứng lên, đẩy chiếc kính tròn nhỏ trở lại sống mũi và nhìn tôi chăm chú tò mò. “Cháu đang đi bộ PCT đấy à?”

Tên bà là Trina. Bà 50 tuổi, là giáo viên tiếng Anh cấp ba ở Colorado, mới bắt đầu hành trình đi bộ vài ngày trước. Bà đi từ thị trấn Belden, theo PCT hướng về phía bắc, thấy tuyết nhiều nên quay về. Thông tin của bà khiến lòng tôi u ám. Liệu có bao giờ tôi thoát được khỏi tuyết không? Khi chúng tôi nói chuyện, một người đi bộ khác bước tới – một người phụ nữ tên là Stacy cũng mới bắt đầu ngày hôm trước, đi lên chính con đường mà tôi đã qua để đến Ba Hồ.

Cuối cùng thì tôi cũng gặp được phụ nữ trên đường! Tôi ngẩn ra vui sướng khi chúng tôi nhanh chóng kể cho nhau nghe về đời mình. Trina là một chuyên gia du lịch bụi vào cuối tuần, lúc nào cũng cuồng chân, Stacy là một người leo núi dày kinh nghiệm đã đi đường mòn PCT với một người bạn từ Mexico đến thị trấn Belden hè năm ngoái. Stacy và tôi nói chuyện về những nơi đã từng qua, về Ed ở đồng cỏ Kennedy, chị đã gặp ông vào hè năm ngoái, và về cuộc sống của chị ở một thị trấn hoang mạc miền nam California, nơi chị làm thủ thư cho công ty của bố và mùa hè thì nghỉ làm để đi bộ đường dài. Chị ấy 30 tuổi và xuất thân từ một gia đình Ireland đông người, da hơi nhợt nhạt, xinh xắn và tóc đen.

“Tối nay mình cắm lều cùng nhau và bàn kế hoạch đi.” Trina nói. “Có một chỗ ở đồng cỏ ngoài kia.” Chị chỉ về một nơi mà đứng ở cửa hàng có thể nhìn thấy. Chúng tôi đi tới đó và dựng lều lên. Tôi dỡ đồ trong cái hộp ra trong khi Trina và Stacy ngồi trên cỏ nói chuyện. Niềm vui sướng ập đến như những cơn sóng mỗi lần tôi lấy ra một món rồi bất giác đưa lên mũi. Những gói mì Lipton cũ hoặc những hạt đậu khô và gạo mà tôi thường ăn cho bữa tối, những thanh Clif vẫn còn sáng bóng và những cái túi zip trong suốt đựng hạt và hoa quả sấy khô. Tôi đã ngán những thứ này đến chết đi được, nhưng nhìn chúng còn mới và vẹn nguyên cũng đủ làm hồi lại chút gì đó trong tôi. Có một cái áo phông mới mà bây giờ tôi không cần vì tôi đã có cái áo Bob Marley, hai đôi tất len mới tinh, và cuốn A summer Bird-Cage (Lồng chim mùa hè) của Margaret Drabble, mà tôi chưa hẳn sẵn sàng đọc cho lắm – tôi mới chỉ ngốn được nửa cuốn Tiểu thuyết và đã ném số trang đó vào đống lửa của Paco. Và, quan trọng nhất là, có một cuộn 2nd Skin còn mới nguyên.

Tôi tháo giày ra và ngồi xuống, chăm sóc hai bàn chân bị dập. Khi con chó của Trina bắt đầu sủa, tôi nhìn lên và thấy một người đàn ông trẻ tuổi, tóc vàng, mắt xanh và cao lêu nghêu. Chỉ cần thoáng nhìn dáng đi lê lê kia là tôi biết ngay cậu ta là một người đi bộ trên PCT. Cậu ta tên là Brent, và khi cậu ta tự giới thiệu về mình, tôi đã chào đón cậu như một người bạn cũ, mặc dù chưa từng gặp trước đây. Hồi còn ở đồng cỏ Kennedy tôi đã nghe những câu chuyện về cậu. Greg, Albert và Matt đã kể với tôi là cậu ta lớn lên tại một thị trấn nhỏ ở Montana. Cậu ta từng đến một quầy bán đồ ăn nhanh trong thị trấn gần con đường mòn ở miền nam California, gọi một cái bánh sandwich có kẹp suýt soát một cân thịt bò nướng, và đánh bay chỉ trong sáu miếng. Cậu ta cười phá lên khi tôi nhắc lại chuyện đó, sau đó cậu ta tháo ba lô và ngồi xuống để nhìn cái chân của tôi gần hơn.

“Giày của chị quá nhỏ rồi,” cậu ta nói, lặp lại những gì Greg đã nói với tôi hồi ở thành phố Sierra. Tôi nhìn cậu ta lơ đãng. Đôi giày của tôi không thể nào quá nhỏ được. Chúng là đôi giày duy nhất tôi có.

“Chắc là do từ Ba Hồ đến đây chị toàn đi xuống thôi.” Tôi nói.

“Nhưng vấn đề là,” Brent trả lời, “nếu đi cỡ đúng thì chị có thể xuống dốc mà không dồn chân xuống mũi giày. Giày sinh ra là để làm thế, để chị có thể đi xuống.”

Tôi nghĩ về những người tốt bụng ở REI. Tôi nhớ người đàn ông đã bắt tôi đi lên đi xuống một đoạn dốc nhỏ bằng gỗ trong cửa hàng chỉ vì lý do này: để chắc chắn là ngón chân tôi không bị tì vào mõm giày khi đi xuống và gót chân tôi không bị cọ vào gót giày khi đi lên. Hình như hồi ở cửa hàng chúng không bị như thế. Bây giờ thì hẳn là lúc ấy tôi đã lầm hoặc bàn chân tôi đã to ra và chẳng có gì phủ nhận được rằng chừng nào còn đi đôi giày này thì tôi chắc chắn còn sống trong địa ngục.

Nhưng chẳng thể làm gì hơn. Tôi chẳng có tiền để mua giày mới, mà dẫu có tiền thì cũng chẳng mua được ở đâu. Tôi đi đôi xăng đan và quay trở lại cửa hàng, trả một đô-la để được tắm rửa, mặc bộ quần áo mưa trong khi quần áo được giặt và hong khô trong máy giặt. Tôi gọi cho Lisa trong khi chờ đợi và phấn chấn hơn khi nghe thấy nó trả lời điện thoại. Chúng tôi nói về cuộc sống của Lisa và tôi kể cho nó đại khái về cuộc sống của tôi. Chúng tôi cùng nhau nói lại về hành trình mới của tôi. Sau khi cúp máy, tôi ký vào sổ nhật ký lữ hành đường mòn PCT và tìm lướt qua cuốn sổ xem Greg đã đi qua đây lúc nào. Tên anh không có ở đó. Sao lại có chuyện anh đi sau tôi được nhỉ.

“Cậu có nghe tin gì về Greg không?” Tôi hỏi Brent khi quay trở lại với bộ quần áo sạch sẽ trên người.

“Anh ta bỏ cuộc vì tuyết rồi.”

Tôi nhìn cậu ta, ngạc nhiên. “Cậu có chắc không?”

“Những người Úc đã nói với em vậy. Chị đã gặp họ chưa?”

Tôi lắc đầu.

“Họ là một cặp vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật. Họ cũng quyết định bỏ ngang PCT. Thay vào đó họ đi AT.”

Chỉ khi tôi quyết định đi PCT tôi mới biết là có AT – đường mòn Appalachian, là anh chị em họ của PCT nhưng nổi tiếng và phát triển hơn nhiều. Cả hai đều chính thức thành đường mòn quốc gia vào năm 1968. AT dài 3.500 km, ngắn hơn gần 805 km so với PCT, và đi theo sống núi của dãy Appalachian từ Georgia đến Maine.

“Greg cũng đi AT chứ?” Tôi hỏi.

“Không, anh ấy không muốn cứ phải bỏ qua nhiều đoạn của con đường thế, hết đi đường vòng lại đổi lộ trình, nên anh ấy để năm sau quay lại. Ấy là em nghe đôi người Úc kể vậy.”

“Ôi.” Tôi nói, cảm thấy không vui với tin này. Kể từ cái ngày tôi gặp anh ấy đúng lúc tôi định bỏ cuộc, đối với tôi Greg đã như bùa hộ mệnh vậy. Anh tin rằng nếu anh có thể làm được thì tôi cũng có thể, và bây giờ thì anh đã bỏ cuộc rồi. Và những người Úc cũng vậy, tôi chưa gặp họ bao giờ nhưng vẫn có thể ngay lập tức tưởng tượng ra hình ảnh họ. Không cần nhìn tôi cũng biết họ có màu da vàng sẫm và kiểu người Amazon, nhờ dòng máu Úc mà thân hình phù hợp đến hoàn hảo cho những hoạt động ngoài trời – tôi không bao giờ được như họ. “Tại sao cậu không đi AT thay vì PCT?” Tôi hỏi, lo sợ là cậu ta sẽ thổ lộ rằng thực ra cậu ta cũng sẽ đi thế.

Cậu ta nghĩ một lúc. “Quá nhiều người.” Cậu ta nói. Cậu ta tiếp tục nhìn tôi, nhìn vào khuôn mặt Bob Marley to đùng trên ngực tôi, như thể định nói thêm gì. “Mà, cái áo hơi bị ngầu đấy nhé.”

Tôi chưa từng đặt chân lên AT, nhưng tôi đã nghe thấy những người đàn ông ở đồng cỏ Kennedy nói rất nhiều về nó. Đó là họ hàng thân thuộc nhất của PCT nhưng cũng bởi vì thế mà trái ngược ở nhiều điểm. Mỗi mùa hè, có khoảng 2.000 người đi bộ qua AT, và mặc dù chỉ vài trăm người trong số đó đi hết được con đường thì như thế cũng hơn rất nhiều so với vỏn vẹn trên dưới trăm người đi PCT mỗi năm. Vào hầu hết các đêm, những người đi bộ trên AT cắm trại bên trong hoặc gần những khu nhà ở co cụm lại dọc con đường. Trên AT, những điểm dừng tiếp tế gần nhau hơn, và có nhiều thị trấn thực sự hơn, không giống như trên PCT thường chẳng có gì ngoài một bưu điện và một quán bar hay một cửa hiệu tí hin. Tôi tưởng tượng cặp người Úc đang trong kỳ trăng mật bây giờ đang trên AT kia, ăn bánh mì kẹp bơ và tu bia ừng ực trong một quán rượu cách con đường một vài cây số, ngủ qua đêm dưới một mái nhà gỗ. Họ có thể đã được những người cùng đi trên đường ấy đặt cho những cái biệt danh đường mòn. Ở AT, chuyện đó phổ biến hơn PCT rất nhiều, mặc dù chúng tôi cũng có cách đặt biệt danh riêng. Greg, Matt và Albert gọi Brent là Cậu Nhóc trong một nửa những lần họ nói chuyện về cậu, mặc dù cậu chỉ trẻ hơn tôi có mấy tuổi. Greg đôi khi được gọi là Nhà Thống Kê vì anh ta biết nhiều số liệu và dữ liệu về con đường rồi lại còn làm nghề kế toán. Matt và Albert là Hướng Đạo Sinh Đại Bàng, còn Doug và Tom là Học Sinh Tư Thục. Tôi không nghĩ họ có đặt tên cho tôi, nhưng tôi có cảm giác rằng nếu có thì tôi cũng không muốn biết đó là gì.

Tối hôm đó, Trina, Stacy, Brent và tôi ăn tối trong quán bar sát với cửa hàng Belden. Sau khi trả tiền tắm rửa, giặt giũ, mấy chai Snapple, một vài đồ ăn vặt và những thứ lặt vặt khác, tôi còn 14 đô-la. Tôi gọi xa lát rau và một đĩa khoai tây khiên, hai món này đều rẻ tiền và thỏa mãn được thèm muốn cồn cào nhất trong tôi theo hai cách trái ngược nhau hoàn toàn: một món thanh tao còn món kia thì mỡ màng. Tất cả tiêu tốn của tôi năm đô-la, nên bây giờ tôi còn chín đô-la để đi toàn bộ quãng đường đến cái hộp tiếp tế tiếp theo. Hơn 215 km để đến vườn Tưởng niệm quốc gia Thác McArthur-Burney, ở đó có một cửa hàng đồ dùng cho phép những người đi PCT sử dụng như trạm tiếp tế. Tôi buồn bã ngồi uống nước đá trong khi những người kia nhấp bia. Lúc ăn, chúng tôi nói chuyện về đoạn đường phía trước. Với tất cả nguồn tin có được, chúng tôi biết nó đang ngập tuyết trong những đoạn dài. Gã pha chế đẹp trai nghe lỏm được câu chuyện và tiến đến chỗ chúng tôi để báo một tin đồn rằng vườn quốc gia Núi lửa Lassen vẫn còn vùi dưới hơn năm mét tuyết. Họ đang dọn đường để vớt vát lại mùa du lịch dù là ngắn.

“Cô muốn uống gì không?” Anh ta hỏi khi bắt gặp ánh mắt tôi. “Miễn phí thôi.” Anh ta thêm vào khi thấy tôi lưỡng lự.

Anh ta mang cho tôi một ly vang nho lạnh đầy tới tận miệng. Nhấp một ngụm, lập tức tôi thấy chếnh choáng với niềm khoái cảm, hệt như lúc uống cốc tai Hawaii tối hôm trước. Lúc trả hóa đơn, chúng tôi quyết định khi rời khỏi Belden vào buổi sáng sẽ đi theo những con đường cho xe chạy ở độ cao thấp kết hợp với PCT trong khoảng hơn 80 km, trước khi bắt xe đi vòng để tránh đoạn ngập tuyết của PCT ở vườn quốc gia Núi lửa Lassen, rồi nhập lại PCT ở một nơi gọi là Ga Cũ.

Sau khi chúng tôi trở lại lều, tôi ngồi trên ghế viết thư cho Joe bằng một tờ giấy xé ra từ cuốn sổ. Sắp đến sinh nhật của anh và rượu khiến tôi nhớ đến anh. Tôi nhớ một tối năm ngoái khi đi dạo với anh, tôi mặc chiếc váy ngắn và chẳng mặc gì khác bên trong, làm tình với anh, dựa ngay vào bức tường đá ở một góc kín đáo trong công viên công cộng. Tôi nhớ cảm giác phấn khích mỗi lần chúng tôi chơi ma túy và thuốc nhuộm từ tóc của anh đã phai ra gối tôi làm nó hóa xanh thế nào. Tôi không cho mình viết ra những thứ ấy trong thư. Tôi ngồi đấy tay cầm bút, chỉ nghĩ về chúng và về những thứ tôi có thể kể anh nghe về thời gian tôi ở PCT. Thật khó để anh hiểu được tất cả những gì đã xảy ra với tôi trong cái tháng kể từ khi tôi gặp anh ở Portland. Những ký ức về mùa hè năm ngoái xa lạ với tôi chẳng khác nào anh sẽ thấy xa lạ khi đọc thư tôi miêu tả mùa hè năm nay của tôi, nên cuối cùng tôi chỉ viết cho anh gần như một tràng dài các câu hỏi. Hỏi rằng anh thế nào, anh đang làm gì, anh đang ở với ai, anh đã làm cái cuộc đào thoát mà anh bóng gió đến trong tấm bưu thiếp gửi cho tôi ở đồng cỏ Kennedy chưa, và đã cai nghiện được chưa. Tôi hy vọng là anh đã cai được rồi. Không phải tốt cho tôi mà là cho anh. Tôi gấp bức thư lại, cho vào bức phong bì Trina đưa cho tôi. Tôi nhặt vài bông hoa dại từ đồng cỏ rồi nhét vào bên trong trước khi dán phong bì lại.

“Tôi sẽ đi gửi cái này.” Tôi nói với những người khác, rồi đi theo ánh đèn của cái đèn đeo đầu, đạp chân lên cỏ và đi theo con đường đất tới hòm thư bên ngoài cửa hàng đã đóng.

“Này, người đẹp.” Giọng một người gọi tôi sau khi tôi đút bức thư vào hòm. Tôi chỉ nhìn thấy đầu lập lòe của một điếu thuốc trên bậc thềm tối.

“Xin chào.” Tôi nói giọng thấp thỏm.

“Tôi đây. Anh pha chế đây.” Anh ta nói, bước vào trong ánh sáng mờ mờ để tôi có thể nhìn thấy mặt. “Cô có thích cốc rượu của cô không?”

“A, chào anh. Anh tốt quá. Cảm ơn nhé.”

“Tôi vẫn đang làm việc,” anh ta nói, búng tàn thuốc lá vào một cái cây. “Nhưng chỉ lát nữa sẽ nghỉ thôi. Xe của tôi ở ngay bên đường, nếu cô muốn ghé qua tiệc tùng một chút. Tôi có thể lấy cả một chai vang nho cô thích ấy.”

“Cảm ơn anh.” Tôi nói. “Nhưng mai tôi phải dậy rồi lên đường sớm.”

Anh ta rít một hơi thuốc nữa, đầu thuốc cháy rực lên. Sau khi anh ta đưa cho tôi cốc rượu đó tôi đã ngắm anh ta một chút. Tôi đoán anh ta khoảng 30 tuổi. Anh ta trông rất bảnh trong chiếc quần jean đó. Tại sao mình lại không nên đi theo anh ta nhỉ?

“Ồ, cô cứ từ từ nghĩ đi, nếu muốn đổi ý.” Anh ta nói.

“Ngày mai tôi phải đi hơn 30 cây số.” Tôi trả lời như thể điều đó có ý nghĩa gì với anh ta lắm ấy.

“Cô có thể ngủ ở chỗ tôi.” Anh ta nói. “Tôi cho cô mượn giường, còn tôi ngủ trên ghế sô pha, nếu cô muốn. Tôi cá là một cái giường thì tuyệt thế nào sau khi cô toàn có ngủ đất.”

“Tôi đã dựng lều hết lên ở đằng kia rồi.” Tôi chỉ về phía đồng cỏ.

Tôi trở về lều, vừa buồn nôn vừa bối rối và sung sướng bởi ý đồ của anh ta, run hết người vì khát khao lộ liễu. Khi tôi trở lại, hai chị kia đã kéo khóa nằm trong lều, còn Brent đang đứng trong bóng tối, ngước lên nhìn các vì sao.

“Đẹp đúng không?” Tôi thì thầm, cùng ngắm sao với cậu. Khi nói thế, tôi chợt nhớ ra là mình đã không khóc lần nào kể từ lúc bước chân lên con đường này. Sao có thể thế được? Sau tất cả những lần tôi đã vật vã khóc than, dường như chuyện đó không thể là sự thật, nhưng mà đúng như vậy. Tôi suýt thì chảy nước mắt khi nhận ra điều này, nhưng thay vì thế tôi lại cười phá lên.

“Chuyện gì mà buồn cười thế?” Brent hỏi.

“Không có gì.” Tôi nhìn đồng hồ. 10 giờ 15 phút. “Thường thì giờ này chị đã ngủ say rồi.”

“Em cũng vậy.” Brent nói.

“Nhưng tối nay chị tỉnh như sáo ý”.

“Được tái hòa nhập nên mừng quá đấy mà.” Cậu nói.

Cả hai chúng tôi cùng bật cười. Tôi đã vui sướng cả ngày nay vì được làm bạn với những người phụ nữ, biết ơn vô vàn kiểu chuyện trò mà hiếm lắm tôi mới có kể từ khi bắt đầu đi PCT, nhưng kỳ lạ là tôi lại thấy gần gũi nhất với Brent, chỉ vì cảm thấy cậu quen thuộc thế nào đó. Đứng cạnh cậu, tôi nhận ra cậu gợi nhớ đến em trai tôi, người mà dù xa xôi cách trở tôi vẫn thương yêu hơn bất cứ ai.

“Chúng ta nên ước gì đó.” Tôi nói với Brent.

“Không phải chờ đến khi có sao băng ạ?” Cậu hỏi.

“À, thông thường là thế. Nhưng chúng ta có thể ra luật mới mà.” Tôi nói. “Ví dụ nhé: tôi ước đôi giày không làm đau chân tôi nữa.”

“Không được nói ra như thế!” Cậu cáu kỉnh. “Như thổi nến sinh nhật ấy. Chị không được nói cho ai biết chị ước gì. Giờ nó không thành thật được nữa rồi. Chân chị đi đời rồi.”

“Không nhất thiết phải thế.” Tôi nói vẻ phẫn nộ, mặc dù tôi cảm thấy khó chịu vì biết rằng cậu đúng.

“Rồi, em ước xong rồi. Đến lượt chị.” Cậu nói.

Tôi nhìn lên một ngôi sao, nhưng tâm trí tôi cứ đi hết chuyện này sang chuyện khác. “Ngày mai cậu sẽ đi sớm lúc nào?” Tôi hỏi.

“Ngay từ tia sáng đầu tiên.”

“Chị cũng vậy.” Tôi nói. Tôi không muốn chào tạm biệt cậu vào sáng mai. Trina, Stacy và tôi đã quyết định đi bộ và cùng nhau cắm lều trong mấy ngày tới, nhưng Brent đi nhanh hơn chúng tôi, tức là sẽ tiếp tục một mình.

“Thế chị ước chưa?” Cậu hỏi.

“Chị vẫn đang nghĩ.”

“Nên ước bây giờ đi ạ. Tối cuối cùng chúng ta ở Sierra Nevada.”

“Tạm biệt Miền Sáng.” Tôi nói với bầu trời.

“Chị có thể ước một con ngựa.” Brent nói. “Rồi chị sẽ không phải lo lắng về cái chân của mình nữa.”

Tôi nhìn cậu trong bóng tối. Đúng vậy – PCT mở ra cho cả người đi bộ lẫn động vật chở hàng, mặc dù tôi chưa gặp một người cưỡi ngựa nào trên con đường này. “Chị từng có một con ngựa đấy,” tôi nói, quay lại nhìn lên bầu trời. “Thực ra thì là hai.”

“Thế thì chị may mắn thật đấy. Có phải ai cũng có ngựa đâu.”

Chúng tôi cùng nhau im lặng trong nhiều phút.

Và rồi tôi ước.

Dịch thuật: Quế Chi
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.