“A Chiêm, cháu đã nhìn kỹ tà khí trên người cha cháu chưa?” Chú Bao hỏi.
Nguyễn Chiêm ngẫm nghĩ một lúc: “Ông ấy đi đến núi Thiết Đầu là để mượn cái nơi chốn tự nhiên không tụ linh khí ấy nhằm xả bớt tà khí, nhưng hình như chẳng có tác dụng gì mấy. Con cảm thấy tà khí trên người ông ấy còn lợi hại hơn lần trước chúng ta gặp nữa. Lúc đó, ông ấy vẫn có thể áp chế để tà khí không hiện ra bên ngoài, thế nên con hoàn toàn không nhìn ra, là huyết mộc kiếm cảm ứng được. Còn lần này――đã rất rõ ràng rồi.” Cậu nhớ lại đám mây đen bên cạnh cha mình, trong lòng đau nhói.
“Ngoài điều đó ra, cháu không phát hiện ra điều gì khác sao?” Chú Bao lại hỏi.
Nguyễn Chiêm lắc đầu, nhất thời có chút nghi hoặc, không hiểu ý của chú Bao là gì? Lẽ nào trên người cha còn có bí mật nào khác?
“Thật tiếc cho năng lực bẩm sinh của cháu, vậy mà lại không chịu quan sát kỹ lưỡng người cha của mình. Cháu không phát hiện ra tà khí trên người ông ấy không chỉ có một loại, hơn nữa chính vì ông ấy đang níu kéo nên mới không bị tiêu tán quá nhanh sao?” Chú nói vô cùng trầm thống, khiến mấy người trẻ tuổi đều giật mình.
“Không phải là――đi xả tà khí sao? Tại sao còn phải níu kéo không buông?” Tiểu Hạ thốt lên thắc mắc của tất cả mọi người.
Chú Bao không trả lời, mà nhìn sang Nguyễn Chiêm. Nguyễn Chiêm cúi đầu, cố gắng hồi tưởng lại khung cảnh gặp gỡ cha hôm đó, đó là điều mà cậu vẫn luôn không muốn, cũng không dám hồi tưởng lại một cách tỉ mỉ. Hôm nay được chú Bao nhắc nhở nên ngẫm nghĩ lại thật kỹ, bỗng chốc tim đập thình thịch, không nói rõ được rốt cuộc là chuyện gì, chỉ cảm thấy có chỗ nào đó không đúng!
Cậu liếc nhìn chú Bao, chú Bao gật gật đầu: “Không sai, tà khí trên người cha cháu không chỉ có một loại, bây giờ để chú nói cho cháu biết tại sao lại như vậy. Các cháu nhất định cho rằng loại khí tức vốn chỉ có ở những kẻ đại ác trên người ông ấy, thì chắc chắn ông ấy đã làm chuyện đại ác gì đó, tại sao không ai nghĩ rằng, chính vì ông ấy làm việc đại thiện nên mới thành ra thế này chứ?”
“Làm việc thiện?” Bao Đại Đồng vội vàng nói: “Lẽ nào bác trai lúc hành thiện bị tà vật nào đó đả thương? Hay là lúc đấu pháp bị tẩu hỏa nhập ma?”
“Trước tiên chú kể cho các cháu nghe một câu chuyện truyền thuyết nhé!” Chú Bao đột nhiên nói.
Bao Đại Đồng và Tiểu Hạ đều là tính tình nóng vội, sao mà đủ kiên nhẫn nghe kể chuyện vào lúc này, nhưng chú Bao hoàn toàn không cho họ cơ hội phản đối, đã chậm rãi kể ra.
“Trong Phật giáo có một vị Khổ Nạn Phật, không biết các cháu đã từng nghe qua chưa. Pháp tướng của ngài cực kỳ khó coi, lúc nào cũng cau mày buồn bã, rất ít người chịu cúng bái ngài, thế nhưng vì cứu vớt chúng sinh, ngài đã gánh vác tất cả khổ nạn trên khắp thế gian lên người mình. Cho dù các cháu chưa từng nghe qua vị Phật tổ này, thì Địa Tạng Vương Bồ Tát chắc chắn các cháu từng nghe qua chứ? Bùa hộ mệnh bằng ngọc trên cổ Tiểu Hạ chính là pháp tướng của ngài. Ngài từng nói, chỉ cần dưới địa ngục vẫn còn một oán hồn, ngài vĩnh viễn không ra khỏi địa ngục, vĩnh viễn không thành Phật. Đất trời đều là những tinh thần vô cùng vĩ đại, tấm lòng vô cùng từ bi, đây chính là đại ái, yêu thương cả thế gian. Thế nhưng còn có một truyền thuyết nữa, mà chú cho rằng người đó còn vĩ đại hơn.” Chú liếc nhìn bốn người trẻ tuổi một cái, nói tiếp: “Trong truyền thuyết, tất cả cái ác trên cõi đời này đều sẽ được chính khí thu nạp, nhốt vào một nơi giống như cái bình chứa khổng lồ, chờ đợi thiên địa nhị khí điều chỉnh hoặc luyện hóa tà khí. Thế nhưng vì sức phá hoại của “cái ác” quá lớn, cái bình chứa đó cứ cách vài trăm năm lại hư hỏng một lần. Vào lúc này, cần rất nhiều người tu hành hợp sức lại giam giữ tà khí một trận, đợi khi bình chứa tự động hồi phục rồi, mới thả chúng vào trong đó.
Trong cái vòng luân hồi mà thế nhân không hề hay biết này, cuộc đấu tranh vô cùng khốc liệt, không hề dễ dàng như chú nói, luôn đi kèm với sự thương vong nặng nề của những người tu hành, đôi khi còn dẫn đến việc giam giữ tà khí thất bại do sức mạnh của cái ác quá lớn, mà sức mạnh của người tu hành lại quá yếu. Lúc này, luồng tà khí vô hình này sẽ lan tràn vào nhân gian, xâm nhập vào linh hồn của con người, khiến con người trở nên tàn nhẫn và hung ác, dụ dỗ con người làm điều ác, hoặc gây ra chiến tranh, cho đến khi sinh linh điêu đứng, dân chúng lầm than. Không biết là năm tháng nào, cái bình chứa này lại sắp hỏng, nhưng vào thời điểm đó, do sự thất bại của hành động giam giữ tà khí lần trước, không những khiến tà khí xâm nhập vào nhân gian, mà còn hy sinh hơn một nửa số người có tu vi, trải qua bao nhiêu năm như vậy mà vẫn chưa hồi phục, cho nên hành động lần này xem ra vẫn không thể thành công. Mà nếu liên tiếp thất bại hai lần, chắc chắn sẽ khiến nhân gian không thể gánh chịu nổi những đợt tập kích liên tiếp của tà khí, những thứ mỏng manh như sự lương thiện và tốt đẹp sẽ bị tiêu diệt sạch sành sanh!
Để giải quyết việc này, tất cả những người có tu vi của cả hai phái Phật đạo, thậm chí cả một số linh thể và yêu quái có chút lòng trắc ẩn đều tụ tập lại với nhau, muốn tìm ra phương pháp giải quyết. Thế nhưng mọi người đã nỗ lực hết sức mà vẫn không có tác dụng, có người sẵn sàng hy sinh tu vi và sinh mạng của bản thân, thậm chí sẵn sàng tan thành mây khói để cứu vớt nhân gian cũng đành bất lực. Nhìn cái bình chứa giam giữ tà khí sắp vỡ đến nơi, cuối cùng một người trong số họ đã nghĩ ra một cách chia nhỏ ra nuốt lấy. Ông ấy đánh ngất người bạn thân đang canh giữ bình chứa, mở một khe hở nhỏ trên bình chứa, để những luồng tà khí đó từ từ tản ra. Ông ấy đứng chờ sẵn ở một bên, tà khí vừa rỉ ra là ông ấy liền dẫn dụ vào người mình, lấy cơ thể mình làm bình chứa, gánh chịu một phần tà khí. Bằng cách này, sức mạnh của cái ác đã được chia thành hai phần, sức mạnh của mỗi phần đều bị suy yếu đi rất nhiều, các đạo hữu khác chỉ cần đối phó riêng rẽ thì nhất định sẽ vượt qua được kiếp nạn này.
Ông ấy biết rằng cho dù tu vi của mình có thâm sâu đến đâu, thì sau khi gánh chịu những tà khí này, tâm tính của ông ấy vẫn bị tà khí ăn mòn, cho nên ông ấy sẽ ngay lập tức đánh mất bản ngã, một vị tông sư đường đường chính chính cứ thế trở thành một ác ma. Mà sau đó, ông ấy bắt buộc phải bảo đảm những người khác dùng thủ đoạn tàn độc nhất để giết chết mình, và hủy hoại linh hồn của mình, thì ông ấy mới có thể đồng vu tận với luồng tà khí đó. Cái chết, đối với những người tu hành mà nói thì không hề đáng sợ, hồn phi phách tán, đối với những người một lòng trừ ma vệ đạo mà nói, cũng có một số người có thể làm được, thế nhưng thứ mà ông ấy phải gánh chịu lại là sự hy sinh lớn lao hơn nữa.
Những sự hy sinh khác, thế nào cũng sẽ có người biết đến, có người cảm kích, có người khắc ghi, còn sự hy sinh kiểu này của ông ấy thì không một ai có thể thấu hiểu, ông ấy chỉ nhận lại sự căm ghét, chế nhạo và coi thường. Ông ấy ra đi không phải với tư cách là một anh hùng, mà là một ác ma bị người đời phỉ nhổ. Địa Tạng Vương Bồ Tát vĩ đại, bởi vì ngài sẵn sàng mang ánh sáng đến cho những oán hồn ác quỷ: Khổ Nạn Phật vĩ đại, là bởi vì ngài sẵn sàng chịu đựng mọi bi thương và đau khổ thay cho nhân loại, mặc dù họ hy sinh vì thế nhân như vậy mà không đòi hỏi bất kỳ sự hồi đáp nào, nhưng họ lại nhận được sự tôn sùng và kính trọng của người đời, nhận được sự thành kính cúi lạy và cảm kích từ tận đáy lòng của con người. Còn ông ấy thì sao? Ông ấy chết đi, đến cả linh hồn cũng không còn lại một mảnh, nhưng không ai biết đến sự hy sinh mà ông ấy đã bỏ ra, ông ấy dùng sức của một người để cứu rỗi thế nhân, thế nhưng lại bị người đời sau nhớ đến như một kẻ xấu bị cái ác phản phệ vì trong lòng sinh niệm ác, hoặc thậm chí là bị lãng quên hoàn toàn!
Hơn nữa khoảnh khắc ông ấy dẫn tà khí vào cơ thể, tà khí đã hòa quyện làm một với linh hồn của ông ấy. Nếu như sau khi ông ấy hóa ma, các vị đạo hữu khác có thể đánh cho ông ấy hồn phi phách tán, thì đối với ông ấy mà nói đó chính là may mắn, nhưng nếu vì thực lực của các đạo hữu không đủ mà không thể tiêu diệt hoàn toàn ông ấy, vậy thì linh hồn của ông ấy sẽ rơi vào Vô Gián Địa Ngục, phải chịu đựng nỗi đau khổ không có điểm dừng. Mà những điều này, vẫn sẽ không có ai biết đến, thậm chí ngay cả bản thân ông ấy, cũng đã mất đi ý chí của chính mình, từ đó không còn nhận ra người thân, không còn nhận ra bạn bè, triệt để trở thành một ác ma không có tâm tính, đang chịu tội nơi địa ngục.
Trước khi làm việc này, ông ấy đã suy nghĩ cẩn thận từng chi tiết một, cũng hiểu rõ hậu quả của việc làm như vậy, nhưng trong lòng ông ấy mang một tấm lòng từ bi vô song, cho nên hoàn toàn tình nguyện hy sinh, không màng hồi đáp, không màng cảm kích cũng chẳng cần ai thấu hiểu, thà vì những người đời phỉ báng hiểu lầm mình mà đánh mất bản ngã, gánh chịu tiếng nhơ, một mình hóa ma để cứu vạn người!”
Nói đến đây, cổ họng chú Bao nghẹn lại, bốn người trẻ tuổi cũng thở dài ngao ngán, nước mắt Tiểu Hạ đã rơi xuống: “Sau đó thì sao? Ông ấy cứ thế bị oan uổng vậy sao?”
“Ông ấy nghĩ như vậy, và cũng làm như vậy, chỉ là vô tình bị người tri kỷ tâm giao phát hiện ra chuyện này. Sau khi cùng bạn tri kỷ uống rượu tâm sự, ông ấy nhân lúc bạn không chú ý đã xóa đi ký ức của đối phương, rồi không chút do dự hành động theo kế hoạch. Đêm hôm đó, vào khoảnh khắc trước khi hóa ma, ông ấy đã dốc hết sức lực để đánh thức các đạo hữu khác, bao gồm cả người bạn thân của mình, đồng thời diễn một màn kịch nhân tâm hướng ác, rồi như ý nguyện bị các đạo hữu giết chết. Mọi người đều mắng ông ấy là ngụy quân tử, trước nay đã nhìn nhầm nhân phẩm của ông ấy, còn việc ông ấy dẫn tà khí lên người khiến những người khác thuận lợi giam giữ tà khí thành công thì bị cho là ý trời định sẵn, không một ai biết đến những gì ông ấy đã bỏ ra vì việc này. Chỉ là, bậc cao thủ có tu vi của thế hệ này quá ít ỏi, cho dù là ông ấy đã sử dụng kế sách chia nhỏ ra nuốt lấy, thì những người đó vẫn không thể tiêu diệt triệt để tà khí trên người ông ấy, đến nỗi mà sau này ông ấy vẫn luôn phải chịu khổ trong Vô Gián Địa Ngục.”
“Vậy bây giờ thì sao? Ông ấy vẫn còn đang chịu khổ sao? Cứ để một mình người đó chịu ấm uất vậy ư?” Tiểu Hạ lại hỏi.
“Đứa ngốc ạ, câu chuyện này có thể lưu truyền đến ngày nay, chắc chắn là người bạn thân của ông ấy sau đó đã khôi phục lại ký ức, nếu không thì làm sao chúng ta biết được chứ? Mặc dù chúng ta không biết tên của ông ấy, nhưng ít ra chúng ta đã biết câu chuyện của ông ấy. Còn việc rốt cuộc ông ấy có còn đang chịu khổ trong Vô Gián Địa Ngục hay không, thì chú không biết nữa.”
“Chuyện này thì có liên quan gì đến cha tôi?” Nguyễn Chiêm mặc dù cũng giống như những người khác đang chìm đắm trong câu chuyện, cảm nhận nhân cách vĩ đại của con người trong truyền thuyết kia, nhưng dẫu sao thì cậu vẫn tỉnh táo hơn một chút, lập tức liên tưởng đến người cha của mình. Tại sao chú Bao lại kể câu chuyện này, tại sao lại nói cha có nỗi khổ tâm, tại sao lại nói bọn họ đều hiểu lầm cha? Lẽ nào cha cũng làm chuyện giống y như vậy sao?
Chú Bao trầm ngâm một lát: “A Chiêm à, lão cha của cháu chắc không nói cho cháu biết đâu nhỉ, quan hệ của chú với ông ấy cũng giống như quan hệ giữa cháu với Vạn Lý vậy, là bạn bè từ nhỏ cho đến lớn, chú nghĩ sở dĩ ông ấy không nói là vì sợ cháu đến tìm chú để dò hỏi chuyện của ông ấy, bởi vì chú biết rất nhiều chuyện. Cháu có biết ông ấy thích gì nhất không? Thích tuyết nhất. Không phải là vì vào lúc tuyết rơi, vạn vật đất trời đều được khoác lên mình tấm áo bạc trắng vô cùng xinh đẹp, mà là bởi vì tuyết có thể thanh lọc vạn vật. Những thứ xấu xí trở nên xinh đẹp, những thứ dơ bẩn trở nên tươi mới, cuối cùng tuyết hóa thành dòng bùn đen dơ bẩn, mang theo sự dơ bẩn trên thế gian này đi. Từ nhỏ ông ấy đã có phẩm chất giống như tuyết, lớn lên cũng làm như vậy. Ông ấy tuy tu đạo, nhưng lại có lòng từ bi của nhà Phật. Chú nghĩ, cháu nên hiểu ý của chú rồi chứ.”
Nghe những lời này, sự chấn động trong lòng Nguyễn Chiêm là không thể diễn tả nổi, ba người còn lại cũng vậy. Thế nhưng, mặc dù cha vì hành thiện mà thành ác, mặc dù ông ấy mang đại từ bi, nhưng nguyên nhân của sự việc rốt cuộc là gì?
“Ông ấy bắt đầu từ khi nào, không lẽ là cái gọi là bình chứa kia bị rò rỉ sao?” Nguyễn Chiêm hỏi.
Chú Bao cười khổ: “Đó chỉ là một truyền thuyết, nhưng cha cháu quả thực cũng vì ức ác dương thiện mới đi đến bước đường này. Cháu biết đấy, sư phụ của ông ấy là Tư Mã Nam là một kẻ cuồng đạo thuật, nếu không phải vì mê muội đạo thuật, ông ta sẽ là một người khá tốt, có thể thấy việc quá chấp nhũn vào một chuyện nào đó, tâm tính con người thường sẽ thay đổi, điều này hoàn toàn trái ngược với quan niệm đạo pháp tự nhiên. Tuy nhiên nói đến đây thì hơi lan man rồi, chú muốn nói là, vì ông ta mê muội đạo thuật, bốn phương thu gom những cuốn sách đạo thuật đã thất truyền, hoặc bị liệt vào loại cấm kỵ, cho nên sách trong thư viện của ông ta rất phong phú. Trong số đó có một cuốn sách viết về việc hấp thu và hóa giải khí tức trên người người khác hoặc linh thể, rồi chuyển hóa thành linh lực của chính mình.
Tuy nhiên có lẽ biết là có hại, Tư Mã Nam vẫn luôn không tu luyện loại pháp thuật này, thế nhưng ông ta quá mê đắm đạo thuật, con người ngày càng trở nên vô lý, thậm chí trên người ông ta đã bộc lộ ra một mặt cực kỳ hung ác. Thiên Ý cũng giống như A Chiêm, từ nhỏ đã là trẻ mồ côi, cho nên đối xử với Tư Mã Nam kính trọng như cha ruột, thấy sư phụ biến thành như thế này, bỗng nhiên nhớ đến cuốn sách này. Ông ấy muốn hóa giải tà khí trên người sư phụ, hơn nữa lại đang gặp phải thời loạn thế, ông ấy hy vọng thu sạch ác quỷ, mang lại một bầu không khí trong lành cho nhân gian. Thế nhưng ông ấy lại không biết rằng, cuốn sách đó không hoàn chỉnh, phần phía sau là do Tư Mã Nam tự mình suy đoán ra. Sau khi tu luyện loại thuật pháp này, nhân một lần Tư Mã Nam luyện công tẩu hỏa, ông ấy đã kịp thời hấp thu linh lực đang chạy loạn trên người ông ta, cứu sư phụ một mạng, nhưng đồng thời cũng khiến cho công sức tu luyện nhiều năm của sư phụ tan thành mây khói, vì vậy tình thầy trò từ đó trở mặt thành thù. Cho nên, pháp lực sau này của Tư Mã Nam kém xa Thiên Ý chính là vì đạo lý này.
Sau này nhận thức được khiếm khuyết của pháp thuật này, Thiên Ý vốn dĩ muốn dừng việc tu luyện lại. Ông ấy cũng có năng lực bẩm sinh, cho nên tác hại của pháp thuật đó không thể gây ra tổn thương tuyệt đối cho ông ấy. Thế nhưng con người ông ấy ngoài lạnh trong nóng, mềm lòng không chịu nổi, mang trong mình tấm lòng từ bi cứu rỗi thế nhân, cộng thêm việc liên tục gặp phải những chuyện bất bình, cho nên loại công pháp có hại này tuyệt đối không ngừng sử dụng lại. Sau đó vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông ấy bị ép phải hoàn tục, đó là một thời đại hỗn loạn tập trung, biết bao nhiêu oán hồn oan quỷ vẩn vơ không đi quanh nhân gian. Những oán khí này vừa hung vừa nặng, hoàn toàn không thể hóa giải từng cái một, Thiên Ý lúc này không còn màng đến sự an nguy của bản thân nữa, thừa biết cứ tiếp tục như vậy, bản thân chắc chắn sẽ bị tà khí không thể hóa giải phản phệ, rơi vào kết cục giống hệt như người trong câu chuyện truyền thuyết, thế nhưng ông ấy vốn không nỡ mặc kệ không quan tâm, liên tục độ hóa những con người và linh hồn đau khổ, cuối cùng ép bản thân đến bước đường này. Ông ấy đã giúp đỡ quá nhiều người, thế nhưng cuối cùng lại chẳng có ai có thể giúp ông ấy cả!”
“Đây là lý do ông ấy sinh ra con sao?” Nguyễn Chiêm hỏi.
“Không phải, lúc bắt đầu, cháu không nằm trong câu chuyện này.” Chú Bao nhìn Nguyễn Chiêm với ánh mắt đồng cảm, “Ông ấy tưởng rằng bản thân có thể hóa giải tà khí ngày càng tụ tập nhiều trên người, ông ấy thậm chí còn từng nghĩ đến chuyện tự vẫn, thậm chí để thiên lôi đánh cho hồn phách tan thành mây khói, ông ấy chưa từng nghĩ đến việc sinh ra một đứa con trai để gánh chịu khổ nạn thay cho mình! Thế nhưng sau đó ông ấy phát hiện ra, những luồng tà khí đó hoàn toàn không thể tự tiêu tan, hơn nữa vì ông ấy hấp thu quá nhiều, tà khí đã mạnh hơn cả sức mạnh vốn có của ông ấy rồi. Lúc này ông ấy và vị vĩ nhân trong truyền thuyết kia có hoàn cảnh giống hệt nhau, lấy chính cơ thể của mình làm bình chứa giam giữ những thứ tà ác ở nhân gian đó, bắt buộc phải có ngoại lực cùng nguồn cùng gốc đập vỡ cả bình chứa lẫn những thứ bên trong bình chứa, thì mới có thể khiến cho tà khí mà ông ấy khó khăn lắm mới giam giữ được không quay trở lại nhân gian nữa. Cháu phải biết rằng, tà khí quay trở lại, sẽ gây ra tác hại lớn hơn nữa.”
“Cho nên ông ấy muốn con làm cái kẻ đập vỡ bình chứa đó.” Nguyễn Chiêm nghiến răng nói.