Đến phiên hắn sử dụng cái xẻng.
Hai tay Carl Wallenberg run rẩy khi hắn nắm cán xẻng và xúc lên xẻng đất đầu tiên. Hắn dừng lại bên bờ hố, mắt đăm đăm nhìn xuống cái lỗ tối đen, nghĩ đến người phụ nữ dưới đó, vẫn còn sống. Tim vẫn còn đập, máu vẫn còn chảy. Hằng triệu tế bào thần kinh đang phải khổ sở vật lộn với cái chết. Bên dưới tấm đắp bằng đất này, bà ta đang chết.
Hắn hất nắm đất vào trong cái hố và xúc thêm một xẻng khác. Hắn nghe tiếng Monica thì thầm đồng ý, và hắn chửi thầm ả vì đã buộc hắn phải lao vào cái công việc kinh sợ này. Đây là bằng chứng cuối cùng có được, hai cái xác cuối cùng bị vùi lấp do một sai lầm kinh khủng của một cuộc thí nghiệm.
Chúng ta đã phải cẩn thận hơn với những người cho tặng. Chúng ta phải xét nghiệm kỹ chất lượng phôi thai hơn là chỉ có việc tìm vi khuẩn và vi rút. Chúng ta không bao giờ xem xét đến khả năng có tác nhân protein gây dị dạng.
Nhưng Yarborough đang vội vã trong việc cấy ghép tế bào. Các mô tế bào phải còn tươi, hắn ta nhấn mạnh. Chất nhũ tương tế bào phải được cấy trong vòng một tuần lễ sau khi thu hoạch hay chúng sẽ không thể sống sót được trong não bộ tiếp nhận chúng. Và rồi đã có sự chờ đợi lâu của hằng loạt cái lọ háo hức, hơn ba mươi người đàn ông và đàn bà đã đặt cọc, họ đang đòi hỏi có được cơ hội hồi xuân lần thứ hai. Không quan tâm đến các :rủi ro, họ đều đã khẳng định đến việc đó. Và, sự thật, đó là một tiến trình ôn hòa: gây tê cục bộ, việc bơm, được hướng dẫn bởi các tia X, các tế bào tuyến yên vào trong não bộ, và nhiều tuần sau đó, sự trẻ lại từ từ của tuyến nội tiết chủ. Hắn và Gideon đã làm việc đó hằng chục lần, không gặp rắc rối gì, cho đến lúc Rosslyn đã cho ngưng dự án lại vì các lý do đạo đức. Nếu không cần đến việc phải sử dụng một bào thai con người bị sẩy thai, tiến trình có thể được ca ngợi như là một bước đột phá của ngành y khoa. Một nguồn sức sống trẻ trung, được rút trích ra từ não bộ của những bào thai chưa sanh và không được hình thành theo ý nguyện.
Một bước đột phá, vâng. Nhưng đó là một bước đột phá sẽ trở nên mãi mãi bị chặn lại bởi các nguyên nhân chính trị.
Ông ngưng tay, thở một cách nặng nhọc, mồ hôi đổ ra khắp người. Cái lỗ gần như đã được lấp đầy. Lúc này hai lá phổi người phụ nữ đã đầy ắp bụi bặm, các tế bào não của bà ta chắc đang đói chất oxygen. Tim đang đập những nhịp tuyệt vọng sau cùng. Hắn ta không ưa Toby Harper, hắn đồng ý với việc bà cần thiết phải bị làm im miệng, nhưng hắn muốn bà ta có một cái chết nhân ái hơn, một cái chết sẽ không ám ảnh hắn trong nhiều năm sắp tới.
Hắn chưa bao giờ có ý định giết người.
Một vài cái phôi thai đã bị hy sinh, đúng, nhưng chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Hiện giờ chúng ta đang sử dụng các mô tế bào vô tính, gần như không có tính người, cấy và nuôi trong các tử cung. Hắn không cảm thấy có tội về nguồn cung cấp các mô tế bào. Cũng không có bệnh nhân nào của hắn lộ vẻ băn khoăn; họ chỉ đơn giản muốn có nó, và họ muốn trả tiền cho công việc đó. Chừng nào mà Brant Hill vẫn còn chưa biết gì về việc đó, công việc hắn cũng sẽ vẫn còn tiếp tục, và tiền vẫn chảy vào túi riêng của hắn.
Nhưng rồi Mackie đã chết, tiếp theo đó là những người khác. Bây giờ không những hắn có thể bị mất tiền bạc; nó còn là vị trí, danh tiếng của hắn. Tương lai của hắn.
Có đáng phải phạm tội giết người vì những thứ đó không?
Ngay cả trong lúc hắn tiếp tục xúc đất đổ vào cái hố đang mau chóng được lấp đầy ấy, hắn đau khổ nhận ra rằng người đàn bà ở dưới đó đang chết. Nhưng rồi, chúng ta tất cả đều đang chết. Vài người trong chúng ta có thể chết một cách thảm khốc hơn những kẻ khác.
Hắn đặt cái xẻng xuống. Hắn sắp bị bệnh.
- Thêm đất vào đi. Làm cho nó bằng mặt lại. – Monica nói. – Nó phải bằng khít lại. Chúng ta không thể để cho nhóm công nhân xây dựng nhận thấy có sự khác biệt.
- Cô làm đi? – Hắn đẩy cái xẻng về phía ả. – Tôi làm như thế đủ rồi.
Ả cầm cái xẻng và quan sát hắn một hồi.
- Vâng, tôi cho rằng ông làm như thế đã đủ, – cuối cùng ả nói. – Và bây giờ, ông đã lún sâu như tôi và Richard. – Ả dừng lại, đặt gót giày lên cái xẻng, và sửa soạn xúc lên một xẻng đất mới.
- Kìa, Yarborough đến. – Richard nói.
Wallenberg quay lại và nhìn thấy ánh đèn xe đang tiến gần lại. Chiếc Lincoln đen của Yarborough đang phóng tới trên con đường đất và thắng dừng lại ngay tại hàng rào công trường xây dựng. Cửa xe mở ra và đóng sầm lại.
Đèn bật lên sáng trưng, rọi thẳng vào chiếc hố móng. Wallenberg sẩy chân ngã ra sau, lấy tay che mắt vì luồng ánh sáng đột nhiên ấy. Hắn nghe tiếng nhiều bánh xe khác thắng rít lên trên mặt rải đá, và nghe có tiếng đóng sầm của hai chiếc xe khác, và tiếng bước chân chạy sầm sập.
Hắn nheo mắt lại khi đột nhiên những cái bóng xuất hiện trước các chùm đèn sáng. Không phải Yarborough, hắn nghĩ. Họ là ai?
Hai người đàn ông tiến về phía họ.
* * *
Phổi bà chứa đầy không khí tươi mát, lạnh đến nỗi nó làm khô cổ họng bà lại. Bà hít vào thêm một hơi nữa, và một hơi nữa, thỏ khò khè ra giữa những cơn ho sặc sụa. Cái gì đó đang ép vào mặt bà, và bà giãy giụa để thoát ra khỏi nó, đập vào những bàn tay đang túm lấy đầu bà. Bà nghe có nhiều giọng nói, rất nhiều giọng nói để có thể theo dõi hết, tất cả đều lên tiếng ngay tức khắc.
- Đặt cái mặt nạ oxygen này lại ngay đi!
- Bà ta đang chống cự…
- Này, tôi cần thêm người tiếp tay ở đây! Tôi không thể truyền dịch vào được.
Bà vặn người lại, nhắm mắt cào cấu. Có ánh đèn sáng ở phía xa, và bà đấu tranh để tìm lối ra trong bóng tối, để với tới ánh đèn trước khi nó tắt lịm đi. Nhưng hai cánh tay bà như bị tê liệt; cái gì đó đang ép chặt chúng xuống. Không khí bà hít vào có mùi nhựa cao su.
- Toby – ngừng việc chống cự lại! Bà thấy có một bàn tay đang nắm lấy bà như thể muốn lôi bà ra khỏi vùng tăm tối.
Một bức màn đen hình như bị xé toạc ra trước mắt bà khi bà trồi lên lại trong vùng đèn sáng. Bà thấy nhiều khuôn mặt đang nhìn chăm chú vào bà. Thấy ánh sáng nhiều hơn, xanh và đỏ, đang nhảy múa vòng tròn. Đẹp quá, bà nghĩ. Màu sắc – quá đẹp! Có tiếng sóng nhiễu vang lên trong đêm. Máy vô tuyến cảnh sát.
- Bác sĩ, tốt hơn ông nên đến đây và xem cái này. – Một gã cớm nói.
Dvorak không trả lời, ánh mắt ông tập trung vào chiếc xe cứu thương, đèn phía sau xe nhấp nhô lúc chiếc xe chạy ngược về trên con đường đất, mang Toby về bệnh viện Springer. Bà ta không thể ở một mình đêm nay, ông ta nghĩ. Tôi phải đến với bà ta; đó là nơi tôi muốn đến. Nơi tôi muốn ở lại.
Ông quay lại phía tên cớm và nhận ra hai chân ông không còn đứng vững, rằng thật sự chân ông vẫn còn run. Đèn chiếu sáng rực trong đêm. Tất cả mọi chiếc xe canh tuần, tất cả đèn của chúng. Và có những người xem đang tụ tập bên ngoài hàng rào xây dựng – người ta trông đợi thấy những phóng viên báo chí, nhưng đó là một nhóm người già cả, cư dân của Brant Hill, nghe tiếng còi xe cảnh sát hụ inh ỏi và, tò mò, đã đi lang thang ra ngoài trong đêm tối, trên người họ vẫn còn mặc áo quần ngủ. Họ đứng thành hàng nghiêm nghị, nhìn qua mắt lưới của hàng rào vào trong chỗ cái hố móng nền nhà, nơi hai cái xác chết đã được che phủ lại và bây giờ đang nằm dài ra trên đất.
- Thanh tra Sheehan đang đợi ông đằng kia. – Gã cớm nói. – Ông ta là người duy nhất đã chạm tay vào đó.
- Chạm tay vào cái gì?
- Cái xác.
- Một cái khác nữa à?
- Tôi e rằng thế.
Dvorak theo tên cớm ra khỏi khu vực hố móng, cả hai đi nghiêng ngả ra phía hàng rào.
- Nó nằm trong thùng xe. – Tên cớm thở hổn hển khi hắn trèo lên.
- Xe nào?
- Chiếc Lincoln của bác sĩ Yarborough. Chiếc chúng ta chạy theo từ tòa nhà Howarth đến đây. Trông có vẻ như hắn mang thêm vào phút cuối một cái xác khác để chôn. Chắc chắn đó không phải là điều chúng tôi mong đợi khi mở cái cốp xe ra.
Họ đi ngang qua đám người già cả đang tụ tập nhìn xem và băng tới chiếc xe của Yarborough, đậu bên hàng rào. Thanh tra Sheehan đang đứng bên cạnh cốp xe mở tung.
- Đêm nay có tổng cộng ba cái xác chết. – Ông ta nói.
Dvorak lắc đầu.
- Tôi không chắc tôi có thể xử lý nhiều hơn thế được trong đêm nay.
- Bác sĩ có khỏe không ạ?
Dvorak ngừng lại, nghĩ đến cái đêm dài còn nằm trước mặt. Về những giờ ông phải trải qua để đến được bên giường bệnh của Toby. Sự trì hoãn không thể tránh được; đó là việc ông phải làm.
Ông rút một cặp găng nhựa latex trong túi áo ra. – Hãy làm việc này đi thôi. – Ông nói và nhìn vào cái cốp xe.
Sheehan rọi đèn lên gương mặt cái xác chết.
Trong một lát, Dvorak không thể nói lên được một lời. Ông đứng nhìn chăm chú vào gương mặt cô gái, tới vết bầm trên làn da mỏng manh của cô bé, hai con mắt xám, mở to và không hồn. Đã có thời trong đôi mắt ấy có một linh hồn; đã có lần ông đã nhìn thấy nó, chiếu sáng. Bây giờ cháu đang ở đâu? Ông ta tự hỏi. Nơi nào đó tốt, bác mong thế. Nơi nào đó ấm áp, dễ thương và an toàn.
Ông đưa tay xuống và nhẹ nhàng vuốt mắt Molly Picker.
Âm thanh cười nói của các cô y tá trong hành lang làm Dvorak thức dậy từ một giấc ngủ chập chờn. Ông mở mắt và nhìn thấy ánh nắng ban ngày chiếu xuyên qua cửa sổ. Ông ngồi trên ghế bên cạnh giường bệnh Toby trong bệnh viện. Bà ta vẫn còn ngủ say, hai má đỏ hồng. Phần lớn bụi đất trên mặt bà đã được lau sạch đêm qua, nhưng ông vẫn nhìn thấy một vài hạt cát chiếu lấp lánh trên tóc bà.
Ông đứng dậy và vươn vai ra, để làm cho cổ bớt bị vẹo. Cuối cùng một ngày nắng đẹp, ông nghĩ, nhìn chăm chú ra cửa sổ.
Phía sau, ông nghe có tiếng nói thì thầm:
- Em nghĩ em vừa có cơn ác mộng tệ hai nhất.
Quay người lại, ông bắt gặp ánh mắt của Toby. Bà chìa tay ra với ông. Ông cầm tay bà thật nồng ấm trong tay ông và ngồi xuống bên cạnh bà.
- Nhưng em không có nằm mơ, phải vậy không anh? – Bà ta nói.
- Không, anh e rằng nó hết sức thực.
Bà nằm im lặng trong một lát, cau mày, như thể cố gom góp lại mọi mảnh ký ức trong đầu óc bà lại thành một tổng thể có ý nghĩa.
- Chúng ta đã tìm thấy hồ sơ bệnh lý của họ. – Dvorak nói.
Bà nhìn ông, ánh mắt dò hỏi.
- Chúng đã lưu trữ mọi dữ liệu có liên quan đến việc cấy ghép não. Bảy mươi chín bộ hồ sơ, chứa phía dưới tầng hầm của tòa nhà Howarth. Tên bệnh nhân, các ghi chú phẫu thuật, có kèm theo hình chụp cắt lớp của đầu.
- Chúng có biên soạn dữ liệu à?
Ông ta gật đầu.
- Để hỗ trợ cho các đòi hỏi của chúng về sự thành tựu. Qua việc xem xét dữ liệu, công cuộc cấy ghép đã có được những điều lợi ích.
- Và cả những rủi ro. – Bà ta bổ sung một cách nhẹ nhàng.
- Vâng. Có một nhóm bệnh nhân hồi đầu năm ngoái, khi Wallenberg vẫn còn đang sử dụng các bào thai bị sẩy. Năm người đã được cấy ghép từ cùng một nhóm tế bào phôi. Tất cả đều đã bị nhiễm bệnh cùng lúc. Phải mất một năm, bệnh nhân đầu tiên mới phát triển những triệu chứng bệnh.
- Bác sĩ Mackie?
Ông ta gật đầu.
- Anh nói có bảy mươi chín bộ hồ sơ. Còn các bệnh nhân khác thì sao?
- Còn sống và khỏe mạnh. Và phát triển mạnh. Có biểu hiện tinh thần song đôi.
Qua nét mặt bối rối của bà, ông biết bà chia sẻ sự quan tâm của ông. Chúng ta đã tiến xa thế nào trong việc kéo dài cuộc sống? Chúng ta đã hy sinh hết bao nhiêu tính mạng con người?
Đột nhiên, bà lên tiếng:
- Em biết phải tìm Harry Slotkin ở đâu. – Bà nhìn ông ta với ánh mắt rõ ràng hoảng hốt. – Brant Hill – cánh nhà dưỡng lão mới xây. Vài tuần trước, họ đã đổ bê tông vào hố móng.
- Vâng. Wallenberg đã kể lại điều đó cho chúng ta rồi.
- Bọn chúng đã nhảy vào họng nhau hiện giờ. Wallenberg và Gideon chống lại Trammell. Đó là một cuộc đua để gút lại sự đỗ lỗi trách nhiệm. Ngay lúc này, bọn Trammell hình như đang gặp rắc rối to.
Toby ngừng lại, gom hết can đảm để hỏi tiếp một câu.
- Robbie?
- Đó là tên Richard Trammell. Cây súng đã được đăng ký với tên hắn. Chúng ta hy vọng các chuyên viên đạn đạo sẽ xác nhận được sự việc.
Bà gật đầu, chấp nhận cái thông tin đau lòng ấy một cách im lặng. Ông thấy mắt bà long lanh nước mắt và quyết định chờ đợi để kể cho bà nghe tiếp về việc Molly. Đây không phải lúc để làm bà gánh chịu thêm một tấn thảm kịch.
Có tiếng gõ cửa, và Vickie bước vào phòng. Trông cô ta có vẻ tái hơn đêm qua, khi Dvorak thấy cô đến thăm Toby. Tái hơn và sợ hãi một cách kỳ lạ. Cô ta dừng lại hơi cách xa giường bệnh, như thể không sẵn lòng để tiến lại gần.
Dvorak đứng dậy.
- Tôi nghĩ tôi phải để hai người ở lại một mình. – Ông ta nói.
- Không, làm ơn. – Vickie nói. – Ông không phải rời phòng.
- Tôi sẽ không đi đâu hết. – Ông cúi người xuống và hôn Toby. – Nhưng tôi sẽ đợi ngoài kia. – Ông đứng thẳng dậy và tiến ra cửa
Tới đó ông dừng lại.
Liếc nhìn lại phía sau, ông thấy Vickie đột nhiên thoát khỏi được một vài sự kiềm chế vô hình. Cô ta bước lẹ vài bước đến bên giường bệnh và nâng hai cánh tay Toby lên.
Dvorak đưa tay lau mắt. Và lặng lẽ ông đi ra khỏi phòng.
Hai ngày sau đó.
Máy trợ hô hấp cung cấp hai mươi nhịp thở trong một phút, mỗi lần hít vào được tiếp theo sau một hồi thở ra, xương sườn và lồng ngực xẹp xuống. Toby thấy nhịp thở ấy êm nhẹ lúc bà chải tóc cho mẹ mình và rửa tay chân cùng thân mình của bà, miếng vải tắm lướt qua những dấu mốc bà biết rất rõ. Vết thâm hình ngôi sao trên cánh tay trái, vết sẹo sinh thiết trên ngực. Ngón tay bị viêm khớp, cong lại như cái móc của người chăn cừu. Nhưng vết sẹo trên đầu gối. Ellen đã gây ra nó bằng cách nào? Toby tự hỏi. Nó trông giống như một vết sẹo rất lâu, đã hoàn toàn lành lặn, gần như không nhìn thấy được, gốc gác của nó lạc mất trong những giới hạn đã bị lãng quên với thời kỳ thơ ấu của bà cụ. Nhìn lên nó dưới ánh đèn chói chang của phòng bệnh, bà nghĩ: Mẹ mang vết sẹo này đã nhiều năm nay và mãi đến bây giờ tôi mới nhận ra.
- Toby?
Bà quay lại và nhìn thấy Dvorak đang đứng ở lối vào phòng bệnh. Có lẽ ông đã đến đây nãy giờ; bà đã không nhận ra việc ông đến đây. Đó chỉ đơn giản là đường lối của Dvorak. Trong một ngày rưỡi nằm tại bệnh viện, Toby thức dậy và nghĩ bà chỉ có một mình. Rồi bà quay lại và nhìn thấy ông vẫn còn đứng trong phòng, im lặng kín đáo, canh chừng bà. Như bây giờ ông đang làm.
- Em của em mới vừa đến. – Ông ta nói. – Bác sĩ Steinglass đang trên đường tới đây.
Toby nhìn xuống mẹ mình. Tóc Ellen trải ra trên gối. Nó trông không giống như tóc của một cụ già, nhưng như mái tóc bờm của một cô gái trẻ, sáng như những sợi bạc bay trong gió. Toby cúi người xuống và đặt môi lên trán Ellen.
- Chúc mẹ ngủ ngon. – Bà ta thì thầm nói, và đi ra khỏi phòng bệnh.
Ở phía bên kia khung cửa sổ kính trông vào phòng bệnh, bà đứng cạnh Vickie. Dvorak đứng phía sau họ, đầu vậy sự hiện diện của ông hình như không thấy. Qua khung cửa kính họ nhìn bác sĩ Steinglass bước vào phòng và đi tới máy trợ hô hấp. Ông liếc nhìn Toby, một câu hỏi im lặng hiện ra trong mắt ông.
Bà gật đầu.
Ông quay lại phía máy trợ hô hấp.
Ngực Ellen xẹp xuống nằm im. Mười giây trôi qua trong im lặng.
Vickie nắm tay Toby, nắm chặt.
Ngực Ellen tiếp tục không còn cử động.
Bây giờ tim bà đang đập chậm lại. Ban đầu ngưng lại nghỉ. Ngần ngại đập. Rồi cuối cùng ngưng hẳn.
Từ lúc chúng ta được sinh ra, cái chết là đích tới cuối cùng của chúng ta, Toby nghĩ. Chỉ có ngày và giờ đến, đó là điều chúng ta không biết.
Đối với Ellen, cuộc hành trình đã hoàn tất vào lúc hai giờ năm mươi phút, một buổi trưa cuối thu.
Đối với Dvorak, cái chết có thể đến trong hai năm nữa hay trong bốn chục năm nữa. Nó có thể được báo trước bằng sự run rẩy của hai bàn tay, hay đến không có dấu hiệu nào báo trước vào một đêm khi cháu nội ông ngủ trong phòng bên cạnh. Ông sẽ tập cách đối phó với sự không rõ ràng đó, như người ta đối phó với mọi thứ không rõ ràng trong cuộc sống.
Và đối với những người còn lại trong chúng ta?
Toby ép sát tay mình lên kính và cảm thấy được nhịp tim của chính mình, ấm và mạnh, trên các đầu ngón tay. Tôi đã từng chết một lần, bà nghĩ.
Đó là một ngày mới đáng nhớ.
HẾT