James Bigelow đã quá mệt mỏi vì các đám tang. Trong những năm gần đây ông đã tham dự rất nhiều đám, và dạo gần đây chúng càng lúc càng trở nên thường xuyên hơn, như tiếng trống đập nhanh đánh dấu sự trôi qua của thời gian. Ông cho rằng bạn ông có quá nhiều người đã chết; vào cái tuổi bảy mươi sáu, ông đã sống vượt qua được phần lớn các bạn bè ông. Bây giờ thần chết đang cũng sắp tính sổ với ông. Ông có thể cảm thấy được tiếng chân oai vệ của hắn, có thể hình dung, gần như rõ ràng, cái hình hài cứng nhắc của ông đang nằm trong chiếc quan tài mở nắp, mặt mũi được đánh phấn, tóc được chải gọn, áo com-lê bằng len xám mặc gọn gàng, các nút áo đều được cài lại. Cũng cùng cái đám đông này sẽ xếp hàng, im lặng bày tỏ sự thương tiếc cuối cùng của mình. Vấn đề ở đây là Angus Parmenter, và không phải Bigelow đang nằm trong quan tài. Và đây chỉ là vấn đề thời gian. Tháng sau, năm sau, và đó sẽ là chiếc quan tài của ông được trưng bày trong phòng khách. Cuộc hành trình cuối cùng sẽ kết thúc đối với tất cả chúng ta.
Dòng người tiến tới trước, Bigelow cũng vậy. Ông đến dừng lại bên chiếc quan tài và nhìn xuống gương mặt bạn mình. Angus, ngay cả bạn cũng không bất tử.
Ông đi qua, đi thẳng tới cánh trung tâm, và ngồi xuống hàng ghế thứ tư. Từ chỗ đó, ông nhìn các gương mặt quen thuộc đến từ Brant Hill. Có láng giềng của Angus, Anna Valentine, người đã táo bạo theo đuổi ông qua các cú điện thoại và món thịt hầm. Có những người bạn trong câu lạc bộ chơi golf, và những đôi bạn từ nhóm nếm rượu, và các nhạc công của ban nhạc tài tử Brant Hill.
Còn Phil Dorr đâu?
Bigelow nhìn soát khắp căn phòng, tìm Phil, biết rằng ông ấy phải có mặt tại đây. Chỉ ba ngày trước, họ đã cùng chia sẻ một buổi tiệc rượu với nhau tại câu lạc bộ, nho nhỏ kể cho nhau nghe về những người bạn chơi bài poker của họ. Angus và Harry cùng Stan Mackie. Cả ba đều đã qua đời, và bây giờ chỉ còn lại có Phil và Bigelow. Chơi bài poker với chỉ hai người, họ không đáng để gắng công, Phil đã nói. Ông ta dự định bỏ vào quan tài của Angus một cỗ bài, một món quà vĩnh biệt cho bàn đánh poker to lớn trên trời. Gia đình có chịu không? Ông ta tự hỏi. Họ có sẽ nghĩ một vật rẻ tiền như thế không xứng đáng để được vào bên trong lớp vải sa tanh? Họ sẽ chia sẻ cho nhau một nụ cười buồn về chuyện đó, một chầu nước khoáng khác. Quỷ, Phil đã nói dầu sao đi nữa ông ta cũng sẽ làm việc đó; Angus sẽ đánh giá cao cử chỉ ấy.
Nhưng hôm nay Phil đã không xuất hiện với cỗ bài trong tay.
Anna bước vào hàng ghế của ông và ngồi sát cạnh ông. Mặt bà trát đầy phấn, một cách rất thô kệch, mỗi vết nhăn nhỏ đều được làm hằn lên bởi cố gắng của bà nhằm che giấu đi cái tuổi của mình. Một góa phụ khát tình khác; ông bị họ vây quanh. Bình thường ông cố tránh bắt chuyện với bà ta, vì ngại sẽ làm xáo trộn những quan điểm về cảm xúc sai lầm trong cái đầu óc một chiều của bà ta, nhưng vào lúc đó, không có ai khác ở sát bên cạnh ông để nói chuyện.
Nghiêng người về phía bà, ông thì thầm:
- Phil đâu?
Bà nhìn ông như thể ngạc nhiên thấy ông ta nói chuyện với mình.
- Cái gì?
- Phil Dorr. Tôi nghĩ ông ta sẽ có mặt ở đây.
- Tôi nghĩ ông ta cảm thấy trong người không khỏe.
- Ông ta bị sao vậy?
- Tôi không biết. Ông ta thứ lỗi về một chuyến đi xem kịch hai đêm trước. Nghe nói hai mắt làm ông ta khó chịu.
- Ông ta không có nói cho tôi nghe việc đó.
- Ông ta chỉ nhận ra được điều đó tuần trước. Ông ta sẽ đi khám bác sĩ về việc đó. – Bà ta thở dài và nhìn thẳng tới trước, về phía cỗ quan tài. – Thật khủng khiếp! Phải vậy không? Mọi thứ đều rã ra thành từng mảnh. Mắt, hông, lỗ tai. Tôi nhận ra hôm nay giọng nói của tôi đã thay đổi. Tôi đã không quan tâm. Tôi xem cuốn băng video ghi lại hình ảnh cuộc đi chơi của chúng ta đến Faneuil Hall, và tôi không thể tin được tại sao tôi già đến thế. Tôi không cảm thấy già, Jimmy. Tôi không còn nhận ra hình ảnh tôi trong gương nữa… – Bà ta lại thở dài. Một dòng nước mắt rơi xuống trên má bà, khắc một đường trên cái gương mặt trát đầy phấn ấy. Bà chùi nó đi, để lại trên đó một vết vôi.
Hai mắt Phil làm cho ông ta lo lắng.
Bigelow ngồi nghĩ về chuyện đó trong khi dòng người đi chia buồn lần lượt đi ngang qua quan tài, trong lúc ghế ngồi kêu răng rắc và có tiếng nói thì thầm chung quanh ông:
- Nhớ lại khi Angus… – Không thể nào tin được ông ta mất… – Nghe nói đâu như là một chứng đột quỵ … – Không, đó không phải là tin tôi nghe…
Đột nhiên Bigelow đứng dậy.
- Ông không ở lại tham dự lễ tang à? – Anna hỏi.
- Tôi – tôi có việc phải nói với một người nào đó. – Ông ta đáp và ép người đi ngang qua bà, tiến về phía phòng tang lễ. Ông nghĩ ông có nghe tiếng bà ta gọi theo ông, nhưng ông không quay đầu nhìn lại; ông đi thẳng ra cửa.
Ông đến nhà riêng của Phil trước, chỉ cách nhà ông có vài căn. Cửa khóa; không có ai ra mở cửa khi ông nhận chuông. Bigelow đứng trên bậc thềm nhìn qua cửa sổ, nhưng những gì ông thấy là phòng giải lao với chiếc bàn bằng gỗ anh đào nhỏ và cái móc máng dù bằng thau. Có một chiếc giày nằm trên sàn – điều ấy làm cho ông thấy kỳ quặc. Sai. Phil rất khó tính trong việc sắp xếp gọn gàng ngàn nắp.
Đi ngược trở ra qua cổng vườn, ông nhận thấy hộp thư đầy ắp. Điều ấy cũng vậy, không giống con người của Phil.
Hai mắt ông ta làm cho ông lo ngại.
Bigelow bước vào xe trở lại và lái xe trên con đường quanh co nửa dặm để đến dưỡng đường Brant Hill. Vào lúc ông bước lên các bậc thềm để đến bàn tiếp tân, hai lòng bàn tay ông ướt đẫm mồ hôi, tim ông đập mạnh.
Người đàn bà không nhận ra ông có mặt ở đó – cô ta bận càu nhàu rên rỉ qua máy điện thoại.
Ông gõ lên cánh cửa sổ của bàn tiếp tân.
- Tôi phải gặp bác sĩ Wallenberg.
- Ông ta sẽ nói chuyện ngay với ông. – Cô ta trả lời.
Ông ta nhìn, ngạc nhiên dâng lên khi cô ta quay sang chỗ khác và bắt đầu gõ lên bàn phím trong lúc nói điện thoại, chuyện gì đó về việc trả chung tiền bảo hiểm và các số giấy phép.
- Đây là chuyện quan trọng! – Ông ta nói. – Tôi phải biết chuyện gì đã xảy ra với Phil Dorr.
- Thưa ngài, tôi đang nói điện thoại.
- Phil cũng bị bệnh, phải vậy không? Ông ta có vấn đề với đôi mắt.
- Ông phải đi nói chuyện với bác sĩ của ông ta.
- Vậy hãy để cho tôi gặp bác sĩ Wallenberg.
- Hiện giờ ông ta đang ăn trưa.
- Khi nào ông ta sẽ quay trở lại? Khi nào?
- Thưa ngài, ngài cần thật sự phải bình tĩnh lại.
Ông thò tay qua cửa sổ và gạt cái nút ngắt dây máy điện thoại. – Tôi phải gặp bác sĩ Wallenberg!
Cô ta kéo ghế ra sau, khỏi cửa sổ, tránh xa tầm với tay của ông ta. Hai người đàn bà khác đột nhiên xuất hiện từ một phòng văn thư bên cạnh. Tất cả họ đều nhìn chằm chằm vào ông ta, vào cái lão điên khùng đang la lối trong phòng đợi.
Một cánh cửa mở ra và một vị bác sĩ xuất hiện. Một người đàn ông da đen to lớn, ông ta đứng sừng sững trước mặt Bigelow. Bảng tên cho biết: ROBERT BRACE, Bác sĩ.
- Thưa ngài, vấn đề là chuyện gì vậy?
- Tôi phải gặp Wallenberg.
- Ông ta lúc này đang ra ngoài.
- Vậy ông hãy nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra với Phil?
- Ai?
- Ông biết! Phil Dorr! Họ nói ông ta bị bệnh – có chuyện gì không ổn với đôi mắt ông ta. Ông ta có trong bệnh viện không?
- Thưa ngài, tại sao chúng ta không ngồi nghỉ một chút trong khi chờ đợi các cô đây kiểm tra lại hồ sơ về…
- Tôi không muốn ngồi xuống! Tôi chỉ muốn biết phải chăng ông ta cũng vướng một chứng bệnh như Angus. Cùng một chứng bệnh với cả Stan Mackie.
Cửa trước mở ra và một nữ bệnh nhân đi vào. Bà đứng lặng lại, và nhìn vào gương mặt đỏ ửng của Bigelow, cảm nhận ra ngay có sự khủng hoảng phía dưới đó.
- Tại sao chúng ta không vào văn phòng tôi để nói chuyện? – Bác sĩ Brace nói, giọng ông ta thấp và dịu dàng. Ông đưa tay ra về phía Bigelow. – Ngay tại đầu hành lang kia.
Bigelow nhìn vào bàn tay hộ pháp của ông bác sĩ, lòng bàn tay trắng một cách đáng ngạc nhiên với một đường sinh đạo vạch một đường dày và đen. Ông ta nhìn lên bác sĩ Brace. – Tôi chỉ muốn biết… – Ông ta nói nhẹ nhàng.
- Biết chuyện gì, thưa ngài?
- Tôi có sẽ bị bệnh giống như những người kia hay không?
Ông bác sĩ lắc đầu – không trả lời câu hỏi nhưng với nét mặt bối rối. – Tại sao lại sẽ bị bệnh?
- Họ nói sẽ không có rủi ro – họ nói tiến trình sẽ an toàn. Nhưng Mackie đã bị bệnh, và…
- Thưa ngài, tôi không biết ông Mackie.
Bigelow nhìn về phía cô tiếp tân. – Cô còn nhớ Stan Mackie. Hãy bảo cho tôi biết cô còn nhớ Stan.
- Lẽ dĩ nhiên, ông Bigelow. – Cô ta trả lời. – Chúng tôi rất lấy làm tiếc khi ông ta qua đời.
- Bây giờ Phil cũng đi mất luôn, phải vậy không? Tôi là người duy nhất còn lại.
- Thưa ngài? Một trong những cô thư ký lên tiếng gọi ông ta qua khung cửa sổ. – Tôi vừa mới kiểm tra lại hồ sơ của ông Dorr. Ông ta không có bệnh.
- Tại sao ông ta không đến dự tang lễ của Angus? Ông ta được cho rằng sẽ có mặt tại đó!
- Ông Dorr phải rời thành phố vì có chuyện khẩn cấp ở nhà. Ông ta đã yêu cầu chuyển hồ sơ bệnh lý của ông ta đến bác sĩ mới của ông tại La Jolla.
- Cái gì?
- Đó là những gì được ghi ở đây. – Cô ta giơ tập hồ sơ lên, với một tờ ghi chép kẹp ở bìa. – Việc cho phép đã được thực hiện ngày hôm qua. Trong đó có ghi “Bệnh nhân phải di chuyển vì có việc gia đình khẩn cấp – sẽ không quay trở lại. Chuyển tất cả hồ sơ sang Brant Hill Tây, La Jolla, California”.
Bigelow di chuyển tới cửa sổ và nhìn vào chữ ký tên trên tờ giấy cho phép: Carl Wallenberg, Bác sĩ.
- Thưa ngài? – Bác sĩ hỏi, tay đặt trên vai Bigelow. – Tôi tin chắc chẳng bao lâu ông sẽ nhận được tin của bạn ông. Có vẻ như ông ta được gọi đi xa.
- Nhưng làm sao ông ta có việc gia đình khẩn cấp? – Bigelow nói nhẹ nhàng.
- Có thể người nhà của ông ta bị bệnh. Hay ai đó chết.
- Phil không có gia đình.
Bác sĩ Brace nhìn về phía ông ta. Cả các cô trong phòng cũng vậy. Ông có thể nhìn thấy họ đứng sau tấm gương cửa sổ giống như khán giả nhìn qua một cái chuồng trong sở thú.
- Có chuyện gì đó không đúng ở đây. – Bigelow nói. – Ông sẽ không nói với tôi, phải vậy không?
- Chúng ta có thể nói về chuyện đó. – Ông bác sĩ nói.
- Tôi muốn gặp bác sĩ Wallenberg.
- Ông ta đang ăn trưa. Nhưng ông có thể nói chuyện với tôi, ông…
- Bigelow. James Bigelow.
Bác sĩ Brace mở cửa phòng đi ra hành lang dưỡng đường.
- Tại sao chúng ta không đến văn phòng của tôi. Ông Bigelow? Ông có thể kể cho tôi nghe hết mọi việc.
Bigelow nhìn vào cái hành lang dài trắng trải ra sau cánh cửa.
- Không. – Ông ta nói, và ông quay ngược trở ra. – Không, đừng quan tâm.
Ông bỏ chạy khỏi tòa nhà.
Robbie Brace gõ cửa và bước vào văn phòng Carl Wallenberg. Căn phòng, giống như người đàn ông, trông có vẻ khinh khỉnh nhưng sang trọng. Brace không theo kịp các nhãn hiệu vật dụng trang trí, nhưng ông cũng nhận ra được giá trị của chúng. Cái bàn làm việc đồ sộ làm bằng một loại gỗ đỏ quý hiếm và trông có vẻ ấm cúng, ông không biết nó là loại gỗ gì. Những bức tranh nghệ thuật treo trên tường là cái gì rất trừu tượng tinh túy đến nỗi sở hữu được chúng phải có cả một gia tài. Qua cửa sổ, sau lưng Wallenberg, là quang cảnh của một buổi hoàng hồn. Ánh sáng chiếu vào, tạo thành một vầng hào quang quanh đầu và vai người đàn ông. Jesus H. Wallenberg, Brace nghĩ khi đứng trước bàn giấy.
Wallenberg nhìn lên từ tập giấy tờ. – Vâng, Robbie? Robbie. Không phải bác sĩ Brace. Đoán xem chúng ta biết ai là người có vai trò ở đây.
Brace nói. – Ông còn nhớ một bệnh nhân tên Stan Mackie?
Ngồi ngược lại với chiều ánh sáng chiếu từ đằng sau tới, nét mặt Wallenberg không thể đoán được. Từ từ, ông ngả người ra sau, bật ra tiếng kêu cọt kẹt phong phú của lớp da bọc. – Cái tên Stan Mackie đã đến với ông như thế nào?
- Từ một trong các bệnh nhân của chúng ta, James Bigelow. Ông có biết ông Bigelow không?
- Vâng, lẽ dĩ nhiên. Ông là một trong bệnh nhân đầu tiên trên bảng của tôi ở đây. Một trong những người đầu tiên đến ở tại Brant Hill.
- Được, ông Bigelow đã hơi quá mức trưa hôm nay trong dưỡng đường, rất là khó chịu. Tôi không chắc tôi có được một câu chuyện mạch lạc về ông ta. Ông ta luôn nói to về việc tất cả các bạn của ông ta đều bị bệnh, tự hỏi người kế tiếp có phải là ông ta hay không. Ông ta có nêu tên ông Mackie lên.
- Đó là bác sĩ Mackie.
- Ông ta là bác sĩ?
Wallenberg chỉ tay vào một chiếc ghế. – Tại sao ông không ngồi xuống, Robbie? Rất khó thảo luận chuyện này nếu ông cứ đứng sừng sững trước mặt tôi.
Brace ngồi xuống. Ông tức khắc nhận ra ngay đó là một sai lầm về chiến thuật, ông đã mất đi cái ưu thế về chiều cao của mình, và họ đang ngồi đối mặt nhau ngang qua bàn làm việc. Bây giờ Wallenberg đã nắm giữ tất cả các yếu tố thuận lợi. Vai trò thượng cấp. Màu da. Một người thợ may khá.
- Ông Bigelow đã nói về những chuyện gì? – Brace hỏi. – Ông ta hình như kinh hoàng về việc mình sẽ bị nhuốm bệnh.
- Tôi không có ý kiến mơ hồ nhất.
- Ông ta nêu lên vài tiến trình ông ta và các bạn đã trải qua.
Wallenberg lắc đầu. – Có thể ông ta muốn nói đến tiến trình điều trị bằng hormone? Những cuộc tiêm chích hằng tuần?
- Tôi không biết.
- Nếu như thế, việc lo ngại của ông ta không cần thiết. Không có chuyện gì có tính cách mạng trong việc điều trị của chúng tôi. Ông biết điều đó.
- Vậy ông Bigelow và các bạn ông ta đã được chích hormone?
- Vâng. Đó là một trong những lý do họ đến Brant Hill. Để được hưởng những khía cạnh sắc bén từ việc nghiên cứu của chúng ta.
- Đáng quan tâm việc ông dùng thuật ngữ khía cạnh sắc bén. Ông Bigelow chẳng có nói gì về tiêm chích chất hormone. Ông ta dùng từ tiến trình một cách cụ thể. Giống như một loại phẫu thuật nào đó.
- Không, không. Ông ta không có chịu một sự phẫu thuật nào. Thật vậy, duy nhất một lần, tôi nhắc ông ta việc cần phải nhờ một phẫu thuật viên để cắt khối u nhỏ trong mũi ông ta. Nó là một khối u lành, lẽ dĩ nhiên.
- Tốt, vậy việc điều trị bằng hormone thật sự là gì vậy? Có hậu quả tác hại nào không?
- Không.
- Vậy không có cơ hội nào nó gây ra cái chết của Angus Parmenter?
- Việc chẩn đoán vẫn chưa được xác định.
- Đó là bệnh Creutzfeldt-Jakob. Bác sĩ Harper đã nói với tôi vụ đó.
Wallenberg vẫn tỏ ra bình thản, và Brace chợt nhận ra ông ta không nên nêu tên Toby Harper ra. Đáng lẽ không để lộ ra bất cứ mối quan hệ nào với bà ta.
- Tốt, – Wallenberg bình thản nói, – nó không cắt nghĩa được những triệu chứng của bệnh nhân.
- Vậy còn mối quan tâm của ông Bigelow thì sao? Rằng các bạn khác của ông ta đều mắc cùng một chứng bệnh.
Wallenberg lắc đầu.
- Ông biết, thật khó cho các bệnh nhân của chúng ta chấp nhận được sự kiện là họ đã đạt đến mức cuối cùng của quãng đời của họ. Angus Parmenter tám mươi hai. Sự già yếu và cái chết là điều tất yếu xảy ra với tất cả chúng ta.
- Còn bác sĩ Mackie chết như thế nào?
Wallenberg ngưng lại.
- Đây đặc biệt là một biến cố gây nhiều bối lối nhất. Bác sĩ Mackie bị suy sụp thần kinh. Ông nhảy qua cửa sổ tại bệnh viện Wicklin.
- Chúa ơi!
- Điều đó gây ấn tượng hết sức mạnh đối với tất cả chúng tôi. Ông ta là một phẫu thuật viên, một phẫu thuật viên rất giỏi. Không bao giờ chịu nghỉ việc ở phòng mổ, ngay cả ở tuổi bảy mươi tư. Ông ta làm việc tận đến ngày xảy ra… cái tai nạn.
- Có thực hiện giảo nghiệm tử thi không?
- Lý do rõ ràng chấn động về cảm xúc.
- Vâng, nhưng một cuộc giảo nghiệm tử thi có được thực hiện hay không?
- Tôi không biết. Ông ta ở dưới sự săn sóc của các bác sĩ phẫu thuật tại bệnh viện Wicklin. Ông ta chết khoảng một tuần sau khi té lầu. – Ông nhìn Robbie đăm chiêu. – Hình như ông quan tâm đến tất cả những việc này.
- Tôi phỏng đoán thôi vì ông Bigelow quá bối rối. Ông ta còn nêu lên một cái tên khác nữa, một người bạn khác của ông ta bị ngã bệnh. Một người tên Phillip Dorr.
- Ông Dorr vẫn còn khỏe. Ông ta chuyển đến Brant Hill Tây, tại La Jolla. Tôi vừa mới nhận được bản cho phép có chữ ký của ông ta chuyển đi các hồ sơ của ông. – Ông ta lật các tài liệu trên bàn và cuối cùng đưa ra một tờ giấy. – Đây là fax ông ta gửi từ California.
Brace nhìn vào tờ giấy, và nhìn thấy chữ ký của Phillip Dorr ở dưới.
- Vậy ông ta không có bị bệnh.
- Tôi đã khám cho ông Dorr vài ngày trước đây, một cuộc kiểm tra thường lệ.
- Và?
Wallenberg nhìn thẳng vào ông.
- Ông ta trong tình trạng sức khỏe tốt.
Trở về lại bàn làm việc của mình, Brace làm cho xong các hồ sơ bệnh lý hằng ngày và ra các lệnh. Vào lúc sáu giờ ba mươi, ông tắt máy cassette ghi âm lại và nhìn xuống chiếc bàn làm việc trống trơn của mình. Ông thấy mình đang nhìn lên một cái tên ông đã viết nguệch ngoạc lên phía sau một báo cáo thí nghiệm: bác sĩ Stanley Mackie. Việc xảy ra khi trưa tại dưỡng đường cũng còn làm cho ông băn khoăn. Ông nghĩ đến những cái tên khác được James Bigelow nêu lên: Angus Parmenter, Phillip Dorr. Việc hai trong số ba người này giờ đã chết tự chúng cũng chẳng có gì nghiêm trọng. Họ tất cả đều rất lớn tuổi; tất cả họ đều đạt đến mức con số thống kê bình quân quãng đời của họ.
Nhưng tuổi già tự nó không phải là nguyên nhân của cái chết.
Hôm nay ông đã thấy sự sợ hãi trong ánh mắt của James Bigelow, sự sợ hãi thật sự, và ông không thể nào hoàn toàn không lay động trước sự bối rối của ông lão.
Ông nhấc điện thoại lên nói cho Greta biết hôm nay ông về trễ vì ông phải ghé qua bệnh viện Wicklin. Rồi ông xếp đồ vào cặp và rời văn phòng.
Lúc này dưỡng đường đã vắng người, hành lang chỉ được chiếu sáng bằng một hộp đèn néon đặt ở phía cuối. Lúc ông đi ngang qua bên dưới nó, ông nghe có tiếng kêu vo ve yếu ớt và nhìn lên thấy bóng một con côn trùng bị vướng lại bên trong chiếc hộp bằng nhựa, cánh dao động ngược lại với số phận của nó. Ông với tay tắt công tắc trên tường. Hành lang trở nên tối đen, nhưng ông vẫn còn nghe tiếng vo ve trên đầu, tiếng đập cánh điên cuồng.
Ông ra khỏi tòa nhà, vào trong đêm ẩm ướt và lộng gió.
Chiếc xe Toyota của ông là chiếc duy nhất còn lại trong bãi đậu xe của dưỡng đường. Đậu phía dưới ánh sáng lưu huỳnh của đèn bảo vệ, nó trông có vẻ đen hơn là xanh, giống như cái áo giáp của một con bọ. Ông dừng lại để lấy chìa khóa ra khỏi túi. Rồi ông nhìn lên những khung cửa sổ chiếu sáng của các căn hộ của dưỡng đường, vào những cái bóng bất động của bệnh nhân trong phòng, hình TV nhấp nháy chỉ được xem thoáng qua. Đột nhiên ông cảm thấy mình bị xuống tinh thần rất nhiều. Những gì ông nhìn thấy, phía sau các cánh cửa sổ đó, là điểm cuối của cuộc đời. Hình ảnh đó là chính tương lai của ông.
Ông ngồi vào xe và lái ra khỏi bãi đậu, nhưng ông không thể để lại phía sau cái trạng thái chán nản ấy. Nó dính chặt vào ông như sương lạnh trên da. Tôi lẽ ra nên chọn khoa nhi, ông ta nghĩ. Em bé. Sự bắt đầu. Lớn lên, cơ thể khỏe mạnh. Nhưng tại trường đại học Y khoa ông đã được khuyên bảo là tương lai của ngành y thực dụng nằm ở lãnh vực lão khoa, với các người được sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số bây giờ tóc đã bạc, một lực lượng rất đông, đang đi hướng về tình trạng lão suy, hút tất cả các tài nguyên y khoa dọc đường đi của họ. Chín mươi phần trăm đồng đô la bảo hiểm y tế được chi tiêu để chống đỡ những năm cuối của một đời người. Đó là nơi đồng tiền sẽ chảy về; đó là nơi các bác sĩ sẽ tạc được cuộc sống cho họ.
Robbie Brace, một con người thực dụng, đã lựa chọn một môi trường thực tế.
Ồ, nhưng bây giờ nó đã làm cho ông xuống tinh thần.
Trong lúc ông lái xe về hướng bệnh viện Wicklin, ông ta cân nhắc xem cuộc đời mình sẽ giống như thế nào khi ông lựa chọn con đường lão bệnh học. Ông nghĩ về chính cô con gái của mình, và nhớ lại niềm vui của ông khi nhìn vào gương mặt nhăn nheo sơ sinh của nó khi nó la khóc giận dữ trong phòng sinh đẻ. Ông nhớ lại sự mệt mỏi lúc cho con ăn vào hai giờ sáng, cái mùi phấn rôm và mùi chua của sữa, em bé giống y như những người già. Chúng cần được tắm rửa và nuôi ăn rồi mặc quần áo cho. Chúng cần được thay khăn vệ sinh. Chúng cũng chẳng đi và cũng chẳng nói được. Chúng sống nhờ lòng nhân ái của người khác, những người săn sóc cho chúng.
Ông đến bệnh viện Wicklin vào lúc bảy giờ rưỡi, một bệnh viện cộng đồng nhỏ ngay bên trong giới hạn của thành phố Boston. Ông mặc chiếc áo khoác trắng vào, kiểm tra cái bảng tên có đề chữ ROBERT BRACE, bác sĩ y khoa, đã được ghim lên trên đó chưa và đi vào bên trong tòa nhà. Ông không có quyền ưu tiên như các bác sĩ ở đây, cũng như ông không được phép yêu cầu được xem bất cứ hồ sơ y khoa nào của họ; ông đang mạo hiểm để không ai quan tâm đến việc tra hỏi ông.
Trong phòng lưu trữ hồ sơ bệnh nhân, ông điền vào một bản biểu mẫu để yêu cầu được xem hồ sơ của Stanley Mackie và đưa mảnh giấy cho cô thư ký, một cô bé tóc vàng. Cô ta liếc nhìn vào bảng tên ông và ngần ngại, rõ ràng cô nhận ra ông không phải là nhân viên của họ.
- Tôi từ dưỡng đường Brant Hill đến. – Ông nói. – Bệnh nhân này là một trong những khách hàng của chúng tội.
Cô ta mang bộ hồ sơ đến cho ông và ông mang nó đến một chiếc bàn trống và ngồi xuổng. Ngang qua bìa của bộ hồ sơ có viết chéo một dòng chữ đen: Chết. Ông mở hồ sơ ra và nhìn vào trang đầu tiên, có ghi lý lịch: tên, ngày tháng năm sinh, số bảo hiểm xã hội. Cái địa chỉ trong đó đập ngay vào mắt ông: 101 Titwillow Lane, Newton, MA.
Đó là địa chỉ của Brant Hill.
Ông lật sang trang kế tiếp. Tài liệu chỉ ghi có một lần – lần Stanley Mackie được báo cáo tử vong. Trong tâm trạng mất tinh thần dâng cao, ông đọc phần ghi về lịch sử và cơ thể của bác sĩ phẫu thuật nhận bệnh, ghi ngày 9 tháng Ba.
Nam bác sĩ, 74 tuổi, da trắng, trước giờ khỏe mạnh, được nhận thông qua phòng cấp cứu với chấn thương rất nặng trên đầu sau khi đã rơi từ cửa sổ tầng thứ tư xuống đất. Ngay trước khi tai nạn xảy ra, bệnh nhân đã cọ rửa và khoác áo mổ vào và thực hiện một cuộc phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa thường lệ. Theo các nhân viên y tá tại phòng mổ, bác sĩ đã có những biểu hiện rõ ràng về sự run tay. Không giải thích, ông đã tiến hành cắt bỏ nhiều đoạn ruột non, không có dấu hiệu bất thường, kết quả dẫn đến việc mất nhiều máu và cái chết. Khi nhân viên phòng mổ cố lôi ông ta ra khỏi bàn mổ, ông đã rạch đứt tĩnh mạch cổ của chuyên viên gây mê, và bỏ chạy khỏi phòng mổ.
Nhân chứng trong hành lang đã thấy ông ta đâm đầu qua cửa sổ. Ông ta được tìm thấy trong bãi đậu xe, bất động và chảy máu nhiều từ vô số vết thương.
Sau khi đã được luồn ống vào khí quản và ổn định tại phòng cấp cứu, bệnh nhân đã được cho nhập khoa chấn thương với nhiều vết nứt trên hộp sọ cũng như cột sống có thể bị gãy…
* * *
Cuộc khám của bác sĩ đã được ghi lại theo lối văn ngắn gọn của phẫu thuật, một phân tích tỷ mỷ về các vết thương của bệnh nhân đã nhanh chóng được thực hiện cùng với những cuộc tìm kiếm về thần kinh. Mặt và sọ bị cắt nát. Xương sọ bể để lộ ra chất xám. Một nhãn cầu bị lồi ra phía bên phải. Không có cử động tự ý, không phản ứng lại với các kích thích gây đau. Những vết thương của bệnh nhân, Brace nghĩ, phù hợp với sự kiện ông đã đâm đầu nhảy xuống bãi đậu xe.
Lật tiếp sang các trang kế, ông nhìn thấy ghi chú của phẫu thuật viên:
- Hình chụp X quang cho thấy các đốt xương sống C6. C7, T8 bị gãy. Điều này cũng liên quan đến việc nhảy đâm đầu xuống đất với lực sinh ra bởi sự rơi tác động thẳng vào cột xương sống.
Thời gian nằm tại bệnh viện của Stanley Mackie là một tuần lễ của sự suy giảm chức năng của các cơ quan nội tạng khác. Hôn mê và được chụp oxy, ông ta không bao giờ tỉnh lại. Đầu tiên thận ngưng làm việc, có lẽ do chấn động gây ra bởi các vết thương của ông. Rồi ông ta bị viêm phổi và huyết áp đã hai lần tuột xuống, gây ra một chứng nhồi máu trong ruột. Cuối cùng, bảy ngày sau khi ông ta nhảy xuống từ lầu tư, tim ông đã ngừng đập.
Ông lật đến cuối bộ hồ sơ, nơi có ghi những kết quả xét nghiệm. Có bảy ngày máy tính đã làm việc để in ra một loạt các xét nghiệm điện phân và hóa học của máu, số lượng hồng cầu và các bảng phân tích nước tiểu. Ông tiếp tục lật tiếp, nhận ra hằng ngàn đô la đã mất đi với các thí nghiệm y khoa cho một người đàn ông với cái chết không thể tránh được ngay từ ngày đầu tiên.
Ông ngừng lại tại một kết quả xét nghiệm có đề chữ: Bệnh học.
Gan (sau khi chết):
Tổng quan: Cân nặng 1.600 grs, tái, trên mặt có nhiều nơi được ghi có sự xuất huyết cấp tính. Không có bằng chứng về viêm gan kinh niên.
Qua kính hiển vi: nhuộm H và E, có những vùng rải rác của các tế bào gan bị khô héo, có lẽ do thiếu máu cục bộ.
Brace lật sang trang và tìm thấy một báo cáo đếm số lượng hồng cầu, không có tính liên tục. Ông lật sang trang kế tiếp, và thấy mình đang nhìn bìa sau của bộ hồ sơ. Không còn trang nào nữa.
Ông lật về mặt trước bộ hồ sơ, tìm kiếm thêm những báo cáo sau khi chết của bệnh nhân, nhưng chỉ tìm thấy có trang nói về lá gan. Điều này không cho một ý nghĩa gì. Tại sao các bác sĩ bệnh học lại thực hiện giảo nghiệm chỉ có một cơ quan duy nhất? Còn các báo cáo về phổi, tim, óc?
Ông đến hỏi tại bàn làm việc có còn tài liệu nào về Stanley Mackie nữa không.
- Chỉ có một cái. – Cô thư ký nói.
- Nhưng một vài báo cáo của bác sĩ bệnh học đã mất.
- Ông có thể kiểm tra trực tiếp chuyện ấy với phòng nghiên cứu bệnh học. Họ giữ bản sao tất cả các báo cáo của họ.
Phòng nghiên cứu bệnh học nằm ở tầng hầm, là những căn phòng nhỏ trần thấp, tường được sơn trắng và được trang trí với những hình poster du lịch tươi tốt. Sương mù tại Serengeti. Cầu vồng trên Kauai. Một đảo toàn cây đước giữa biển xanh màu ngọc lam. Radio đang phát một bản nhạc rock nhẹ. Kỹ thuật viên ngồi làm việc một mình trong phòng hình như vui mừng một cách vô lý, đối chiếu với bản chất nghề nghiệp của cô ta. Ngay chính cô cũng là một màu sặc sỡ, với má đỏ và hai mi mắt bôi màu xanh lấp lánh.
- Tôi đang tìm một báo cáo giảo nghiệm cơ thể làm trong tháng ba. – Brace nói. – Nó không có trong hồ sơ bệnh nhân. Phòng hồ sơ y khoa gợi ý cho tôi đến làm việc với cô.
- Tên bệnh nhân là gì?
- Stanley Mackie.
Cô kỹ thuật viên lắc đầu khi cô đi vào phòng hồ sơ.
- Ông ta là một người rất dễ thương. Chúng tôi tất cả đều cảm thấy khủng khiếp về việc đó.
- Cô biết ông ta?
- Các bác sĩ phẫu thuật thường đến đây để kiểm tra các báo cáo bệnh học của các bệnh nhân của họ. Chúng tôi biết khá rõ về bác sĩ Mackie. – Cô kéo ra một ngăn kéo và bắt đầu đưa ngón tay cái lật các bộ hồ sơ. – Ông đã mang tặng máy pha cà phê cho phòng chúng tôi hôm Giáng sinh. Chúng tôi gọi đó là máy pha cà phê kỷ vật của ông Mackie. – Thật chán nản.
- Cái gì?
- Tôi không thể tìm ra nó. – Cô ta đóng ngăn kéo lại. – Tôi còn nhớ chắc có thực hiện giảo nghiệm tử thi bác sĩ Mackie?
- Nó có bị để lạc chỗ không? Chỗ chữ S cho Stanley.
Cô mở một ngăn kéo khác ra, lật tìm các hồ sơ, rồi đóng lại. Cô quay sang một kỹ thuật viên khác đang bước vào phòng.
- Này, Tim, có thấy báo cáo giảo nghiệm cơ thể bác sĩ Mackie đâu không?
- Nó không có được trả về à?
- Tôi còn thấy nó đầu năm nay.
- Vậy nó vẫn còn ở trong đó. – Anh ta đặt một khay bản vật lên bàn. – Thử kiểm tra Herman xem.
- Tại sao tôi không nghĩ tới Herman nhỉ? – Cô ta thở dài và băng ngang qua phòng thí nghiệm để đến một phòng khác.
Brace đi theo cô ta. – Herman là ai vậy?
- Ông ta không phải là ai nhưng là cái gì. – Cô ta bật đèn lên cho thấy trong phòng có một cái bàn với một máy tính cá nhân. – Đây là Herman. Đó là dự án ưa thích của bác sĩ Seibert.
- Herman làm những gì?
- Anh ta – nó – nó được nghĩ sẽ truy ra trong một lát những nghiên cứu đã được thực hiện trước đây. Nói thí dụ ông muốn biết số cái chết trước khi được sinh ra của những đứa bé có mẹ nghiện hút là bao nhiêu. Ông gõ vào một vài từ khóa hút thuốc và trước khi sinh ra và ông sẽ có được một danh sách các bệnh nhân đã được phẫu thuật tử thi có mối liên hệ với cáo từ đó.
- Vậy tất cả các hồ sơ giảo nghiệm đều nằm trong này?
- Chỉ một phần thôi. Bác sĩ Seibert chỉ bắt đầu nạp dữ liệu vào đấy từ hai tháng nay thôi. Ông ta còn một khoảng đường dài để làm xong các việc đó. – Cô ta ngồi xuống bên bàn phím, gõ vào tên Mackie, Stanley, và click chuột vào từ Tìm Kiếm.
Một giao diện mới xuất hiện với các dữ liệu được nhận dạng. Đó là bản báo cáo về cuộc giảo nghiệm tử thi của Stanley Mackie.
Cô kỹ thuật viên rời khỏi ghế.
- Đây là tất cả những gì của ông.
Brace ngồi vào trước máy tính. Theo những dữ liệu hiện ra trên màn hình, bản báo cáo này đã được ghi vào máy sáu tuần trước đó; bộ hồ sơ này có lẽ đã bị thất lạc từ đó. Ông ấn lên phím Page Down và bắt đầu đọc.
Bản báo cáo mô tả tổng quát hình dạng cơ thể sau khi chết: vô số các dấu vết của đường truyền tĩnh mạch, cái đầu bị cạo trọc, những vết cắt trên da đầu do dao cạo của các phẫu thuật viên để lại. Bản báo cáo tiếp tục với một bản mô tả các cơ quan nội tạng. Phổi bị sung huyết và sưng phồng lên vì bị viêm. Trái tim có dấu vết của một cuộc nhồi máu. Não có nhiều vùng bị xuất huyết. Những sự khám nghiệm tổng quát phù hợp với các chẩn đoán của các phẫu thuật viên: chấn thương rất nặng nơi đầu với viêm phổi song phương. Cơn nhồi máu cơ tim có lẽ là biến cố sau cùng.
Ông click vào các cuộc khám nghiệm qua kính hiển vi và tìm thấy một bảng tóm lược giống như trang ông đã đọc tại phòng hồ sơ, mô tả lá gan. Thêm vào đó có các báo cáo không thấy xuất hiện trong hồ sơ lưu trữ – quan sát qua kính hiển vi gan, tim, phổi. Không có gì đáng ngạc nhiên, ông ta nghĩ. Ông ta đã đâm đầu xuống đường, sọ ông bị vỡ, và chấn thương thần kinh đã dẫn đến sự ngưng hoạt động hằng loạt của cơ quan nội tạng.
Ông click vào báo cáo khám nghiệm qua kính hiển vi, và hai mắt ông đột nhiên tập trung vào một câu nằm lẫn trong một loạt mô tả về các vết chấn thương:
- Rất nhiều không bào ở trên nền nơrôn. Vài nơrôn đã bị mất và phản ứng astrocytosis với các bản kuru, Congo đỏ dương tính, như thường thấy trong phần tiểu não.
Ngay tức khắc, ông click chuột đến cuối trang và mắt ông nhìn vào lời chẩn đoán sau cùng.
Rất nhiều xuất huyết thứ cấp trong óc.
Trước đã có bệnh Creutzfeldt-Jakob.
Trong bãi đậu xe, Robbie Brace ngồi vào xe, tự hỏi ông sẽ phải làm gì tiếp theo. Phải chăng ông chẳng làm gì tiếp. Ông cân nhắc tất cả mọi hậu quả có thể với những hành động của ông. Đó sẽ là một trận bão táp đánh vào danh tiếng của Brant Hill. Chắc chắn báo chí sẽ phóng nhanh tin này, và sẽ có những hàng tít thật lớn: SỰ GIÀU CÓ VÀ CÁI CHẾT. TIỀN MUA ĐƯỢC BỆNH BÒ ĐIÊN.
Ông sẽ mất việc.
Anh không thể im lặng. Toby Harper đã nói đúng. Chúng ta đang nắm trong tay một sự bùng nổ chết người, và chúng ta không biết đâu là nguồn gốc. Việc chích hormone? Thức ăn?
Ông lấy chiếc điện thoại di động từ dưới ghế ra. Ông vẫn còn mang theo tấm danh thiếp của Toby Harper; ông bấm số điện thoại nhà bà ta.
Có tiếng trả lời của một phụ nữ: – Nhà của bác sĩ Harper.
- Tôi là bác sĩ Brace từ Brant Hill. Tôi có thể nói chuyện với Toby Harper được không?
- Bà ta không có nhà, nhưng tôi có thể nhận một lời nhắn. Số điện thoại của ông?
- Tôi bây giờ đang ở trong xe. Chỉ nói với bà ta là bà đã đúng. Bảo với bà là tôi đã tìm được một trường hợp thứ hai bệnh CJD.
- Xin lỗi.
- Bà ta sẽ biết ý nghĩa của nó. – Đèn xe nhấp nháy trong kính chiếu hậu của ông. Ông quay lại và thấy một chiếc xe đang từ từ chuyển động ở hàng bên cạnh. – Bà sẽ về nhà lúc mấy giờ? – Ông ta hỏi.
- Hiện giờ bà ta đang làm việc.
- Ồ, vậy tôi sẽ tạt qua bệnh viện Springer. Đừng quan tâm đến lời nhắn. – Ông cắt máy, và nhét điện thoại vào dưới ghế xe, rồi cho xe khởi động. Khi ông lái xe ra khỏi bãi đậu, ông nhận thấy cũng ánh đèn xe đó đang di chuyển đến lối ra của bãi đậu xe. Ông nhanh chóng không còn nhìn thấy chúng khi xe vào dòng lưu thông tấp nập.
Lái xe đến Springer mất nửa giờ. Vào lúc ông cho vào bãi đậu xe, ông cảm thấy nhức đầu vì đói bụng. Ông chạy vào bãi dành cho khách vãng lai. Tắt máy xe, ông ngồi lại một lát trong xe, xoa hai thái dương. Đó chỉ là một cơn nhức đầu nhẹ, nhưng nó nhắc cho ông nhớ ông đã không ăn gì từ buổi điểm tâm. Ông sẽ nán lại trong vài phút, chỉ để nói cho bà biết về những gì ông đã biết được, và rồi ông sẽ để cho bà dẫn bóng từ lúc đó. Tất cả những gì ông muốn lúc này là về nhà, ăn tối và đùa với con gái.
Ông bước ra khỏi xe, khóa lại, và nhìn vào lối vào phòng cấp cứu. Ông chỉ mới bước được vài bước khi ông nghe có tiếng máy xe ở phía sau. Quay người lại, ông liếc mắt về phía các ngọn đèn xe đang tiến dần đến ông. Chiếc xe dừng lại bên cạnh ông. Ông nghe có tiếng cửa sổ chỗ tài xế ngồi được kéo xuống vù vù bằng máy điện.
Một gã đàn ông tóc vàng ngả màu bạc dưới ánh đèn của bãi đậu xe cười với ông ta:
- Tôi nghĩ tôi bị lạc.
- Ông định đi đến đâu? – Brace hỏi.
- Đường Irving.
- Ông không có ở gần đó đâu. – Brace bước tới thêm một bước về phía cánh cửa sổ. – Ông phải quay ra đường cái, quẹo sang tay phái, và lái xe chạy khoảng bốn hay năm…
Hai tiếng bốp, bốp làm ông ngạc nhiên. Cũng như cú thoi vào ngực ông.
Brace ném người sang bên, ngạc nhiên vì bị vô cớ bắn vào người. Ông đặt tay lên ngực, nơi cơn đau vừa mới bắt đầu cảm nhận được. Chất âm ấm chảy xuyên qua áo ông ta và chảy nhỏ giọt qua các ngón tay ông. Ông nhìn xuống và thấy tay ông ướt và lấp lánh một chất lỏng sẫm màu.
Thêm một tiếng bốp nữa. Một cú đấm nữa vào ngực ông.
Brace lảo đảo. Ông cố đứng lên, nhưng hai chân ông đang gập lại. Ông quỳ gối xuống và thấy đèn đường bắt đầu sóng sánh như nước.
Viên đạn cuối cùng bắn vào lưng ông.
Ông ngã quỵ xuống, mặt úp lên lề đường lạnh giá, sỏi lát đường ghim vào má ông. Chiếc xe bỏ chạy, tiếng máy xe chìm dần vào trong bóng đêm. Ông có thể cảm thấy cuộc sông ông đang chảy ra ngoài theo một dòng chất ấm. Ông ép chặt tay vào ngực, cố cầm máu lại, nhưng tay ông không còn sức mạnh nữa. Tất cả những gì ông có thể làm được là ôm ngực một cách yếu ớt.
Chúa ơi, không phải ở đây, ông ta nghĩ. Không phải lúc này.
Ông bắt đầu bò về phía cửa phòng cấp cứu, cùng lúc cố giữ tay mình ép chặt lên vết thương trên ngực, nhưng với mỗi nhịp đập của trái tim ông, ông cảm thấy máu mình trào ra thêm. Ông cố tập trung nhìn vào chữ: CẤP CỨU, được thắp sáng bằng đèn đỏ, nhưng hai mắt ông cứ ra ngoài sự tập trung, và chữ bắt đầu nhảy múa chảy ra như máu đó đang rỉ ra.
Chiếc cửa kính của phòng cấp cứu ở thẳng phía trước. Đột nhiên một gương mặt xuất hiện ở khung cửa sáng ấm áp ấy. Nó đến dừng lại cách đó vài thước. Tuyệt vọng, Brace với tay tới và thều thào:
- Cứu tôi, làm ơn.
Ông nghe người đàn bà la lên:
- Có một người đàn ông đang bị đổ máu ở ngoài đây! Tôi cần phụ tá!
Và rồi ông nghe có tiếng bước chân chạy về phía ông.