Mạng Sống Mong Manh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19

❊ ❊ ❊

Cách đấy bốn tòa nhà, trong một lối đi phía sau một nhà hàng Ấn Độ, nấp trong một chiếc hộp bằng giấy bồi. Cô luôn ngửi thấy một mùi hương ngào ngạt đến từ nhà bếp – mùi hương lạ, đầy mùi gia vị cô không nhận biết được nhưng nó làm cho cô phải ứa nước miếng. Rồi gió đổi chiều và cô có thể ngửi được mùi của chiếc thùng rác ở gần đó và muốn buồn nôn vì cái mùi thực phẩm thối rữa.

Bụng cô đổi chiều qua lại từ cảm giác đói bụng sang cảm giác buồn nôn, cô ngồi co người lại chặt hơn. Mưa thấm chảy vào bên trong chiếc hộp, và nó đang bắt đầu chảy xuống, đổ sụp lên hai vai cô như một cái áo khoác ướt sũng nước mưa bằng giấy bồi.

Cửa sau nhà hàng Ấn Độ bật mở ra và Molly nheo mắt lại khi ánh sáng bên trong chảy tràn ra trên lối đi. Một người đàn ông đội khăn xếp bước ra ngoài, lôi theo hai bao rác, mang chúng đến thùng rác. Ông nhấc cái nắp sắt lên, ném rác vào bên trong, và đóng sầm cái nắp thùng rác lại.

Molly hắt hơi.

Cô nhận biết qua thái độ đột nhiên im lặng của gã là sự có mặt của cô đã được nhận ra. Từ từ bóng hắn hiện ra ở phía trước cái thùng giấy, cái đầu đội khăn xếp của hắn to lớn một cách đáng sợ. Hắn nhìn chằm chằm vào cô và cô nhìn chằm chăm vào hắn.

- Tôi đói bụng. – Cô ta nói.

Cô thấy hắn liếc nhìn vào nhà bếp, rồi gật đầu.

- Đợi chút. – Hắn nói và đi vào trong nhà.

Một lát sau hắn xuất hiện trở lại với một mớ thức ăn bọc trong chiếc khăn ấm cúng. Bên trong có bánh mì, thơm phức và mềm như chiếc gối.

- Bây giờ mày xéo đi! – Hắn nói, có vẻ không thân thiện. Đó là một lời khuyến cáo nhẹ nhàng hơn một lời ra lệnh. – Mày không thể ở đây được.

- Tôi không biết phải đi đâu cả.

- Mày muốn tao gọi ai đó cho mày à?

- Tôi không có ai để gọi đến.

Gã ta ngước nhìn lên trời. Mưa đã nhỏ lại thành một cơn mưa phùn, và gương mặt nâu của gã lấp lánh những giọt nước đọng lại trên đó.

- Tao không thể mang mày vào bên trong nhà. – Hắn nói. – Có một nhà thờ ở cách đây ba tòa nhà. Họ có giường ngủ cho người lỡ bước khi trời lạnh.

- Nhà thờ nào?

Hắn ta nhún vai, như thể nhà thờ Cơ Đốc cũng giống như mọi nhà thờ khác. – Mày đi tiếp trên con đường này sẽ thấy nó.

Run rẩy, cô rút người ra khỏi chiếc hộp, rồi đứng lên. – Cám ơn. – Cô ta nói thì thầm.

Ông ta không trả lời. Trước khi cô ra khỏi lối đi vào nhà, cô đã nghe tiếng cửa đóng sầm lại khi hắn đi lại vào trong nhà hàng.

Trời lại bắt đầu đổ mưa.

Cô đi thẳng theo hướng gã đàn ông đã chỉ cho cô, thưởng thức bánh mì trong lúc bước đi. Cô không thể nhớ được cô đã từng nếm thử bánh mì tuyệt vời như thế; giống như thể cô đang ăn từng mảnh mây trời. Một ngày nào đó, cô ta nghĩ, cô sẽ đền ơn cho gã vì đã đối xử rất dễ thương với cô. Cô lúc nào cũng nhớ đến những người đã tỏ ra dễ thương với cô; cô giữ danh sách của họ trong đầu. Cái bà ở trong một quán rượu đã cho cô một mẩu bánh mì hot dog cũ. Cái gã đội khăn xếp. Và bà bác sĩ Harper nữa. Không ai trong họ có lý do gì để tỏ ra dễ thương với Molly Picker, nhưng họ đã tỏ ra dễ thương với Molly Picker. Họ là những vị thánh của cô, những thiên thần của cô.

Cô nghĩ thật dễ thương cái ngày nào đó cô sẽ có tiền. Nhét một bó tiền vào trong bao thư và trao nó cho người đàn ông đội khăn xếp. Có thể lúc đó hắn sẽ trở nên già hơn bây giờ. Cô sẽ dán một lời ghi chú vào bên trong bao thư: Cám ơn vì miếng bánh mì. Lẽ dĩ nhiên, hắn sẽ không còn nhớ cô ta. Nhưng cô vẫn còn nhớ đến hắn.

Tôi sẽ không quên. Tôi sẽ không bao giờ quên.

Cô dừng lại, mắt cô tập trung nhìn vào một tòa nhà ở phía bên kia đường. Bên dưới một dấu thánh giá trắng to lớn: NHÀ TRỌ CỦA HỘI TRUYỀN GIÁO. Phía trên lối vào đèn chiếu sáng, ấm áp và đón mời.

Molly đứng một lát sửng sốt vì nhìn thấy ánh sáng rực rỡ ấy trong cơn mưa phùn, như vẫy tay mời gọi cô bước ra khỏi vùng bóng tối. Cô cảm nhận được một thứ hạnh phúc kỳ lạ lúc cô rời khỏi lề đường và sửa soạn băng qua đường.

Ai đó gọi tên cô:

- Molly?

Cô ta lặng người. Cô kinh hoàng nhìn về phía, nơi phát ra âm thanh ấy. Đó là giọng nói của một người đàn bà, và nó phát ra từ một chiếc xe đang đậu ở gần nơi nhà thờ.

- Molly Picker? – Người đàn bà gọi. – Tôi muốn giúp cô.

Molly lùi ra sau một bước, sửa soạn bỏ chạy.

- Đến đây. Tôi sẽ mang cô đến một nơi ấm cúng. Một nơi an toàn. Cô có muốn vào bên trong xe không?

Molly lắc đầu. Từ từ cô lui lại phía sau, cô hoàn toàn tập trung chú ý vào người đàn bà đến nỗi cô không nhận ra có tiếng bước chân đang tiến sát lại phía sau lưng cô.

Một bàn tay đưa ra bịt miệng cô lại, bịt hẳn tiếng thét của cô, kéo giật mạnh đầu cô ra sau mạnh đến nỗi cô cảm thấy cổ cô sắp sửa bị gãy ra. Cô ngửi thấy cái mùi hơi người của hắn – Romy, mùi dầu thơm như sữa nguội của hắn.

- Đoán xem ai, Molly Wolly? – Hắn nói thì thầm. – Tao đã săn đuổi theo mày suốt cả buổi trưa chết tiệt này.

Quằn quại, giãy giụa, cô bị lôi đi trên mặt đường.

Cánh cửa xe mở ra và một đôi bàn tay khác lôi cô vào trong xe, và xô cô xuống sàn xe, nơi ấy cổ tay và mắt cá cô được cột chặt lại bằng dây.

Chiếc xe tròng trành phóng tới trước, rời khỏi lề đường với một tiếng rít chói tai. Lúc xe chạy ngang qua dưới ánh đèn một cây cột đèn. Molly thoáng nhìn thấy người đàn bà đang ngồi gần đấy – một người đàn bà nhỏ thó và mái tóc đen cắt ngắn. Ả đặt tay lên cái bụng căng tròn của Molly và thở nhẹ dài ra mãn nguyện, nụ cười của ả giống như một cái nhếch mép của một xác chết.

* * *

- Chúng ta quay trở lại thôi. – Dvorak nói. – Chúng ta sẽ không tìm được cô ta.

Họ đã chạy lòng vòng suốt cả giờ nay, đã xem xét kỹ lưỡng từng con đường trong khu vực lân cận ít nhất hai lần. Bây giờ họ đang ngồi trong chiếc xe đang dừng lại của họ, quá mệt mỏi để có thể nói chuyện với nhau, hơi thở đọng lại thành một lớp sương mù trên kính xe. Phía bên ngoài, mưa cuối cùng đã ngưng hạt và những vũng nước mưa lấp lánh trên mặt đường. Tôi mong cô ta sẽ được an toàn, Toby nghĩ. Tôi mong cô ta tìm được một nơi nào đó ấm cúng và khô ráo.

- Cô ta biết đường sá. – Dvorak nói. – Cô ta có đủ sự hiểu biết để tìm cho mình một nơi trú ẩn. – Ông với tay ra và bóp nhẹ bàn tay bà. Họ quan sát nhau trong bóng tối, cả hai người đều cảm thấy mệt, nhưng không ai trong họ đã sẵn sàng để chấm dứt đêm hôm nay.

Ông ta chồm người về phía bà và vừa mới đặt môi mình lên trên môi bà thì máy nhắn tin đã phát ra tín hiệu.

- Có thể đó là chuyện về Molly. – Bà ta nói.

Ông cầm điện thoại trong xe bà lên. Một lát sau ông gác máy và thở dài. – Không phải về việc Molly. Nhưng nó đã đặt dấu chấm hết cho buổi gặp gỡ tối nay của chúng ta.

- Chắc anh phải quay trở lại công việc của mình chứ gì?

- Rủi thay. Em có thể chở anh tới đó. Anh cần đến một nơi ở ngay phía trên con đường này.

- Còn xe anh thì sao?

- Anh sẽ dùng xe của nhà xác để quay trở lại đó.

Bà cho xe nổ máy. Họ lái xe về hướng Bắc, về phía khu phố Tàu, dọc theo những con đường ẩm ướt và lưng linh ánh đèn muôn màu của khu phố.

Dvorak nói:

- Đằng kia – ở ngay đằng trước.

Bà đã nhận thấy có ánh đèn chớp tắt. Ba chiếc xe tuần tiễu của cảnh sát Boston đã đậu bừa bãi gần lề đường phía bên ngoài một nhà hàng Trung Hoa. Một chiếc xe màu trắng của nhà xác với hàng chữ CỘNG ĐỔNG MASSACHUSETTS in bên hông xe đang lùi lại trên đường Knapp.

Bà dừng xe lại phía sau một chiếc xe canh tuần, và Dvorak bước ra ngoài.

- Nếu anh biết được tin tức gì về Molly, xin gọi điện cho em. – Bà nói.

- Anh sẽ gọi điện cho em. – Ông cười với bà, vẫy tay chào, và bước tới dây rào chắn khu vực xảy ra án mạng. Một nhân viên cảnh sát tuần tra nhận ra ông và vẫy tay gọi ông tới.

Toby định gài số cho xe lùi lại nhưng cứ để xe đậu và ngồi lại trong chốc lát, nhìn đám đông đang bu lại trên đường. Ngay cả vào lúc nửa đêm, người hiếu kỳ cũng vẫn bu đông lại để xem. Có sự bông lông kỳ lạ phảng phất trong không khí, hai người đàn ông vẫy tay, phụ nữ cười đùa. Chỉ có các nhân viên cảnh sát trông có vẻ kiên quyết.

Dvorak đứng ngay sau phía sợi dây chắn an ninh, nói chuyện với một nhân viên an ninh mặc thường phục. Một viên thanh tra. Ông ta chỉ tay vào một lối đi, rồi lật nhẹ cuốn sổ tay trong lúc ông ta nói chuyện. Dvorak gật đầu, ông quan sát phía trên mặt đất. Bây giờ viên thanh tra nói gì đó làm cho Dvorak ngẩng đầu lên ngạc nhiên. Ngay lúc đó, hình như ông nhận ra xe Toby vẫn còn đậu tại chỗ. Viên thanh tra nhìn chằm chằm trong lúc Dvorak đột nhiên bỏ ông ta đi, chui qua dây chắn an ninh, và đi trở lại về phía xe Toby.

Bà kéo cửa sổ xuống.

- Em chỉ muốn đứng lại xem một lát. – Bà ta nói. – Em nghĩ em chỉ có hơi chút tò mò như những người khác. Đó là một đám đông kỳ lạ.

- Vâng, đó luôn là một đám đông kỳ lạ.

- Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Ông cúi người qua cửa sổ. Bình thản, ông nói. – Họ tìm thấy một cái xác. Thẻ căn cước cho biết tên anh ta là Romulus Bell.

Bà đáp lại bằng một cái nhìn trống không.

- Hắn đi với cái tên Romy. – Dvorak nói. – Đó là tên ma cô của Molly Picker.

Cái xác nằm sóng soài trên mặt đường, gần như bị một chiếc Taurus xanh đậu ở phía trước che khuất lại. Cánh tay trái cong lại bên dưới cái xác, cánh tay phải quăng ra trước chỉ về phía nhà hàng Trung Hoa ở cuối lối đi. Một vụ hành quyết, Dvorak nghĩ, mắt nhìn thấy một vết đạn trên màng tang phải của cái xác.

- Không có nhân chứng. – Thanh tra Scarpino nói. – Một trong những tên cớm lớn tuổi, gần về hưu, ông nổi tiếng với mái tóc giả tệ hại. Đêm nay, cú ngã trông giống như thể nó bị đẩy từ phía sau một cách vội vã. – Cái xác được phát hiện vào khoảng mười một giờ ba mươi bởi hai người khi họ bước ra khỏi nhà hàng Trung Hoa. Đó là chiếc xe của họ. – Scarpino chỉ tay về phía chiếc Taurus xanh. – Người làm thuê phía trên kia vào lối đi quăng ra một mớ rác vào khoảng đâu đó mười giờ tối, đã không nhìn thấy cái xác. Giấy căn cước có trong ví của nạn nhân. Một trong những nhân viên cảnh sát tuần tra biết được cái tên đó. Ông ta vừa mới nói chuyện với nạn nhân ngày hôm qua, khi ông hỏi hắn về chuyện cô gái ông đang tìm kiếm lúc đó.

- Bell được bắt gặp ở bệnh viện thành phố Boston vào khoảng chín giờ tối.

- Ai đã thấy hắn ở đó?

- Cô gái, Molly Picker. Hắn đã vào phòng cô ta trong bệnh viện. – Dvorak lôi ra một cặp găng tay bằng nhựa latex và cúi xuống để nhìn cái xác. Nạn nhân khoảng độ ba mươi tuổi, một gã đàn ông mảnh khảnh với mái tóc đen chải thẳng bôi dầu kiểu đầu Elvis. Da hắn vẫn còn ấm; cánh tay nằm duỗi thẳng ra ngoài rám nắng và vạm vỡ.

- Nếu ông tha lỗi cho tôi vì đã nói như thế, thưa bác sĩ, nó trông có vẻ không đúng.

- Cái gì trông có vẻ không đúng?

- Ông đi xe cùng với vị bác sĩ kia.

Dvorak bật người lên và quay lại nhìn thẳng vào mặt Scarpino.

- Xin lỗi?

- Bà ta đang bị điều tra ráo riết. Tôi nghe đâu có liên quan gì đến việc của mẹ bà ta.

- Anh còn nghe chuyện gì khác?

Scarpino dừng lại, nhìn lên lối đi về phía đám đông.

- Rằng đã có thêm nhiều bằng chứng mới xuất hiện. Nhân viên của Alpren đã kiểm tra hết các nhà thuốc trong thành phố. Ông ta đang truy tìm cái gì đó vững chắc. Nếu bà mẹ chết, việc ấy sẽ dẫn đến việc sát nhân, và nó thực sự sẽ làm cho việc ấy trở nên rắc rối. Ông và bà ta, đi cùng xe đến hiện trường án mạng.

Dvorak kéo khăn tay ra, đột nhiên giận dữ với Scarpino. Những giờ trải qua với Toby Harper làm cho ông nghi ngờ về việc bà ta có thể có thái độ bạo ngược, thô bạo đối với mẹ bà ta.

- Suỵt, có những phóng viên đang đứng ở đằng kia. – Scarpino nói. – Họ tất cả đều nhận ra ông. Và chẳng bao lâu nữa họ cũng sẽ biết được khuôn mặt của bác sĩ Harper. Họ sẽ nhớ có gặp hai người đi chung và bộp! Những trang đầu khốn kiếp!

Ông ta nói đúng, Dvorak nghĩ. Điều đó càng làm cho ông trở nên giận dữ hơn.

- Việc đó trông không đúng. – Scarpino nói, nhấn mạnh từng chữ.

- Bà ta chưa bị cáo buộc.

- Không phải lúc này. Ông nói chuyện đó với Alpren.

- Xem này, chúng ta có thể tập trung vào trường hợp này được không?

- Vâng, chắc chắn. – Scarpino ném một cái nhìn kinh tởm lên xác của Romulus Bell. – Tôi vừa mới nghĩ đến việc tôi nên đưa ra tiếp một vài lời khuyến cáo, thưa bác sĩ. Những người như ông không cần những loại rắc rối như thế. Một người phụ nữ đánh đập ngay chính bà mẹ của mình.

- Scarpino, hãy cho tôi một ân huệ.

- Vâng?

- Hãy nghĩ đến công việc khốn kiếp của ông.

Toby nằm ngủ trong giường Ellen đêm hôm ấy. Sau khi đã lái xe về nhà từ khung cảnh lòe loẹt của khu phố Tàu, bà đi vào nhà và cảm thấy như bà đang vào trong một căn phòng ngột ngạt và im ắng. Bà cảm thấy mình bị vây quanh bởi bốn bức tường. Bị chôn sống.

Trong phòng ngủ của bà, bà mở radio bắt một đài phát nhạc cổ điển đêm khuya, vặn cho hát to đến nỗi bà có thể nghe được trong nhà tắm. Bà tuyệt vọng cần đến âm nhạc, những giọng nói – bất cứ thứ gì.

Vào lúc bà bước ra khỏi phòng tắm, dùng khăn lau khô mái tóc mình, máy thu thanh âm nhạc đã chạy rè rè. Bà tắt máy đi. Trong sự im lặng đột ngột ấy, bà cảm thấy bây giờ sự vắng mặt của Ellen cũng sâu sắc như một cơn đau thể chất.

Bà đi xuống hành lang, đến phòng của mẹ bà.

Bà không vặn đèn lên nhưng đơn giản chỉ đứng trong bóng tối lờ mờ, hít vào mùi hương của Ellen, thoảng chút êm ái, như những bông hoa mùa hè bà hay dịu dàng chăm sóc. Hoa hồng và hoa oải hương.

Bà mở cửa tủ quần áo ra và ngẫu nhiên chạm tay vào một trong những chiếc áo đầm trong đó. Chỉ qua lối dệt của vải, bà đã nhận ngay ra nó: chiếc áo váy bằng vải len mùa hè của mẹ bà, chiếc áo cũ đến nỗi Toby nhớ mẹ bà đã từng mặc nó để đi dự lễ tốt nghiệp đại học của Vickie. Và bây giờ nó ở đây, vẫn còn treo trong tủ áo với các áo cũ khác. Ellen đã giữ lại trong suốt nhiều năm dài. Lần cuối cùng con dẫn mẹ đi mua sắm là khi nào? Con không thể nhớ được. Con không thể nhớ được cái lần cuối cùng con đã mua cho mẹ một chiếc áo…

Bà đóng cửa tủ quần áo lại và ngồi xuống trên giường. Bà đã thay drap nhiều tuần trước đây, với hy vọng cuối cùng mẹ bà có thể trở về nhà được. Bây giờ gần như bà mơ ước, bà đã không nên làm như vậy; mọi dấu vết của mẹ bà đã bị lột đi cùng với tấm drap cũ, bây giờ chiếc giường chỉ còn thơm mùi xà bông dịu dàng. Bà nằm xuống, nghĩ đến những đêm Ellen đã nằm trên chiếc giường này. Bà tự hỏi liệu không khí có còn in bóng dáng sự hiện diện của mẹ bà hay không?

Bà nhắm mắt, thở vào thật sâu. Và cảm thấy buồn ngủ.

Cú điện thoại do Vickie gọi đến vào lúc tám giờ sáng đã đánh thức bà dậy. Nó reo đến tám lần trước khi Toby đi loạng choạng đến phòng ngủ bà để nhấc điện thoại lên. Còn ngái ngủ, bà chỉ có thể tập trung nghe được phần nào những gì cô em gái bà đang cố nói.

- Cần phải có ngay một quyết định, nhưng em không thể tự mình quyết định được, Toby. Em đã phải gánh vác quá nhiều việc trên hai vai.

- Quyết định gì?

- Cho mẹ thở bằng máy thông gió. – Vickie tằng hắng lấy giọng. – Họ đang bàn tính đến việc tắt nó đi.

- Không. – Toby trở nên hoàn toàn tỉnh ngủ. – Không.

- Họ đã thực hiện điện não đồ lần thứ hai và họ nói nó vừa đúng.

- Chị sẽ đến ngay. Đừng để họ chạm tay vào vật gì cả. Em có nghe chị nói không Vickie? Đừng để họ chạm tay vào bất cứ một cái thứ gì.

Bốn mươi lăm phút sau, bà bước vào phòng chăm sóc bệnh nặng tại bệnh viện Springer, Vickie đang đứng trong phòng Ellen; còn có cả bác sĩ Steinglass. Toby đi thẳng đến cạnh bên giường mẹ và khom người xuống, thì thầm:

- Con đây mẹ. Con ở ngay bên mẹ đây.

- Điện não đồ thứ hai đã được thực hiện vào sáng ngày hôm nay. – Bác sĩ Steinglass nói. – Không có dấu hiệu sinh động nào. Sự xuất huyết rất là tệ hại. Bà cụ không còn tự ý thở được nữa, không…

- Tôi không nghĩ chúng ta đề cập đến chuyện đó trong căn phòng này. – Toby nói.

- Tôi nhận ra việc ấy không dễ dàng chấp nhận được. – Steinglass nói. – Nhưng mẹ bà không còn nhận thức gì được nữa những gì chúng ta đang nói với nhau vào lúc này.

- Tôi không đến đây để thảo luận về chuyện đó. Không phải tại đây. – Toby nói, và bà đi ra khỏi phòng bệnh.

Trong phòng họp nhỏ của khoa Săn sóc bệnh nặng, họ ngồi vào bàn, Toby kiên quyết và im lặng, Vickie đang sửa soạn bật khóc. Bác sĩ Steinglass, người Toby nghĩ có năng lực nhưng tách biệt, trông không có vẻ thoải mái trong vai trò mới như người tư vấn của gia đình.

- Tôi rất lấy làm tiếc phải nêu vấn đề ấy lên. – Ông ta nói. – Nhưng thực sự việc ấy cần phải được đề cập đến. Đã bốn ngày nay, và chúng tôi nhận thấy không có sự tiến triển nào. Cả hai điện não đồ đều cho thấy không có dấu hiệu sinh động nào. Sự xuất huyết là rất nhiều, nhưng não bộ không còn lại chức năng nào hết. Máy thông gió chỉ đủ để… kéo dài tình trạng ấy ra. – Ông ta dừng lại. – Tôi tin rằng đó là việc làm nhân ái nhất.

Vickie nhìn chị, rồi quay lại nhìn Steinglass. – Nếu ông thực sự nghĩ không còn cơ hội nào…

- Ông ta không biết. – Toby nói. – Không ai biết.

- Nhưng mẹ đang chịu đau đớn. – Vickie nói. – Cái ống trong cổ họng mẹ – tất cả những cây kim tiêm đó.

- Tôi không muốn máy thông khí bị tắt đi.

- Em chỉ nghĩ về những điều gì mẹ mong muốn.

- Đó không phải là quyết định của em. Em không phải là người săn sóc cho mẹ.

Vickie ngồi co rút lại vào trong ghế, hai mắt mở to ra vì bị va chạm.

Toby gục đầu vào trong tay.

- Ồ! Chúa ơi, chị xin lỗi. Ý chị không phải như thế.

- Em nghĩ ý chị muốn nói như thế. – Vickie đứng phắt dậy khỏi ghế ngồi. – Thôi được, chị hãy thực hiện quyết định của chị vậy. Vì hình như chị nghĩ chị là người duy nhất yêu mẹ. – Vickie đi ra ngoài.

Sau một lát, bác sĩ Steinglass cũng bỏ đi.

Toby ở lại trong phòng, gục đầu xuống, người run lên vì tự căm phẫn với mình và giận dữ. Với chính bà. Với người đàn bà tự cho mình là Jane Nolan. Nếu tao tìm được ra mày. Nếu tao có một cơ may quỷ quái được ở một mình cùng mày.

Vào buổi trưa, bà đã kiệt lực vì giận dữ và xúc động. Bà không còn đủ nghị lực để gặp lại Dvorak một lần nữa; bà có cảm giác không thích nói chuyện với bất kỳ ai vào ngay lúc này. Trên một cái ghế bên giường của Ellen, bà dựa người ra sau và nhắm mắt lại, nhưng bà không thể nào không nhìn thấy hình ảnh của mẹ bà đang nằm cạnh đấy. Mỗi lần ống thông gió thổi, bà có thể thấy được hình ảnh ngực của mẹ bà phình lên rồi xẹp xuống. Hai lá phổi đầy ắp không khí. Máu đầy dưỡng khí chảy qua các phế nang để đến tim, và rồi đến não, nơi nó sẽ lưu thông một cách vô dụng và không cần thiết.

Bà nghe ai đó bước vào phòng bệnh, và bà mở mắt ra để thấy bác sĩ Steinglass đang đứng ở chân giường bệnh của Ellen.

- Toby. – Ông ta bình thản nói. – Tôi biết việc ấy rất khó cho bà. Tuy vậy, chúng ta cần phải quyết định.

- Tôi chưa sẵn sàng.

- Chúng ta đang đối diện với một tình trạng khó khăn. Các giường của khoa Săn sóc bệnh nặng không còn giường nào trống. Nếu một ca bệnh nặng nữa được đưa vào, chúng tôi sẽ cần có thêm chỗ. – Ông ta dừng lại. – Chúng tôi sẽ giữ cho bà cụ được thở qua máy hô hấp cho đến khi bà thực hiện một quyết định. Nhưng bà phải hiểu cho hoàn cảnh chúng tôi hiện giờ.

Bà ta không nói gì. Bà chỉ nhìn vào Ellen, nghĩ: Trông mẹ ốm yếu làm sao. Mỗi ngày mẹ trông mỗi co nhỏ lại.

- Toby?

Bà nhìn vào bác sĩ Steinglass.

- Tôi cần có thêm một ít thời gian. Tôi cần phải biết chắc chắn.

- Tôi có thể mời bác sĩ chuyên khoa thần kinh đến nói chuyện với bà.

- Tôi không cần đến một quan điểm khác.

- Có thể bà sẽ cần. Có thể…

- Làm ơn, ông có thể để cho tôi ở yên được một mình không?

Bác sĩ Steinglass bước lùi ra sau một bước, ngạc nhiên vì thái độ giận dữ qua cách nói chuyện của bà. Ở sau cửa vào của phòng bệnh, nhiều nhân viên y tá đang nhìn vào bà.

- Xin lỗi. – Toby nói. – Cho tôi thêm một thời gian nữa. Tôi cần có thời giờ để suy nghĩ. Một ngày nữa thôi. – Bà nhặt túi xách lên và đi ra khỏi phòng bệnh nặng, sâu sắc nhận biết, qua mỗi bước đi của bà, rằng các y tá đang nhìn theo mình. –

Tôi đi đâu bây giờ? Bà ta tự hỏi khi bà bước vào trong thang máy. Làm sao tôi có thể trở về khi tôi bị tấn công từ mọi phía?

Phe đối lập đã thò ra quá nhiều chiếc vòi bạch tuộc của nó. Thanh tra Alpren, Jane Nolan. Ông thần báo ứng thân thiết của bà Doug Carey.

Và Wallenberg. Đầu tiên bà đã làm cho hắn bối rối vì đã đòi hỏi việc phẫu thuật tử thi. Rồi bà đã làm nổi lên những chuyện rắc rối về hai trường hợp bệnh nhân ông ta đã mắc bệnh Creutzfeldt-Jakob. Bà đã làm hắn trở thành kẻ thù của bà, chắc chắn như thế, nhưng xa đến mức bà có thể nói được, bà chẳng đã gây ra cho hắn sự thiệt hại nghiêm trọng nào.

Vậy tại sao Brant Hill lại chăm chỉ làm cho tôi bị mất uy tín? Họ đang cố sức che giấu điều gì?

Thang máy dừng lại ở tầng thứ hai để rước thêm hai nhân viên quảng cáo vừa mới xong công việc. Toby nhìn vào đồng hồ và thấy đã hơn năm giờ; ngày nghỉ cuối tuần đã chính thức bắt đầu. Bà nhìn vào hành lang hành chánh và đột nhiên nảy ra suy nghĩ.

Bà lách người bước ra khỏi thang máy và đi ngược lên hành lang để đến thư viện y khoa. Cửa vẫn còn chưa khóa, nhưng thư viện đã vắng người. Bà đến máy tính tham khảo và bật điện lên.

Màn hình tìm kiếm Y Khoa xuất hiện.

Phía dưới khung “Tên tác giả”, bà gõ vào: Wallenberg, Carl.

Tựa đề của năm cuốn sách xuất hiện, được sắp xếp theo thứ tự thời gian ngược. Cuốn mới nhất được phát hành đã ba năm, và nó xuất hiện với cái tựa Cấy ghép tế bào:

- Sự phân bố mạch sau khi đình chỉ ghép tế bào thần kinh nơi loài chuột. – Có tên của cả hai tác giả cùng viết cuốn sách, Gideon Yarborough, bác sĩ, và Monica Trammell, thạc sĩ y khoa.

Bà ta sắp sửa cuộn xuống đến bài kế tiếp trong danh sách, khi ánh mắt bà dừng lại trên cái tên, Gideon Yarborough. Bà nhớ lại cái gã hói đầu tại đám ma của Robbie, cao lớn và ăn mặc lịch thiệp, người đã cố can thiệp vào khi bà và Wallenberg đang tranh luận. Wallenberg đã gọi gã đàn ông với cái tên Gideon.

Bà đến bàn tham khảo và lôi ra cuốn Thư mục của các chuyên gia y khoa trên kệ. Bà tìm thấy cái tên được liệt kê ở mục các chuyên gia giải phẫu:

Yarborough, Gideon. Bác sĩ giải phẫu thần kinh.

Cử nhân sinh vật học, Darmouth, bác sĩ Đại học Yale.

Nơi công tác: Bệnh viện Hartford. Phẫu thuật tổng quát; Peter Bent Brigham, phẫu thuật viên thần kinh, xác nhận của ủy ban: 1988.

Tổ nghiên cứu sinh: Viện Rosslyn khoa nghiên cứu về Tuổi già, Greenwich, Connecticut.

Hiện đang hành nghề: Wellesley, Massachusetts, Hiệp hội phẫu thuật Howarth.

Viện Rosslyn. Cùng một nơi nghiên cứu với Wallenberg. Robbie Brace đã nói Wallenberg rời Rosslyn sau khi đã thất bại với một trong những người cùng nghiên cứu, về việc một người đàn bà. Một cuộc tình tay ba lãng mạn.

Có phải Yarborough là người đàn ông kia hay không?

Bà mang cuốn Thư mục của các chuyên gia Y khoa đến máy tính Y học, và lần này bà gõ tên Yarborough dưới khung “Tên tác giả”.

Nhiều đề mục xuất hiện, trong số đó có một cuốn bà đã ghi nhận được từ Cấy ghép tế bào. Bà cuộn xuống đề mục được xuất bản lần đầu tiên, cách nay đã sáu năm, và đọc bản tóm tắt. Nó mô tả những thí nghiệm dùng các mảnh mô não của bào thai chuột, được tách ra thành các tế bào riêng biệt bằng enzym tripsin, rồi được tiêm vào não của các con chuột trưởng thành. Những tế bào được cấy ghép đã phát triển và làm thành những khu vực có chức năng, trọn vẹn với những mạch máu mới phát triển.

Bà thấy ớn lạnh dọc theo xương sống.

Bà click vào đề mục kế tiếp, “Chuyên đề Sinh vật học thần kinh thực nghiệm”. Tên những người cùng viết chung với Yarborough bà không nhận biết được. Tựa đề là:

- Mô tả sự kết hợp chức năng của việc cấy ghép mô não phôi thai nơi loài chuột. – Không có tài liệu tóm tắt đính kèm.

Bà cuộn đến đề mục tiếp theo:

“Cơ cấu của sự liên lạc cấy phôi với não tiếp nhận ở loài chuột”.

- “Thời kỳ thai nghén không bắt buộc để thu hái các tế bào não phôi chuột”.

- “Sự bảo quản của nhiệt độ thấp tới các hệ sinh học của việc cấy ghép não phôi nơi loài chuột”. – Một bản tóm tắt được đính kèm theo mục này. “Sau khi đã bảo quản ở nhiệt độ thấp trong nitrogen lỏng trong chín mươi ngày, tế bào não giữa của phôi cho thấy sự giảm sút có ý nghĩa của sự tồn tại so với các tế bào tươi. Trong việc sinh tồn cấy ghép tối ưu nhất, việc cấy ghép ngay tức khắc các mô tế bào não vừa thu hoạch được có tính cách bắt buộc”.

Bà nhìn vào câu cuối cùng: Mô tế bào não vừa mới thu hoạch được.

Bây giờ bà thấy ớn lạnh dài lên tới gáy.

Bà click vào đề mục gần đây nhất, được viết cách đây ba năm “Cấy ghép tuyến yên phôi thai vào khi đã trưởng thành: Dẫn đến việc kéo dài thời gian sống tự nhiên”. – Các tác giả là Yarborough, Wallenberg, và Monica Trammell, Thạc sĩ Y khoa.

Đó là đề mục cuối cùng họ đã phát hành; ngay sau khi Wallenberg và các cộng sự nghiên cứu của ông rời Rosslyn. Đó có phải là công cuộc nghiên cứu có thể gây ra tranh luận đã buộc họ phải ra đi hay không?

Bà đứng dậy và đi đến buồng điện thoại của thư viện. Tim bà đập nhanh lên khi bà quay số gọi điện thoại cho Dvorak. Chuông điện thoại tiếp tục reo, không ai trả lời. Bà nhìn lên đồng hồ treo trên tường và thấy đã năm giờ bốn mươi lăm. Hộp thư thoại được kích hoạt, và rồi có giọng nói được ghi âm sẵn: Đây là Dan. Xin vui lòng để lại tên và số…

- Dan, nhấc điện thoại lên. – Toby nói. – Làm ơn nhấc điện thoại lén. – Bà dừng lại, hy vọng được nghe một giọng nói sống động, nhưng không có ai nói gì. – Dan, em đang ở tại thư viện Y học Springer, máy phụ hai năm bảy. Có một vài việc trên Medline anh phải xem. Làm ơn, làm ơn gọi điện cho em ngay!

Cửa thư viện bật mở ra.

Toby quay lại nhìn thấy nhân viên bảo vệ ca đêm đang thò đầu vào trong phòng. Anh ta trông có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy bà, cũng như bà nhìn thấy gã.

- Thưa bà, tôi phải khóa cửa vì đã tối rồi.

- Tôi đang gọi điện thoại.

- Bà gọi điện thoại cho xong đi. Tôi đợi.

Chán nản, bà gác máy lại và đi ra khỏi thư viện. Chỉ khi bà đã đi vào trong cầu thang bà mới nhớ bà đã quên tắt máy tính.

Ngồi trong bãi đậu xe, bà dùng điện thoại trong xe để gọi Dvorak trực tiếp tại văn phòng của ông ta tại phòng thanh tra y khoa. Một lần nữa, lời nói ghi âm lại vang lên. Bà gác máy không để lại lời nhắn.

Vặn mạnh chìa khóa công tắc xe, bà cho xe khởi động và lái xe ra khỏi bãi đậu xe. Hoàn toàn lái xe theo thói quen, bà chạy thẳng về nhà, đầu óc bà bây giờ tập trung vào những gì bà đã xem được trên máy tính Medline. Cấy ghép thần kinh. Tế bào não phôi thai. Kéo dài thời gian sống tự nhiên.

Vậy đó, công trình nghiên cứu của Wallenberg khi ông ta làm việc tại Rosslyn. Cộng sự viên của ông ta là Gideon Yarborough, một phẫu thuật viên thần kinh bây giờ đang hành nghề gần Wellesley…

Bà cho xe quẹo vào một trạm xăng, chạy vào bên trong, và hỏi người thu ngân thư mục của điện thoại Wellesley.

Trong cuốn các trang vàng, phía dưới dòng chữ Bác sĩ, bà đã tìm được những gì bà muốn:

Hiệp hội phẫu thuật Howarth

Nhóm bác sĩ đa khoa

1388 đường Eisley

Howarth. Đó là cái tên bà nhớ đã nhìn thấy trong hồ sơ bệnh lý của Harry Slotkin. Khi Robbie chở bà đến Brant Hill để xem hồ sơ của Harry, họ đã nhìn thấy cái tên ấy trong y lệnh của bác sĩ:

Valium tiền giải phẫu và chuyến xe sáu giờ sáng để chở đến Hiệp Hội phẫu thuật Howarth.

Bà quay về xe và lái xe chạy thẳng đến Wellesley.

Vào lúc bà đến tòa nhà Howarth, bà bắt đầu sắp xếp mọi việc với nhau, theo cách nó tạo nên được một cảm giác kinh hoàng.

Bà đậu xe bên đường ngang tòa nhà và nhìn qua ánh sáng mờ vào tòa kiến trúc cao hai tầng khó mô tả. Nó bị che khuất hoàn toàn trong một khu vực có nhiều cây cối, với một bãi đậu xe nhỏ phía trước trống trơn. Cửa sổ trên tầng lầu tối đen; phía dưới lối vào và khu vực tiếp tân được thắp sáng nhưng không thấy có động tịnh gì bên trong.

Toby bước ra khỏi xe và băng qua đường đến lối vào phía trước. Trên cửa sổ có in tên các bác sĩ:

Merle Lamm, Bác sĩ, Sản khoa và bệnh phụ sản.

Lawrence Remington, Bác sĩ, Giải phẫu tổng quát.

Gideon Yarborough, Bác sĩ, Phẫu thuật thần kinh.

Lý thú thật, bà nghĩ, Harry Slotkin đã được gửi đến đây từ Brant Hill, vì bị cho rằng có một vách ngăn mũi bị lệch. Lúc này không một vị nào trong các bác sĩ đó là một bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

Đâu đó trong tòa nhà phát ra tiếng máy chạy yếu ớt. Một lò sưởi? Một máy phát điện? Bà không thể nhận ra được cái âm thanh ấy.

Bà đi vòng sang bên tòa nhà, nhưng cây cối rậm rạp không cho bà nhìn qua cửa sổ được. Tiếng máy rì rầm yếu ớt tắt hẳn, để lại một bầu không khí hoàn toàn im lặng. Bà đi vòng qua góc tòa nhà và thấy một bãi trống có rải nhựa, nhỏ ở phía sau tòa nhà. Có ba chiếc xe đậu tại đó.

Một chiếc Saab xanh đậm. Chiếc xe của Jane Nolan.

Cửa phía sau tòa nhà bị khóa.

Toby quay lại xe và nhặt máy điện thoại lên. Một lần nữa bà cố gắng gọi Dvorak trực tiếp trên đường dây văn phòng của ông ta. Bà thực sự không mong đợi nghe ông trả lời và ngạc nhiên khi giọng nói ông ta nhanh nhẹn vang lên:

- Alô?

Bà vội vã nói liền một hơi.

- Dan, em biết những gì Wallenberg đang làm. Em biết vì sao các bệnh nhân của ông ta đã bị nhiễm.

- Toby, hãy nghe anh nói. Em phải gọi điện thoại cho luật sư của em ngay lập tức.

- Họ không có chích hormone. Họ cấy ghép tế bào tuyến yên của não bộ phôi thai! Nhưng có vài thứ không được ổn. Cách nào đó họ đã truyền bệnh CJD. Bây giờ họ đang cố che đậy việc ấy lại – cố che đậy cái thảm họa lại trước khi nó được biết đến một cách công khai…

- Hãy nghe anh nói! Em đang bị rắc rối.

- Cái gì?

- Anh vừa mới nói chuyện với Alpren. – Ông ta ngưng lại. Bình thản, ông ta nói tiếp. – Họ vừa ra lệnh tống giam em.

Trong một lúc, bà ngồi im không nói gì nhưng chỉ đơn giản nhìn chằm chằm vào tòa nhà ngang bên đường. Một bước đi trước, bà nghĩ. Họ luôn luôn đi trước tôi một bước.

- Đây là những gì anh nghĩ em phải làm. – Ông ta nói. – Gọi cho luật sư của em. Yêu cầu ông ta theo em đến đồn cảnh sát, bộ chỉ huy trên đường Berkley. Hồ sơ đã được chuyển đến đó.

- Tại sao?

- Vì tình trạng… của mẹ em.

Sát nhân là những gì ông ta muốn nói. Chẳng bao lâu việc ấy sẽ được xem như là một tội giết người.

- Đừng để cho Alpren bắt em tại nhà. – Dvorak nói. – Nó sẽ trở thành một miếng mồi béo bở cho giới báo chí. Hãy tự nguyện đến đấy, càng sớm càng tốt.

- Tại sao họ lại ra trát bắt giữ em? Tại sao lại ngay vào lúc này?

- Họ đã có được những bằng chứng mới.

- Bằng chứng gì?

- Toby, hãy đi trình diện. Anh có thể gặp em trước tiên, và chúng ta sẽ cùng đi trình diện.

- Em sẽ không đi đâu hết cho đến khi em biết bằng chứng ấy là gì.

Dvorak ngần ngại.

- Một dược sĩ gần nhà em nói ông ta đã bán thuốc theo y lệnh cho mẹ em. Sáu mươi viên Coumadin. Ông ta nói em gọi điện thoại đến yêu cầu ông ta bán thuốc.

- Đó là một lời nói dối.

- Anh chỉ nói lại cho em nghe những gì ông dược sĩ ấy đã nói.

- Làm sao ông ta biết em đã gọi điện thoại đến cho ông ta? Có thể đó là một phụ nữ khác, tự xưng là em. Đó có thể là Jane Nolan. Ông ta không biết.

- Toby, chúng ta sẽ làm rõ việc ấy ra. Anh hứa với em. Ngay bây giờ tốt nhất em hãy ra trình diện. Một cách tự nguyện, và không chậm trễ.

- Và rồi chuyện gì? Em sẽ ngủ qua đêm trong nhà tù?

- Nếu em không ra trình diện, có thể em sẽ nằm trong tù hằng tháng.

- Em không có hành hạ mẹ em.

- Vậy hãy ra trình diện và nói điều đó với Alpren. Em chờ đợi càng lâu, em càng có vẻ có tội hơn. Anh ở đây chờ em. Làm ơn, hãy ra trình diện.

Bà cảm thấy niềm hy vọng của mình tiêu tan để có thể nói nên lời, và quá mệt mỏi để xem xét mọi công việc bà cần phải làm bây giờ. Gọi một luật sư. Nói chuyện với Vickie. Thu xếp để trả tiền các hóa đơn, để có người trông coi ngôi nhà, có ai đến lấy chiếc xe về. Và tiền – bà phải chuyển tiền từ khoản tiết kiệm về hưu. Tiền thuê luật sư quá đắt…

- Toby, em có hiểu những gì em cần phải làm không?

- Vâng. – Cô ta thì thầm.

- Anh sẽ rời văn phòng của anh bây giờ. Em muốn gặp anh ở đâu?

- Đồn cảnh sát. Nói với Alpren em sẽ đến đó trình diện. Bảo ông ta đừng gửi người đến nhà em.

- Những gì em muốn, anh sẽ chờ em.

Bà tắt máy điện thoại, các ngón tay bà tê lại vì phải nắm chặt ống nghe. Bây giờ bão tố đã bắt đầu nổi lên, bà nghĩ. Bà ngồi để chuẩn bị cho mình những thử thách phải trải qua. Lấy dấu tay. Chụp hình. Báo cáo. Phải chi bà có thể lẻn trốn đi được lúc này đến một nơi nào đó và thu gom lại các sức lực của bà. Nhưng không còn thời giờ nữa; cảnh sát đang trông đợi bà.

Bà với tay vặn công tắc và sắp nổ máy khi bà nhìn thấy ánh đèn xe nhấp nháy. Nhìn ngang sang bên, bà nhìn thấy chiếc Saab của Jane đã được lái ra khỏi lối đi nhà Howarth.

Vào lúc bà cho chiếc xe Mercedes quay vòng lại, chiếc Saab đã khuất khỏi tầm nhìn sau một khúc quanh. Điên cuồng lo sợ sẽ mất dấu nó, bà bẻ ngoặt tay lái lại ở góc đường. Đèn sau chiếc Saab lại hiện lên. Ngay tức khắc, Toby giảm ga lại, để cho con mồi của mình chạy trước đủ xa để còn có thể nhìn thấy được. Tại ngã tư kế đến, chiếc xe rẽ sang trái.

Một lát sau, Toby cũng làm như vậy.

Chiếc Saab chạy thẳng về hướng Tây, chạy lượn quanh co đến các khu vực sang trọng của Wellesley. Không phải Jane cầm tay lái, nhưng đó là một gã đàn ông; bà có thể thấy thấp thoáng bóng dáng chiếc đầu hắn trong ánh đèn xe rọi ngược lại từ hướng đối diện. Hoàn toàn tập trung vào con mồi của mình, Toby chỉ thoáng nhìn thấy những vùng lân cận; cửa sắt và hàng rào cao và cửa sổ nhiều ngôi nhà được thắp sáng. Chiếc Saab gia tăng tốc độ, đèn phía sau xe trông nhỏ dần. Một chiếc xe tải phóng ra từ một con đường khác ở giao lộ và chen vào giữa Toby và chiếc Saab.

Thất vọng, Toby ấn kèn xe.

Chiếc xe tải chạy chậm lại và quẹo sang tay phải. Bà vọt xe chạy qua nó, và cuối cùng phóng vọt qua trước mặt nó.

Con đường phía trước trống không.

Chửi thầm, bà quan sát kỹ trong bóng tối để tìm ánh đèn sau xe. Bà thấy nó đang mờ tắt dần về phía bên tay phải. Chiếc Saab đã quẹo vào trong một lối đi riêng và đang đi len lỏi giữa những hàng cây rậm rạp.

Bà đạp thắng xe lại và ngoặt tay lái vào trên cùng một con đường. Tim bà đập mạnh, bà thắng dừng xe lại và giữ cho bà có thời gian để bớt căng thẳng và để cho tim bà đập chậm lại. Đèn sau chiếc Saab biến mất phía sau các hàng cây, nhưng bà không còn lo sợ phải mất dấu chúng nữa; con đường này hình như chỉ là lối đi duy nhất ra vào khu bất động sản.

Một hộp thư được gắn ở cổng vào, cái cờ đỏ được gạt lên cao. Bà bước ra khỏi xe và nhìn vào bên trong hộp. Phía trong có hai bao thư, giấy báo tiền mua đồ. Cái tên Trammell nằm ở phần địa chỉ được trả lại người gửi.

Bà vào lại trong xe và thở vào một hơi thật sâu. Với đèn trước xe đã được tắt, bà lái xe theo ánh đèn xe đậu, bà lái xe thật chậm xuống phía dưới con đường. Nó chạy ngoằn ngoèo qua những hàng cây xuôi theo chiều đổ dốc nhẹ xuống hồ. Bà luôn kìm thắng xe lại trên suốt con đường, để cho chiếc xe lướt bò nhẹ dọc theo những khúc cua thật gắt chỉ thấy được lờ mờ trong ánh sáng mờ nhạt của đèn đậu xe. Con đường hình như dài vô tận, nó chạy ngang qua những bụi thông xanh. Bà không thể nhìn thấy những gì nằm ở cuối con đường; tất cả những gì bà có thể nhận ra được chỉ là ánh sáng lấp lánh lúc có lúc không qua các tàn cây. Đi sâu hơn vào trong hang ổ của kẻ thù, bà nghĩ. Bây giờ bà không thể quay lại; bà bị buộc đi tới trước bởi tất cả những nỗi đau đớn và giận dữ trong những tuần vừa qua. Cái chết của Robbie. Chẳng bao lâu nữa sẽ là cái chết của Ellen. Tìm lấy một cuộc sống. Wallenberg đã cười khinh bỉ nói với bà.

Đây là cuộc sống tôi bây giờ. Tất cả cái gì còn lại của nó.

Con đường mở rộng ra thành một lối xe chạy. Bà dừng xe vào lề đường, bánh xe cán qua những lá thông khô, và tắt máy xe.

Cái bóng to lù lù của một tòa nhà hiện ra trong bóng tối ở phía trước. Các khung cửa sổ trên lầu đều được thắp sáng, và có bóng một người đàn bà đi ngang qua đó, và vội vã đi ngang qua trở lại. Toby nhận ra cái dáng dấp ấy.

- Jane. Ả sống ở đây à?

Toby nhìn lên mái nhà to lớn, che kín nửa bầu trời đầy sao lại dưới mắt bà. Bà có thể nhận ra được bốn cái ống khói lớn, cũng như chút tia sáng yếu ớt qua những khung cửa sổ tầng ba. Jane là một vị khách ở đây à? Hay chỉ là một nhân viên?

Một gã đàn ông tóc sáng hiện ra ở khung cửa sổ tầng trên – gã lái chiếc xe Saab. Họ nói chuyện với nhau. Hắn ta liếc nhìn vào đồng hồ, rồi gật đầu theo kiểu làm-sao-tôi-biết- được? Với những cử chỉ khoát tay. Bây giờ Jane trở nên bị khích động hơn, có lẽ vì giận dữ. A đi băng ngang qua phòng và nhấc điện thoại lên.

Toby lấy cây đèn pin trong túi thuốc của mình ra rồi bước ra khỏi xe.

Chiếc Saab đậu gần cổng trước. Bà muốn tìm ra ai là chủ sở hữu. của nó, Jane làm việc cho ai. Bà chạy băng tới chiếc Saab và rọi đèn pin qua khung cửa kính xe. Bên trong sạch sẽ, ngay cả một mảnh giấy nhỏ cũng không thấy. Trong hộc đựng găng tay là giấy tờ đăng ký xe. Bà thử mở cửa hông xe ra và nhận thấy nó không có bị khóa. Trong hộc đựng găng tay là các giấy tờ đăng ký xe, mang tên Richard Trammell. Bà mở cần gạt cốp xe lên và đi vòng ra phía sau xe. Chồm người tới trước, bà rọi đèn vào bên trong thùng xe. Đến từ phía sau lưng bà có tiếng cành cây bị đạp gãy, tiếng sột soạt gây ra bởi một vật đang di chuyển dưới các lùm cây. Tiếng gầm gừ nhỏ đầy đe dọa.

Toby xoay người lại và nhìn thấy hàm răng sáng quắc của một con chó Doberman đang phóng tới.

Nó nhảy lao mạnh đến nỗi làm bà ngã lăn nhào dưới đất. Theo bản năng, bà đưa hai tay bà lên để che cổ họng lại. Hàm răng con chó cắn phập vào cánh tay trước của bà, răng nó cắm sâu vào tới tận xương. Bà la lên, vụt tay đập vào nó, nhưng con Doberman không chịu buông bà ra. Nó chúc đầu tới lui, răng ngoạm chặt vào trong thịt. Tối tăm mặt mũi vì đau đớn, bà nắm lấy cổ họng con chó bằng bàn tay còn lại của bà và cố bóp cổ nó lại để nó nhả bà ra, nhưng hai hàm răng của nó hình như đã hoàn toàn ghim chặt vào trong cánh tay bà. Chỉ khi bà cào vào mắt của nó con chó mới kêu lên ăng ẳng và buông bà ra.

Bà lăn vòng qua để tránh và lồm cồm đứng dậy, máu chảy có vòi trên cánh tay bà, và chạy vội về xe của mình.

Con Doberman lại phóng tới.

Nó táp vào lưng bà, giật bà quỵ gối xuống. Lần này hai hàm răng nó chỉ táp được lưng áo của bà, răng nó xé vụn mảnh vải ra. Bà đạp mạnh con chó ra và nghe tiếng nó đâm sầm vào chiếc Saab. Còn quá sớm cho Doberman chồm đứng dậy và phóng tới tấn công lần thứ ba.

Có tiếng đàn ông la to:

- Nằm xuống!

Toby bước lảo đảo nhưng không bao giờ tìm tới được nơi an toàn trong xe bà. Lần này một đôi bàn tay người ta túm lấy bà và xô mạnh bà nằm úp mặt lên đuôi xe chiếc Saab.

Con Doberman sủa man dại, đòi hỏi cho nó được thực hiện cuộc hành quyết.

Toby vặn người lại và cố quằn quại thoát ra. Vật cuối cùng bà nhìn thấy là một chùm ánh sáng chói lòa, vạch một đường vòng trong bóng đêm. Cú đánh trúng ngay màng tang bà, lật nhào bà sang một bên. Bà cảm thấy mình đang ngã xuống, chìm vào trong bóng tối.

* * *

Lạnh. Chỗ này rất lạnh.

Như thể vừa trồi người lên khỏi mặt nước băng giá, bà buông trôi về lại phía ý thức. Lúc đầu bà không nghe có cảm giác gì về tay chân của mình; bà không biết được chúng đang ở đâu, hay chúng còn có dính vào cơ thể bà nữa hay không?

Cửa đóng sầm lại, để lại một chuỗi dư âm kỳ lạ tiếng kim loại. Âm thanh ấy vang lên như tiếng chuông kêu trong đầu Toby. Bà rên rỉ và nghiêng người sang một bên. Sàn nhà lạnh như băng. Nằm co quắp người lại, bà run rẩy trong lúc bà cố sức để suy nghĩ, để làm cho tay chân bà cử động được. Bây giờ cánh tay bà ê ẩm, cơn đau giày vò bà theo cái cách của nó qua tình trạng tê cóng của bà. Bà mở mắt ra và nhăn mặt lại vì ánh sáng đâm vào võng mạc của bà.

Áo bà dính đầy máu. Nhìn thấy nó, bà bị kích động, tỉnh hẳn dậy. Bà chăm chú nhìn vào cánh tay áo bị xé vụn của mình, thấm đỏ.

Con Doberman.

Khi nhớ lại những hàm răng của nó, bà cảm thấy đau nhức, quay người lại mạnh đến nỗi bà cảm thấy mình muốn bất tỉnh trở lại. Bà chống chọi để thức tỉnh. Bà nằm lắc lư qua lại trên lưng và đụng phải một chiếc chân bàn. Một vật gì buông xuống đu đưa trên đầu bà. Bà nhìn lên và thấy một cánh tay trần đang thò ra ngoài cạnh bàn, mấy ngón tay nó đong đưa ngay trên đầu bà.

Thở hổn hển, bà lăn tròn ra xa và bò trên hai đầu gối. Sự thiếu suy nghĩ chỉ kéo dài có vài giây, rồi tan mất khi hình ảnh được nhìn thấy rõ một cách chấn động.

Có một cái xác đang nằm trên bàn, được phủ lại bằng một mảnh plastic. Chỉ có thể nhìn thấy được một cánh tay, da trắng xanh dưới ánh đèn huỳnh quang.

Toby đứng dậy. Bà vẫn còn choáng váng, và phải với tay vịn lên một mặt quầy để đứng vững trở lại. Bà tập trung nhìn lại vào cái xác và thấy còn có một cái bàn khác trong phòng, với một hình hài được phủ lại bằng bao plastic. Một luồng gió lạnh thổi ra từ một lỗ thông hơi. Từ từ, bà nhận định được hết những gì ở chung quanh mình – những bức tường không có cửa sổ, cánh cửa sắt nặng nề – và bà đã nhận ra được bà đang ở đâu. Chỉ cái mùi hôi hám không thôi cũng cho biết bà đang ở đâu.

Đỏ là một phòng lạnh, để chứa các xác chết.

Tập trung nhìn lại trên cánh tay đong đưa, bà tiến lại gần chiếc bàn và kéo tấm đắp sang một bên.

Người đàn ông lớn tuổi, mái tóc nâu đậm của ông ta bạc ở chân tóc. Nhuộm tóc không tốt. Hai mi mắt ông ta mở ra, để lộ cặp mắt xanh không hồn. Bà lôi ra hết phần còn lại của tấm đắp và nhìn thấy cái cơ thể trần truồng không có vết thương tích nào. Những vết bầm duy nhất nằm trên cánh tay ông, và bà nhận ra đó là hậu quả của việc đâm kim truyền dịch. Nhét vào giữa hai mắt cá ông một tập hồ sơ với một cái tên được viết trên trang bìa: James R. Bigelow. Bà mở nó ra và thấy ghi chép những chi tiết về bệnh tật của ông lão trong tuần lễ cuối cùng của cuộc sống.

Mục ghi vào đầu tiên đề ngày 1 tháng Mười Một:

Đối tượng được nhận thấy lúng túng trong suốt buổi ăn điểm tâm – đổ sữa lên dĩa thay vì vào tách – phản ứng lại bằng ánh mắt bối rối khi có người yêu cầu giúp đỡ. Bệnh nhân được mang đến bệnh xá để có thể giám định sâu hơn.

Qua khám bệnh: Run người nhẹ. Tìm thấy dương tính tiểu não. Không có dấu hiệu khu biệt nào khác.

Chuyển sang các sự kiện thường xuyên khởi đầu.

Bản ghi chép không có người ký tên.

Bà cố sức để hiểu những gì bà đang đọc, nhưng cơn đau đầu của bà làm cho mỗi từ trở nên một sự thách thức. Lời ghi chép sau cùng có ý nghĩa gì? Chuyển sang các sự kiện thường xuyên?

Bà lật tiếp, qua các ghi chép tiếp theo, đến ngày 3 tháng Mười Một:

Bệnh nhân không thể đi được nếu không có giúp đỡ. Kết quả không có gì đặc biệt. Sự rùng mình trở nên tệ hại hơn. Hình cắt lát CT cho thấy tuyến yên bị phình ra, không có thay đổi sắc bén.

4 Tháng 11:

Mất phương hướng hai lần. Những hồi co giật không tự ý. Các chức năng tiểu não tiếp tục bị thoái hóa. Tất cả các thử nghiệm tiếp tục cho kết quả bình thường.

Rồi, lời ghi chú cuối cùng, ngày 7 tháng 11:

Bệnh nhân bị cột lại ở bốn vị trí. Tiêu tiểu không tự kiềm chế được. Hai mươi bốn giờ truyền dịch và dùng thuốc giảm đau. Giai đoạn sau cùng: Phẫu thuật tử thi là diễn biến tiếp theo.

Bà đặt tập hồ sơ lại vào giữa hai đùi của người đàn ông. Trong một lát, bà nhìn cái xác với sự tách biệt lâm sàng kỳ lạ, nhận thấy có đám lông bạc trên ngực, những nếp nhăn trên bụng, dương vật ẻo lả nằm trong đám lông rậm rạp. Ông ta có lường được sự rủi ro hay không? Bà ta tự hỏi. Việc chi phí để được sống lâu hơn của ông ta có đúng với cái giá của nó hay không?

Người già có cảm giác trẻ trung.

Bà quay mặt ra khỏi bàn, bà thấy mờ mờ vì đầu nhức như búa bổ. Bà phải mất một lát mới tập trung lại được cái nhìn của hai mắt mình. Khi đã nhìn rõ lại, bà đưa mắt nhìn sang cái xác bên cạnh.

Bà rời khỏi cái bàn đầu tiên và đến đứng bên cạnh cái xác thứ hai, vẫn còn được phủ lại dưới tấm đắp. Bà lột tấm vải liệm ra. Mặc dầu đã chuẩn bị tâm tư trước, bà vẫn không sẵn sàng để nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng đang nằm dài ra trên bàn.

Cơ thể của cái xác đàn ông lột da ra hết, khoang xương sườn và bụng đã được phân chia ra sạch sẽ từ giữa ngực trở xuống và banh ra, để lộ ra một mớ cơ quan nội tạng lộn xộn. Ai đó làm phẫu thuật cái xác này đã lấy ra các cơ quan nội tạng, rồi đặt chúng lại vào trong mà không quan tâm đến vị trí của chúng.

Bà bước lùi ra sau khi sự buồn nôn bắt đầu tấn công bà. Mùi của cái xác cho bà biết người này đã chết trước người kia lâu hơn.

Bà cố gắng bước trở lại chỗ bên cái xác, nhìn vào tấm lý lịch bằng plastic trên cổ tay. Cái tên Phillip Dorr đã được viết bằng mực màu đen. Bà thấy không có hồ sơ y khoa, không có tài liệu về bệnh tật của người đàn ông.

Bà ráng sức nhìn vào khuôn mặt của hắn. Đó là một người đàn ông lớn tuổi khác, chân mày có những vết xám, gương mặt lún xuống một cách kỳ lạ như một chiếc mặt nạ cao su. Chỉ lúc ấy bà mới nhận ra hộp sọ có đường cắt phía sau lỗ tai. Lớp da đầu lún xuống, để lộ ra cái sọ trắng như ngọc trai. Nhẹ nhàng, bà kéo tóc ra, thận trọng lột cái da đầu ra.

Đỉnh hộp sọ rớt ra và kêu lóc cóc trên sàn nhà.

Bà hét lên và giật bắn người.

Cái hộp sọ mở ra giống như một cái bát trống không. Không có gì hết bên trong; bộ não đã bị lấy đi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.