Donald Morley thu xếp vài món hành lý ít ỏi và bắt đầu công việc nhỏ nhoi cho tờ Herald-Post với một quyết tâm xứng đáng cho một trọng trách lớn lao hơn. Thù lao hắn nhận được còn ít hơn cả tiền hắn thường trả cho người ở chuồng ngựa, nhưng việc không tìm được một chức vị nào, cộng với tài khoản ngân hàng đã cạn kiệt, đã thuần hóa tâm tính hắn, khiến hắn sẵn sàng bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể cho hắn cơ hội chứng minh niềm tin của bạn bè là đúng đắn.
Khi mới đến thị trấn nhỏ buồn ngủ nơi chính quyền tiểu bang giải quyết công việc, hắn thuê hai phòng ở khách sạn. Sau đó, hắn chuyển đến một nhà trọ, và đến cuối tuần thứ ba, hắn ở trong một căn phòng nhỏ trống hoác tại một tòa nhà văn phòng, ăn sáng ở nhà ga, ăn trưa ở tiệm ăn, và ăn tối tại khách sạn. Bởi vì trong quyết tâm chuộc lại lỗi lầm với đời, hắn đã xoay xở tống khứ hầu như mọi thứ mình có, ngoại trừ một nghìn đô la mà hắn đã bí mật gửi vào tài khoản của Noah.
Ban đầu, sự nghèo khó là một thứ mới lạ dường như khá thú vị; nó giúp tâm trí hắn nguôi ngoai những nỗi kinh hoàng bủa vây từng bao trùm lấy thế giới của hắn. Lần đầu tiên trong đời, hắn biết chi tiêu tiết kiệm vì một mục đích. Nhưng để kéo dài khoản chi tiêu thông thường của một ngày thành ra cả một tuần đòi hỏi sự suy tính trước và phán đoán, mà Donald lại thiếu cả hai phẩm chất ấy. Hắn đã tính toán bù đắp khoản tiền ít ỏi nhận được từ tờ Herald-Post bằng cách viết các bài phóng sự cho những tờ báo khác, nhưng những nỗ lực của hắn chẳng mang lại bao nhiêu thành công. Hoài công khi hắn sắp xếp bài viết theo đúng sơ đồ do Cropsie Decker vạch ra. Hắn cắt, dán và ghim, tra cứu số liệu, xác minh lời lẽ và nhẫn tâm loại bỏ mọi ý tưởng lang thang nhỏ nhoi nào dám mạo muội xâm nhập vào hàng ngũ trang nghiêm của các sự thật. Nhưng những nỗ lực của hắn khi hoàn thành lại có mối liên hệ với bài viết của Cropsie giống như một đống gạch vụn đối với một ngôi nhà.
Chỉ có một lần duy nhất hắn gạt Cropsie cùng thứ văn chương bảng kẹp của lão sang một bên và làm theo sự thúc giục của chính mình. Đó là sau chuyến viếng thăm đầu tiên tới nhà Queerington, khi vị Bác sĩ khuyên hắn nên chọn một đề tài gần gũi và thả cho trí tưởng tượng bay bổng hoàn toàn. Một nhời khích lệ là tất cả những gì hắn cần để bắt đầu chuỗi câu chuyện đã nung nấu muốn được thổ lộ kể từ ngày hắn rời khỏi Ấn Độ. Đó là những cuộc phiêu lưu được kể lại cho hắn nghe bởi người hầu người theo đạo Hồi của hắn, Khalil Samad, kẻ đã ngồi xổm hết đêm này qua đêm khác trước đống lửa của vị thiếu gia trẻ, dệt nên những câu chuyện với muôn vàn sắc thái kỳ diệu. Donald chỉ cần nhắm mắt lại là có thể thấy khuôn mặt sắc sảo, tinh tế bên trên chiếc khăn turban trắng khổng lồ, và nghe thấy dòng suối tiếng Anh bập bẹ đầy hình ảnh tuôn ra từ đôi môi của một trong số ít người theo đạo Hồi ở Ấn Độ có thể chửi rủa đám bản xứ bằng chính ngôn ngữ địa phương của họ từ đèo Khyber đến Trichinopoli.
Nhưng câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của Khalil sau khi được thả vào những vùng biển chưa biết tới, vẫn chưa hề nhận được hồi âm, và Donald lại kiên nhẫn quay trở lại với các bài phóng sự của mình, kìm chân bản thân vào những điều thực tế và cảm thấy chán ngán theo cách mà chỉ một người có trí tưởng tượng phong phú mới có thể chán ngán trước sự thật trần trụi, không son phấn.
Niềm an ủi duy nhất của hắn trong những ngày này là thực tế rằng Miss Lady sẽ không phải từ bỏ Thornwood. Thông qua một người môi giới, hắn đã cho gia đình Queerington thuê lại nơi này trong hai năm tới với một mức giá rẻ đến mức vô lý, và ý nghĩ về nàng giữa những khung cảnh thân thương đã xoa dịu phần lớn sự túng quẫn của chính hắn.
Căn phòng nhỏ tối tăm nghèo nàn của hắn chỉ có một chiếc giường sắt và cái chậu rửa mặt, phần không gian sàn nhà còn lại chủ yếu bị chiếm chỗ bởi chiếc rương đi biển bọc đồng uy nghi của hắn, dán đầy những nhãn dán ngoại quốc. Trên chiếc kệ đầy bụi phía trên chậu rửa mặt là một bộ đồ vệ sinh cá nhân có gắn bạc, chạm khắc chữ lồng kỳ cục; chạy dọc quanh tường là một hàng giày dép, trong khi từ ống dẫn khí đốt rủ xuống một chùm cà vạt nặng trĩu. Bất tiện chính của việc nghèo khó, Donald đã đúc kết lại, chính là không biết phải làm gì với đống đồ đạc của mình.
Tuy nhiên, không chỉ có đồ đạc là thứ hắn thấy khó khăn khi tìm cách xử lý. Trong một số giờ nhất định mỗi ngày, một người có thể tự bắt mình ngồi bên chiếc bàn gỗ thông nhỏ, phủ đầy những tấm bảng vàng bằng những từ ngữ có lẽ sẽ chẳng bao giờ được đọc đến, nhưng sau một khoảng thời gian quá dài, bản chất con người ắt sẽ nổi loạn. Những lúc như thế, Donald lồng lộn như một con sư tử bị nhốt. Tâm trí hắn vô thức bay bổng đến khả năng sự giam cầm này chỉ là khúc dạo đầu cho một sự giam cầm khác đang chờ đón hắn nếu phiên tòa phúc thẩm không được chấp thuận. Ngay từ đầu, hắn đã từ chối xem xét khả năng bị kết án; hắn vô tội, hắn sẽ được minh oan. Nhưng khi những ngày tháng trôi qua lê thê, một bóng đen bắt đầu bám theo từng bước chân hắn và ngồi xổm ở cuối giường hắn vào ban đêm, nhe răng cười nhạo hắn qua những song sắt.
Giá như có một người bạn để hắn có thể nương tựa trong những ngày này, hắn có lẽ đã bớt đi được phần nào những giờ phút cay đắng mà hắn phải chịu đựng, nhưng lòng kiêu hãnh của hắn bị tổn thương sâu sắc, và hắn né tránh việc gặp bất cứ ai quen biết hắn hay gia đình hắn. Cropsie Decker có lẽ đã giúp được hắn, nhưng Cropsie lại đang ở Mexico. Đối với Noah Wicker, hắn đã không còn là một cá nhân nữa, hắn đã trở thành một thân chủ, một thân chủ đầu tiên, và những tình cảm cá nhân bị nhấn chìm trong những khái niệm trừu tượng. Nơi duy nhất hắn có thể tìm thấy sự đồng cảm và thấu hiểu là ở Thornwood, nơi có cánh cửa từng rộng mở đón khách mà chính tay hắn đã kiên quyết khép lại. Nếu hắn tưởng rằng những tầng sâu thẳm của sự cô đơn đã được dò thấu ở tận phương Đông kia, thì giờ đây hắn mới hiểu ra rằng chỉ ở chính quê hương mình, giữa những người đồng tộc của mình, dây dọi mới chạm tới đáy.
Ngày trước khi vụ án được trình bày, Noah từ thành phố lên, và một lần nữa họ xem xét lại từng chi tiết quen thuộc đầy mệt mỏi. Khi màn đêm buông xuống, Donald chìm trong trạng thái tuyệt vọng đen tối. Nửa tá đêm trắng, và sự trả về của mấy bài viết chẳng hề giúp làm bừng sáng thêm tình hình, và khi Noah nhận lời mời dùng bữa tối của vị Thẩm phán, Donald cảm thấy mình đã bị bỏ mặc cho số phận.
Hoàng hôn đang buông xuống, thứ hoàng hôn chẳng có điểm khởi đầu cũng chẳng có hồi kết, một màn hoàng hôn ẩm ướt, xám xịt và đẫm nước, bóp nghẹt tâm hồn trong làn sương mù ảm đạm và làm chùng xuống mọi sợi dây luân lý. Donald bước đến ô cửa sổ nhỏ và nhìn ra ngoài. Con đường phía dưới vắng tanh, ngoại trừ một chiếc xe ngựa mui trần cũ kỹ thỉnh thoảng bì bõm lội qua vũng bùn trên đường ra nhà ga. Cách một khoảng lâu mới có một chiếc ô nhô lên di chuyển qua, và có lúc một đàn gia súc chậm chạp lê bước, do một cậu bé cưỡi la lùa đi. Donald giật mạnh tấm rèm che xuống đầy hung hăng, rồi châm ngọn đèn gas duy nhất.
Trong một cuốn tạp chí mà hắn tiện tay nhặt lên có một bài viết sinh động về nạn lao động trẻ em trong các mỏ quầy, đăng tải hình ảnh những đứa trẻ rách rưới, hốc hác phải dành cả cuộc đời dưới lòng đất, hít thở bầu không khí ô uế và bị còi cọc cả về thể xác lẫn tâm hồn. Hắn ném phắt cuốn sách đi và gục đầu lên tay. Cuộc đời tựa như một cỗ máy khổng lồ, tàn nhẫn, phớt lờ mọi khát vọng con người, mọi nỗ lực của con người. Đấu tranh với nó thì có ích gì? Tin vào một trật tự thiêng liêng giữa cái hỗn mang địa ngục này thì có ý nghĩa gì chứ?
Không thể chịu đựng thêm sự cô độc của chính mình nữa, hắn vớ lấy chiếc mũ và sải bước ra khách sạn. Hắn đang ở trong tâm trạng liều lĩnh, tuyệt vọng, sẵn sàng tìm kiếm sự khuây khỏa bất cứ nơi nào tìm thấy, và như thường lệ trong những trường hợp như thế, sự khuây khỏa đã đi nửa quãng đường để đón gặp hắn.
Sảnh của khách sạn nhỏ đang trong cơn sốt hoạt động, chuông reo vang, cửa đóng sầm, và khách khứa liên tục đến. Đám người lang thang thường vẫn ngồi quay mặt về phía ngọn lửa sưởi, phê phán các thủ tục hằng ngày của cơ thể lập pháp, giờ đây đứng thành hình bán nguyệt quay lưng lại với lò sưởi, chăm chú quan sát những vị khách mới đến.
Đó là một đoàn kịch, một kẻ trong đám đông ba hoa giải thích với Donald; vụ náo nhiệt nhất mà chúng ta có được từ mấy tháng nay. Kia là ngôi sao đang nói chuyện với anh chàng mặc vest kẻ ô kìa. Đúng là một tay cự phách, phải không nào?
Đối tượng của lời nhận xét này, vừa mới kể một câu chuyện gợi lên những tràng cười rôm rả, liền hờ hững quay người lại và lướt nhìn khắp căn phòng bằng một ánh mắt rực rỡ, từng trải. Ánh đèn pha lướt qua người gác cổng và nhân viên trực chuông, viên thư ký khép nép tại quầy, vòng tròn những kẻ ngưỡng mộ bên lò sưởi, và dừng lại đầy táo bạo khi chạm đến Donald Morley.
Hắn đang châm một điếu thuốc lá vào lúc đó, và bày ra vẻ bề ngoài dửng dưng tột độ trước mọi vì sao, trên mặt đất cũng như trên thiên đường. Nhưng khi hắn đã gạt que diêm vào chiếc lò sưởi lộ thiên, hắnng nghênh ngang bước tới quầy lễ tân và liếc nhìn cuốn sổ ghi tên khách.
Ở đó có chữ ký đầy kiêu kỳ, mực vẫn còn ướt trên những nét uốn lượn,
La Florine.
Đó chính là người tình cũ của Cropsie Decker, Con Nước xoáy sông Nile, kẻ mà hắn nhìn thấy lần cuối cùng đang đứng chênh vênh trên nút chai sâm-panh trong một tấm áp phích trên đồi Billy-goat! Không cần ngẩng đầu lên, hắn vẫn nhận thức được rằng đôi mắt tinh nghịch từng lấp ló qua những kẽ ngón tay đeo găng đen trên tấm áp phích, giờ đây đang dõi theo hắn với sự quan tâm tột độ. Chúng dõi theo hắn băng qua căn phòng, chúng chế nhạo hắn qua bờ vai của người đàn ông mặc vest kẻ ô, chúng ném một lời thách thức ngay dưới chân hắn, và thách hắn nhặt lấy.
Donald ngắm nhìn nàng với sự mê hoặc ngày càng tăng. Thật tuyệt khi được ở gần bất cứ thứ gì vô tư lự, vui vẻ và bất kham nhường ấy. Bản thân hắn cũng đã từng đứng chót vót trên rìa hiểm nguy của vạn vật, và cười vang thách thức vào mặt số phận. Tại sao hắn lại không thể làm thế một lần nữa chứ? Một kẻ sắp bị treo cổ còn được ban cho một bữa ăn ngon cuối cùng, cớ sao hắn lại không tự nuông chiều bản thân có thêm một khoảng thời gian vui vẻ nữa trước khi vận mệnh được định đoạt vào ngày mai?
Sẽ chỉ cần đưa ra tấm danh thiếp và nhắc đến Cropsie Decker, và phần còn lại sẽ vô cùng dễ dàng. Hắn hiện có vừa đủ tiền để trả cho một chiếc vé xem kịch, và một bữa ăn khuya ấm cúng sau đó. Nhưng còn hoa thì sao?
Hắn hào hứng thọc tay vào túi để thám thính. Khi làm vậy, những ngón tay hắn chạm phải một vật nhỏ, cứng mà hắn rút ra và tò mò nhìn ngắm. Đó là đài hoa hồng dại đã khô, thứ đã được chuyền từ túi này sang túi khác kể từ ngày nó dám nở hoa trước mùa trong một kẽ hở của bức tường đá bao quanh khu vườn ở Thornwood. Chạm vào nó gợi lại chiếc võng thùng dưới vòm hoa tử đinh hương, và đôi mắt rực rỡ của một thiếu nữ, ngước nhìn hắn với vẻ ngây thơ đầy tin tưởng.
Không thèm liếc nhìn Con Nước xoáy sông Nile thêm lần nào nữa, hắn bẻ ngược cổ áo khoác, kéo sụp mũ che khuất đôi mắt và lao mình vào con đường ẩm ướt, ảm đạm. Hắn lang thang suốt hàng giờ liền, không biết cũng chẳng quan tâm mình đang đi đâu. Hắn đang chiến đấu trận chiến khốc liệt nhất mà một người đàn ông phải đối mặt, cuộc chiến chống lại chính bản thân mình mà chẳng có phần thưởng nào chờ đợi trước mắt.
Khi trở về phòng, kiệt sức và đầu tóc bù xù lúc chín giờ tối, hắn tìm thấy hai bức thư nằm dưới cửa. Một bức, chiếc phong bì viền đen được viết bằng những nét chữ nghệch ngoạc quen thuộc của Connie, hắn nhét vào túi, mỉm cười bất chấp chính mình khi nhớ đến thứ giấy viết thư rẻ tiền của Miss Lady. Bức thứ hai, một chiếc phong bì dài, dày cộp, mang logo của một tạp chí nổi tiếng, khiến hắn ngồi sụp xuống chiếc rương đi biển và thảm hại nhìn chằm chằm vào nó.
Câu chuyện yêu quý của hắn cuối cùng đã bị trả về! Khả năng nó được chấp nhận từng là niềm hy vọng duy nhất mà hắn bám víu trong suốt bao giờ phút tuyệt vọng. Trong đó, hắn lần đầu tiên dám nói lên những điều mình cảm nhận, dám mạnh dạn bước vào vùng đất lãng mạn mà bấy lâu nay hắn vẫn thận trọng đi lẹm ở rìa. Hàng tá những câu chuyện tương tự khác đang chật chội trong bộ não hắn, chỉ chờ đợi số phận của câu chuyện này. Thế mà nó lại bị trả về! Đó là những gì tốt nhất hắn có thể dâng hiến, và điều tốt nhất của hắn vẫn chưa đủ tốt! Hắn nhìn vào tờ giấy nhàu nát, quăn mép, và tờ giấy gấp kèm theo chắc chắn đang bày tỏ những lời tiếc nuối khéo léo của vị biên tập viên, rồi với một cử nhân đầy số ruột, hắn ném chiếc phong bì cùng toàn bộ nội dung vào giọt rác, nguyền rủa bản thân và sự tự phụ của mình khi nghĩ rằng mình có thể viết, nguyền rủa các biên tập viên cùng sự tự phụ của họ khi nghĩ rằng họ có thể đánh giá.
Trong khi đó, tờ giấy gấp kèm theo nằm trong bản thảo lại chứng minh sự vô đạo đức hoàn toàn của các vật vô tri, thay vì úp mặt xuống, nó lại ngửa mặt lên nằm ngay trên đỉnh của đống giấy vụn. Thế là Donald Morley, kẻ đang lùng sục tuyệt vọng trong căn phòng chật hẹp của mình, chợt nhìn thấy một từ khiến hắn chộp lấy tờ giấy và lao đến chỗ có ánh sáng.
Hóa ra, vị biên tập viên đã đọc câu chuyện với sự thích thú thực sự. Khalil Samad là một sự sáng tạo hoàn toàn mới mẻ, được thể hiện với sự độc đáo và hài hước vô cùng thú vị. Hạt sạn duy nhất của câu chuyện chính là độ ngắn của nó. Tất nhiên, tạp chí sẽ chấp nhận nó như hiện trạng, nhưng ý kiến của tòa soạn là nếu tác giả có chất liệu cho những câu chuyện khác có bản chất tương tự thì thật đáng tiếc nếu ông không phát triển nó thành một cuốn sách. Một cuốn tiểu thuyết lấy Khalil Samad làm nhân vật chính, nếu được viết với cùng sự cuốn hút như câu chuyện đầu tay này, chắc chắn sẽ thành công rực rỡ. Tất nhiên đây chỉ là một gợi ý, và có thể không phù hợp với các kế hoạch văn học khác của ông Morley. Dù sao đi nữa, vị biên tập viên vẫn chúc mừng ông vì sự độc đáo trong câu chuyện của mình và rất mong được xuất bản nó dưới hình thức này hay hình thức khác.
Donald đọc đi đọc lại mẩu giấy hai lần trước khi nắm bắt được nội dung của nó, rồi hắn hít một hơi thật sâu. Những câu chuyện khác có bản chất tương tự ư? Chà, hắn biết tới hàng tá câu chuyện như thế! Khalil Samad từng là người bầu bạn duy nhất của hắn suốt hai tháng trời, và công việc chính của Khalil là nói về bản thân hắn cùng những cuộc trác táng của mình. Donald nắm rõ các biến cố chính trong cuộc đời đầy kịch tính của hắn từ khi hắn bị một tên cướp người Bengal bắt cóc và bán vào cảnh gia đình ở tuổi lên mười, cho đến ngày hắn cúi đầu chào từ biệt đẫm nước mắt tại bến tàu Bombay.
Vâng, chắc chắn rồi, việc viết tiểu thuyết hoàn toàn phù hợp với các kế hoạch văn học của ông Morley. Nhưng còn những kế hoạch khác của hắn thì sao? Hắn chợt khựng lại. Làm sao hắn biết được điều gì sẽ xảy ra trong vòng hai mươi bốn giờ tới? Sẽ thế nào nếu do một sai lầm khủng khiếp nào đó, hắn không được chấp thuận xử lại phiên tòa? Nhưng Noah Wicker rất tự tin. Cậu ta đã phát hiện ra một điểm trong phiên tòa trước vốn không được chấp nhận theo thủ tục tố tụng. Một nhân chứng đã được phép đưa ra lời khai bất chấp sự phản đối của ông Gooch, và Noah đã thành công trong việc tìm ra một phán quyết trước đó khiến cậu ta tin rằng việc lật ngược bản án là điều gần như chắc chắn.
Không hiểu sao kể từ khi câu chuyện được chấp nhận, Donald thấy việc chia sẻ sự tự tin với Noah trở nên dễ dàng hơn nhiều. Những đợt sóng dũng khí quay trở lại trùm lên người hắn. Có lẽ suy cho cùng, hắn vẫn sẽ có thể làm được điều gì đó đáng giá trên đời này! Hắn sẽ làm việc như một cỗ xe tăng, hắn sẽ bắt đầu ngay tối nay.
Hắn vớ lấy bút và giấy, nhưng khao khát chia sẻ tin vui thôi thúc hắn viết thư hơn là viết tiểu thuyết. Hắn muốn kể cho Miss Lady nghe, hắn muốn kể cho Bác sĩ nghe. Hắn muốn làm cho Cropsie Decker chết trân! Rồi hắn nghĩ đến Noah, và nhét mẩu giấy của biên tập viên vào túi, hắn lao hộc tốc xuống cầu thang và băng qua khách sạn.
Noah đã đi ngủ, nhưng cậu ta bị lôi cổ dậy một cách không chút khách khí.
Đọc cái này đi! Don hét lên, thọc tay vào túi và rút ra một chiếc phong bì.
Nó chưa được mở mà, Noah ngáp ngắn ngáp dài nói; rồi nhận ra chữ viết tay của Connie Queerington, cậu ta chợt tỉnh ngủ hẳn.
Chết tiệt! Nhầm cái rồi, Donald nói, lồm cồm lao đi tìm bức thư kia. Đây rồi! Hãy chiêm ngưỡng một nhà văn đang chớm nở đi, Wick! Tôi viết được vài thứ mà người ta bảo là đáng giá đấy. Họ muốn đọc thêm cơ!
Noah đọc mẩu giấy, rồi điềm tĩnh trả lời nó.
Thật đáng khích lệ, tôi chúc mừng anh, cậu ta nhận xét một cách ngắn gọn.
Khuôn mặt Donald tối sầm lại, rồi quang đãng trở lại và hắn bốc đồng bước lên trước:
Nghe này, Wick, hắn nói, anh nghĩ tôi đang giẫm chân lên lãnh địa của anh à. Không đâu. Đó là bức thư đầu tiên tôi nhận được từ Connie sau cả nhiều tuần nay. Tôi chưa từng viết cho cô ấy một chữ kể từ khi rời nhà, nhưng cô ấy thích giữ tôi trong tầm kiểm soát. Cô ấy chỉ đùa giỡn với Ivy và tôi để luyện tay nghề thôi. Đừng để tâm đến cả hai chúng tôi làm gì. Cứ kiên trì mà giành lấy đi.
Ồ, tôi vẫn đang kiên trì đây thôi, Noah lì lợm nói, nhưng xem chừng tôi chẳng có mấy cơ hội với phần còn lại của các anh.
Vớ vẩn thật đấy, anh bạn! Hãy nghĩ đến cái đầu của anh xem! Chúa ban cho anh nhiều chất xám hơn phần lớn chúng ta khi kết thúc cuộc đời đấy. Sáng nay Thẩm phán vừa bảo rằng anh hiểu biết về thông luật nhiều hơn bất kỳ luật sư trẻ nào mà ông ấy có thể nghĩ tới.
Ừ, nhưng sự am hiểu về thông luật sẽ không giúp thắng được vụ kiện này đâu. Cô ấy sẽ chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến tôi đâu, Donald ạ, ngoại trừ lúc đường cùng. Cô ấy nghĩ tôi là một gã nhà quê cục mịch, chậm chạp, và tôi đoán cô ấy nghĩ thế cũng chẳng sai mấy.
Cậu ta đứng sừng sững ở đó trong bộ đồ ngủ màu xanh rộng hơn cỡ người mình tới hai lần, tóc dựng ngược, và đôi bàn tay to lớn bấu chặt lấy thành ghế. Tôi không rành trò chơi này, cậu ta tiếp tục nói trong bất lực. Các anh hốt trọn vỉa trong lúc tôi còn đang mải nghĩ xem nên đánh quân bài nào. Cô ấy quá tầm với tôi. Tất cả các anh đều quá tầm với tôi, nhưng tôi sẽ không buông bài đâu, chưa phải lúc này.
Donald đứng dậy khỏi cuối giường nơi hắn vừa ngồi nãy giờ, và nắm lấy đôi vai Noah.
Cậu đã làm việc như trâu như ngựa cho vụ án của tôi rồi, anh bạn già. Hay là để tôi lo liệu vụ của cậu nhé?
Ý anh là sao?
Cậu bảo là cậu không rành luật chơi. Tôi thì nắm rõ chúng xuôi ngược trong ngoài rồi. Cậu cứ để tôi đánh ván bài này thay cậu với Connie Queerington, đảm bảo cậu sẽ thắng.
Nhưng... nhưng còn anh?
Lạy Chúa, anh bạn! Anh có nghĩ rằng nếu đó là chuyện gì đó liên quan đến tôi thì tôi đã quên đọc thư cô ấy suốt từng ấy thời gian không? Không, tôi chấm dứt cái thể loại chuyện đó lâu rồi. Hắn đột ngột quay đầu đi và nét mặt tối sầm lại. Chưa từng có cuộc đua nào dành cho tôi đáng để tham gia mà tôi lại không bị bỏ lại từ vạch xuất phát cả.
Có lẽ cô Connie...
Thích tôi chứ gì? Dĩ nhiên rồi. Và tôi cũng vô cùng quý mến cô ấy. Đó là cách tôi định giúp cậu đấy, Wick. Cứ phó mặc cho tôi. Hãy để tôi viết cho cô ấy tất cả những bức thư tôi muốn. Để tôi kể cho cô ấy nghe về những thành tựu mà cậu đang đạt được ở đây, về việc vị Thẩm phán đang quý mến cậu, và Ngài Thống đốc mời cậu ăn tối. Tóm lại, để tôi kịch tính hóa cậu lên, Wick; tôi sẽ viết cho cô ấy một vở kịch năm hồi với cậu là nam chính. Tất cả những việc cậu phải làm là thưa bớt những bức thư của mình lại và tránh mặt cô ấy tầm một tháng hoặc lâu hơn. Hãy bảo cô ấy rằng chừng nào cậu chưa thể là gì hơn thế đối với cô ấy, cậu sẽ là một người bạn tốt. Connie căm ghét việc một người đàn ông chỉ làm bạn! Cô ấy muốn anh ta hoặc là một người quen, hoặc là một người tình. Cậu đã bước ra khỏi nhóm thứ nhất, và cô ấy sẽ không bao giờ buông tha cho cậu cho đến khi kéo được cậu trở lại nhóm thứ ba.
Noah xoa cái trán lực lưỡng và đầy vẻ hoang mang của mình. Mọi thứ phức tạp quá đối với tôi, cậu ta nói; Chắc tôi phải nhận sự giúp đỡ của anh thôi.
Đêm đó Donald làm việc đến tận khuya khoắt, hăng hái phác thảo các chương cho cuốn sách mới của mình. Hắn mải mê đến mức chỉ khi duỗi cái lưng mỏi nhừ và bắt đầu chuẩn bị đi ngủ, hắn mới chợt nhớ ra rằng mình vẫn chưa đọc bức thư của Connie.
Đó là một nét chữ nghệch ngoạc nhòe nhoẹt và lủng củng.
Anh họ Don thân mến, hắn đọc, Em không hiểu sao mình có thể viết nổi nữa, vì mắt em suýt hỏng vì khóc rồi, nhưng Miss Lady thì đơn giản là không thể làm xuể mọi thứ, và buộc phải có ai đó báo tin cho họ hàng chứ. Lẽ ra Hattie phải giúp em, nhưng chị ấy nghĩ mình phải viết thư cho những bạn thân trước, và chị ấy có tới khoảng một tá người như thế. Anh biết chị ấy đáng ghét thế nào rồi đấy.
Ừ thì, tuần trước bệnh tình bác trở nặng hơn, ý em là Cha ấy. Em không thể đi vào chi tiết được vì em đã kể đi kể lại chúng với bao nhiêu người rồi đến mức em sắp phát điên lên đây, và mỗi lần nhắc lại chúng là em suýt khóc đến chết đi được. Bác chẳng nhận ra ai trong suốt đêm qua hay sáng nay cả, trừ một lần bác gọi Miss Lady và vỗ nhẹ vào má chị ấy. Đến phút cuối hình như bác khỏe hơn một chút, mở mắt ra và đòi bản thảo của mình. Đó là điều đáng thương nhất mà anh từng chứng kiến vào phút lâm chung, khi thấy bác cố lật từng trang giấy, với đôi mắt tội nghiệp trân trân nhìn lên bức tường, chẳng nhận ra bất cứ ai trong chúng ta nữa. Anh sẽ thấy cáo phó về đám tang trên tờ báo sáng mai. Em không hiểu tụi em sẽ phải vượt qua chuyện này thế nào nữa.
Em họ yêu quý của anh,