Tôi nói chuyện chừng hai chục phút, cố làm cho ông ta thoải mái, nhưng suốt quãng thời gian đó người Cuba này cứ không ngừng dò xét tôi. Ông ta có làn da rám nắng, mái tóc hoa râm, người thấp đậm, mặc áo vest, đeo cà vạt. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng một pháp sư lại ăn mặc như thế.
Tôi giải thích rằng mọi chuyện ông ta kể cho tôi đều được giữ bí mật. Chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu xem có nhiều người tìm đến dịch vụ của ông ta không. Từ những gì tôi nghe được, ông ta có năng lực chữa trị bệnh.
“Không đúng đâu. Tôi không thể chữa được bệnh. Chỉ Chúa mới làm được điều đó.”
Được rồi, chúng tôi đồng ý. Nhưng hằng ngày, chúng ta vẫn thường gặp những người mà xử sự của họ lúc thì thế này, rồi đột ngột lại thế khác. Và chúng ta tự hỏi: Chuyện gì đã xảy ra với người mà ta từng nghĩ là ta hiểu? Tại sao anh ta hành động hung hãn như vậy? Phải chăng là do bức xúc trong công việc?
Rồi ngày hôm sau người đó trở lại bình thường. Ta được giải tỏa, rồi chẳng bao lâu sau, sự an ủi biến mất vào lúc ta ít ngờ nhất. Và lần này, thay vì hỏi chuyện gì xảy ra với người ấy, ta lại tự hỏi mình đã làm gì sai.
Vị pháp sư không nói gì. Ông ta vẫn không tin tôi.
Chứng đó có thể chữa được không?
“Có một phép chữa nhưng nó thuộc về Chúa trời.”
Đúng, tôi biết, nhưng Chúa chữa bằng cách nào?
“Còn tùy. Hãy nhìn vào mắt tôi.”
Tôi vâng lời và rơi vào một dạng hôn mê, không thể kiểm soát mình đang đi đâu.
“Nhân danh những sức mạnh dẫn dắt công việc của ta, nhờ sức mạnh được ban cho ta, ta yêu cầu những linh hồn bảo vệ ta hãy hủy hoại cuộc sống của cô và cả gia đình cô nếu cô quyết định nộp ta cho cảnh sát hay cơ quan nhập cư.”
Ông ta phẩy tay vài cái trên đầu tôi. Cảm tưởng như đó là điều siêu thực nhất trên đời, và tôi muốn đứng dậy ra về. Nhưng khi tôi nhận ra điều này thì ông ta đã trở lại bình thường - chẳng thân thiện cũng không xa cách.
“Cô có thể hỏi. Giờ thì tôi tin tưởng cô.”
Tôi hơi sợ. Nhưng thực sự tôi chẳng có ý định hãm hại người này. Tôi gọi một ly trà nữa và giải thích chính xác mình muốn gì. Các bác sĩ tôi đã “phỏng vấn” nói rằng cần nhiều thời gian để chữa lành. Người bảo vệ gợi ý rằng - tôi cân nhắc lời mình cẩn thận - Chúa có thể sử dụng pháp sư làm một cầu nối để chấm dứt vấn đề trầm cảm nghiêm trọng.
“Chính chúng ta đã tạo ra mớ rối ren trong đầu mình. Nó không xuất phát từ ngoại cảnh. Tất cả những gì ta phải làm là nhờ sự giúp đỡ của linh hồn che chở, người này đi vào tâm hồn ta và giúp dọn dẹp ngăn nắp. Nhưng không ai còn tin vào những linh hồn che chở nữa. Họ đang quan sát chúng ta, rất muốn giúp đỡ, nhưng không ai vời đến họ. Công việc của tôi là mang họ lại gần hơn những người đang cần giúp đỡ và chờ họ làm công việc của mình. Thế thôi.”
Nói thế này nhé, giả sử thôi, vào một trong những khoảnh khắc hung hãn của mình, một người nào đó bày ra một kế hoạch nham hiểm nhằm hãm hại người khác. Như vu cáo một đồng nghiệp, ví dụ vậy.
“Chuyện đó xảy ra hằng ngày.”
Tôi biết, nhưng khi sự hung hãn qua rồi, khi người đó trở lại bình thường, chẳng lẽ họ không bị cảm giác tội lỗi giày vò sao?
“Chắc chắn là có chứ. Và năm tháng qua đi, điều này chỉ làm tâm trạng họ tệ hơn mà thôi.”
Vậy phương châm của Calvin: sau đêm đen là ánh sáng, lại sai sao?
“Gì cơ?”
Không có gì. Tôi đang lẩm bẩm về cái tượng đài trong công viên.
“Đúng, có ánh sáng ở cuối đường hầm, nếu cô định nói thế. Nhưng đôi khi, con người ta vượt qua bóng đêm và đến phía bên kia, anh ta bỏ lại sau lưng mình một con đường bị tàn phá.”
Hoàn hảo, ta hãy quay lại chủ đề chính: phương pháp của ông ta.
“Không phải phương pháp của tôi. Nó đã được sử dụng trong rất nhiều năm để chữa stress, trầm cảm, giận dữ, mong muốn tự tử, và nhiều hình thức khác mà loài người sử dụng để làm hại bản thân.”
Chúa ơi, tôi đã tìm đúng người rồi. Tôi cần giữ bình tĩnh.
Chúng ta có thể gọi đó là một dạng...
“... tự hôn mê. Tự thôi miên. Thiền. Mỗi nền văn hóa đều có tên gọi riêng cho nó. Nhưng hãy nhớ rằng Hiệp hội Thầy thuốc Thụy Sĩ không có cái nhìn thiện cảm đối với những điều này.”
Tôi giải thích rằng mình thường tập yoga nhưng vẫn không thể đạt đến trạng thái mà trong đó mọi vấn đề đều được phân tích và giải quyết.
“Chúng ta đang nói về cô hay bài viết cho báo của cô đây?”
Cả hai. Tôi thôi đề phòng, bởi tôi biết với người này tôi không thể giấu được gì. Tôi chắc chắn điều đó vào thời khắc ông ta yêu cầu tôi nhìn vào mắt ông ta. Tôi giải thích rằng mối băn khoăn của ông ta về sự ẩn danh là hoàn toàn ngớ ngẩn - rất nhiều người biết chuyện ông ta tiếp khách tại nhà ở Veyrier. Và nhiều người, gồm cả cai ngục, sử dụng dịch vụ của ông ta. Đó là điều người bảo vệ ở tòa soạn đã giải thích cho tôi.
“Vấn đề của cô xảy ra về đêm phải không,” ông ta nói.
Đúng, đó là vấn đề của tôi. Tại sao?
“Đơn giản bởi vì về đêm, chúng ta có thể hồi tưởng lại những nỗi kinh hoàng thời thơ ấu: nỗi sợ phải ở một mình, nỗi sợ điều không biết. Nhưng nếu có thể đánh bại những bóng ma đó, chúng ta sẽ dễ dàng đánh bại những thứ xuất hiện ban ngày. Chúng ta sẽ không sợ bóng tối bởi vì chúng ta là bạn của ánh sáng.”
Tôi cảm giác như mình đang ngồi với một người thầy giải thích rất rành mạch. Liệu tôi có thể đến nhà ông ta để ông ta làm...
“... phép hả?”
Tôi đã không nghĩ đến từ đó, nhưng đó chính xác là điều tôi cần.
“Không cần đâu. Tôi thấy rất nhiều bóng tối trong cô, nhưng cũng thấy rất nhiều ánh sáng. Và trong trường hợp này, tôi chắc rằng cuối cùng ánh sáng sẽ chiến thắng.”
Tôi chực trào nước mắt, bởi người này thực sự đang dò sâu vào tâm hồn tôi mà tôi không thể giải thích chính xác là bằng cách nào.
“Thi thoảng hãy để cho ban đêm mang cô đi. Hãy ngắm nhìn những vì sao và cố gắng say sưa với cảm giác vô tận ấy. Ban đêm, với mọi vẻ quyến rũ của nó, là một con đường dẫn đến sự khai sáng, cũng như tận đáy giếng sâu có làn nước làm tan cơn khát, những bí ẩn của màn đêm mang chúng ta đến gần hơn với Chúa, màn đêm chứa ngọn lửa có thể thắp sáng linh hồn ẩn giấu trong bóng tối.”
Chúng tôi trò chuyện gần hai tiếng. Ông ta khăng khăng rằng tôi chẳng cần làm gì, cứ buông xuôi bản thân - và thậm chí những nỗi sợ lớn nhất của tôi đều vô căn cứ. Tôi giải thích cái khát khao muốn trả thù của mình. Ông ta lắng nghe, không một lời bình luận hay phán xét. Càng trò chuyện, tôi lại càng tự nhận thức về bản thân mình rõ hơn.
Ông ta đề nghị chúng tôi rời khỏi quán và tản bộ trong công viên. Tại một lối vào công viên, có bày những quân cờ khổng lồ bằng nhựa và nhiều ô vuông đen trắng sơn trên nền đất. Một số người đang chơi cờ bất chấp tiết trời giá lạnh.
Ông ta hầu như không nói gì nữa; còn tôi vẫn nói mãi không thôi, đôi khi thấy biết ơn và đôi khi lại nguyền rủa cuộc đời mà tôi đang sống. Chúng tôi dừng lại trước một bàn cờ khổng lồ. Dường như ông ta chú tâm vào ván cờ nhiều hơn là nghe tôi nói. Tôi thôi than vãn và bắt đầu theo dõi ván cờ, dù chẳng thích thú chút nào.
“Hãy đi đến cùng,” ông ta nói.
Đến cùng sao? Lừa dối chồng tôi, bỏ ma túy vào túi xách của tình địch rồi gọi điện báo cảnh sát ư?
Ông ta cười phá lên.
“Cô có thấy những người chơi cờ kia không? Họ luôn phải đi nước tiếp theo. Họ không thể dừng lại giữa chừng, bởi vì điều đó có nghĩa là chấp nhận thất bại. Có khi thất bại là không thể nào tránh khỏi, nhưng ít nhất họ đã đấu tranh đến phút cuối. Chúng ta đã có mọi thứ mình cần. Không còn gì để cải thiện nữa. Nghĩ rằng chúng ta tốt hay xấu, công bằng hay không, tất cả đều vô nghĩa. Chúng ta biết rằng hôm nay Genève bị một đám mây che phủ mà có thể mất hàng tháng mới tan, nhưng sớm hay muộn, nó cũng sẽ tan. Vậy nên cứ tiến lên phía trước và để cho bản ngã tự quyết.”
Không một lời nào ngăn tôi làm điều mà tôi không nên làm sao?
“Không. Bằng cách làm điều cô không nên làm, cô sẽ nhận thức được bản thân. Như tôi đã nói khi ở trong quán, ánh sáng trong tâm hồn cô lớn hơn bóng tối. Nhưng chính vì thế mà cô phải đi đến cuối cuộc chơi.”
Tôi nghĩ cả đời mình chưa bao giờ nghe thấy một lời khuyên nào phi lý đến vậy. Tôi cảm ơn ông ta đã dành thời gian tiếp chuyện, và hỏi tôi có nợ gì ông ta không. Ông ta bảo không.
* * *
Quay lại tòa soạn, tổng biên tập hỏi tôi làm gì mà lâu vậy. Tôi giải thích rằng vì đó là một chủ đề không mấy chính thống, nên tôi phải mất nhiều thời gian mới có được lời giải thích mình cần.
“Và vì nó không mấy chính thống như vậy, liệu chúng ta có đang khuyến khích một hoạt động phi pháp nào không?”
Chúng ta có đang khuyến khích hoạt động phi pháp không khi oanh tạc giới trẻ bằng những biện pháp thúc đẩy tiêu dùng quá mức? Chúng ta có đang khuyến khích tai nạn không khi quảng cáo những chiếc xe hơi đời mới có thể đạt vận tốc 250 ki lô mét trên giờ? Chúng ta có đang khuyến khích trầm cảm và xu hướng tự tử không khi đăng tải các bài báo giới thiệu những người thành đạt mà không hề giải thích họ làm thế nào để thành đạt, và từ đó khiến cho những người khác tin rằng bản thân mình vô dụng?
Tổng biên tập không muốn bàn cãi chuyện này. Dù sao đó có lẽ cũng là một bài thú vị cho số báo với chủ đề chính “Chuỗi Hạnh phúc thu về thành công 8 triệu franc ở mỗi quốc gia châu Á.”
Tôi viết một bài sáu trăm từ - khoảng trống tối đa người ta dành cho tôi - và toàn bộ nội dung đều lấy từ Internet, bởi tôi không thể sử dụng bất cứ điều gì từ cuộc trò chuyện với vị pháp sư, vốn đã biến thành một buổi trị liệu.
* * *
Jacob!
Anh ta như vừa từ cõi chết sống dậy và gửi tin nhắn hẹn tôi cà phê - như thể trên đời này chẳng còn điều gì khác thú vị để làm. Đâu rồi con người thưởng rượu tinh tế? Đâu rồi con người giờ đây đang nắm giữ quyền lực, vốn là loại thuốc kích dục tuyệt vời nhất thế giới?
Nhưng trên hết, đâu rồi người bạn trai tôi đã gặp thời niên thiếu, khi mà bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra với cả hai chúng tôi.
Anh ta đã kết hôn, đã thay đổi, và gửi một tin nhắn mời tôi đi cà phê. Anh ta không thể sáng tạo hơn mà gợi ý một cuộc chạy bộ khỏa thân ở Chamonix sao? Có lẽ lúc ấy tôi sẽ hứng thú hơn.
Tôi không có ý định trả lời. Anh ta đã cố lờ tôi đi, và làm tôi bẽ bàng bằng cách im lặng trong suốt mấy tuần liền. Anh ta có nghĩ là tôi sẽ chạy tới chỉ bởi vì anh ta cho tôi cái vinh dự được nhận lời mời không?
Sau khi lên giường, tôi nghe (qua tai nghe) một trong những đoạn băng ghi lại cuộc nói chuyện với pháp sư người Cuba. Khi tôi vẫn còn giả vờ mình là một nhà báo - không phải người phụ nữ sợ hãi bản thân - tôi đã hỏi liệu tự thôi miên (hay thuật ngữ ông ta thích dùng là “thiền định”) có thể làm cho người ta quên đi một người hay không. Tôi đã đề cập chủ đề đó theo cái cách khiến ông ta hiểu được “tình yêu” hay “thương tổn vì lời nói xúc phạm”, đó chính xác là điều chúng tôi nói vào lúc ấy.
“Đó là vùng khá u ám,” ông ta đáp. “Đúng, chúng ta có thể kích thích chứng quên tương đối, nhưng do người này còn liên quan đến những sự việc và sự kiện khác nên thực tế thì hầu như không thể nào xóa bỏ hoàn toàn được nó. Hơn nữa, quên là một phương án sai lầm. Đúng ra cô nên đối mặt với mọi việc.”
Tôi nghe cả cuốn băng, rồi cố không nghĩ đến nữa, bằng cách đưa ra những lời cam kết và ghi vào lịch một vài việc cần làm, nhưng chẳng có tác dụng gì Trước khi ngủ, tôi gửi tin nhắn nhận lời mời của Jacob.
Không thể kiềm chế bản thân, đó chính là vấn đề của tôi.
* * *
“Anh sẽ không bảo rằng anh nhớ em, bởi em sẽ không tin. Anh sẽ không bảo rằng anh không trả lời tin nhắn của em vì anh sợ lại yêu lần nữa.”
Tôi thực sự không tin bất kỳ lời nào. Nhưng tôi cứ để cho anh ta tiếp tục giải thích những điều không thể giải thích. Chúng tôi ở đây, trong một quán cà phê không có gì đặc biệt tại Collonges-sous-Salève, một ngôi làng gần biên giới nước Pháp, từ chỗ tôi làm đến đây mất mười lăm phút. Mấy người khách khác là tài xế xe tải, và công nhân mỏ đá gần đây.
Tôi là người phụ nữ duy nhất, không kể nhân viên quầy bar, cô ta đi từ đầu đến cuối quán, trang điểm rất đậm và trò chuyện cợt nhả với khách hàng.
“Cuộc sống hệt như địa ngục kể từ khi em xuất hiện trong đời anh. Kể từ ngày em đến văn phòng phỏng vấn anh và chúng ta đã trao nhau những điều thân mật.”
“Trao nhau những điều thân mật,” nói như thế là hơi quá. Tôi đã thổi kèn cho anh ta. Anh ta chẳng làm gì cho tôi cả.
“Anh không thể nói là mình bất hạnh, nhưng càng ngày anh càng thấy cô đơn, dù không ai biết. Ngay cả khi anh ở bên bạn bè, không khí và đồ uống tuyệt vời những cuộc trò chuyện sôi nổi và thậm chí anh còn mỉm cười, rồi bất thình lình, chẳng vì lý do nào cả, anh không thể tập trung vào cuộc trò chuyện. Anh bảo có việc quan trọng rồi ra về. Anh biết điều mình đang bỏ lỡ: Em.”
Đã đến lúc tôi trả thù: Anh không nghĩ anh cần tư vấn hôn nhân sao?
“Anh có nghĩ chứ. Nhưng như thế anh sẽ phải đi cùng Marianne, mà anh không thể thuyết phục cô ấy. Với cô ấy, triết học có thể giải thích mọi chuyện. Cô ấy nhận ra anh đã khác, nhưng lại cho đó là vì cuộc bầu cử.”
Vị pháp sư đã đúng khi bảo rằng chúng ta phải đi đến tận cùng. Ở thời điểm này, Jacob vừa cứu vợ anh ta khỏi một cáo buộc nghiêm trọng về buôn ma túy.
“Anh đã phải nhận quá nhiều trách nhiệm và anh vẫn chưa quen được với điều đó. Theo lời cô ấy, anh sẽ sớm quen với mọi chuyện. Còn em?”
Tôi ư? Chính xác là anh ta muốn biết chuyện gì?
Mọi nỗ lực kháng cự đã tan tành khi tôi thấy anh ta ngồi một mình bên chiếc bàn trong góc, với ly Campari pha soda trước mặt, và anh ta mỉm cười ngay khi thấy tôi bước vào. Chúng tôi lại như những thiếu niên, chỉ có điều lần này chúng tôi có thể uống rượu mà không phạm luật. Tôi cầm đôi bàn tay lạnh băng của anh ta - lạnh vì tiết trời hay do sợ hãi, tôi cũng không biết nữa.
Em không sao, tôi nói. Tôi gợi ý rằng lần tới chúng tôi gặp nhau sớm hơn - mùa hè đã qua và trời rất nhanh tối. Anh ta đồng ý và kín đáo hôn lên môi tôi, để những người chung quanh khỏi chú ý.
“Với anh, một trong những điều tệ hại nhất là những ngày thu nắng đẹp. Anh mở rèm cửa văn phòng và thấy thiên hạ ngoài kia, có những người nắm tay nhau dạo bộ mà không phải lo lắng về hậu quả. Còn anh lại không thể bày tỏ tình yêu của mình.”
Tình yêu ư? Liệu pháp sư người Cuba có cảm thấy tiếc cho tôi mà đề nghị những linh hồn bí ẩn giúp đỡ không nhỉ?
Tôi mong đợi thứ từ cuộc gặp này, ngoại trừ một người đàn ông có khả năng mở lòng với tôi, như anh ta đang làm đây. Tim tôi đập mạnh hơn và mạnh hơn nữa - vì vui sướng, vì ngạc nhiên. Tôi sẽ không hỏi cả anh ta lẫn bản thân mình tại sao chuyện này lại xảy ra.
“Này, không phải bởi anh ghen tị với thiên hạ đâu. Chỉ là vì anh không hiểu tại sao họ có thể hạnh phúc, còn mình thì không thôi.”
Anh ta thanh toán bằng euro, chúng tôi đi bộ qua biên giới hướng về phía xe của cả hai đang đỗ ở bên kia đường - tức là Thụy Sĩ.
Không còn thời gian để thổ lộ tình cảm nữa. Chúng tôi nói lời tạm biệt, cùng ba nụ hôn lên má, rồi mỗi người đi một đường.
Cũng như lần rời câu lạc bộ golf, tôi không thể lái khi đã vào trong xe. Tôi quàng khăn trùm đầu cho khỏi lạnh, và bắt đầu đi lang thang trong ngôi làng nhỏ. Tôi đi ngang qua một bưu điện và tiệm làm tóc. Tôi thấy một quán bar đang mở nhưng vẫn muốn đi bộ để hít thở không khí trong lành. Tôi không hề hứng thú với việc tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra. Tôi chỉ muốn nó xảy ra.
“Anh mở rèm cửa văn phòng và thấy thiên hạ ngoài kia, có những người nắm tay nhau dạo bộ mà không phải lo lắng về hậu quả. Còn anh lại không thể bày tỏ tình yêu của mình,” anh ta đã nói thế.
Và khi em cảm thấy không có ai, tuyệt đối không một ai, có thể hiểu được điều đang diễn ra trong lòng em - không phải vị pháp sư, không phải một bác sĩ phân tâm học, lại càng không phải chồng em - anh lại hiện ra giải thích cho em...
Đó là nỗi cô đơn, dù tôi được những người yêu thương vây quanh, những người quan tâm đến tôi và chỉ muốn điều tốt đẹp nhất cho tôi, có lẽ họ đang cố giúp đỡ chỉ bởi vì họ cũng đang cảm thấy điều y hệt - nỗi cô đơn - và vì trong một cử chỉ mang tính đoàn kết, cái câu “ta là người có ích, dù ta cô đơn” như được khắc lên đá, được nung qua lửa.
Dù não bộ bảo rằng mọi chuyện đều ổn, linh hồn vẫn lạc lối, bối rối, không biết vì sao mình lại bất công với cuộc đời. Nhưng chúng ta vẫn thức dậy mỗi sáng và chăm lo cho con chúng ta, chồng chúng ta, người tình của chúng ta, ông chủ của chúng ta, nhân viên của chúng ta, học sinh của chúng ta, hàng chục người đó biến một ngày bình thường thành sống động.
Và chúng ta thường nở nụ cười trên môi nói những lời động viên, vì không ai có thể giải thích được nỗi cô đơn của mình cho người khác, nhất là khi chúng ta luôn có những bạn đồng hành tốt. Nhưng nỗi cô đơn ấy tồn tại và gặm nhấm phần tốt đẹp nhất trong ta, bởi chúng ta phải sử dụng hết mọi năng lượng để tỏ ra hạnh phúc, ngay cả khi chúng ta sẽ không bao giờ có thể lừa dối bản thân. Nhưng mỗi sáng ra, chúng ta nhất quyết chỉ muốn trưng bày những bông hồng đang nở, và giấu bớt phần cành đầy những gai nhọn làm chúng ta đau và làm chúng ta chảy máu trong tâm hồn.
Dù biết rằng bất kỳ ai, ở một thời điểm nào đó, cũng cảm thấy cô đơn hoàn toàn và tột độ, thì vẫn thật xấu hổ khi nói: “Tôi cô đơn, tôi cần bầu bạn. Tôi cần giết con quái vật mà mọi người cứ nghĩ giống như con chằn tinh trong truyện cổ tích, chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng sự thực không phải vậy.” Tôi chờ đợi một hiệp sĩ thuần khiết và dũng cảm, trong vẻ huy hoàng nhất của chàng, đến đánh bại nó và đẩy nó xuống vực thẳm mãi mãi, nhưng chàng hiệp sĩ kia không bao giờ đến.
Nhưng chúng ta không thể đánh mất hy vọng. Chúng ta bắt đầu làm những việc mà bình thường chúng ta không làm, dám vượt ra ngoài những gì thích đáng và cần thiết. Cái gai nhọn bên trong chúng ta sẽ lớn hơn và gây nhiều đau đớn hơn, nhưng chúng ta không thể từ bỏ giữa chừng. Ai cũng mong nhìn thấy kết quả cuối cùng, như thế cuộc đời là ván cờ siêu hạng. Chúng ta vờ như việc thắng hay thua không quan trọng, điều quan trọng là phải tranh đấu. Chúng ta tha thiết mong những cảm xúc chân thật của mình vẫn mờ mịt và ẩn giấu, nhưng rồi...
... thay vì tìm người bầu bạn, chúng ta cô lập bản thân hơn nữa để có thể lặng lẽ liếm láp vết thương của mình. Hay chúng ta sẽ đi ra ngoài ăn tối, ăn trưa với những người chẳng liên quan gì đến cuộc đời mình và nói suốt buổi về những điều chẳng quan trọng gì sất. Chúng ta thậm chí còn tiêu khiển bằng cách uống rượu và tiệc tùng, nhưng con chằn tinh vẫn sống nhăn. Và rồi những người thực sự gần gũi chúng ta thấy rằng có gì đó không ổn và bắt đầu đổ lỗi cho bản thân vì đã không thể làm chúng ta vui. Họ hỏi có chuyện gì thế. Chúng ta bảo rằng mọi chuyện đều ổn, nhưng không phải vậy...
Mọi thứ rất kinh khủng. Làm ơn để tôi một mình, vì tôi không còn nước mắt để khóc hay tâm can mà chịu đau đớn nữa, tôi chỉ thấy mất ngủ, trống trải và thờ ơ, và nếu bạn tự vấn bản thân, bạn cũng đang cảm thấy y như vậy. Nhưng họ cứ khăng khăng rằng đó chỉ là một giai đoạn khó khăn hay một cơn trầm cảm, vì họ sợ dùng đến cái từ chân thực và khốn kiếp kia: Cô đơn.
Trong khi đó, chúng ta không ngừng theo đuổi điều duy nhất làm chúng ta hạnh phúc: chàng hiệp sĩ trong bộ giáp sáng lóa, chàng ta sẽ chém con chằn tinh, sẽ nhặt bông hồng, và cắt phăng những gai nhọn. Nhiều người khẳng định chúng ta không công bằng với đời. Những người khác lại hài lòng, bởi họ tin rằng đây chính là điều chúng ta xứng đáng phải nhận: nỗi cô đơn, bất hạnh. Bởi chúng ta có mọi thứ còn họ thì không.
Nhưng một ngày nào đó, những người mù bắt đầu nhìn được. Những người buồn phiền được an ủi. Những người chịu đau đớn được cứu rỗi khỏi hiểm nguy. Chàng hiệp sĩ đến giải cứu chúng ta, và cuộc đời một lần nữa được biện minh...
Ấy vậy mà, bạn vẫn phải nói dối và phản bội, bởi vì lần này tình huống lại khác. Có ai chưa bao giờ cảm thấy bị thôi thúc phải buông bỏ mọi thứ để lên đường tìm kiếm giấc mơ của mình? Mơ mộng luôn rủi ro, vì phải trả giá, cái giá đó ở một số nước là bị ném đá tới chết, và ở những quốc gia khác là sự tẩy chay hoặc thờ ơ của xã hội. Dù thế nào cũng luôn phải trả giá. Bạn cố nói dối và mọi người vờ như họ vẫn tin, nhưng họ ngấm ngầm ghen tị, họ bình phẩm sau lưng bạn, bảo rằng bạn là kẻ tệ nhất, là thứ đe dọa nhất. Bạn không phải một gã đàn ông ngoại tình, nếu vậy thì bạn đã được tha thứ và thậm chí còn được ngưỡng mộ, mà bạn là một phụ nữ ngoại tình, là người đi ngủ với người khác và phản bội chồng mình, người chồng tội nghiệp, người luôn thấu hiểu và yêu thương...
Nhưng chỉ mình bạn biết rằng người chồng đó không thể ngăn ngừa nỗi cô đơn kia. Bởi anh ta thiếu điều gì đó mà ngay đến bạn cũng không biết giải thích thế nào, bởi bạn yêu anh ta và không muốn mất anh ta. Nhưng một chàng hiệp sĩ sáng láng hứa hẹn cuộc phiêu lưu đến những miền đất xa xôi có sức hút mạnh mẽ hơn cái ham muốn giữ nguyên trạng mọi chuyện, dù ở những bữa tiệc người ta nhìn bạn và thầm thì với nhau rằng tốt hơn nên buộc một tảng đá vào cổ bạn rồi ném bạn xuống biển còn hơn để bạn làm gương xấu.
Và điều tồi tệ hơn là, chồng bạn lặng lẽ chịu đựng mọi chuyện. Anh ấy không than phiền hay làm toáng lên. Anh ấy tin chuyện sẽ qua. Bạn cũng biết nó sẽ qua, nhưng lúc này nó mạnh hơn bạn.
Đó là cách mọi chuyện sẽ kéo dài trong một tháng, hai tháng, một năm... tất cả mọi người lặng lẽ chịu đựng.
Nhưng đây không phải là chuyện xin phép. Bạn nhìn lại và thấy rằng bạn cũng từng nghĩ như những người đang cáo buộc mình. Bạn cũng từng cáo buộc những người bạn biết là kẻ ngoại tình, và tưởng tượng rằng nếu họ sống ở một nơi khác, thì hình phạt sẽ là ném đá. Cho đến một ngày chuyện đó xảy ra với bạn. Rồi bạn nghĩ ra cả triệu lý do biện minh cho cách hành xử của mình, tự nhủ mình có quyền được hạnh phúc, dù trong chốc lát, vì chàng hiệp sĩ chém chằn tinh kia chỉ tồn tại trong truyện cổ tích. Con chằn tinh thực sự thì không bao giờ chết, nhưng bạn vẫn có quyền và nghĩa vụ, ít nhất một lần trong đời, được sống trong truyện cổ tích cho người lớn.
Rồi đến khoảnh khắc bạn cố tránh bằng mọi giá, thời khắc mà bạn đã trì hoãn từ rất lâu: đó là lúc bạn phải quyết định ở lại cùng nhau hay chia tay mãi mãi.
Tuy nhiên, cùng với khoảnh khắc ấy là nỗi sợ mắc sai lầm, dù bạn có quyết định thế nào chăng nữa. Và bạn tha thiết hy vọng, có người sẽ lựa chọn thay cho bạn, ném bạn ra khỏi nhà hay khỏi giường, bởi không thể nào tiếp tục như thế. Sau rốt, chúng ta không còn là một người duy nhất, chúng ta trở thành người đa diện, mặt này lại hoàn toàn khác mặt kia. Và vì trước nay bạn chưa bao giờ trải qua chuyện này, bạn không biết đâu sẽ là hồi kết. Sự thật là giờ đây bạn đang phải đối mặt với một tình huống sẽ làm một người đau đớn, hay là hai hoặc nhiều hơn...
... Nhưng trên hết, dù lựa chọn của bạn có là thế nào đi nữa thì nó cũng sẽ hủy hoại bạn.