Cả gia đình và tôi đang ở ngay tại nơi William, em trai của Victor Frankenstein, đã bị giết. Nhiều thế kỷ qua, nơi này là một đầm lầy. Sau khi bàn tay tàn nhẫn của Calvin biến Genève thành một thành phố đáng kính, thì những người ốm đau cũng được mang đến đây, thường là chết vì đói và lạnh, và do đó thành phố không bị nhiễm bất kỳ dịch bệnh nào.
Plainpalais rất rộng, là điểm duy nhất trong trung tâm thành phố gần như không có cây cỏ. Mùa đông, gió thổi lạnh buốt xương. Mùa hè, ánh mặt trời khiến chúng tôi ướt đẫm mồ hôi. Thật lố bịch. Nhưng từ bao giờ mọi vật đều cần lý do chính đáng để tồn tại nhỉ?
Hôm nay là thứ Bảy, có nhiều người bán đồ cổ dựng gian hàng rải rác quanh đây. Khu chợ này đã trở thành một điểm hút khách du lịch và thậm chí xuất hiện cả trên trang hướng dẫn về du lịch như là “điều hay nên làm”. Những di vật của thế kỷ XVI trộn lẫn với các đầu video. Những bức điêu khắc đồng cổ từ những ngóc ngách châu Á xa xôi được trưng bày cùng với những món đồ khủng khiếp của thập niên tám mươi. Nơi đây nhung nhúc người. Vài người sành sỏi kiên nhẫn xem xét một món đồ và trò chuyện thật lâu với người bán hàng. Còn đa số, khách du lịch và người xem, thì tìm những thứ họ không bao giờ cần đến nhưng cuối cùng cũng mua bởi chúng quá rẻ. Họ về nhà, dùng chúng một lần, rồi cho chúng vào kho, nghĩ rằng: “Hoàn toàn vô giá trị, nhưng là một món hời.”
Suốt cả buổi tôi phải kiểm soát bọn trẻ; chúng muốn chạm vào mọi thứ, từ những bình pha lê đắt tiền đến những thứ đồ chơi màu mè hồi đầu thế kỷ XIX. Nhưng ít nhất chúng đang học được rằng vẫn tồn tại một cuộc sống bên ngoài những trò chơi điện tử.
Một trong hai đứa đòi tôi mua một anh hề bằng kim loại, có miệng và tay chân cử động được nhờ khớp nối. Chồng tôi biết chúng chỉ hứng thú với món đồ chơi này đến lúc về nhà rồi hết. Anh bảo nó “cũ” rồi và rằng chúng tôi có thể mua gì đó mới trên đường về nhà. Lúc ấy sự chú ý của chúng chuyển hướng sang mấy hộp bi ve mà trẻ con ngày trước thường chơi trong sân.
Mắt tôi dính chặt vào một bức tranh nhỏ: tranh vẽ một phụ nữ khỏa thân nằm trên giường, và một thiên thần đang quay đi. Tôi hỏi người bán hàng giá bao nhiêu. Trước khi nói giá (rất bèo), ông ta giải thích rằng đây là bức tranh được một họa sĩ vô danh của địa phương chép lại. Chồng tôi quan sát chúng tôi mà không nói một lời, và trước khi tôi kịp cảm ơn người bán hàng vì thông tin đó để quay đi, anh đã trả tiền rồi.
Sao anh lại làm thế?
“Vì nó thể hiện một tích cổ. Về nhà anh sẽ kể em nghe.”
Tôi lại muốn yêu anh lần nữa. Tôi chưa bao giờ hết yêu anh - tôi luôn yêu anh và sẽ luôn như vậy - nhưng cuộc sống chung của chúng tôi đã trở nên quá gần với sự đơn điệu. Tình yêu có thể cưỡng lại sự đơn điệu nhưng với ham muốn sắc dục, nó nguy hiểm chết người.
Tôi đang trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn. Tôi biết mối quan hệ của tôi với Jacob không có tương lai, và tôi đã quay lưng với người cùng tôi gây dựng cuộc đời.
Ai đó đã nói rằng “chỉ cần tình yêu thôi là đủ”, ấy là lời dối trá. Nó không đủ và sẽ không bao giờ đủ. Vấn đề lớn ấy là người ta tin vào điều họ thấy trong sách vở và trên phim ảnh - đôi trai gái dạo bộ trên bãi biển, tay trong tay, ngắm nhìn hoàng hôn, và mỗi ngày đều làm tình nồng nhiệt trong những khách sạn đẹp đẽ nhìn ra núi Alpes. Chồng tôi và tôi đã làm những điều như thế, nhưng phép mầu đó kéo dài cùng lắm chỉ một vài năm.
Rồi hôn nhân đến. Lựa chọn trang trí nhà cửa, lên kế hoạch chăm sóc lũ trẻ sắp ra đời, những nụ hôn, những giấc mơ, nâng ly sâm banh trong căn phòng trống sẽ sớm trở thành chính xác như hình dung của chúng tôi - mọi thứ đều ở đúng vị trí của nó. Hai năm sau, khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời, căn nhà không còn chỗ cho bất cứ thứ gì nữa và, nếu bổ sung thêm gì đó vào căn nhà, chúng tôi có nguy cơ làm như thể mình sống để gây ấn tượng cho người khác và sẽ phải dành phần đời còn lại vào việc mua sắm cũng như lau chùi những món đồ cổ (rồi sau này cũng sẽ bị những người thừa kế của chúng tôi bán đi với giá rẻ mạt và cuối cùng chúng lại ra chợ Plainpalais).
Sau ba năm kết hôn, người này đã biết chính xác người kia nghĩ và muốn gì. Tại những buổi dạ tiệc, chúng tôi buộc phải lắng nghe những câu chuyện mà chúng tôi đã nghe nhiều lần, luôn luôn ra vẻ ngạc nhiên và thảng hoặc, phải nói thẳng ra là chúng tôi đã biết rồi. Tình dục từ đam mê chuyển thành nghĩa vụ, và đó là lý do nó diễn ra ngày càng thưa thớt. Chẳng bao lâu, mỗi tuần chỉ được một cuộc - có khi còn ít hơn. Các bà vợ gặp gỡ nhau, khoác lác về ngọn lửa đam mê vô hạn của chồng mình, điều đó chẳng qua chỉ là một lời nói dối trơ trẽn. Ai mà chẳng biết vậy, nhưng không ai muốn bị thua.
Rồi đến thời điểm phát sinh những mối quan hệ ngoài hôn nhân. Phụ nữ bình luận - phải, họ đã bắt đầu rồi đấy! - về người tình và những ngọn lửa đam mê vô tận của họ. Có một yếu tố chân thực trong chuyện này, bởi thường thì chuyện xảy ra trong thế giới mê hoặc của cơn thủ dâm - cũng thật như thế giới của những phụ nữ dám mạo hiểm và để mặc cho người đàn ông đầu tiên xuất hiện ve vãn, bất chấp phẩm cách của anh ta ra sao. Họ mua quần áo đắt tiền và vờ e lệ, dù họ đang phô bày nhiều ham mê nhục dục hơn cả một cô bé mười sáu tuổi - và điều khác biệt duy nhất nằm ở chỗ cô bé kia biết được sức mạnh mình đang nắm giữ.
Cuối cùng, đến lúc chúng ta nhẫn nhịn rút về cuộc sống đơn điệu. Chồng dành nhiều thì giờ ở bên ngoài, bận bịu công việc, và vợ dành nhiều thời gian hơn cần thiết để chăm sóc con cái. Chúng tôi đang ở giai đoạn này, và tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thay đổi tình hình.
Tình yêu thôi chưa đủ. Tôi cần phải mê chồng nữa.
Tình yêu không chỉ là một cảm giác; nó là nghệ thuật. Và như bất cứ môn nghệ thuật nào, nó không chỉ cần đến cảm hứng mà còn đòi hỏi nhiều nỗ lực.
* * *
Sao thiên thần lại quay đi, bỏ người phụ nữ kia một mình trên giường?
“Đó không phải là thiên thần. Đó là Eros, thần tình yêu của Hy Lạp. Cô gái trên giường với Eros là Psyche.”
Tôi mở một chai vang rồi rót vào hai ly. Anh đặt bức tranh lên lò sưởi không đốt - chỉ là một món đồ trang trí trong ngôi nhà vốn trông cậy vào hệ thống sưởi trung tâm. Rồi anh bắt đầu kể:
“Ngày xưa có một nàng công chúa xinh đẹp được bao người ngưỡng mộ, nhưng không ai dám cầu hôn nàng. Nhà vua buồn rầu bèn hỏi ý kiến thần Apollo. Thần bảo ngài rằng phải để công chúa Psyche diện xiêm y ở một mình trên đỉnh núi. Trước khi trời sáng, một con rắn sẽ đến gặp và cưới nàng làm vợ. Đức vua nghe theo, thế rồi suốt đêm công chúa chờ chồng mình xuất hiện, nàng sợ hãi và lạnh cóng. Cuối cùng nàng ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy, nàng thấy mình đội vương miện nữ hoàng trong một cung điện đẹp đẽ. Hằng đêm, người chồng đến với nàng và họ ân ái, nhưng chàng ra một điều kiện: Psyche sẽ có tất cả những gì nàng mong muốn, nhưng nàng phải tin chàng tuyệt đối và không bao giờ được thấy mặt chàng.”
Thật kinh khủng, tôi nghĩ, nhưng không dám ngắt lời anh.
“Công chúa sống hạnh phúc một thời gian dài. Nàng sống an nhàn, có tình yêu, niềm vui và nàng yêu người đàn ông đến với nàng hằng đêm. Tuy nhiên, thỉnh thoảng nàng lo sợ mình đã lấy phải một con rắn độc ác. Một buổi sáng, trong lúc chồng đang ngủ, nàng thắp đèn và thấy Eros, một người đàn ông đẹp tuyệt trần đang nằm bên cạnh. Ánh sáng khiến chàng thức giấc, và thấy rằng người phụ nữ chàng yêu đã không thể tôn trọng mong muốn duy nhất của mình, Eros liền biến mất. Mong mỏi tình yêu quay lại đến tuyệt vọng, Psyche cam chịu vượt qua nhiều thử thách do Aphrodite, mẹ của Eros, đưa ra. Chẳng cần phải nói, mẹ chồng Psyche ghen tị với nhan sắc của nàng nên bà ta làm đủ mọi cách để có thể ngăn cản đôi vợ chồng quay lại với nhau. Khi vượt qua một trong những thử thách đó, Psyche đã mở một chiếc hộp khiến nàng chìm vào giấc ngủ sâu.”
Tôi lo lắng muốn biết câu chuyện sẽ kết thúc ra sao.
“Eros cũng yêu vợ mình và hối tiếc vì đã không khoan dung hơn với nàng. Chàng đã vào lâu đài và dùng đầu mũi tên của mình đánh thức nàng. ‘Ta suýt thì mất mạng chỉ vì sự tò mò của nàng,’ chàng bảo. ‘Nàng tìm kiếm sự an toàn bằng cách cố tìm hiểu và đã hủy hoại mối quan hệ của chúng ta.’ Nhưng trong tình yêu, không điều gì bị hủy hoại vĩnh viễn. Mang theo niềm tin đó, họ tìm đến Zeus, thần của các vị thần, và cầu xin cuộc đoàn tụ của họ sẽ không bao giờ bị phá vỡ. Thần Zeus nhiệt thành biện hộ cho mục đích của đôi tình nhân bằng những lý lẽ thuyết phục kèm theo những lời hăm dọa cho đến khi Aphrodite chấp thuận. Từ đó trở đi, Psyche (phần vô thức nhưng lô gích của chúng ta) và Eros (tình yêu) sống với nhau trọn đời.”
Tôi rót một ly rượu nữa. Tôi gối đầu lên vai anh.
“Những ai khống chấp nhận điều này, và luôn cố tìm lời giải thích cho những mối quan hệ kỳ diệu và bí ẩn của con người, sẽ bỏ lỡ mất phần đẹp đẽ nhất trong đời.”
Hôm nay, tôi cảm thấy mình như Psyche đứng trên đỉnh núi, lạnh lẽo và sợ hãi. Nhưng nếu tôi có thể vượt qua đêm nay, phó mặc cho bí ẩn và niềm tin trong cuộc sống, tôi sẽ thức dậy trong một cung điện. Tất cả những gì tôi cần là thời gian.
* * *
Ngày trọng đại rồi cũng đến, khi cả hai cặp vợ chồng cùng xuất hiện tại một bữa tiệc do một người dẫn chương trình nổi tiếng của truyền hình địa phương tổ chức. Chúng tôi đã trao đổi về chuyện này hôm qua trên giường khách sạn, trong khi Jacob hút thuốc như thường lệ trước khi mặc đồ ra về.
Tôi không thể từ chối lời mời bởi tôi đã gửi thư báo sẽ tới dự. Anh ta cũng vậy, và thay đổi ý định lúc này “sẽ rất tệ cho sự nghiệp của anh ta.”
Tôi cùng chồng đến trụ sở đài truyền hình, và chúng tôi được thông báo bữa tiệc đang diễn ra trên tầng thượng. Điện thoại của tôi đổ chuông trước khi chúng tôi vào thang máy nên tôi buộc phải rời khỏi hàng và đứng ra đại sảnh để nói chuyện với sếp, trong khi những người khác đang tới, mỉm cười với vợ chồng tôi rồi kín đáo gật đầu. Có vẻ như tôi biết hầu hết mọi người.
Sếp bảo bài báo về pháp sư người Cuba - bài thứ hai được đăng hôm qua, dù đã được viết cách đây hơn một tháng - được nhiều độc giả quan tâm. Tôi phải viết thêm một bài để hoàn thiện loạt bài đó. Tôi giải thích rằng người đàn ông đó không muốn nói chuyện với tôi nữa. Sếp bảo tôi tìm ai đó khác “trong ngành”, bởi không còn gì nhàm chán cho bằng những ý kiến truyền thống (các nhà tâm lý học, xã hội học, v.v...) Tôi không biết ai “trong ngành”, nhưng vì tôi cần ngắt máy, nên tôi hứa sẽ nghĩ về việc này.
Jacob và vợ đi ngang qua gật đầu chào chúng tôi. Sếp tôi đã toan ngắt máy, nhưng tôi quyết định tiếp tục trò chuyện. Chúa cấm chúng tôi đi cùng thang máy! “Nếu chúng ta cho một gã chăn gia súc và một mục sư Tin lành ngồi với nhau thì sao?” tôi gợi ý. “Chẳng phải sẽ thú vị khi ghi lại cuộc trò chuyện giữa họ về cách họ đối phó với stress và buồn chán sao?” Sếp bảo đó là một ý hay, nhưng tốt hơn là tìm được ai đó trong ngành. Được rồi, tôi sẽ cố. Cánh cửa đã đóng lại và thang máy đã chạy. Tôi có thể ngắt máy mà không phải lo lắng.
Tôi giải thích cho sếp rằng tôi không muốn là người cuối cùng đến bữa tiệc. Tôi đã trễ hai phút rồi. Chúng tôi sống ở Thụy Sĩ, nơi đồng hồ luôn luôn chạy chuẩn.
Đúng, suốt mấy tháng qua tôi cư xử rất kỳ lạ, nhưng có một điều không bao giờ thay đổi: tôi ghét đến các bữa tiệc. Tôi không thể hiểu tại sao người ta thích chúng cho nổi.
Đúng vậy, người ta thích tiệc tùng. Dù cho là đến dự sự kiện mang tính nghề nghiệp như buổi cocktail đêm nay - đúng vậy một buổi cocktail, không phải tiệc - người ta mặc đẹp, trang điểm, rồi nói với bạn bè, không quên kèm theo vẻ mặt thất vọng, rằng thật không may họ có việc bận vào thứ Ba bởi vì hôm đó kỷ niệm mười năm chương trình Tha thứ cho tôi của Darius Rochebin điển trai, thông minh và ăn ảnh. Mọi người, dù là “bất kỳ ai” cũng sẽ xuất hiện ở đó, và những người còn lại đành chấp nhận ngắm những bức ảnh sẽ chỉ được đăng trên tạp chí về người nổi tiếng phát hành cho toàn bộ cộng đồng nói tiếng Pháp ở Thụy Sĩ.
Đến các bữa tiệc như thế này tạo nên vị thế và được nhiều người biết tới. Thảng hoặc báo chúng tôi mới đưa tin sự kiện kiểu này, và ngày hôm sau chúng tôi liền nhận được những cuộc điện thoại từ trợ lý của các nhân vật quan trọng, hỏi xem những tấm hình có mặt họ có được đăng hay không, bảo rằng họ hết sức cảm tạ. Điều hay ho nhất sau khi được mời đi dự tiệc là thấy sự hiện diện của bạn được ghi nhận như nó xứng đáng. Và chẳng gì chứng minh tốt hơn điều này cho bằng việc hai ngày sau xuất hiện trên báo trong một bộ cánh được may chỉ dành cho chính dịp đó (dù điều này không bao giờ được xác nhận) và với cũng nụ cười đó ở khắp những bữa tiệc khác. May sao tôi không phải là biên tập viên chuyên mục xã hội; vì giữa lúc tôi đang trong tâm trạng như con quái vật của Victor Frankenstein, thì hẳn tôi đã bị sa thải rồi.
Cửa thang máy mở ra. Trong sảnh có vài ba phóng viên ảnh. Chúng tôi tiến vào phòng lớn có góc nhìn 360 độ toàn cảnh thành phố. Trông như đám mây bất tận quyết định hợp tác với Darius đã vén lớp áo choàng xám lên đôi chút; chúng tôi có thể thấy biến ánh sáng phía dưới.
Em không muốn ở lại lâu, tôi bảo chồng. Và tôi bắt đầu buộc phải chuyện trò để giảm bớt căng thẳng.
“Chúng ta sẽ về bất cứ lúc nào em muốn,” anh nói.
Ngay sau đó, chúng tôi bận rộn chào vô số người coi tôi như là bạn thân. Tôi cũng đáp lại, dù không biết tên của họ. Nếu cuộc trò chuyện vẫn tiếp diễn, tôi sẽ giở một trò không bao giờ thất bại: tôi giới thiệu chồng tôi và không nói thêm gì nữa. Anh sẽ tự giới thiệu bản thân rồi hỏi tên người kia. Tôi lắng nghe câu trả lời rồi nhắc lại, thật to và rõ ràng: “Anh yêu, anh không nhớ ông/bà đây sao?” Thật xấu xa!
Tôi hoàn tất việc chào hỏi, rồi chúng tôi vào một góc và tôi đứng đó mà than vãn: Sao thiên hạ cứ quen thói hỏi chúng ta có nhớ họ không thế nhỉ? Chẳng có điều gì gây khó xử hơn thế. Tất thảy họ đều tự cho mình là quan trọng đến mức trụ lại trong trí nhớ của em, dù ngày nào em cũng gặp gỡ bao nhiêu người mới vì lý do công việc.
“Rộng lượng hơn đi em. Mọi người đang vui mà.”
Chồng tôi không biết anh ấy đang nói gì đâu. Mọi người chỉ đang vờ như vui vẻ thôi. Điều họ thực sự tìm kiếm ấy là được người khác trông thấy, được chú ý và đôi khi là cơ hội được gặp ai đó rồi chốt một vụ làm ăn. Định mệnh của những người tự cho mình là đẹp và quyền lực khi họ bước lên thảm đỏ lại nằm trong tay của những gã nghèo kiết xác ở phòng biên tập. Người dàn trang nhận những bức ảnh qua e-mail và quyết định ai sẽ xuất hiện và ai sẽ không trên thế giới nhỏ bé của chúng tôi với những truyền thống và quy ước. Anh ta chính là người đưa ảnh của những người có liên quan lên báo, chừa lại một không gian nhỏ cho bức ảnh trứ danh chụp toàn cảnh bữa tiệc (hay buổi cocktail, ăn tối, hay tiệc mừng). Ở đó, với một chút may mắn, người này người kia có thể được nhận ra trong đám đông tự xem mình là quan trọng.
Darius lên sân khấu và bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm ta với những nhân vật quan trọng mà anh ta đã phỏng vấn trong suốt mười năm lăm chương trình. Tôi có thể thư giãn một chút và đến bên cửa sổ cùng chồng. Cái máy quét trong người tôi đã dò ra Jacob và Kønig phu nhân. Tôi muốn đứng xa ra, và tôi đồ rằng Jacob cũng vậy.
“Có chuyện gì không ổn sao?”
Tôi hiểu anh. Hôm nay anh là bác sĩ Jekyll hay ông Hyde? Victor Frankenstein hay con quái vật của anh ta?
Không, anh yêu. Em chỉ đang tránh người đàn ông đã lên giường cùng em hôm qua thôi. Em ngờ rằng mọi người trong phòng này đều biết điều đó, và từ “nhân tình” đã được thích lên trán bọn em.
Tôi mỉm cười nói điều anh đã nghe đến phát chán, rằng tôi quá già rồi, không hợp với tiệc tùng nữa. Tôi thích được ở nhà vào lúc này, và chăm sóc lũ con thay vì phải bỏ chúng lại với người trông trẻ. Tôi không muốn uống, tôi đã nhớ nhầm tất cả những người chào tôi và trò chuyện với tôi. Tôi phải giả vờ thích thú điều họ đang nói và trả lời câu hỏi rồi mới có thể đưa món khai vị vào miệng và nuốt mà không tỏ ra thô lỗ.
Một màn hình hạ xuống và đoạn video được bật lên nói về những vị khách quan trọng nhất đã tham gia chương trình. Tôi đã làm việc với vài người trong số đó nhưng hầu hết họ là người nước ngoài đến Genève. Như tất cả chúng tôi đều biết, trong thành phố này lúc nào chẳng có người quan trọng, và xuất hiện trên chương trình truyền hình là điều bắt buộc.
“Vậy ta về thôi. Anh ta đã nhìn thấy em đến đây. Chúng ta đã làm xong bổn phận xã giao. Ta hãy thuê một bộ phim rồi tận hưởng phần còn lại của đêm nay bên nhau.”
“Không. Chúng ta sẽ nán lại thêm chút nữa, và Jacob và Kønig phu nhân đang ở đây. Có lẽ sẽ gây nghi ngờ nếu rời bữa tiệc khi chưa hết phần lễ. Darius bắt đầu gọi một số khách mời của chương trình lên sân khấu, và họ phát biểu ngắn gọn về trải nghiệm của mình. Tôi thấy chán ngắt. Những người đàn ông đi dự tiệc một mình bắt đầu nhìn quanh, kín đáo tìm kiếm những phụ nữ đơn độc. Cánh phụ nữ, về phần họ, lại nhìn nhau: xem họ mặc thế nào, họ đang dùng đồ trang điểm loại gì, họ ở đây với chồng hay với tình nhân?
Tôi nhìn ra thành phố, mải miết suy nghĩ, chỉ đợi thời gian trôi mau để chúng tôi có thể lặng lẽ ra về mà không làm dấy lên nỗi nghi ngờ.
“Là em đấy!”
“Em ư?”
“Em yêu, anh ta đang gọi tên em đấy!”
Darius vừa mời tôi lên sân khấu mà tôi lại chẳng nghe thấy. Đúng, tôi xuất hiện trên chương trình của anh ta cùng cựu tổng thống Thụy Sĩ để nói về nhân quyền. Nhưng tôi không quan trọng đến thế. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra chuyện này; chuyện này không được sắp đặt trước, và tôi không chuẩn bị gì để nói cả.
Nhưng Darius ra hiệu cho tôi. Mọi người đổ dồn ánh mắt về phía tôi, mỉm cười. Tôi bước đến chỗ anh ta. Tôi lấy lại bình tĩnh và âm thầm hạnh phúc, vì Marianne không được gọi tên, và cô ta sẽ không được gọi. Jacob cũng không được gọi, vì ý tưởng về bữa tối nay là để vui thú, không dành cho những phát biểu chính trị.
Tôi leo lên sân khấu ứng tác - thực ra là một cầu thang bộ nối hai khu vực của hội trường trên tầng thượng tòa tháp truyền hình - tôi hôn Darius, và bắt đầu kể một câu chuyện vô vị khi tôi xuất hiện trong chương trình. Cánh nam tiếp tục cuộc săn lùng của mình, còn cánh phụ nữ tiếp tục nhìn nhau. Những người gần sân khấu nhất thì tỏ ra thích thú với điều tôi đang nói. Tôi vẫn chăm chú nhìn chồng; phàm ai nói chuyện trước chỗ đông người đều phải chọn một người nào đó làm chỗ dựa.
Giữa bài nói vo, tôi thấy một điều tuyệt đối không nên xảy ra: Jacob và Marianne Kønig đang đứng cạnh chồng tôi. Toàn bộ chuyện này hẳn đã xảy ra trong vòng chưa đầy hai phút, quãng thời gian tôi lên sân khấu và bắt đầu bài phát biểu đang khiến cho những người phục vụ đi quanh phòng và hầu hết khách khứa không nhìn lên sân khấu mà đi tìm thứ gì đó hấp dẫn hơn.
Tôi vội vã nói lời cảm ơn. Khách khứa vỗ tay. Darius hôn tôi. Tôi cố đến chỗ chồng mình và vợ chồng Kønig, nhưng lại bị mai phục bởi những người ca ngợi tôi vì những điều tôi không nói, và bảo rằng tôi thật tuyệt. Họ rất thích những bài báo về pháp thuật, gợi ý các chủ đề, trao danh thiếp cho tôi và khéo léo đề nghị được làm “nguồn tin” về một vấn đề có thể “rất thú vị”. Tất cả những chuyện này mất chừng mười phút. Cuối cùng, khi tôi gần như đã hoàn thành nhiệm vụ và đến được đích, nơi tôi đứng trước khi những kẻ xâm lược kia tìm đến, thì cả ba người đó đều đang mỉm cười. Họ chúc mừng tôi, bảo rằng tôi là một diễn giả tuyệt vời, và tôi nhận được bản án:
“Anh đã giải thích với họ là em mệt, và bọn trẻ đang ở cùng người trông trẻ,” chồng tôi nói, “nhưng Kønig phu nhân đây một mực muốn mời vợ chồng mình ăn tối.”
“Quả đúng vậy. Tôi cho là ở đây chưa ai ăn tối cả đúng không?” Marianne nói.
Jacob phác một nụ cười giả tạo và tỏ vẻ đồng ý như cừu khuất phục trước đồ tể.
Trong một phần tích tắc giây, hai trăm ngàn lý do xuất hiện trong tâm trí tôi. Nhưng tại sao chứ? Tôi còn kha khá cocain sẵn sàng để sử dụng bất kỳ lúc nào, và còn “cơ hội” nào hơn để biết tôi có nên tiếp tục thực hiện kế hoạch của mình hay không.
Hơn nữa, tôi còn tò mò một cách bệnh hoạn xem bữa ăn tối sẽ diễn ra thế nào.
Chúng tôi rất hân hạnh, bà Kønig.