Tôi đến sớm và đi thẳng vào tòa nhà câu lạc bộ, rồi đi ra vườn. Tôi đến chỗ những tán cây phía cuối vườn, quyết tâm hưởng thụ trọn vẹn buổi chiều đáng yêu này.
Sầu muộn. Đó luôn là từ đầu tiên nảy ra trong đầu tôi khi mùa thu tới, bởi tôi biết mùa hè đã qua, ngày sẽ ngắn hơn và chúng tôi không sống trong thế giới quyến rũ của những con nhím ở kỷ băng hà nữa: không ai chịu nổi vết thương dù nhỏ nhất, do kẻ khác gây ra.
Chúng tôi nghe nói ở các nước khác, người ta bắt đầu ghi nhận có người chết vì thời tiết khắc nghiệt, tắc nghẽn trên đường cao tốc đầy tuyết, những sân bay đóng cửa. Lò sưởi đã đốt và chăn được mang ra khỏi tủ. Nhưng điều đó chỉ xảy ra ở thế giới mà con người chúng ta tạo nên.
Trong tự nhiên, cảnh vật đẹp lộng lẫy: những tán cây, khi trước giống nhau đến thế, giờ đã mang cá tính riêng và tô điểm cho khu rừng bằng ngàn vạn sắc màu khác nhau. Một phần của vòng đời đang đến hồi kết. Mọi thứ sẽ ngơi nghỉ một thời gian và quay trở lại với cuộc sống vào mùa xuân, dưới dạng những bông hoa.
Chẳng có thời điểm nào tốt bằng mùa thu để bắt đầu quên đi những điều khiến ta phiền muộn, để chúng rơi rụng như những chiếc lá khô. Chẳng thời điểm nào tốt hơn lúc này để nhảy múa, tận dụng từng chút ánh nắng và sưởi ấm cơ thể cùng tâm hồn bằng những tia sáng trước khi nó chìm vào giấc ngủ và biến thành một cái bóng mờ nhạt trên bầu trời.
* * *
Tôi thấy anh ta từ đằng xa. Anh ta nhìn quanh tìm tôi trong nhà hàng và ngoài hiên, cuối cùng đến hỏi bồi bàn nơi quầy bar, người này chỉ về hướng tôi. Giờ thì Jacob đã nhìn thấy tôi liền vẫy tay chào. Anh ta bắt đầu bước chậm rãi về phía tòa nhà câu lạc bộ. Tôi muốn anh ta chiêm ngưỡng bộ váy của tôi, đôi giày của tôi, chiếc áo khoác nhẹ hợp thời trang của tôi, và dáng đi của tôi. Tim tôi có thể đập rộn, nhưng tôi vẫn phải bình thản, không được để mất thể diện.
Tôi đang nghĩ nên nói gì. Những nguyên do bí ẩn nào đã khiến chúng tôi gặp lại nhau? Tại sao chúng tôi phải kiểm soát bản thân nếu đã biết rằng giữa hai chúng tôi có điều gì đó? Chúng tôi có sợ vấp ngã như rất nhiều lần trước đây không?
Trong khi bước đi, tôi cảm thấy như đang bước vào đường hầm mà tôi chưa bao giờ đi qua: đường hầm dẫn từ hoài nghi đến đam mê, từ mỉa mai đến đầu hàng.
Anh ta nghĩ gì khi nhìn tôi? Tôi có cần giải thích rằng chúng tôi không nên sợ và rằng “nếu cái Ác tồn tại nó đang tồn tại trong nỗi sợ của chúng tôi”?
Sầu muộn. Từ đó đang biến tôi thành một người lãng mạn và giúp tôi trẻ lại theo từng bước chân.
Tôi cứ nghĩ nên nói gì khi đến bên cạnh anh ta. Không, tốt hơn là không nên nghĩ và chỉ để lời nói được phát ra tự nhiên. Chúng ở trong tôi. Có thể tôi không nhận ra hay chấp nhận chúng, nhưng chúng mạnh mẽ hơn cái nhu cầu được kiểm soát mọi chuyện của tôi.
Tại sao tôi không nghe chính những lời của mình trước khi nói ra với anh ta?
Lẽ nào là nỗi sợ? Nhưng còn điều gì có thể tệ cho bằng sống một cuộc đời buồn bã, u ám, ngày nào cũng như ngày nào? Còn gì có thể tệ cho bằng nỗi sợ mọi thứ sẽ biến mất, kể cả linh hồn, và bỏ tôi lại cô đơn trên đời này, khi tôi từng có tất cả mọi thứ mình cần để hạnh phúc?
Tôi thấy những chiếc lá rơi, hình dạng của chúng hiện ra dưới ánh mặt trời.
Điều y hệt cũng đang xảy ra trong lòng tôi: với mỗi bước chân là một rào chắn nữa đổ xuống, một hàng phòng ngự nữa bị phá hủy, một bức tường nữa sụp đổ, và tim tôi, bị giấu sau những tầng lớp ấy, đang bắt đầu thấy và tận hưởng ánh nắng thu.
Hôm nay chúng tôi sẽ nói chuyện gì? Về ca khúc tôi nghe trên xe trong lúc đến đây? Về cơn gió xào xạc qua hàng cây? Về thân phận người với mọi mâu thuẫn nội tại, cả mảng tối lẫn sự cứu rỗi?
Chúng tôi sẽ nói về nỗi sầu muộn, và anh ta sẽ nói rằng đó là một từ buồn. Tôi sẽ nói không phải, nó chỉ hàm ý luyến tiếc, như tất cả chúng ta đều thế khi vờ như không nhìn thấy con đường cuộc đời mặc nhiên dẫn ta đến; khi chúng ta chối bỏ định mệnh, bởi định mệnh dẫn chúng ta đến hạnh phúc, còn chúng ta lại chỉ muốn an toàn.
Thêm vài bước nữa. Thêm vài rào chắn nữa đổ xuống. Thêm ánh sáng tràn ngập tim tôi. Tôi không còn mong kiểm soát bất cứ điều gì nữa, chỉ cần trải nghiệm buổi chiều nay, vốn sẽ không bao giờ lặp lại. Tôi không cần phải thuyết phục anh ta điều gì cả. Nếu lúc này, anh ta không hiểu thì anh ta sẽ hiểu sau. Đó đơn giản chỉ là vấn đề thời gian.
Bất chấp cái lạnh, chúng tôi vẫn ngồi ngoài hiên, để anh ta có thể hút thuốc. Ban đầu, anh ta sẽ dè chừng, muốn biết về tấm ảnh bị chụp trong công viên.
Chúng tôi sẽ nói về khả năng tồn tại sự sống ở những hành tinh khác, về sự hiện diện của Chúa, điều thường bị lãng quên trong cuộc sống. Chúng tôi sẽ nói về đức tin, sự diệu kỳ, những cuộc gặp gỡ được sắp đặt trước khi chúng tôi sinh ra.
Chúng tôi sẽ bàn về cuộc đấu tranh bất tận giữa khoa học và tôn giáo. Chúng tôi sẽ nói về tình yêu, tại sao nó lại vừa là nỗi khát khao vừa là mối đe dọa. Anh ta sẽ khăng khăng cho rằng định nghĩa của tôi về nỗi sầu muộn là không đúng, nhưng tôi chỉ im lặng nhấp trà, ngắm mặt trời lặn sau rặng núi Jura và cảm thấy hạnh phúc vì mình vẫn sống.
À đúng rồi, chúng tôi cũng sẽ nói về những bông hoa, dù những bông hoa chúng tôi đang nhìn thấy chỉ nằm phía trong quầy bar, những bông hoa được sản xuất hàng loạt tại các nhà kính khổng lồ. Nhưng nói về hoa mùa thu thật là vui. Điều đó sẽ cho chúng tôi hy vọng vào mùa xuân.
Chỉ còn mấy bước chân thôi. Những bức tường đã đổ xuống hết rồi. Tôi vừa mới được tái sinh.
* * *
Tôi đến bên cạnh anh ta, và chúng tôi chào nhau với ba nụ hôn như thường lệ - má phải, má trái, má phải, như truyền thống của người Thụy Sĩ (và mỗi khi tôi ra nước ngoài, người ta luôn ngạc nhiên bởi nụ hôn thứ ba đó). Tôi cảm thấy anh ta lo lắng bèn gợi ý ngồi luôn ngoài hiên; chúng tôi sẽ có không gian riêng tư hơn và anh ta có thể hút thuốc. Người phục vụ biết anh ta. Jacob gọi một ly Campari và tonic, tôi gọi trà như dự định.
Để giúp anh ta thoải mái, tôi bắt đầu nói về thiên nhiên, về cây cối, rằng thật đáng yêu khi nhận ra mọi thứ liên tục thay đổi. Tại sao chúng ta luôn cố lặp lại một mô thức? Không thể nào. Điều đó là phi tự nhiên. Chẳng phải tốt hơn nên coi các thách thức là một nguồn tri thức chứ không phải là kẻ thù hay sao?
Dường như anh ta vẫn lo lắng. Anh ta phản ứng một cách máy móc, như thể muốn nhanh chóng kết thúc buổi trò chuyện, nhưng tôi sẽ không để anh ta làm vậy. Hôm nay là một ngày đặc biệt trong đời tôi và nó phải được trân trọng. Tôi tiếp tục nói về những ý nghĩ đã nảy ra trong khi bước đi, những lời mà tôi không kiểm soát được. Tôi kinh ngạc thấy chúng tuôn ra với độ chính xác nhường ấy.
Tôi nói về những con vật nuôi và hỏi anh có hiểu tại sao người ta lại thích chúng vậy không. Jacob đưa ra câu trả lời quen thuộc, rồi tôi chuyển sang chủ đề tiếp theo: Sao việc chấp nhận rằng người này khác người kia lại khó đến vậy? Tại sao có rất nhiều luật lệ cố tạo ra những nhóm người mới cùng sở thích thay vì chấp nhận rằng khác biệt văn hóa có thể làm cuộc sống phong phú hơn, và thú vị hơn? Nhưng anh ta bảo rằng anh ta mệt mỏi vì nói chuyện chính trị lắm rồi.
Thế nên tôi kể cho anh ta về bể cá tôi thấy ở trường khi đưa lũ trẻ nhà tôi đi học sáng nay. Trong bể có một con cá bơi loanh quanh gần vách kính, và tôi tự nhủ: nó không thể nhớ nó bắt đầu bơi từ chỗ nào, và nó sẽ không bao giờ đến đích. Chính vì vậy mà chúng ta thích lũ cá trong bể: Chúng nhắc ta nhớ đến bản thân, được nuôi nấng tốt nhưng không thể vượt qua được vách kính.
Anh ta châm điếu thuốc khác. Tôi thấy trong gạt tàn đã có hai điếu bị dụi tắt. Bấy giờ tôi nhận ra rằng mình đã nói rất lâu trong cơn nhập định do ánh sáng và sự yên bình mang lại mà không cho anh ta lấy một cơ hội bày tỏ cảm xúc. Anh ta sẽ thích nói chuyện gì nhỉ?
“Về tấm ảnh em đã đề cập,” anh ta nói hết sức thận trọng, vì nhận ra tôi đang trong tâm trạng hết sức nhạy cảm.
À bức ảnh. Dĩ nhiên nó tồn tại! Nó đã khắc sâu vào tim em và em sẽ chỉ xóa bỏ được khi Chúa lựa chọn như vậy. Nhưng anh hãy lại xem tận mắt đi, bởi tất cả những hàng rào bảo vệ trái tim em đã sụp đổ khi em bước về phía anh.
Không, lúc này đừng bảo rằng anh không biết cách, bởi anh đã đi vào nhiều lần trước đó rồi, trong quá khứ và trong hiện tại. Tuy thế, em không chịu chấp nhận điều ấy và em hiểu rằng anh cũng đang ngập ngừng. Chúng ta giống nhau cả thôi, anh và em. Nên anh đừng lo, em sẽ dẫn đường cho anh đến đó.
Sau khi tôi đã nói những điều này, anh ta ý tứ nắm tay tôi, mỉm cười và thọc sâu mũi dao:
“Chúng ta đâu còn trẻ con nữa. Em là một người tuyệt vời, và theo những gì anh được biết, em còn có một gia đình đáng yêu. Em đã tính đến việc tư vấn hôn nhân chưa?”
Trong giây lát, tôi thấy mất phương hướng. Nhưng tôi vẫn đứng dậy rồi bước thẳng ra xe. Không nước mắt. Không lời từ biệt. Không nhìn lại.
* * *
Tôi không cảm thấy gì. Tôi không suy nghĩ gì. Tôi đến thẳng chỗ đậu xe và lái đi, không biết chính xác mình nên đi đâu. Không ai đợi tôi ở cuối hành trình. Nỗi sầu muộn đã biến thành thờ ơ. Tôi phải tự lê thân mình lên phía trước.
Năm phút sau, tôi đang đứng ngoài một tòa lâu đài. Tôi biết chuyện gì từng xảy ra ở đây: có người đã thổi sự sống vào một con quái vật vẫn nổi tiếng cho đến ngày nay, dù ít ai biết người phụ nữ đã tạo ra con quái vật đó.
Cánh cổng dẫn vào vườn đã đóng, nhưng thế thì sao? Tôi có thể trèo qua hàng rào cây. Tôi có thể ngồi trên chiếc ghế lạnh băng và tưởng tượng chuyện đã xảy ra vào năm 1817. Tôi cần phân tán tư tưởng, để quên đi mọi chuyện trước kia từng gợi cảm hứng cho mình và tập trung vào một việc khác.
Tôi tưởng tượng ra một ngày vào năm đó, khi chiếm đóng lâu đài này, nhà thơ người Anh Lord Byron, quyết định sống lưu vong tại đây. Ông bị ghét bỏ trên chính quê hương mình, và cả ở Genève, nơi ông bị cáo buộc tổ chức những cuộc truy hoan và say xỉn nơi công cộng. Ông hẳn chết vì chán chường. Hay sầu muộn. Hay cuồng nộ.
Chẳng quan trọng. Điều quan trọng là vào một ngày năm 1817, hai vị khách từ nước Anh đến thăm; một nhà thơ khác, Percy Bysshe Shelley, và người “vợ” mười chín tuổi, tên là Mary. (Một vị khách thứ tư đi cùng họ, nhưng lúc này tôi không thể nhớ ra tên ông ta.)
Chắc chắn họ đã trò chuyện về văn chương. Chắc chắn họ đã than vãn về thời tiết, về cơn mưa, cái lạnh, về cư dân Genève, những đồng hương người Anh của họ, sự thiếu thốn trà và rượu whisky. Có lẽ họ đã đọc thơ cho nhau và ngợi ca tác phẩm của nhau.
Họ nghĩ rằng họ đặc biệt và quan trọng đến mức họ quyết định đánh cược: trong vòng một năm, họ sẽ quay về chính nơi này, mỗi người mang theo một cuốn sách mình viết về nhân tình thế thái.
Rõ ràng là khi niềm phấn chấn ban đầu đã qua, họ quên khuấy vụ đánh cược.
Mary có mặt ở cuộc trò chuyện đó. Cô không được mời tham dự bởi trước nhất cô là phụ nữ, và tệ hơn nữa, bởi cô còn quá trẻ. Ấy thế mà cuộc trò chuyện kia hẳn đã ghi dấu sâu sắc trong cô. Tại sao cô không viết gì đó chỉ để giết thời gian nhỉ? Cô đã có một chủ đề, cô chỉ cần phát triển nó và giữ cuốn sách lại cho riêng mình khi đã viết xong.
Tuy nhiên, khi họ trở về Anh, Shelley đọc bản thảo và khuyến khích cô xuất bản. Hơn nữa, vì ông đã nổi tiếng sẵn rồi, ông quyết định giới thiệu cô với một nhà xuất bản và viết lời nói đầu cho cuốn sách. Mary không muốn, nhưng cuối cùng cũng đồng ý, với một điều kiện: tên cô không xuất hiện trên bìa.
Lần xuất bản thứ nhất, năm trăm bản đã bán hết veo. Mary nghĩ hẳn đó là nhờ lời giới thiệu của Shelley, nhưng khi in lần thứ hai, cô đồng ý để tên lên bìa sách. Kể từ đó, cuốn sách chưa bao giờ biến mất khỏi các hiệu sách trên toàn thế giới. Nó đã gợi cảm hứng cho các nhà văn, đạo diễn sân khấu, đạo diễn phim, những bữa tiệc Halloween và các vũ hội hóa trang. Gần đây nó còn được một nhà phê bình nổi tiếng đánh giá là “tác phẩm sáng tạo nhất của Chủ nghĩa lãng mạn và có lẽ là trong hai trăm năm qua.”
Không ai giải thích được tại sao. Hầu hết mọi người đều chưa từng đọc, nhưng hầu như ai cũng từng nghe nhắc đến nó.
Sách kể câu chuyện về Victor, một nhà khoa học Thụy Sĩ sinh ra tại Genève và được cha mẹ dạy dỗ để hiểu thế giới qua khoa học. Ngày còn bé, anh từng thấy tia sét đánh gãy một thân cây và tự hỏi: phải chăng đó là nguồn sống? Liệu loài người có thể tạo ra số phận không?
Và như một phiên bản hiện đại của truyện Prometheus, nhân vật thần thoại ăn trộm lửa của các vị thần để giúp loài người (nữ tác giả dùng Prometheus thời hiện đại làm tiêu đề phụ, nhưng chẳng mấy ai nhớ), anh bắt đầu làm việc để cố mô phỏng công trình vĩ đại nhất của Chúa trời. Khỏi phải nói, bất chấp mọi sự cẩn trọng anh tính đến, thử nghiệm này đã vượt quá tầm kiểm soát của anh.
Nhan đề cuốn sách là: Frankenstein.
Kính đức Chúa trời, con rất ít khi nghĩ đến Người, nhưng con vô cùng tin tưởng Người trong những thời khắc ưu phiền, phải chăng con trôi giạt tới đây hoàn toàn do tình cờ? Hay chính bàn tay vô hình kiên định của Người đã dẫn con đến lâu đài này và nhắc con nhớ tới câu chuyện ấy?
Mary gặp Shelley năm cô mới mười lăm tuổi, mặc dù khi ấy ông đã kết hôn, nhưng Mary không để mình bị tập tục xã hội kìm hãm, cô đã theo đuổi người đàn ông cô xem là tình yêu trong đời mình.
Mười lăm tuổi! Cô đã biết chính xác mình muốn gì. Cô biết làm cách nào đạt được điều mình muốn. Còn tôi đã ngoài ba mươi, và từng khắc từng giây mong mỏi một điều, nhưng không thể thỏa nguyện, ngay cả khi tôi đang dạo bước trong một chiều thu đầy sầu muộn và lãng mạn gợi cho tôi những từ ngữ xác đáng đúng thời điểm.
Tôi không phải là Mary Shelley. Tôi là Victor Frankenstein và con quái vật của anh ta.
Tôi những muốn thổi sự sống vào cái gì đó vô tri và kết quả sẽ giống y như trong cuốn sách: gieo rắc nỗi khiếp sợ và sự hủy diệt.
Không còn nước mắt nữa. Không còn thất vọng nữa. Tôi cảm thấy như thể cõi lòng tôi đã từ chối mọi xúc cảm và cơ thể tôi giờ đây chỉ còn là sự phản chiếu của cõi lòng đó, bởi tôi không thể cử động. Trời đã sang thu, và buổi chiều chẳng bao lâu nữa sẽ chấm dứt, hoàng hôn đẹp đẽ chẳng mấy chốc sẽ được thay thế bằng bầu trời chạng vạng. Tôi vẫn ngồi đây khi màn đêm buông xuống, nhìn vào lâu đài và thấy những người ở trong đó đang khiến cả giai cấp tư sản Genève thời kỳ đầu thế kỷ XIX công phẫn.
Ánh chớp làm con quái vật sống dậy đang ở phương nào?
Ánh chớp đó không xuất hiện. Giao thông ở vùng này vốn đã không mấy tấp nập, lại càng thưa thớt hơn. Các con tôi đang đợi bữa tối, và chồng tôi - người biết tôi đang ở trong tình trạng ra sao - sẽ sớm lo lắng. Nhưng tôi như thể đang bị xiềng xích níu chân nên vẫn chưa cử động được.
Tôi là một kẻ thua cuộc.
* * *
Người ta có phải xin tha thứ vì dung dưỡng một Tình yêu phi hiện thực hay không?
Không, nhất định là không.
Bởi vì tình yêu của Chúa dành cho chúng ta cũng phi hiện thực. Tình yêu đó không bao giờ được đền đáp, thế nhưng Người vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta. Người yêu chúng ta nhiều đến nỗi đã phái con trai duy nhất của Người đến giải thích cho chúng ta rằng Tình yêu là sức mạnh làm dịch chuyển mặt trời cùng những vì sao. Trong một bức thư gửi các tín hữu Corintho (mà chúng ta phải học thuộc lòng khi còn ngồi trên ghế nhà trường), tông đồ Paul nói:
“Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có tình thương mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng.”
Chúng ta hết thảy đều biết tại sao. Chúng ta thường nghe rằng cải biến thế giới dường như là những ý tưởng tuyệt vời, nhưng đó là những lời được nói ra không cảm xúc, thiếu vắng Tình yêu. Dù có thông minh và hợp logic bao nhiêu, chúng cũng không làm ta xúc động.
Tông đồ Paul so sánh Tình yêu với Lời tiên tri, với Những điều bí ẩn, với Đức tin và Đức thiện.
Tại sao Tình yêu lại quan trọng hơn Đức tin?
Bởi Đức tin chỉ là con đường đưa ta đến Tình yêu Vĩ đại nhất.
Tại sao Tình yêu quan trọng hơn Đức thiện?
Bởi Đức thiện chỉ là một trong những biểu hiện của Tình yêu. Và cái toàn thể bao giờ cũng quan trọng hơn cái bộ phận. Vả lại, Đức thiện cũng chỉ là một trong nhiều con đường mà Tình yêu dùng để mang con người đến gần đồng loại của mình hơn.
Và chúng ta ai nấy đều biết rằng nơi đây tồn tại rất nhiều trường hợp có Thiện tâm mà không có Tình yêu. Tuần nào cũng có một cuộc “vũ hội từ thiện” được tổ chức. Người ta chi một khoản tiền lớn để đặt bàn, tham gia và được tiêu khiển, với trang sức và trang phục đắt tiền. Chúng ta ra về mà cứ nghĩ rằng thế giới tốt đẹp hơn bởi số tiền thu được trong buổi tối hôm đó sẽ dành cho những người vô gia cư ở Somali, những người tị nạn ở Yemen, những người chịu nạn đói ở Ethiopia. Chúng ta không còn cảm thấy tội lỗi trước cảnh khốn cùng tàn khốc, nhưng chúng ta không bao giờ tự hỏi số tiền ấy sẽ đi đâu.
Những người không có “quan hệ rộng” để đi dự những vũ hội từ thiện hay những người không đủ tiền trang trải cho sự phung phí quá độ ấy thì sẽ qua chỗ một người ăn xin và cho ông ta một đồng xu. Tốt thôi. Còn gì dễ dàng hơn việc ném một đồng xu cho người ăn mày trên phố? Điều đó thường dễ dàng hơn so với việc không làm như vậy.
Một cảm giác nhẹ nhõm làm sao, và chỉ một đồng xu! Nó rẻ rúng và giải quyết được vấn đề của người ăn xin.
Tuy nhiên, nếu thực sự yêu mến ông ta, chúng ta sẽ làm nhiều hơn cho ông ta.
Hay chúng ta chẳng làm gì hết. Chúng ta sẽ không cho ông ta đồng xu ấy và – ai biết được? - cảm giác tội lỗi trước cảnh khốn cùng có thể đánh thức Tình yêu thực sự trong ta.
Tông đồ Paul lại tiếp tục so sánh Tình yêu với Đức hy sinh và Tử vì đạo.
Hôm nay, tôi hiểu lời của ngài hơn rồi. Dù tôi là người phụ nữ thành đạt nhất thế giới, dù tôi có được ngưỡng mộ và yêu mến hơn Marianne König, thì điều đó cũng chẳng giúp bất cứ chuyện gì tiến triển nếu trong tim tôi không có tình yêu. Không gì hết.
Mỗi khi đi phỏng vấn các nghệ sĩ hay chính trị gia, người làm công tác xã hội hay bác sĩ, sinh viên hay công chức, tôi luôn hỏi: “Mục tiêu công việc của bạn là gì?”
Người thì bảo: tạo lập một gia đình. Người lại nói: tiến thân trong sự nghiệp. Nhưng khi tôi đào sâu thêm rồi hỏi lại câu đó, câu trả lời gần như tất yếu sẽ là: để làm thế giới tốt đẹp hơn.
Tôi muốn đến cầu Mont Blanc ở Genève, mang theo một bản tuyên ngôn được in bằng chữ mạ vàng và trao cho mỗi người lái xe ngang qua. Trên đó sẽ viết:
Tôi năn nỉ tất cả những ai mong muốn một ngày nào đó sẽ làm việc vì lợi ích của nhân loại: đừng bao giờ quên rằng, ngay cả khi chấp nhận để thân mình bị thiêu đốt nhân danh Chúa, bạn sẽ không giúp bất cứ chuyện gì tiến triển cả, nếu không có Tình yêu. Không gì hết!
Những điều chúng ta có thể trao đi, chẳng có gì quan trọng bằng Tình yêu được phản chiếu trong cuộc sống của chính chúng ta. Đó là ngôn ngữ phổ quát giúp chúng ta nói tiếng Trung Quốc hay các phương ngữ của Ấn Độ. Khi còn trẻ, tôi đi du lịch rất nhiều - đó là một phần trong lễ trưởng thành của sinh viên. Tôi đã đến cả những nước giàu lẫn nước nghèo. Thường tôi không nói tiếng bản địa nhưng ở khắp nơi Tình yêu được biểu đạt một cách thầm lặng đã giúp người ta hiểu được tôi.
Thông điệp của Tình yêu thể hiện ở cách tôi sống chứ không phải trong lời nói hay hành động của tôi.
Trong thư gửi các tín hữu Corintho, tông đồ Paul bảo chúng ta, trong ba đoạn ngắn, rằng Tình yêu được cấu thành từ nhiều yếu tố, giống như ánh sáng vậy. Chúng ta được học ở trường rằng nếu cho tia sáng chiếu qua lăng kính, thì tia sáng đó sẽ chia thành bảy sắc cầu vồng.
Tông đồ Paul cho chúng ta thấy cầu vồng của Tình yêu cũng như lăng kính cho chúng ta thấy cầu vồng của ánh sáng.
Vậy những yếu tố đó là gì? Đó là các đức hạnh chúng ta nghe nhắc tới hằng ngày và chúng ta có thể thực hành mọi lúc.
Kiên nhẫn: Yêu là kiên nhẫn.
Nhân từ: Yêu là khoan hòa.
Cao thượng: Yêu là không hao mòn theo những cơn ghen tuông.
Khiêm tốn: Yêu là không phô trương, không tự mãn.
Nhã nhặn: Yêu là không cư xử lỗ mãng.
Tận tâm: Yêu là không vụ lợi.
Khoan dung: Yêu là không bực bõ.
Ngây thơ: Yêu là không nhằm mục đích xấu.
Chân thành: Yêu là không hoan hỉ trước cảnh bất công, mà hoan hỉ trước sự thật.
Tất cả những thiên tư này tác động đến chúng ta, liên quan đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta, đến hôm nay và ngày mai, đến Vĩnh hằng.
Vấn đề quan trọng là người ta có thói quen liên hệ những dấu hiệu này với Tình yêu của Chúa, nhưng Tình yêu của Chúa biểu hiện như thế nào? Thông qua tình yêu của con người.
Để tìm được bình an trên Thiên đường, chúng ta phải thấy tình yêu nơi Hạ giới. Không có nó, chúng ta vô giá trị.
Tôi yêu và không ai có thể tước đi điều đó ở tôi. Tôi yêu chồng, người luôn ủng hộ mình. Tôi nghĩ tôi cũng yêu một người khác, người tôi đã hẹn hò thời còn trẻ. Và trong khi tôi đi về phía anh ta, vào một chiều thu quyến rũ, tôi buông bỏ hết mọi hàng rào phòng ngự và không thể dựng chúng trở lại. Tôi mong manh, nhưng tôi không hối tiếc điều đó.
Sáng nay, khi đang uống cà phê, tôi nhìn ánh sáng dịu dàng ngoài trời và nhớ lại chuyến đi dạo ấy lần nữa, tự hỏi lòng lần cuối: phải chăng tôi đang cố tạo ra một rắc rối thực tế để tránh xa khỏi các rắc rối tưởng tượng? Tôi thực sự đang yêu hay chỉ đơn giản là biến đổi những cảm giác khó chịu trong mấy tháng qua thành một cơn hoang tưởng?
Không. Chúa sẽ không bao giờ bất công đến nỗi cho phép tôi đem lòng yêu như vậy nếu như không có một khả năng rằng tình yêu ấy được đền đáp.
Nhưng đôi khi tình yêu đòi hỏi bạn phải đấu tranh vì nó. Và đó là điều tôi sẽ làm. Trong khi theo đuổi lẽ công bằng, tôi phải tránh xa cái xấu mà không được bực bội hay mất kiên nhẫn. Khi Marianne đi xa rồi, Jacob sẽ ở bên tôi, anh ta sẽ cảm ơn tôi suốt phần đời còn lại.
Hoặc anh ta lại ra đi, nhưng tôi sẽ bị bỏ lại cùng với cảm giác rằng tôi đã tranh đấu hết sức mình.
Tôi là một người đàn bà mới của mình. Tôi đang theo đuổi điều mà nếu để tự nhiên nó sẽ không đến với tôi. Anh ta đã kết hôn và tin rằng bất cứ hành động sai lầm nào cũng sẽ làm tổn hại sự nghiệp của anh ta.
Vậy tôi cần tập trung vào điều gì? Phá hủy cuộc hôn nhân của anh ta mà không để anh ta không nhận ra.