Những Đốm Lửa Lưu Lạc

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10

❊ ❊ ❊

Đây là lý do tại sao vào thứ Hai, trong khi Pearl và cô Mia đang ăn tối, thì chuông cửa reo lên và sau đó là tiếng gõ cửa điên cuồng. Cô Mia chạy ra cửa, và Pearl nghe thấy tiếng thì thầm cùng tiếng khóc, sau đó mẹ cô vào bếp, theo sau là một phụ nữ Trung Quốc mảnh khảnh trong chiếc sơ-mi trắng và chiếc quần dài đen, đang nức nở.

“Em cứ gõ và gõ,” Bebe đang nói. “Em bấm chuông cửa nhưng họ không trả lời vì vậy em cứ gõ và gõ. Em có thể nhìn thấy người phụ nữ đó ở bên trong. Đứng sau bức rèm lén nhìn ra ngoài để xem liệu em đã đi chưa.”

Cô Mia chỉ cô ấy về phía chiếc ghế-riêng-của-cô, với đĩa mì ăn vơi phân nửa vẫn còn đặt ngay đó. “Pearl, lấy nước cho cô Bebe đi con. Con có thể pha thêm tách trà.” Cô ngồi xuống một cái ghế khác và vươn tay qua bàn để nắm lấy tay của Bebe. “Em không nên ghé qua đó như vậy. Em không thể nào mong rằng ngay lập tức họ cho em vào.”

“Em có gọi trước cho bà ta!” Bebe đưa mu bàn tay quệt lên mặt, và cô Mia lấy cái khăn ăn trên bàn đẩy về phía cô ấy. Đó chính xác là một chiếc khăn tay in hoa đã cũ được lấy từ hàng đồ si, và Bebe cầm khăn lau mắt. “Em tra sổ danh bạ và gọi cho họ, ngay sau khi em gác máy chị. Không ai trả lời. Em chỉ nghe yêu cầu nhắn thoại. Em để lại lời nhắn kiểu gì đây? Vì vậy em đã cố gọi hết lần này đến lần khác vào mỗi buổi sáng, cho đến khi cuối cùng cũng có người trả lời lúc hai giờ sáng. Bà ta trả lời.”

Ở phía bên kia phòng bếp, Pearl đặt ấm nước lên bếp và ấn nút đun. Trước đây Pearl chưa gặp qua Bebe, mặc dù mẹ cô đã một hai lần nhắc đến cô ấy. Mẹ cô không nói rằng Bebe đẹp đến vậy - đôi mắt to, xương gò má cao, mái tóc đen dày cột đuôi ngựa - hay trẻ đến vậy. Với Pearl, bất cứ ai tầm hơn hai mươi thì dường như chưa phải là người lớn, nhưng cô đoán cô Bebe này có lẽ chỉ mới hai mươi lăm hoặc tầm đó. Rõ ràng trẻ hơn mẹ cô, nhưng có gì đó kiểu trẻ con trong cách cô ấy nói chuyện, trong cách cô ấy ngồi để hai chân song song nhau và đôi tay siết chặt, trong cách cô trộm nhìn cô Mia một cách bất lực, như thể cô cũng là con gái của cô Mia vậy, điều đó làm Pearl nghĩ về Bebe như thể cô ấy là một thiếu nữ nào đó. Pearl không nhận ra, hoặc chỉ trong một lúc chưa nhận ra rằng tại sao đối với nhiều người tài sản đặc biệt của mẹ cô chính là tuổi tác, là sự hiểu biết và từng trải của bà.

“Em nói cho họ biết em là ai,” Bebe kể tiếp. “Em nói, ‘Bà Linda McCullough phải không?’ Và bà ta trả lời phải, và em nói với bà ấy rằng, “Tôi tên là Bebe Châu, tôi là mẹ của bé Mai Linh’. Chỉ mới nhiêu đó, bà ấy gác máy em.” Cô Mia lắc đầu.

“Em gọi lại cho bà ấy, bà ấy bắt máy xong lại gác máy lần nữa. Và sau đó em gọi lại và em chỉ nghe thấy tín hiệu đường dây bận.” Cô xì mũi vào chiếc khăn ăn rồi vo viên. “Vậy nên em đã ghé qua đó. Đi hai tuyến xe buýt và em phải hỏi bác tài phải đổi tuyến ở đâu, và sau đó em đi bộ thêm một dặm để đến nhà họ. Những căn nhà khổng lồ - ở đó ai cũng lái xe, chẳng ai muốn đón xe buýt đi làm. Em bấm chuông cửa, không ai trả lời, nhưng bà ấy lại lén lút nép sau tấm màn trên lầu, cứ nhìn xuống em. Em bấm chuông hết lần này đến lần khác và em gọi, ‘bà McCullough, là tôi đây, Bebe, tôi chỉ muốn nói chuyện với bà’, sau đó tấm rèm đóng lại. Nhưng bà ấy vẫn đứng đó, chỉ là đang đợi em bỏ đi. Làm như em sẽ bỏ đi khi mà con em còn ở trong đó.”

“Vậy nên em ngồi xuống bậc thềm trước nhà và đợi. Không sớm thì muộn bà ấy cũng phải ra ngoài khi đó em có thể nói chuyện với bà ta.” Cô liếc nhìn cô Mia. “Em chỉ muốn gặp lại con mình. Em nghĩ là em có thể nói chuyện với gia đình McCullough và làm cho họ hiểu.”

“Nhưng bà ấy không ra ngoài. Em ngồi đó cả tiếng đồng hồ, sau đó một chiếc Lexus đỗ lại, theo sau là chiếc xe cảnh sát, và ông chồng bước ra. ông ấy nói, ‘Làm ơn ra khỏi nhà tôi,’ và hai nhân viên cảnh sát bước tới cạnh ông ta. Giống như vệ sĩ vậy. Em cố giải thích với họ. Em nói là em chỉ muốn gặp con mình, nhưng họ nói rằng em không có quyền gì để xuất hiện ở đó. Sau đó một người trong số họ đã khóa tay kéo em lên và lê em ra lề đường. Và họ nói rằng em có thể đi nếu không họ sẽ bắt em đến đồn và buộc tội xâm phạm gia cư.”

“Ôi, Bebe,” cô Mia thốt lên, và Pearl không phân biệt nổi liệu mẹ đang thất vọng hay tự hào.

“Em còn làm được gì khác? Em đã đi bộ cả con đường đến đây. Hết bốn mươi lăm phút. Ngoài chị ra, em có thể nhờ ai được nữa?” Cô chằm chằm nhìn Pearl và cô Mia, như thể nghĩ rằng có lẽ họ sẽ phản bác lại mình. “Em là mẹ của con bé.”

“Họ biết điều đó,” cô Mia nói. “Biết rất rõ nữa là. Nếu không họ đã không xua đuổi em như vậy.” Cô đẩy nhẹ cốc trà - giờ âm ấm - về phía Bebe. “Giờ em định làm gì?”

“Em không biết. Em còn làm được gì cơ chứ? Nếu em lại qua đó, họ sẽ gọi cảnh sát bắt em mất.”

“Cô có thể thuê luật sư,” Pearl gợi ý, và Bebe thoáng nhìn Pearl bằng ánh mắt tội nghiệp.

“Cô lấy tiền đâu mà thuê luật sư?” cô hỏi. Cô nhìn xuống bộ đồ của mình, và Pearl đột nhiên hiểu ra: đây là đồng phục làm việc của cô ấy; thậm chí cô rời khỏi chỗ làm mà không bận tâm thay quần áo. “Cô có sáu trăm mười một đô-la trong tài khoản ngân hàng. Con nghĩ có luật sư nào giúp cô với sáu trăm mười một đô-la sao?”

“Được rồi,” cô Mia nói. Cô đẩy phần ăn tối còn lại của Pearl - giờ đã phủ một lớp mỡ trắng mỏng - qua một bên. Nãy giờ cô đang nghĩ; thực ra thì, kể từ khi Lexie đề cập đến đứa bé cô đã nghĩ đến chuyện này: rằng nếu cô là Bebe thì cô sẽ làm gì, rằng bất kỳ ai ở địa vị của Bebe thì họ có khả năng làm gì. “Nghe chị nói. Em có muốn chiến đấu cho trận chiến này hay không? Đây là những gì em cần làm.”

Chiều thứ Ba, mọi đứa trẻ nhà Richardson, và cả Pearl đều tập trung vào các đoạn phim quảng cáo trong chương trình Jerry Springer, có thể bọn trẻ sẽ để ý đến các đoạn quảng cáo ngắn của mục thời sự buổi tối trên Kênh số 3, với bức ảnh chụp ngôi nhà của gia đình McCullough. Nếu nhìn thấy, chúng có thể thông báo cho bà Richardson, người đang bận bịu viết một bài về những thay đổi trong đề xuất học phí và sẽ không ở nhà xem tin tức - hoặc để cảnh báo bà McCullough.

Nhưng vào lúc đó, khi chương trình Jerry Springer bị đoạn quảng cáo làm gián đoạn, thì Lexie và Trip lại lao vào cuộc tranh luận nảy lửa về việc khách mời nào có mái tóc đẹp hơn, là chàng drag queen hay cô vợ cũ bực dọc của anh ta, làm cho không ai nghe được các đoạn phim quảng cáo. Pearl và Moody sửng sốt đứng nhìn, thậm chí không liếc đến màn hình TV, và Lexie đã ngắt lời trước khi Trip đang giữa chừng ủng hộ cho chàng drag queen. Trong khi đó, Izzy đang ở phòng tối cùng cô Mia, theo dõi cô ấy kéo một bản in mới khỏi lớp thuốc tráng phim và treo khô. Vì vậy, không ai trông thấy đoạn quảng cáo ngắn cho bản tin buổi tối hoặc xem thời sự của tối hôm đó. Bà McCullough cũng không phải người theo dõi tin tức, và vì vậy, khi trả lời chuông cửa vào sáng sớm ngày thứ Tư, lúc đang ẵm Mirabelle bên hông, đang chờ đợi gói bưu kiện từ em gái mình gửi đến, bà rất ngạc nhiên khi thấy Barbra Pierce - phóng viên chuyên mảng điều tra các vấn đề nổi cộm tại địa phương của Kênh số 9 - tay cầm micro đang đứng trước thềm nhà.

“Bà McCulough!” bà Barbra hét lên, như thể họ chạy ùa vào nhau tại bữa tiệc với vẻ ngạc nhiên đầy thú vị. Đằng sau bà lù lù một tay quay phim lực lưỡng trong chiếc áo khoác parka, mặc dù tất cả những gì mà bà McCullough nhớ được là ống kính và ánh sáng đỏ nhấp nháy như con mắt đang phát sáng. Mirabelle bắt đầu khóc. “Chúng tôi biết rằng bà đang trong quá trình nhận nuôi một bé gái. Bà có biết là mẹ của bé đang đấu tranh giành lại quyền nuôi con hay không?”

Bà McCullough đóng sầm cửa, nhưng đội săn tin đã có được thứ mà họ muốn. Cảnh quay chỉ có hai giây rưỡi, nhưng bao nhiêu đó là quá đủ: người đàn bà da trắng mảnh mai đứng nơi bậu cửa của ngôi nhà gạch Shaker to lớn của mình, trông có vẻ giật mình sợ hãi, đang ôm lấy đứa bé người châu Á đang gào thét trong vòng tay.

Với linh tính mơ hồ, bà McCullough kiểm tra đồng hồ. Chồng bà đang trên đường vào trung tâm thành phố để đi làm và ông không thể kịp có mặt ở nhà trong vòng ít nhất ba mươi lăm phút nữa. Bà gọi hết người bạn này đến người bạn khác, nhưng không ai xem chương trình thời sự tối hôm qua, và họ chỉ có thể ủng hộ bà về mặt tinh thần, chứ không thể cho bà thông tin chính xác. “Đừng lo lắng,” ai cũng lần lượt khuyên vậy. “Sẽ ổn cả thôi. Barbra Pierce chỉ đang bới chuyện lên mà thôi.”

Trong khi đó, ông McCullough đã đến sở làm và đang đi thang máy lên tầng bảy, văn phòng của công ty dịch vụ tài chính Rayburn, ông vừa rút một cánh tay ra khỏi chiếc áo khoác thì Ted Rayburn xuất hiện ở cửa vào.

“Dave à, nghe này,” ông bảo. “Anh có xem thời sự tối qua trên Kênh số 3 không vậy? Có chuyện này anh cần phải biết.” Ông ấy đóng cánh cửa phía sau lại, và ông McCullough lắng nghe, vẫn giữ chặt cái áo khoác, y như rằng đó là chiếc khăn tắm. Vẫn kiểu chừng mực, giọng điệu ít nhiều như khi nói chuyện với khách hàng, Ted Rayburn mô tả đoạn tin tối hôm trước: một bức ảnh chụp bên ngoài căn nhà của gia đình McCullough, đã phủ sáng mờ, nhưng những bữa tiệc nướng mùa hè, các bữa sáng muộn, những bữa tiệc cocktail mà gia đình McCullough đã tổ chức nhiều năm qua khiến quan cảnh ấy vẫn rất quen thuộc trong mắt của Ted Rayburn. Lời đề từ: Nhận nuôi chính là cho những đứa trẻ vô gia cư một mái ấm mới. Nhưng sẽ ra sao nếu đứa trẻ đó đã có một gia đình? Và cuộc phỏng vấn với người mẹ - tên Bee - gì đó, Ted không nhớ rõ tên đầy đủ của cô ta, anh ta quá hoảng hốt - trước ống kính, cô ta nài nỉ được nhận con mình. “Tôi sai rồi,” cô ta nói, từng chữ được thốt ra một cách cẩn trọng. “Bây giờ tôi có một công việc đàng hoàng. Bây giờ tôi có cuộc sống của mình. Tôi muốn con tôi trở về bên tôi. Những người trong gia đình McCullough này không có quyền nhận nuôi một đứa trẻ khi mà mẹ ruột của nó đang mong chờ nó. Một đứa trẻ nên thuộc về mẹ của nó.”

Ted Rayburn sắp kể xong thì điện thoại trên bàn reo lên, và ông McCullough nhìn vào số điện thoại, biết rằng đó là vợ mình, và chuyện gì đang xảy ra, và lúc này ông cần giải thích với bà điều gì. Ông nhấc ống nghe lên.

“Anh đang về đây,” ông nói, bỏ ống nghe xuống và với lấy chùm chìa khóa.

Cô Mia không có TV riêng nên cô cũng không xem phần tin tức ấy. Nhưng vào chiều thứ Ba, ngay trước khi đoạn tin được phát sóng, Bebe đã ghé qua để kể với cô về diễn biến của cuộc phỏng vấn. “Họ nghĩ chuyện này là một tin sốt dẻo,” cô nói. Cô vẫn mặc quần dài màu đen và cái áo sơ-mi trắng với một vết sốt đậu nành đã nhòe trên cổ tay áo, và từ vết bẩn đó cô Mia biết rằng cô ấy đang đi làm. “Họ phỏng vấn em gần cả tiếng. Họ hỏi em nhiều lắm.”

Bebe đột nhiên ngừng lại khi nghe tiếng bước chân xuống lầu. Đó là Izzy, vừa đi học về, và cả cô Mia lẫn Bebe đều im lặng khi nhìn thấy một người khác. “Em nên đi thôi,” sau một lúc Bebe lên tiếng. “Xe buýt đến lúc ba giờ hai mươi bốn phút.” Trong khi bước ra cửa, cô cúi người sát lại cô Mia. “Họ nói rằng chắc chắn còn ai đó đứng sau lưng em,” cô thì thầm.

Khi Bebe đã đi khỏi, Izzy hỏi, “Ai vậy cô?”.

“Một người bạn thôi con,” cô Mia trả lời. “Bạn ở chỗ làm.”

Hóa ra các nhà sản xuất của Kênh số 3 có bản năng thiên phú. Nhiều giờ liền sau khi đoạn tin được phát sóng, các cuộc gọi đã lũ lượt tràn về nhà đài để hỏi về câu chuyện - đủ nhiều để đảm bảo lượt theo dõi tin, và đủ cho Kênh số 9, đối thủ cạnh tranh muôn thuở, sắp xếp Barbra Pierce lên chuyên mục đầu tiên của bản tin sáng hôm sau.

“Bà Barbra Pierce đó,” bà Linda McCullough nói với bà Richardson vào tối thứ Tư. “Barbra Pierce với đôi giày cao gót và đầu tóc kiểu Dolly Parton. Thình lình xuất hiện trước cửa nhà rồi chĩa cái máy quay vào mặt tôi.” Hai người phụ nữ vừa xem bản tin của Barbra Pierce, mỗi người cuộn mình trên chiếc ghế dài ngay trước TV và giữ chiếc điện thoại không dây bên tai, và bỗng nhiên bà Richardson có cảm giác kỳ lạ như hai người lần nữa trở về năm mười bốn tuổi, cùng ôm những cái điện thoại hiệu Princess vào lòng, cùng xem chương trình Green Acres để có thể nghe thấy tiếng cười của nhau.

“Kiểu của bà Barbra Pierce là vậy đó,” bà Richardson nói. “Nữ hoàng Tin Hành động Giật gân với bộ váy công sở đó mà. Bà ta chỉ là kẻ hách dịch có người quay phim thôi.”

“Luật sư nói là chúng tôi đang chiếm thế thượng phong,” bà McCullough nói. “Ông ấy nói rằng bằng việc bỏ rơi đứa bé, cô ta đã trao quyền nuôi con cho nhà nước và nhà nước đã trao quyền đó cho chúng tôi, vì vậy thực tế thì cô ta nên than vãn với nhà nước chứ không phải nhà tôi. Ông ấy nói rằng quy trình nhận nuôi đã hoàn thành 80% và chỉ mất thêm chừng một hoặc hai tháng nữa thì bé Mirabelle sẽ thuộc về chúng tôi mãi mãi, và sau đó thì người đàn bà này sẽ không còn bất cứ yêu sách nào về đứa bé nữa.”

Hai vợ chồng bà đã cố gắng rất lâu, để có một đứa con. Thực tế thì, sau khi kết hôn, bà đã có bầu ngay lập tức - một em bé của tuần trăng mật, họ đã gọi đùa như thế. Và rồi, vài tuần sau đó, bà bắt đầu chảy máu, và thậm chí trước khi hai vợ chồng đi khám bác sĩ, bà có thể biết rằng đứa bé đã mất rồi. “Chuyện này rất bình thường,” bác sĩ trấn an bà. “Phân nửa trường hợp thai kỳ đều mất vào những tuần đầu tiên. Hầu hết thai phụ thậm chí còn không biết là họ đã mang thai.” Nhưng bà McCullough đã biết, và ba tháng sau, chuyện đó lại xảy ra một lần nữa - và lại bốn tháng sau đó, và lại năm tháng sau đó - bà đau đớn nhận ra rằng mỗi lần có một sinh linh bé nhỏ nhen nhóm trong cơ thể thì không hiểu sao tia sáng yếu ớt ấy lại tắt mất.

Các bác sĩ đã kiên trì kê đơn, vitamin, thuốc bổ sung chất sắt. Một bào thai khác lại đến; lần này, bào thai lớn gần mười tuần thì bà lại bắt đầu chảy máu. Bà McCullough khóc suốt đêm, và sau khi bà ngủ thiếp đi, chồng bà ngồi khóc bên bà. Sau ba năm cố gắng, bà đã mang thai năm lần mà vẫn không có một mụn con. Bác sĩ sản khoa đã đề nghị chờ sáu tháng; để cho cơ thể của bà hồi phục. Qua hết thời gian chờ, họ cố thử lần nữa. Hai tháng sau, bà đã mang thai; một tháng sau đó, bà lại không. Mỗi lần như vậy bà chẳng nói với ai, hy vọng rằng nếu giữ kín bí mật này cho riêng mình thì bào thai sẽ ở lại, và lớn lên. Nhưng không gì thay đổi cả. Lúc bấy giờ, người bạn lâu năm của bà, Elena chỉ kết hôn sau bà vài tháng đã có một cô con gái, một cậu con trai và đang cấn bầu đứa thứ ba, và dù cho bà ấy thường xuyên gọi điện thoại cho bà, dù cho bà ấy rất sẵn lòng ôm chầm bà vào lòng để bà được khóc - như họ vẫn thường làm cho nhau từ bé đến giờ, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ - thì bà McCullough vẫn thấy bản thân không chia sẻ được chuyện này. Khi mang thai, chưa bao giờ bà kể với Elena, bởi bà sẽ nói với bà ấy ra sao khi bào thai kia đã mất? Thậm chí bà còn không biết phải mở lời thế nào. Tôi lại mất một đứa nữa rồi. Lại như thế nữa rồi. Bất cứ khi nào hai người đi ăn trưa, bà McCullough lại không thể ngăn mình nhìn chằm chằm vào cái bụng bầu của bà Richardson. Bà thấy mình như một kẻ hư hỏng, bà cực kỳ muốn chạm vào cái bụng đó, muốn vuốt ve nó, muốn âu yếm nó. Muốn hôn lên nó, như thể đó là một thánh vật. Sau một thời gian, khi Lexie và Trip bi bô tập nói và chập chững tập đi, thì việc tránh khỏi suy nghĩ đó đã trở nên dễ dàng hơn. về phần mình, bà Richardson nhận ra rằng bà bạn Linda yêu quý ít gọi cho bà, rằng mỗi khi bà chủ động gọi thì luôn nhận được tin nhắn thoại - giọng nói hân hoan của bà McCullough lại vang lên, “Vui lòng để lại lời nhắn cho Linda và David, chúng tôi sẽ gọi lại sau!” - nhưng không bao giờ có người gọi lại cả.

Một năm sau khi Izzy chào đời, bà McCullough lại có thai. Lúc bấy giờ, chuyện này đang khiến bà kiệt sức: việc đánh dấu chu kỳ kinh nguyệt, việc đợi chờ, những cuộc gọi cho bác sĩ. Ngay cả chuyện quan hệ vợ chồng - được lên lịch cẩn thận cho những ngày dễ thụ thai nhất - đã bắt đầu cảm thấy như chuyện tủn mủn chán chường. Bà nghĩ, có ai tin được chuyện này, nhớ lại thời trung học, khi bà và David từng điên cuồng sờ soạng nhau trên ghế sau trong xe của anh. Các bác sĩ yêu cầu bà tuyệt đối nghỉ ngơi ở trên giường: bước đi không quá bốn mươi phút một ngày, bao gồm vào phòng tắm; không được gắng sức. Bà đã thực hiện đúng như vậy đến gần năm tháng cho đến khi bà thức giấc lúc hai giờ sáng với sự yên lặng khủng khiếp trong bụng mình, giống như sự im lặng sau khi tiếng chuông ngừng vang. Tại bệnh viện, trong khi bà rơi vào trạng thái mơ màng bởi thuốc mê, các bác sĩ đã nhẹ nhàng lấy đứa bé ra khỏi tử cung. “Chị có muốn nhìn mặt con gái không?” một bác sĩ hỏi vậy khi họ đã lấy đứa bé ra, và cô y tá giơ em bé lên trong đôi lòng bàn tay chụm thành hình chén, em được quấn trong một chiếc khăn trắng. Đối với bà McCullough, trông em nhỏ xíu đến khó tin, màu da đỏ ửng đến khó tin, bóng láng và mịn mượt đến khó tin, giống như thứ gì đó được thổi ra từ thuỷ tinh. Lặng thinh đến khó tin. Bà mơ hồ gật đầu, nhắm mắt lại, dạng chân ra để bác sĩ khâu lại vết mổ.

Bà bắt đầu đi đường vòng qua khu cửa hàng để tránh sân thể thao, trường tiểu học, trạm xe buýt. Bà bắt đầu thấy ghét những phụ nữ mang bầu. Bà muốn tát họ, muốn ném đồ đạc vào họ, muốn túm lấy vai họ và cắn họ. Vào hôm kỷ niệm ngày cưới lần thứ mười, ông McCullough đưa bà đến Giovanni’s, nhà hàng mà bà yêu thích, và khi hai vợ chồng bước vào, một phụ nữ mang bầu vượt mặt đang ì ạch đi phía sau. Vào thời điểm đó, hai vợ chồng đã cố gắng cả chục năm để kiếm một mụn con. Bà McCullough đẩy mở cánh cửa và sau đó, khi thai phụ đó bước đến ngay sau, bà thả tay cho cánh cửa đập vào mặt của người đàn bà kia, và ông McCullough, lúc quay lại nắm tay vợ, trong một khoảnh khắc ông không thể nhận ra người đàn bà này, quá đỗi nhẫn tâm, quá đỗi xa lạ với người phụ nữ dịu dàng mà ông từng biết.

Rốt cuộc, sau cuộc hẹn cuối cùng với bác sĩ với đầy đủ những kết luận đau xé lòng - tinh trùng di chuyển yếu, tử cung không trú thai, gần như không thể thụ thai - họ quyết định nhận con nuôi. Các bác sĩ khuyên rằng ngay cả phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cũng có khả năng thất bại. Đối với họ, nhận con nuôi là lựa chọn tốt nhất để có một đứa con. Hai vợ chồng điền tên vào mọi danh sách chờ mà họ có thể tìm thấy, và hết lần này đến lần khác trung tâm nhận nuôi sẽ gọi cho họ thông báo một bé có khả năng phù hợp. Nhưng luôn có chuyện gì đó làm hỏng chuyện: người mẹ đổi ý; ông bố hoặc anh em họ hoặc người bà bất ngờ xuất hiện; phía trung tâm có quyết định khác, thường là một cặp vợ chồng trẻ tuổi hơn sẽ thích hợp hơn. Một năm trôi qua, sau đó hai, rồi ba năm. Dường như ai ai cũng mong mỏi một đứa con và cầu vượt quá xa cung. Buổi sáng tháng Một hôm ấy, khi nhân viên xã hội gọi đến và báo rằng người ta đã phát hiện một bé gái, rằng cô nhân viên ấy đã lấy được tên của hai vợ chồng từ một trong những trung tâm nhận con nuôi, rằng em bé ấy sẽ là của họ nếu họ muốn nhận nuôi: cảm giác như một phép màu. Cảm giác như hư ảo. Nếu hai vợ chồng muốn có cô bé! Tất cả nỗi đau đó, tất cả tội lỗi đó, bảy linh hồn nhỏ bé đó - bà McCullough sẽ không bao giờ quên dù chỉ một - bà quá đỗi ngạc nhiên khi chúng tự gói mình vào một chiếc hộp và tự giấu kín khỏi tầm mắt của em bé Mirabelle: hiện thực này quá rõ ràng, quá mạnh mẽ và không cách nào làm khác được. Bây giờ, khi nghĩ rằng Mirabelle có thể bị người khác nhận mất, thì bà McCullough nhận ra rằng chiếc hộp và những gì bên trong nó không bao giờ biến mất, rằng chúng được cất giữ hoàn toàn, đang đợi chờ ai đó đến mở nắp.

Thời sự đã bị cắt ngang bởi chương trình quảng cáo, và qua điện thoại bà Richardson có thể nghe thấy tiếng leng keng loảng xoảng của chương trình quảng cáo Cedar Point đang chiếu trên TV của bà McCullough, trễ một phần giây so với TV của nhà bà. Bà đã xem lần sa chân của một phụ nữ luống tuổi, kéo xuống, mân mê cái ống nghe điện thoại quanh cổ, và lời thuyết minh của bà Barbra Pierce vang vọng trong tâm trí. Cặp vợ chồng này muốn nhận nuôi đứa con của cô ấy. Nhưng cô ấy sẽ chiến đấu để không đánh mất con mình.

“Sẽ chóng qua thôi,” bây giờ bà Richardson an ủi bà McCullough. “Người ta sẽ quên đi chuyện này. Rồi cũng sẽ qua mà.”

Nhưng chuyện này không qua đi. Không thể tưởng tượng được khi mà dường như câu chuyện này có điều gì đó đã chạm đúng vào dây thần kinh của công chúng. Tin tức thì chán ngắt. Một phụ nữ đã sinh bảy; khai trương bảo tàng nghệ thuật Getty Center tại L.A. Tờ New York Times đã đưa tin với bộ mặt điềm tĩnh, rằng những con gấu là nguyên nhân chính của các vụ đột nhập xe hơi tại vườn quốc gia Yosemite. Vấn đề chính trị cấp bách nhất - ít nhất là trong một vài tuần tới - là Tổng thống Clinton sẽ đặt tên gì cho con chó mới của ông. Thành phố Cleveland an ninh và buồn tẻ sẽ hào hứng với một tin giật gân có liên quan đến gia đình hơn một chút.

Vào sáng thứ Năm có thêm hai đội quay phim án ngữ trước cửa nhà McCullough, và có ba mẩu tin vào tối hôm đó, trên các Kênh số 5, số 19 và số 43. Cảnh phim Bebe Châu cầm bức ảnh của Mai Linh lúc một tháng tuổi, đang cầu xin được nhận lại con mình. Những bức ảnh chụp căn nhà của gia đình McCullough với rèm cửa buông và đèn cửa trước tắt; một bức ảnh của hai vợ chồng McCullough, thắt cà vạt đen, tại một buổi thi đấu gây quỹ cho các bệnh nhân bệnh bạch cầu đã tràn lan trên các trang báo bóng loáng về xã hội của tờ Tạp chí Shaker hồi năm ngoái; cảnh phim chiếc Lexus của ông McCullough lùi ra khỏi ga-ra và lao đi, khi một phóng viên chạy theo, tay cầm chiếc micro giơ lên cửa sổ xe.

Đến thứ Sáu, tất cả các nhóm quay phim đã trở lại, bà McCullough đã tự nhốt mình và Mirabelle trong nhà, và các thư ký tại công ty kiểm toán của ông McCullough đã được chỉ thị từ chối bất kỳ cuộc gọi nào từ các bên săn tin bằng câu “Miễn bình luận.” Hàng đêm Mirabelle McCullough - hoặc Châu Mai Linh, như một số người đã chọn cách mỉa mai để gọi cô bé - là tin tức nổi bật trong chương trình thời sự buổi tối, luôn kèm theo những bức ảnh: ảnh chụp nhanh của Bebe, những bức chụp bé Mai Linh hồi còn sơ sinh bé xíu; những bức chân dung dạo gần đây từ gia đình McCullough, được chụp tại phòng chụp hình Dillard, Mirabelle xuất hiện trong bộ đầm Phục sinh màu vàng có diềm xếp nếp với đôi tai thỏ, trong bộ áo liền quần đang đứng bên cạnh một con ngựa bập bênh kiểu cũ. Từ cả hai phía đều đang xuất hiện nhiều người ủng hộ, và đến tối thứ Sáu, Ed Lâm, một luật sư địa phương, đã đề nghị làm đại diện cho Bebe Châu, không lấy thù lao, và thỉnh cầu nhà nước giao quyền nuôi con cho cô.

Tối thứ Bảy, vào bữa tối, ông Richardson thông báo rằng, “Hồi chiều David và Linda McCullough đã gọi điện để hỏi liệu bố có thể làm việc cùng luật sư của họ hay không. Có vẻ như ông luật sư ấy không có nhiều kinh nghiệm ra tòa, và hai bác ấy nghĩ rằng bố có thể trở thành phương án dự phòng thích hợp.”

Lexie nhấm nháp miếng rau trộn. “Bố sẽ đồng ý chứ?”

“Con biết không, hai bác ấy không có lỗi gì trong chuyện này cả.” Ông Richardson xẻ một miếng thịt gà. “Hai người chỉ muốn đứa bé được đối xử công bằng. Và vụ kiện này không nhắm vào họ. Mà nhắm vào nhà nước. Nhưng họ sẽ bị lôi vào đó, và họ chính là những người phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất.”

“Ngoại trừ Mirabelle ra,” Izzy nói. Bà Richardson đã mở miệng định chỉ trích gay gắt, nhưng ông Richardson đã khiến bà im lặng với cái liếc nhìn. Ông luôn kiên nhẫn với Izzy hơn bà.

“Toàn bộ chuyện này là từ Mirabelle, Izzy à,” ông nói. “Mọi người liên quan - tất cả chúng ta đều muốn dành cho bé điều tốt đẹp nhất. Chúng ta chỉ cần tìm ra đó là gì.”

Chúng ta, Izzy nghĩ. Bố cô đã trở thành một phần của chuyện này rồi. Cô nghĩ đến bức ảnh của cô Bebe Châu mà tạp chí vẫn tiếp tục đăng: nỗi buồn trong đôi mắt cô, bức ảnh nhỏ chụp nhanh của em bé Mai Linh trên tay cô, đã bị nhăn góc, giống như bức ảnh ấy được bỏ trong túi (nên có nếp nhăn). Ngay lập tức cô nhận ra người phụ nữ mà mình đã gặp ở căn bếp của cô Mia, người đã lập tức im bặt ngay khi cô bước vào, người đã chằm chằm nhìn cô như thể cô ta đang lo lắng, gần như là sợ hãi. “Chỉ là một người bạn thôi,” cô Mia đã nói thế, khi Izzy hỏi cô ta là ai, và nếu được cô Mia tin tưởng thì Izzy biết rõ lòng trung thành của mình sẽ đặt ở đâu.

“Bắt cóc con nít,” cô nói.

Sự im lặng ngỡ ngàng rơi phịch xuống bàn như tấm khăn nặng trịch. Bên kia bàn, Lexie, Trip và Moody trao nhau những cái nhìn đầy cảnh giác nhưng không hề ngạc nhiên.

“Mau xin lỗi bố con đi, Izzy,” bà Richardson bảo.

“Vì cái gì?” Izzy gặng hỏi. “Thực tế là bọn họ đang bắt cóc con bé. Và mọi người chỉ đang cho phép họ. Thậm chí bố còn giúp cho họ.”

“Bình tĩnh lại nào,” ông Richardson bắt đầu, nhưng đã quá trễ. Khi Izzy lên cơn thì hiếm khi nào bà Richardson có thể bình tĩnh, và với vấn đề này, thì chính Izzy không bao giờ bình tĩnh.

“Izzy. Đi về phòng.”

Izzy quay sang bố. “Có lẽ hai bác ấy nên trả tiền để lấy đứa bé. Một đứa trẻ thì giá bao nhiêu? Cỡ mười ngàn đô-la không?”

“Isabelle Marie Richardson...”

“Biết đâu họ có thể trả giá xuống còn năm ngàn thì sao.” Izzy quẳng cái nĩa xuống đĩa đánh xoảng một tiếng rồi rời khỏi. Cô nghĩ, cô Mia nên nghe chuyện này, cô chạy lên lầu và vào phòng mình. Cô ấy sẽ biết cần phải làm gì. Cô ấy sẽ biết phải xử lý chuyện này thế nào. Chỉ khi Izzy nhấc ống nghe lên và chạm ngón tay vào bàn phím thì cô bé mới nhận ra rằng: mình không hề biết số điện thoại nhà cô Mia. Tiếng cười của Lexie cứ văng vẳng nơi cầu thang và dưới hành lang, và cô đóng sầm cửa lại.

Ở tầng dưới, bà Richardson ngồi thụp xuống ghế, đôi tay run rẩy. Và bà phải mất đến sáng hôm sau để nghĩ ra hình phạt thích đáng dành cho Izzy, đó là: tịch thu đôi giày Dr. Martens yêu quý của nó và ném vào sọt rác. Nếu mày ăn bận như một tên côn đồ, bà nhấn mạnh khi mở thùng rác, tất nhiên mày sẽ hành động như một tên côn đồ. Còn bây giờ, bà bậm chặt môi và đặt dao nĩa chính xác thành hình chữ X trên đĩa của mình.

“Chúng ta có nên giữ kín việc này hay không? bà hỏi. “Ý em là chuyện anh đang làm việc với gia đình McCullough.”

Ông Richardson lắc đầu. “Báo sáng mai sẽ đưa tin,” ông nói vậy, và ông đã đúng.

Vào ngày Chủ nhật, tờ Plain Dealer đăng tin trên trang đầu, ngay nửa phần dưới của mặt báo: “Bà Mẹ Ở Địa Phương Đấu Tranh Giành Quyền Nuôi Con”. Bà Richardson nghĩ đây là một bài báo rất hay, bà nhấm nháp ly cà-phê và đọc lướt qua tờ báo bằng con mắt chuyên nghiệp: tổng quan về vụ kiện; liệt kê nhanh rằng gia đình McCullough sẽ được đại diện bởi luật sư William Richardson của công ty Kleinman, Richardson, và Fish; một phát biểu từ phía luật sư của cô Bebe Châu. “Chúng tôi tin chắc rằng,” luật sư Edward Lâm đã nói, “nhà nước sẽ nhận thấy việc trao trả quyền nuôi bé Châu Mai Linh cho mẹ ruột là việc làm hợp lý.” Thực tế thì tờ Plain Dealer đã chọn đăng thành tin nổi bật, tuy nhiên, ám chỉ rằng tin tức thật chỉ mới bắt đầu.

Ở cuối bài báo, một câu duy nhất đã thu hút bà Richardson: “Cô Châu đã được một đồng nghiệp tại Điện Hồng Phúc, một nhà hàng món Hoa tại đường Lee, thông báo về nơi ở của con gái mình.” Ngay cả khi cách diễn đạt nặc danh và cẩn thận đến thế, thì bà vẫn sửng sốt nhận ra người đồng nghiệp đó ắt hẳn là ai. Không thể nào chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đó chính là khách thuê nhà của bà, vị khách thuê nhỏ nhắn trầm lặng luôn chiều lòng mọi người, chính là người đã mở màn tất cả chuyện này. Người đã, vì lý do gì không rõ, quyết định đảo ngược cuộc sống đáng thương của gia đình McCullough.

Bà Richardson cẩn thận gấp tờ báo lại và đặt xuống bàn. Bà nghĩ lại về sự bất mãn của Mia khi bà đề nghị mua một bức ảnh của cô ta, nghĩ về sự dè dặt kín tiếng của cô ta về quá khứ của bản thân, về - ôi, sự lạnh lùng xa cách của Mia, ngay cả khi cô ta dành hàng giờ liền mỗi ngày ở chính căn nhà của bà, trong chính căn bếp này. Người đàn bà mà bà đã trả lương và bớt tiền thuê nhà, người có đứa con gái đã dành hết giờ này đến giờ khác dưới mái nhà này mỗi ngày. Bà nghĩ đến bức ảnh ở bảo tàng nghệ thuật, cái mà bây giờ, trong trí nhớ của bà, nhuốm một màu bí mật và tinh quái. Bằng sự bí mật cố chấp của mình, làm sao mà Mia có thể tự phụ tự chèn mình vào nơi mà cô ta không thuộc về. Nhưng đó chính là Mia, không phải sao? Người đàn bà không quan tâm gì đến phép tắc - không, là người gần như có được niềm vui thích trái khoáy trong việc phô trương ra điều đó. Chính từ sự bất tuân phép tắc đó, mà người đàn bà này đang gây rắc rối như vậy cho người bạn Linda yêu quý của bà, làm Linda phải chịu đựng chuyện này.

Hôm thứ Hai, bà cho bọn trẻ đến trường và lần lữa ở nhà cho đến khi Mia đến dọn dẹp. Bà không chắc mình đang tìm gì, nhưng có điều gì đó mách bảo rằng bà cần phải gặp riêng Mia, phải nhìn thẳng vào mắt cô ta. “Ôi,” cô Mia cất tiếng khi bước vào cửa bên. “Em không ngờ là chị còn ở nhà. Em có cần quay lại sau hay không?”

Bà Richardson nghiêng đầu qua một bên và xem xét người khách thuê nhà của mình. Mái tóc, như mọi khi, vẫn một búi rối bù. Cái áo sơ-mi rộng thùng thình bỏ ra ngoài quần jean, vết màu son dính phía sau một bên cổ tay. Cô Mia đứng đó, một tay đặt trên ngưỡng cửa, cười nửa miệng, chờ bà Richardson trả lời. Một gương mặt ngọt ngào. Một gương mặt trẻ trung, nhưng không hề ngây thơ. Bà Richardson nhận ra rằng cô ta không quan tâm người khác nghĩ gì về mình. Theo một cách nào đó, những thứ này tạo nên sự nguy hiểm của cô ta. Đột nhiên bà nghĩ đến bức ảnh mà mình đã nhìn thấy tại nhà của Mia vào ngày đầu tiên đó, ngày mà bà mời Mia về làm cho gia đình mình. Người đàn bà đã tạo ra loài nhện với những cánh tay tĩnh lặng và lén lút. Bà nghĩ, loại người nào mà lại biến một phụ nữ thành con nhện cho được? Vấn đề nằm chỗ đó, loại người nào mà nhìn một phụ nữ lại nghĩ đến một con nhện cho được?

“Chị đi ngay đây,” bà nói, và lấy túi xách từ quầy bếp.

Sau đó, bà Richardson không bao giờ thừa nhận, thậm chí với chính mình, rằng hai chuyện này có liên quan với nhau, rằng bà đã đào sâu vào quá khứ của cô Mia như sự trừng phạt thích đáng cho những rắc rối mà cô ta gây ra. Bà sẽ khăng khăng rằng vì lợi ích của Linda - người bạn lâu năm nhất, yêu quý nhất của bà, người phụ nữ chỉ đang cố gắng vì quyền lợi của đứa bé này và bây giờ, qua hành động của Mia, người phụ nữ ấy phải tan nát cõi lòng. Linda không đáng bị như vậy. Bà, Elena, không thể đứng đó và để yên cho người đàn bà này hủy hoại đi niềm hạnh phúc của người bạn thân nhất của mình. Bây giờ, ngay cả khi tờ báo hãy còn trên tay, bà tin rằng suy nghĩ của mình đã ly khai khỏi câu chuyện trên trang bìa đó. Bà sẽ gọi vài cuộc. Bà sẽ biết được mình có thể tìm ra những gì.

Người dịch: Lâm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.