Sau khi xe cứu hỏa đi khỏi, tường nhà của gia đình Richardson giờ đây toang hoác, đen lẹm đi và từ từ bốc hơi nước, bà Richardson kéo chặt áo choàng quanh người và nắm lấy dây lưng. Đằng kia, ông Richardson đứng ở lối đi trước nhà, đang trao đổi với đội trưởng đội cứu hỏa và hai viên cảnh sát. Bên kia đường, Lexie, Trip và Moody, vắt vẻo trên mui xe của Lexie, quan sát bố mẹ chúng và đợi chờ chỉ bảo. Bà Richardson không quên rằng Izzy vẫn mất tích, và - bà chắc chắn - đây là điều mà lúc bấy giờ chồng bà đang thảo luận với cảnh sát. Isabelle Marie Richardson, bà Richardson nghĩ đến mà lòng xáo trộn cảm giác giận dữ lẫn xấu hổ. Nó đã làm cái quái gì thế này? Bà nói rất nhiều lần với cảnh sát, với đội cứu hỏa, với mấy đứa con và với người chồng đang bấn loạn của mình. “Đồ liều lĩnh,” bà nói. “Sao nó có thể làm ra được chuyện này?”
Chỉ khi đội trưởng đội cứu hỏa hỏi rằng họ sẽ ở đâu, thì bà Richardson đã có đáp án rất rõ ràng.
“Ở căn nhà chúng tôi cho thuê,” bà nói. “Ở bên kia đường Winslow, gần đường Lynnfield.” Trước sự sửng sốt của chồng và các con, bà chỉ nói. “Nó trống từ hôm qua rồi.”
Khá vất vả để đỗ ba chiếc xe vào ngõ lái chật hẹp ở căn nhà trên đường Winslow, và trong khi Lexie là người cuối cùng, đỗ chiếc Explorer của mình bên lề đường, thì bà Richardson đột nhiên lo sợ rằng rốt cuộc căn hộ vẫn có người: rằng có lẽ khi họ lên lầu và mở cửa ra thì thấy Mia và Pearl vẫn ở đó, đang thản nhiên ăn bữa sáng tại bàn, và không chịu dọn đi. Hoặc có lẽ, Mia sẽ bỏ lại vài kiểu phát ngôn nào đó: một mớ hỗn độn phải dọn dẹp, bồn rửa hoặc nhà vệ sinh tắt nghẹt, một thứ khốn kiếp cuối cùng dành cho quý vị chủ nhà. Nhưng rốt cuộc khi gia đình Richardson đã sắp xếp xong bốn chiếc xe và diễu hành lên lầu - ông Dương hết sức kinh ngạc - thì trên lầu không thấy bóng dáng ai cả, chỉ vài mẩu đồ đạc bị bỏ lại. Bà Richardson gật đầu tán thành và thấy lòng nhẹ nhõm.
“Trông khác quá,” Lexie lẩm bẩm. Và đúng là vậy. Ba đứa trẻ còn lại của nhà Richardson túm tụm nơi ngưỡng cửa giữa phòng khách và nhà bếp, sát đến nỗi vai chúng gần như chạm vào nhau. Trong nhà bếp, tủ ly tách trống trơn, hai cái ghế không đồng bộ được xếp gọn gàng dưới cái bàn ọp ẹp. Moody nghĩ đến bao nhiêu lần cậu ngồi ở cái bàn này, bên cạnh Pearl, làm bài tập về nhà, ăn một bát ngũ cốc. Lexie nhìn quanh phòng khách, chỉ có vài cái gối xếp chồng lên tấm thảm, những bức tường giờ trống trơn ngoại trừ rải rác những lỗ đinh bấm trên vách thạch cao. Trip liếc nhìn về phía phòng ngủ, qua cánh cửa mở, cậu có thể nhìn thấy giường của Pearl, ga giường và những tấm chăn đã bị lột, giờ chỉ còn trơ tấm nệm và khung giường.
Cực kỳ tiện lợi, bà Richardson nghĩ. Hai phòng ngủ, một cho người lớn và một cho mấy đứa con trai. Lexie có thể ngủ bên chái nhà. Một phòng vệ sinh rưỡi - chà, họ sẽ phải dùng chung rồi. Chỉ ít lâu thôi, cho đến khi họ có thể tìm được nơi nào đó phù hợp hơn, cho đến khi nhà họ được sửa chữa.
“Mẹ,” Lexie gọi từ nhà bếp. “Mẹ ơi, nhìn này.”
Trên quầy đặt một phong bì lớn bằng giấy manila, dày cộm giấy tờ. Có thể là lỡ bỏ quên - một số giấy tờ của cô Mia, hay bài tập của Pearl, có lẽ, quá vội vàng đi khỏi nên họ đã bỏ quên. Mặc dù, ngay cả khi bà Richardson chưa đụng tới, thì bà đã biết rằng không phải vậy. Dưới ngón tay, mặt giấy giống như vải satin, mép bìa kẹp chặt nhưng không hề dán dính, và khi bà dùng móng tay cạy mép gấp và mở phong thư, thì các thành viên còn lại của nhà Richardson vây quanh bà để xem bên trong chứa thứ gì.
Mỗi người đều có một món. Cô Mia đã xếp gọn gàng vào trong: một nửa là các bức ảnh chân dung, một nửa là lời chúc, đều nằm trên mặt giấy. Khi bà Richardson cẩn thận trải các bức ảnh thành hàng ở trên bàn, thì mỗi thành viên trong nhà đều biết đó là dành cho họ, và họ nhận ra ngay lập tức, vì họ có thể nhận ra khuôn mặt của chính mình. Đối với người khác, đây chỉ là có thêm bức ảnh, nhưng đối với họ, nó cực kỳ riêng tư, giống như thoáng thấy cơ thể trần truồng của mình trong gương.
Một mẩu khăn giấy mỏng xé ra thành sợi, mảnh như que diêm, đan thành cái mạng. Lơ lửng trong những mắt lưới đó: một viên đá ve tròn, nặng trịch. Dòng chữ bị cắt thành từng đoạn không tài nào đọc được, nhưng Lexie tức khắc nhận ra cái màu hồng nhạt đó - giấy xuất viện mà lần trước cô đến phòng khám. Trên một đường mảnh chạy xuống phía cuối là một nửa chữ ký của cô - không, chữ ký giả của cô: là tên của Pearl trong nét chữ của cô. Đêm đó cô đã bỏ nó lại nhà cô Mia, và cô Mia đã biến đổi nó cho cô. Lexie, chạm vào bức ảnh, thấy rằng dưới sức nặng của viên đá, cái lưới tinh tế trì ra mà không hề rách. Cô Mia đã nói với cô rằng, đó là thứ mà cô phải mang theo, và đó là lần đầu tiên cô cảm thấy có lẽ mình có thể.
Dành cho Trip: một miếng đệm ngực khi chơi khúc côn cầu, nằm thu lu cáu bẩn, nứt thủng và lỗ chỗ đầy những lỗ. Trên thực tế, cô Mia đã dùng búa và đinh dài làm ra những lỗ đó, cô đục xuyên lớp nhựa trắng dày dặn trông như những mũi tên. Không ngại bị tổn thương, cô đã nghĩ khi đóng mỗi cái đinh. Không ngại mất thời gian và chờ xem điều gì sẽ nảy nở. Cô đã đổ đầy đất và rải hạt giống vào miếng đệm ngực của Trip rồi kiên trì tưới nước trong một tuần cho đến khi từ mỗi lỗ, đâm chồi qua rãnh nứt, nảy lên thành mầm xanh: những sợi tua rua tí xíu, những chiếc lá quăn xoắn bé tẹo len lỏi vào chỗ sáng. Cuộc sống mềm yếu nhẹ nhàng đang nảy nở từ bên trong lớp vỏ cứng.
Dành cho Moody: một đàn chim nhỏ đang bay được gấp theo kiểu origami[1], con to nhất bằng lòng bàn tay xòe, con nhỏ nhất nhỏ hơn cái móng tay, tất cả đều có sọc mờ của những đường kẻ giấy. Cậu lập tức nhận ra, thậm chí trước khi nhìn thấy những vân nhăn mờ trên mỗi con: những trang giấy từ quyển sổ nhỏ của Pearl, quyển sổ mà cậu đã tặng đi rồi lấy lại, quyển mà cậu đã xé bỏ, vò nát và vứt đi. Mặc dù cô Mia đã cà phẳng các trang giấy, nhưng trên cánh chim vẫn còn những nếp nhăn gờn gợn như thể có con gió làm cho chúng xù lông. Những con chim được ép lên bức ảnh chụp bầu trời trông giống như tung lên những cánh hoa nhỏ xíu, từ mặt đất sỏi đá vụt bay đến những nơi cao xa hơn, tốt đẹp hơn. Con cũng vậy, cô đã nghĩ như thế khi gấp từng con chim một và đặt chúng lên trên bầu trời giấy này đây.
Bức ảnh của ông Richardson đã bắt nguồn khi cô Mia, đang quét dọn, tìm thấy một trong những miếng đệm cổ áo của ông nằm dưới tủ quần áo. Cô đã giữ nó lại: ông còn nhiều cái khác, nguyên hộp nằm trên nóc tủ quần áo, mỗi ngày nhét một cái vào mỗi đầu cổ áo để cho cổ áo đứng. Xoay đi xoay lại giữa hai ngón tay, cô nhớ lại một thí nghiệm đã làm trong lớp Khoa học hồi còn bé. Cô đã dùng nam châm cọ xát sau đó thả sợi thép nhỏ vào đĩa nước, để nó quay như vậy và từ từ ngừng lại với phần mũi chỉ về hướng bắc. Kết quả của việc phơi sáng lâu sẽ cho ra một vệt mờ hình cung, giống như đôi cánh ma quái của con bướm, sau đó vạch sáng trên miếng đệm cổ áo vẫn còn khi nó tìm ra điểm tựa và tiếp tục xoay. Nhìn mũi tên bạc được căn hàng, lấp lánh và vững vàng trong làn nước đục, ông Richardson đã chạm vào cổ áo sơ-mi của mình, và tự hỏi ông phải đối mặt bằng cách nào bây giờ.
Và cuối cùng, khiến bà Richardson ngạc nhiên hơn cả: một cái lồng chim giấy được cắt ra, nát vụn, như thể bên trong có thứ gì đó vô cùng mạnh mẽ đã tung mình thoát ra. Nhìn kỹ hơn, bà thấy nó được làm bằng tờ báo. Mia đã dùng một con dao cạo khéo léo cắt từng chữ một để tạo thành khoảng trống giữa các thanh. Bà Richardson chắc chắn rằng, đó là một trong những bài báo mà bà viết, mặc dù tất cả chữ nghĩa đã không còn nên không có cách nào biết được đó là bài nào: bài báo về buổi gây quỹ của Trung tâm Tự nhiên, báo cáo về dãy trụ cộng đồng mới, tiến trình của dự án “Dân Phòng”, một trong những bài bất kỳ mà bao nhiêu năm qua bà đã nghiêm túc và bất đắc dĩ khuấy chúng lên, một trong những bài báo bất kỳ, dù bà không định vậy, đã góp phần thúc đẩy sự nghiệp của bà đi lên. Mỗi thanh chắn tách ra, uốn cong ra ngoài một cách duyên dáng, giống như cánh hoa cúc, và đặt giữa cái lồng trống là chiếc lông nhỏ màu vàng. Thứ gì đó đã thoát khỏi cái lồng này. Thứ gì đó đã tìm ra đôi cánh. Lộng khung bức ảnh này, cô Mia không nghĩ ra lời chúc nào tốt đẹp hơn dành cho bà Richardson.
Họ đã không nhận ra rằng thiếu mất một bức ảnh cho đến khi bà Richardson nhấc tấm cuối cùng lên và để lộ mớ phim âm bản. Thông điệp quá rõ ràng: Cô Mia sẽ không mang đi bán; cô sẽ không chia sẻ hoặc giấu nhẹm đi để mai này đầu cơ. Đây là của các người, đống đồ dường như đang nói, đây là các người. Muốn làm gì thì làm. Bên trong là chân dung của họ, lật ngược và nghịch đảo, toàn bộ bóng tối tạo nên ánh sáng và ánh sáng tạo nên bóng tối. Nhưng trong hộp có một âm bản không ăn nhập với tấm nào: đêm hôm trước Izzy đã lấy nó đi, khi cô bé bước vào căn hộ trống, nhận ra cô Mia và Pearl đã đi rồi, chỉ để lại một phong bì ảnh. Tức thì, cô bé biết đó là của mình: một bông hồng đen rơi trên phiến đá vuông lát vỉa hè nứt nẻ. Những cánh hoa được cắt từ đôi giày da màu đen - đôi giày ống yêu thích của cô, đôi giày khiến cô cảm thấy cực kỳ mạnh mẽ, đôi giày mà mẹ đã vứt đi - những cánh hoa bên ngoài được cắt từ phần ngón chân mòn cũ, những cánh hoa sẫm nhất, sâu nhất được cắt từ vạt giày nhô ra. Một sợi dây giày, đầu dây bị tước, được căng dài làm thân cây. Những mũi khâu trên các mảnh nhỏ màu vàng, tháo từ vòng chỉ quanh đế giày, tạo thành những sợi chỉ mỏng manh làm nhụy hoa. Châu về hợp phố, thậm chí còn đẹp nữa. Izzy nhét nó vào túi xách trước khi tắt hết đèn, đóng phong bì lại và khóa cửa. Chỉ để lại âm bản, vì thế gia đình cô chỉ có thể nhìn thấy sự nghịch đảo nhỏ xíu: một bông hoa tàn, phai dần trong ánh trăng, tấm phôi xám sẫm đằng sau nó như bầu trời đêm đầy mây.
Mãi đến cuối buổi chiều hôm đó, ông Richardson mới kiểm tra hộp thư thoại trên điện thoại di động của mình và nhận được tin. Trong đoạn ghi âm nhiễu, ông David McCullough đang nức nở đã làm cho ông Richardson khó lòng hiểu rõ. Đêm hôm trước ông và bà Linda, cả hai đều kiệt sức bởi dư luận, bởi họp báo, bởi toàn bộ cuộc thử thách dài hơi này, nên đã chìm sâu vào giấc ngủ mà sau nhiều tháng trời họ không có được: ngủ sâu, không mơ màng, và không giật mình thức giấc. Sáng hôm sau họ loạng choạng thức giấc, lảo đảo vì ngủ nhiều đến vậy, và bà McCullough liếc nhìn vào đồng hồ trên bàn đầu giường và nhận ra đã mười giờ rưỡi. Mirabelle thường thức giấc lúc bình minh, khóc đòi ăn sáng, đòi thay tã, và ngay khi nhìn thấy những con số màu đỏ trên đồng hồ là bà biết đã xảy ra chuyện bất thường. Bà lao ra khỏi giường và chạy vào phòng của Mirabelle mà thậm chí không hề mang dép, không mặc áo choàng và ông David McCullough - vẫn chói mắt vì ánh nắng sáng chói chang - đã nghe tiếng bà hét lên từ căn phòng khác. Cái nôi trống trơn. Mirabelle đã biến mất.
Phải mất cả ngày thì cảnh sát mới có thể ghép các manh mối lại với nhau và hình dung được chuyện gì đã xảy ra: cánh cửa kéo ở lối vào sân sau không khóa - một khu phố an toàn như vậy, không phải một nơi như thế; cái chốt phía trong và phía ngoài bám đầy dấu vân tay. Bebe không có ở chỗ làm; căn hộ của Bebe đã bỏ trống; và cuối cùng, một tấm vé, được đặt bằng tên của Bebe, chuyến bay đến Canton lúc mười một giờ năm mươi đêm hôm trước. Gia đình McCullough đã nói rằng, sau đó gần như không có cơ hội nào để lần theo cô ta. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, trớ trêu thay ông thanh tra nói với họ rằng không tìm ra dấu vết nào của cô ta. Lúc bấy giờ Bebe đến Canton và ai biết được cô ta sẽ đi đâu nữa? Mò kim đáy biển. Ông ta nói với họ rằng, các ông có thể đốt hết tiền của mình để lần theo bắt cô ta.
Gần một năm sau - khi ngôi nhà mới của gia đình Richardson gần như được xây lại, khi gia đình McCullough không chi toàn bộ tiền bạc của mình, nhưng họ cũng bỏ ra hàng chục nghìn đô-la cho các thám tử và những cuộc giao tế ầm ĩ nhưng thu lại kết quả chẳng là bao - Bà McCullough và bà Richardson cùng ăn trưa tại Saffron Patch. Họ đã chứng kiến những tháng ngày biến động vừa qua cũng như chứng kiến những năm tháng thăng trầm trong cuộc đời nhau, và sẽ tiếp tục chứng kiến nhau vượt qua bao núi cao bao vực sâu của tương lai chưa đến. “Anh David và tôi xin nhận nuôi một đứa con từ Trung Quốc,” bà McCullough kể với bà Richardson, khi bà múc món gà tikka masala bỏ lên phần cơm.
“Tuyệt quá,” bà Richardson nói.
“Trung tâm nhận nuôi nói rằng chúng tôi là những ứng viên lý tưởng. Trong vòng sáu tháng, họ sẽ tìm cho chúng tôi một bé phù hợp.” Bà McCullough hớp một ngụm nước. “Họ nói rằng đứa trẻ đến từ Trung Quốc, khả năng gia đình của bé đòi lại quyền nuôi con gần như là không có.”
Bà Richardson chồm người qua bàn để siết chặt tay người bạn cũ. “Đó là một đứa trẻ rất may mắn,” bà nói.
Điều ám ảnh bà McCullough nhất chính là: Mirabelle không hề khóc khi Bebe thò tay vào nôi và ẵm con bé lên rồi đưa nó đi. Bất chấp tất cả - bất chấp thức ăn nhà nấu, đồ chơi, những đêm khuya và tình yêu thương, quá nhiều yêu thương, nhiều hơn những gì mà bà McCullough có thể tưởng tượng - bất chấp tất cả, con bé vẫn cảm thấy cánh tay Bebe là nơi an toàn, là nơi con bé thuộc về. Bà tự nhủ, em bé tiếp theo này, đến từ một trại trẻ mồ côi, sẽ không bao giờ biết đến một bà mẹ khác. Không nghi ngờ gì, con bé sẽ là của họ. Bà McCullough thực sự nôn nao với tình yêu dành cho đứa con bà còn chưa gặp mặt. Bà cố gắng không nghĩ đến Mirabelle, đứa con mà bà đã mất, đang đâu đó ngoài kia sống một cuộc đời khác, ở một đất nước khác.
Đêm cuối cùng, khi đỗ trước nhà Richardson, Pearl đã bỏ chùm chìa khóa đánh xoảng một tiếng vào hộp thư của nhà họ rồi leo trở vào xe và cuối cùng cất lên câu hỏi đã dai dẳng đeo bám nơi đầu lưỡi của cô.
“Sẽ ra sao nếu đó là những hình ảnh sẽ làm cho mẹ nổi danh?”
Không đâu con - đó sẽ là ý tưởng khởi phát trong tâm trí của Mia khi cô nhấn tắt đèn pha, một ý nhỏ, chưa kết thành hình ảnh, chỉ là những câu chữ rời rạc. Khi điều đó xảy ra, nhà Richardson sẽ không bao giờ bán những bức ảnh đó. Họ sẽ giữ chúng lại và những bức ảnh ấy sẽ được xem là biểu tượng gia truyền của một gia đình xào xáo, một thứ mà các thế hệ con cháu sẽ thắc mắc rằng rốt cuộc thì cái hộp bụi bặm trên mái gác đó được phát hiện khi nào, rồi mở ra: những bức ảnh này từ đâu mà có, là ai đã làm, chúng nói lên điều gì.
Bấy giờ, cô Mia cài xe sang số một. “Khi đó mẹ sẽ nợ họ nhiều lắm, nhiều hơn giá của những bức ảnh đó.” Cô lái chiếc Rabbit qua khỏi ao vịt, băng qua đường Van Aken và các con hẻm trên đường Rapid, hướng về phía đường Warrensville, con đường sẽ đưa họ đến cao tốc, ra khỏi Cleveland, và thẳng tiến.
“Ước gì con có cơ hội để nói lời tạm biệt.” Pearl nghĩ đến Moody, đến Lexie, đến Trip, những sợi dây vô hình đã gắn kết cô với mỗi người theo những cách khác nhau. Bao nhiêu năm qua, trong suốt cuộc đời mình, hết lần này đến lần khác cô luôn cố gỡ những mối rối này, và lần nào cũng vậy, nhận ra một nùi chỉ rối vô vọng. “Và cả Izzy. Con ước gì được gặp em ấy lần cuối.” Trong đầu cô, một ý nghĩ bắt đầu trào ra khỏi những vòng lặp cực kỳ liều lĩnh. “Em ấy không thể đi với chúng ta sao? Con có thể trèo lên ban công phía sau và gõ cửa sổ của em ấy và...”
“Con yêu,” cô Mia nói, “Izzy chỉ mới mười bốn tuổi. Việc nào cũng có quy luật của nó con à.”
Nhưng khi chiếc xe giảm tốc ở đường Warrensvile và hướng về xa lộ 1-480, thì Pearl đã để cho bản thân tưởng tượng đôi điều. Họ sẽ giảm tốc ở một con đường hai làn xe, những con đường nhỏ, kiểu mà cô Mia thích: kiểu đi len lỏi qua những thị trấn nhỏ có cửa hàng, có quán cà-phê và cái máy bơm xăng. Bụi cuốn mịt mù khắp không trung khi chiếc xe đi qua, giống như những đám mây sẫm vàng. Họ sẽ vòng qua khúc quanh và ra khỏi đám sương mù màu vàng đó, họ sẽ nhìn thấy một hình bóng mờ ảo đứng bên vệ đường, chìa cánh tay ra, giơ ngón cái lên. Cô Mia sẽ rà xe chậm lại và khi bụi mù lắng xuống họ sẽ nhìn thấy mái tóc của cô trước, một lọn vàng với vàng, và nhận ra mái tóc bù xù đó, sự điên cuồng cực hạn đó, thậm chí trước khi nhìn thấy mặt, thậm chí trước khi ngừng xe, mở rộng cửa và để cô ấy bước vào.
Vài giờ sau, khi cô Mia và Pearl băng qua Illinois, thì Izzy - với mái tóc còn ám mùi khói, phảng phất - đã trèo lên một chiếc xe buýt Greyhound đi đến Pittsburgh. Bên kia thành phố, gia đình cô mới vừa tụ tập nơi bờ hồ vịt, quan sát những người lính cứu hỏa dội nước vào căn nhà của gia đình, hết ngọn lửa này đến ngọn lửa khác. Trong túi quần sau, cô có giữ địa chỉ mà cô đã tìm thấy trong các hồ sơ của mẹ, cô đã lục lọi và lấy đi vào đêm hôm trước. George và Regina Wright. Thành phố Bethel Park, bang Pennsylvania. Ngoài ra, còn có một số điện thoại, nhưng Izzy biết một cú điện thoại sẽ không cho cô đáp án mà cô muốn. Hồ sơ trên bàn của mẹ - kỹ càng gắn nhãn M.W. bằng chữ viết tay tỉ mỉ của mẹ - đã khá đầy đủ, và cô đã đọc hết tất cả, khi ngồi dưới ánh đèn trên chiếc ghế văn phòng của mẹ, lúc mà mọi người ngủ say ở trên lầu. Cô chắc chắn, George và Regina Wright này sẽ giúp cô tìm ra cô Mia và Pearl, dù họ có đến bất cứ đâu. Bây giờ, ngồi vào ghế và tựa đầu vào cửa sổ, cô tưởng tượng mọi chuyện sẽ ra sao. Trước tiên, cô sẽ nhận ra họ từ phía sau - nhưng tất nhiên là cô sẽ nhận ra họ ngay lập tức, dáng người mảnh mai của cô Mia và búi tóc rối bù, chị Pearl bên cạnh cô. Izzy nhận ra hình bóng của họ giống như một hình dáng mà cô đã nhiều lần tìm kiếm cho đến lúc hình bóng ấy đã đi vào lòng cô tự lúc nào. Cô sẽ tìm ra họ và khi họ quay sang nhìn thấy cô, họ sẽ mở rộng vòng tay chào đón cô, họ sẽ ôm lấy cô và cho cô đồng hành, đến bất cứ chặng tiếp theo nào mà họ muốn.
Cái đêm cuối cùng đó, khi cuối cùng bà Richardson cũng đặt mình nằm ngủ ở ngôi nhà trên đường Winslow, thì bà bắt đầu suy nghĩ, như bà sẽ luôn như thế suốt một thời gian dài, về đứa con út của mình. Tiếng ồn của căn nhà với bà sao xa lạ - tiếng rền của tủ lạnh, tiếng ầm ầm khe khẽ của lò sưởi tầng dưới, tiếng cót két của một nhánh cây xào xạc trên mái ngói ở tầng trên - và bà ngồi dậy, bước ra ngoài và ngồi trên bậc thang của căn hộ hai tầng nhỏ bé, áo choàng quấn quanh người. Dưới chân bà, thềm xi-măng mát lạnh và hơi ướt át, như thể có một con ếch vừa mới nhảy lên.
Suốt ngày bà luôn tỏ thái độ cau có với Izzy, cả trong suy nghĩ lẫn ngoài mặt. Đứa bạc bẽo, bà nói thế. Sao nó có thể làm được chuyện này. Khi để họ tìm ra thì nó còn làm được gì. Cuộc đời nó sẽ bị chôn vùi. Nó sẽ bị gửi đến trường nội trú. Trường quân sự. Một tu viện. Bà nửa muốn để cảnh sát bắt được nó, để nó thấm thía hậu quả ở trong tù. Quá quen với những cơn thịnh nộ mà bà trút xuống Izzy, chồng con bà chỉ im lặng gật đầu, để mặc bà chửi rủa. Nhưng lần này thì khác. Lần này Izzy đã vượt qua mọi giới hạn, và bây giờ - mỗi thành viên trong nhà đều dần dần nhận ra - con bé đã biến mất, thật sự biến mất, và có lẽ không bao giờ quay lại.
Tất nhiên, cảnh sát đang tìm kiếm Izzy; họ đã cảnh báo rằng con bé là kẻ đào tẩu và là đứa có khả năng gây nguy hiểm, và trong những ngày tới bà Richardson sẽ đưa hình ảnh cho bản tin và áp-phích, sẽ theo dõi bạn bè và bạn học của Izzy từng người một, tìm kiếm manh mối con bé đã đi đâu. Nhưng bà nhận ra, những người có thể biết được đều đã đi rồi. Từ đầu trên xóm dưới, những ngôi nhà trông giống với mọi ngôi nhà khác - nhưng chứa trong đó là những con người có thể hạnh phúc, hoặc đang nương náu, hoặc chuẩn bị bước ra thế giới, để tìm kiếm điều gì đó tốt đẹp hơn. Vì vậy, có rất nhiều cuộc đời mà bà sẽ không bao giờ ngờ hết được, đang mở ra đằng sau những cánh cửa ẩn khuất.
Đã gần nửa đêm, và một chiếc xe chạy nhanh xuống đường Winslow, đèn xe chiếu sáng, như thể có một nơi quan trọng phải đến, sau đó biến mất vào bóng tối. Bà nghĩ, có lẽ trong mắt hàng xóm bà rất điên rồ, ngồi trong bóng tối trên những bậc thang ngoài đó, nhưng lần này bà không hề để tâm. Sự tức giận bà cả ngày nung nấu đã nguội xuống, giống như sức nóng buổi chiều dần hạ nhiệt khi màn đêm buông, chỉ để lại trong lòng bà một suy nghĩ, chán nản, ngưng tụ và nhức nhối như một ngôi sao: Izzy đã đi rồi. Tất cả mọi thứ làm bà tức điên với Izzy, ngay cả khi con bé chưa chào đời, đều bắt nguồn từ một nỗi sợ, bà sợ rằng sẽ mất Izzy. Và bây giờ bà mất Izzy thật rồi. Tiếng thét yếu ớt bật ra từ cổ họng, bén ngót như lưỡi dao.
Lần đầu tiên trái tim bà vỡ nát, nghĩ đến con mình lạc lõng giữa thế giới ngoài kia. Izzy: đứa con đã gây cho bà quá nhiều rắc rối, đứa đã làm bà lo lắng biết bao nhiêu thậm chí trước khi nó chào đời, đứa không thôi khiến bà lo lắng cũng như lo nghĩ cho nó, một đứa tăng động, rốt cuộc, cũng bay đi mất. Bà đã nghĩ rằng đứa con này đối nghịch với mình nhưng, trong thâm tâm, bà biết đó là đứa thừa hưởng, chứa đựng và cháy trong lòng ngọn lửa mà từ rất lâu bà luôn nén chặt. Bà nghĩ, như bà sẽ thường làm suốt nhiều năm sau nữa, về bức ảnh của buổi sáng hôm ấy, bức ảnh có chiếc lông màu vàng: Có phải đó là chân dung của bà, hay của con gái bà? Con bé là con chim đang cố phá lồng tìm tự do, hay bà chính là cái lồng?
Cảnh sát sẽ tìm ra Izzy, bà tự nhủ. Họ sẽ tìm ra nó và bà sẽ có thể bù đắp. Bà không chắc phải làm sao, nhưng bà biết bà chắc chắn sẽ bù đắp. Và nếu cảnh sát không thể tìm thấy Izzy thì sao? Vậy thì, bà sẽ tự tìm. Bất kể phải mất bao lâu, bất kể có là mãi mãi. Có thể nhiều năm trôi qua và hai mẹ con đều thay đổi, nhưng bà chắc chắn sẽ nhận ra con gái mình, cũng như con gái sẽ nhận ra bà, dù qua bao nhiêu lâu đi nữa. Bà chắc chắn điều đó. Bà sẽ dành nhiều tháng, nhiều năm, dành cả phần đời còn lại để tìm con gái, để tìm kiếm từng khuôn mặt thiếu nữ mà bà gặp, tìm kiếm một tia sáng thân thương trên khuôn mặt những con người xa lạ.
❀ ❀ ❀
[1] Origami: nghệ thuật gấp giấy (hay nghệ thuật xếp giấy) có xuất xứ từ Nhật Bản. Chữ “origami” trong tiếng Nhật bắt nguồn từ hai chữ “ori” (gấp hay xếp) và “kami” (giấy). Origami chỉ được dùng từ 1880; trước đó, người Nhật dùng chữ “orikata”. Origami kết hợp những cách gấp đơn giản để biến miếng giấy hình chữ nhật (2 chiều), mà thường là hình vuông, thành những hình phức tạp (3 chiều), không cắt dán trong quá trình gập. Đây cũng là xu hướng của origami hiện đại. Không giống như người ta thường nghĩ, các quy tắc origami truyền thống của Nhật Bản (bắt đầu từ khoảng thời Edo), lại ít nghiêm ngặt hơn origami hiện đại: giấy gấp có thể là hình tròn, tam giác, và có thể cắt dán trong quá trình gấp.