Những Đốm Lửa Lưu Lạc

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7

❊ ❊ ❊

Mọi sự sắp đặt nhanh chóng được dàn xếp ổn thỏa: đổi lấy ba trăm đô-la một tháng - tương đương chỗ tiền thuê nhà mà hai mẹ con phải trả - cô Mia sẽ hút bụi, lau chùi bàn ghế, và dọn dẹp nhà cho gia đình Richardson ba lần mỗi tuần cộng với nấu bữa tối mỗi ngày. Và chẳng bất ngờ gì, Pearl rất khó chịu với chuyện này. “Sao bác ấy lại hỏi mẹ,” Pearl lầm bầm gặng hỏi, và cô Mia lặng thinh rồi tự nhắc bản thân rằng, xét cho cùng, con gái mình chỉ mới mười lăm tuổi. “Vì bác ấy đang cố tử tế với nhà mình,” cô bắt bẻ lại, và may sao, Pearl bỏ lửng chuyện này. Nhưng trong lòng con bé đang điên tiết với suy nghĩ rằng mẹ đang xâm phạm vào thứ mà cô xem là không gian của riêng mình - căn nhà của gia đình Richardson. Mẹ chỉ cách đó có vài thước, nơi phòng bếp, nghe thấy mọi chuyện, quan sát mọi thứ. Những buổi chiều nằm trên ghế dài, những trò đùa mà cô góp mặt, thậm chí nghi thức lố lăng của việc xem chương trình Jerry Springer - tất thảy đều bị hủy hoại.

Ông Richardson cũng vậy, ông thấy bất tiện với sự sắp xếp mới này. Ông nghĩ rằng thuê một người giúp việc là cần thiết, nhưng thuê ai đó mà họ biết rõ lại là điều cần thiết hơn, có thể là mẹ của một trong số bạn bè của tụi nhỏ. Nhưng ông thấy bà Richardson lại xem đó là việc làm rộng lượng, vì vậy thay vì tranh luận, ông cho rằng cần phải nói chuyện với cô Mia ngay buổi sáng đầu tiên cô ấy đến mới là điều quan trọng.

“Gia đình anh rất cảm ơn sự giúp đỡ của em,” ông nói với cô Mia, khi cô kéo thùng đồ nghề vệ sinh từ dưới bồn rửa. “Thật sự đó là sự giúp đỡ vô cùng, vô cùng to lớn đối với nhà anh.” Cô Mia cười, với lấy chai nước tẩy rửa Windex và không nói gì. Và ông Richardson bắt qua chuyện khác để nói tiếp. “Em thấy Shaker thế nào?”

“Một nơi tuyệt vời.” Cô Mia xịt lên kệ bếp và dùng miếng xốp chà ngang qua, dồn những mẩu vụn vào bồn rửa. “Anh cũng lớn lên ở Shaker này à?”

“Không, chỉ Elena thôi.” Ông Richardson lắc đầu. “Thậm chí trước khi gặp Elena, anh chưa từng biết đến thành phố Shaker Heights, hay người Shaker nữa.” Tuần đầu tiên ở đại học Denison, ông đã đổ gục trước cô sinh viên sôi nổi đang ở khuôn viên trường thu thập chữ ký để hoàn tất bản thảo. Lúc hai người tốt nghiệp cũng là khi ông say mê vùng đất Shaker Heights, qua cách mà Elena đã miêu tả về nó: là cộng đồng tiên phong trong việc kế hoạch hóa, cộng đồng tiến bộ nhất, một nơi lý tưởng dành cho những thanh niên lý tưởng hóa. Tại quê nhà nhỏ bé của ông, người ta có suy nghĩ ngờ vực mọi thứ: ông trưởng thành trong môi trường nhẫn nhục chua ngoa, dù vậy ông vẫn tin chắc rằng thế giới ngoài kia có thể tốt đẹp hơn. Đó là lý do vì sao ông khao khát ra đi, và cũng là lý do vì sao ông đắm say người con gái ấy ngay lần đầu gặp gỡ. Đại học Oberlin là nơi ông lựa chọn đầu tiên; và đã bị từ chối, ông từng quyết định đó là ngôi trường duy nhất giúp ông rời khỏi quê nhà, nhưng ngay khi gặp Elena, dường như đối với ông cuộc gặp gỡ này là sự sắp đặt của số phận. Elena quyết định về quê ngay khi học xong, và bà càng nói với ông về dự định đó thì ông lại càng sẵn lòng theo bà về. Với ông, dường như chuyện này hết sức tự nhiên, rằng một nơi như vậy đã sinh ra vị hôn thê chuẩn mực cho ông, người luôn phấn đấu để hoàn thiện bản thân, và sau khi tốt nghiệp, ông vui sướng theo bà trở về Shaker Heights.

Sau gần hai mươi năm, bây giờ sự nghiệp, gia đình và cuộc sống đã ổn định, thì mỗi khi đổ đầy xăng loại tốt cho chiếc BMW của mình, hoặc lau chùi mấy cây gậy đánh gôn, hoặc ký đơn cho mấy đứa nhỏ đi trượt tuyết, ông luôn thấy xót xa khi nghĩ rằng mình đã đánh mất nhiều lý tưởng thời đại học mà bản thân từng khao khát. Elena cũng vậy, bà nay già dặn: tất nhiên bà vẫn quyên góp từ thiện và bầu Đảng viên Dân chủ, nhưng cuộc sống thoải mái ở vùng ngoại ô suốt nhiều năm qua đã làm cả hai thay đổi. Không bao giờ hai vợ chồng lại có quan điểm cực đoan - ngay cả trong thời điểm diễn ra các cuộc biểu tình, tọa kháng, diễu hành, hay những cuộc nổi loạn - nhưng giờ đây họ sở hữu hai căn nhà, bốn chiếc xe và một con thuyền nhỏ neo ở khu trung tâm bến thuyền. Họ có người cày tuyết vào mùa đông, có người cắt cỏ vào mùa hè. Và, tất nhiên, nhiều nãm qua nhà họ thuê người giúp việc, cả một danh sách dài những người giúp việc họ đã thuê, và người phụ nữ trẻ hiện đang ở nhà bếp đây là người mới nhất, đang đợi ông rời khỏi để cho cô lau chùi.

Ông tự ngẫm lại, cười e dè rồi nhặt lấy cập tài liệu, ông dừng chân ngay lối vào ga-ra. “Nếu làm ở đây mà có gì không tiện, hãy cho anh biết. Sẽ không để bụng đâu, anh hứa đấy.”

Cô Mia nhanh chóng lên lịch: cô đến nhà họ lúc tám giờ rưỡi sáng, ngay sau khi mọi người đi làm và đi học, rồi sẽ làm xong trước mười giờ. Sau đó cô sẽ về nhà với cái máy ảnh, rồi trở lại lúc năm giờ để nấu bữa tối. “Không cần đi hai chuyến đâu em,” bà Richardson bày, nhưng cô Mia nhấn mạnh rằng giữa trưa là thời điểm lý tưởng nhất để cô chụp ảnh. Thật ra là cô muốn xem xét gia đình Richardson cả khi họ có nhà lẫn lúc họ vắng mặt. Dường như gia đình họ luôn có thứ gì đó mới mẻ khiến Pearl ngày nào cũng say mê: một câu cửa miệng (“Con sắp chết thật luôn rồi đây”), một điệu bộ (hất tóc, trợn mắt). Cô Mia nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần rằng con bé chỉ mới tuổi teen, con bé đang thử những thói mới, như tất cả những cô cậu tuổi teen vẫn làm, tuy nhiên cô bí mật thận trọng để mắt đến những thay đổi mà mình trông thấy. Giờ đây, mỗi buổi chiều cô sẽ đến đó để trông chừng Pearl, để quan sát những thành viên trong gia đình Richardson, những người đã thu hút con gái mình đến vậy. Mỗi buổi sáng, cô thoải mái tự mình xem xét.

Cô sẽ đến đó ngay sau khi nhà Richardson rời khỏi và, trong quá trình dọn dẹp, cô bắt đầu cẩn thận quan sát. Cô biết khi nào Trip trượt bài kiểm tra môn Toán qua đống mảnh vụn trong thùng rác của Trip, khi nào Moody sáng tác nhạc qua những nùi giấy nhàu nhĩ trong thùng rác của Moody. Cô biết nhà Richardson không ai ăn đế bánh pizza và không ăn những quả chuối chín rục, rằng con bé Lexie nghiện tạp chí lá cải, rằng khi nghiên cứu thâu đêm, ông Richardson thích ăn cả túi kẹo caramen nhân kem. Sau vài giờ dọn dẹp, khi đã xong xuôi, căn nhà sạch sẽ, cũng là lúc cô biết tỏng mỗi thành viên của nhà này đang gặp chuyện gì.

Sau một tuần đảm nhiệm vai trò mới của mình, đây là cách cô Mia tình cờ xuất hiện trong căn bếp của nhà Richardson thì sáng hôm ấy Izzy thơ thẩn bước xuống lầu lúc chín giờ rưỡi.

Ngày hôm trước, chuyện Izzy bị đuổi học đã khiến cả nhà không hề ngạc nhiên nhưng lại hết sức giật mình. Theo lời của vị hiệu phó vừa nhậm chức, ngay giữa dàn nhạc, con bé đã lên gối bẻ gãy vĩ đàn của giáo viên và ném mớ mảnh gãy vào mặt cô giáo. Dù gặng hỏi nhiều lần và nghiêm khắc nói chuyện ở trường lẫn ở nhà thì con bé vẫn không hé răng nửa lời về lý do gây ra cơn bộc phát này. Như Lexie nói, đặc điểm của Izzy là: kích động vô cớ, làm những chuyện điên rồ mà chẳng mục đích gì. Do đó, sau cuộc gặp gấp rút giữa mẹ cô, hiệu trưởng và cô giáo dạy nhạc bị xúc phạm thì con bé bị đuổi học trong ba ngày. Cô Mia đang lau dọn bếp lò thì Izzy giậm chân bước vào - đôi chân trần ầm ĩ giậm thình thịch y như khi con bé mang đôi giày Dr. Martens của mình - và dừng lại.

“Ồ,” con bé kêu lên. “Là cô à. Cô giúp việc theo hợp đồng. Ý con là, cô lao công kiêm người thuê nhà.”

Ngày hôm qua, cô Mia đã nghe được phiên bản thứ ba của sự việc từ Pearl. “Cô là Mia,” cô giới thiệu. “Cô đoán con là Izzy.”

Izzy ngồi lên ghế đẩu. “Một con điên.”

Cô Mia cẩn thận lau sạch kệ bếp. “Không ai nói vậy với cô cả.” Cô rửa miếng xốp và đặt nó lên giá cho khô.

Izzy chợt lặng thinh và cô Mia bắt đầu chà sạch bồn rửa. Khi chà xong, cô bật vỉ nướng. Sau đó cô lấy trong hộp đựng một mẩu bánh mì từ ổ bánh, phết bơ, rắc một lớp đường dày và cho vào lò nướng đến khi đường chảy thành lớp caramen nâu vàng sủi bọt. Cô đặt thêm một miếng bánh mì lên bên trên, cắt miếng sandwich làm hai và đặt nó trước mặt Izzy - như một gợi ý, không phải yêu cầu. Thỉnh thoảng cô vẫn làm món này cho Pearl, khi con bé bị cái mà cô Mia gọi là “ngày phiền muộn”. Izzy vẫn yên lặng thích thú quan sát, không nói một lời nhưng đã kéo cái đĩa về phía mình. Khi ăn xong miếng sandwich cuối cùng, con bé liếm bơ trên các ngón tay và ngẩng mặt lên.

“Vậy cô có muốn nghe chuyện gì đã xảy ra không?” cô bé hỏi, và toàn bộ câu chuyện được tiết lộ.

Hầu như ai cũng ghét cô giáo dạy nhạc, bà Peters. Bà ấy cao lêu khêu, gầy đét với mái tóc nhuộm màu vàng nhạt quái dị và cắt theo kiểu gợi nhớ đến vận động viên trượt băng Dorothy Hamill. Theo Izzy, bà ta là một nhạc trưởng vô dụng và ai cũng biết rằng phải theo nhịp của Kerry Schmann, người chỉ huy dàn nhạc violin. Sau vài năm, một tin đồn dai dẳng mãi đã thành sự thật - khẳng định bà ta là kẻ nghiện rượu. Izzy không hoàn toàn tin vào lời đồn đó, cho đến sáng nọ bà Peters mượn cây violin của cô để hướng dẫn cách kéo đàn; khi bà trả lại thì chỗ tựa cằm mướt mồ hôi và mùi rượu whiskey không lẫn vào đâu được. Người ta nói, khi bà Peters mang theo cái phích lớn đựng cà-phê, thì người ta biết rằng hôm trước bà đã có một đêm say túy lúy. Hơn nữa, bà thường buông lời châm biếm rất chua ngoa, đặc biệt đối với những người chơi violin ở nhóm hai, đặc biệt với những ai - như ai đó trong số những người chơi cello lạnh nhạt nói, bị bà gọi là “sắc tố quỷ quái”. Những chuyện về bà đã ngấm vào Izzy ngay từ khi còn ở trường trung học cơ sở.

Izzy đã chơi violin từ năm lên bốn, và được chỉ định cho vị trí nhóm hai ngay cả khi cô bé chỉ là một học sinh năm nhất, nên cô không có gì phải sợ. “Em sẽ ổn thôi,” người chơi cello đã bảo cô như vậy trong khi đang dán mắt vào mái tóc vàng hoe uốn lọn của Izzy - ngọn bồ công anh lượn lờ, Lexie thích gọi thế. Nếu Izzy tránh sự chú ý của bà Peters thì có thể bà ta đã phớt lờ cô. Nhưng Izzy không phải kiểu người tránh né.

Buổi sáng hôm ấy, ngày mà Izzy bị đình chỉ học, cô bé đã vào vị trí của mình, đang luyện bấm ngón phức tạp trên dây Mi cho một nhạc phẩm của Saint-Saens mà cô bé đang học trong các buổi kèm riêng. Tiếng ồn ào của những bạn chơi viola và cello xung quanh im bặt khi bà Peters xông vào, cầm phích trên tay. Quá rõ ràng là tâm trạng bà ta đặc biệt xấu. Bà chộp lấy Shanita Grimes bắt nhổ kẹo cao su ra. Bà quát Jessie Leibovitz vì vừa làm đứt dây La và đang mò tìm dây thay thế trong túi đựng đàn. “Chưa tỉnh rượu đấy,” Kerry Schulman nói to với Izzy, cô gật đầu nghiêm nghị. Cô biết tỏng chuyện này là gì - có vài lần anh Trip về nhà sau tiệc tùng với đội khúc côn cầu và y như rằng, sáng hôm sau anh ấy gần như sẽ cực kỳ ngờ nghệch và loạng choạng, ngay cả anh Trip còn vậy - nhưng cô biết những biểu hiện đó cũng do đau đầu và tính khí gắt gỏng. Cô gõ nhẹ đầu vĩ lên đôi giày ống của mình.

Đứng trên bục, bà Peters cầm cốc cà-phê ực một ngụm lớn. “Offenbach”, bà quát ầm, giơ tay phải lên. Khắp phòng, đám học sinh lướt nhanh qua tờ nhạc bướm của mình.

Nhịp mười hai vở Orpheus, bà Peters vẫy tay.

“Có đứa trật nhịp rồi,” bà nói. Bà Peters cầm vĩ đàn chỉ vào Deja Johnson, cô bé ngồi phía sau vị trí nhóm hai. “Deja. Em chơi từ nhịp 6.”

Ai cũng biết Deja là đứa cực kỳ nhút nhát, cô thoáng ngước nhìn bằng ánh mắt thỏ con hoảng hốt. Cô bắt đầu chơi, và ai cũng nghe thấy sự rùng mình yếu ớt từ đôi tay đang run rẩy ấy. Bà Peters lắc đầu và gõ cày vĩ lên chỗ cô đứng. “Kéo vĩ sai rồi. Xuống, lên-lên, xuống, lên. Làm lại đi.” Deja ngần ngại kéo khúc nhạc thêm lần nữa. Căn phòng sục sôi oán giận, nhưng không ai nói gì.

Bà Peters húp cà-phê sùm sụp. “Deja, đứng lên. Bây giờ, ngoan ngoãn và chơi nhạc to lên, để mọi người có thể nghe những gì mình không được phép làm.” Khóe miệng của Joyce giần giật, y như đang khóc, nhưng cô ấy vẫn đặt cần vĩ lên dây đàn và bắt đầu gảy thêm lần nữa. Bà Peters lại lắc đầu, giọng bà rít gắt hơn cả tiếng violin độc tấu. “Deja. Xuống, lên-lên, xuống, lên. Em không hiểu hay sao? Em có cần tôi nói bằng tiếng mọi[1] hay không?”

Ngay lúc đó Izzy nhảy bổ khỏi ghế và túm lấy vĩ đàn của bà Peters.

Ngay cả khi kể chuyện này với cô Mia, cô bé vẫn không hiểu nổi tại sao mình lại phản ứng mạnh đến vậy. Một phần vì Deja Johnson luôn hoảng hốt nhìn những kẻ trông đợi điều tồi tệ nhất. Thật ra mẹ của cô ấy làm trợ lý bác sĩ; thực tế, bà ấy làm việc cho mẹ của Serena Vương ngay tại Phòng khám Cleveland. Còn bố cô thì quản lý một nhà kho ở vùng West Side. Dù trong dàn nhạc không có nhiều học sinh da đen, thì khi xuất hiện trong các buổi hòa nhạc, bố mẹ cô luôn tự ngồi ở hàng ghế cuối cùng; họ không bao giờ tán gẫu cùng những phụ huynh khác về vườn tược, việc tu sửa hay các kế hoạch cho kỳ nghỉ xuân. Họ đã nuôi nấng Deja trong ngôi nhà nhỏ bé thoải mái ở khu rìa nam của Shaker, cô bé bắt đầu học mẫu giáo ở đó, cho đến khi lên trung học - như người ta đùa cợt - cô nói chuyện không quá mười từ một năm.

Nhưng không giống với những người chơi violin khác - những kẻ bực tức với Izzy khi mới năm đầu mà cô đã được vào vị trí nhóm hai - Deja không bao giờ tham gia vào những bình luận cạnh khóe hoặc gọi Izzy là “đồ lính mới”. Trong tuần đầu đi học, khi mọi người nối đuôi nhau ra khỏi phòng nhạc, Deja đã vươn người kéo lại dây khóa cặp sách cho Izzy, che lại bộ đồ thể dục đang hở ra. Vài tuần sau đó, khi Izzy đang lục lọi túi xách, tuyệt vọng tìm cái băng vệ sinh, thì Deja dè dặt vươn người qua lối đi và giơ ra bàn tay đang nắm chặt. Cô nói “Đây” và Izzy hiểu ra thứ trong lòng bàn tay của cô bạn là gì thậm chí trước khi thấy được vết nhăn của lớp bọc nhựa.

Nhìn bà Peters bắt nạt Deja trước mặt mọi người giống như nhìn người ta lôi chú mèo con ra giữa đường rồi lấy gạch đá đánh nó, và trong lòng Izzy có thứ gì đó đang bùng nổ. Trước khi nhận ra được điều đó thì cô đã lên gối bẻ gãy vĩ đàn của bà Peters và ném những mánh gãy vào bà. Bà Peters thét lên kinh ngạc khi hai nửa vĩ đàn gãy rời - vẫn còn dính với dây vĩ - quất ngang mặt bà, và tiếng thét chói tai khi phích cà-phê đang bốc khói trên tay bà đổ lật xuống ngay trước mặt. Phòng tập nổ lên tràng cười lớn cùng tiếng thét inh tai kèm tiếng huýt sáo, và bà Peters, với cà-phê nhễu trên những sợi gân cổ, đã dùng cùi chỏ tóm lấy Izzy và lôi con bé ra khỏi phòng. Tại văn phòng hiệu trưởng, chờ mẹ đến, Izzy tự hỏi liệu Deja cảm thấy hả hê hay bối rối, và cô mong được một lần nhìn thấy nét mặt của Deja.

Bây giờ, dù Izzy có chắc chắn rằng cô Mia hiểu rõ chuyện này, thì cô cũng không biết phải làm sao diễn tả hết cảm xúc trong lòng. Cô chỉ nói “Peters là mụ chó. Bà ta lấy quyền gì mà nói vậy với Deja.”

“Nào?” cô Mia hỏi. “Con định sẽ trả đũa chuyện này ra sao?”

Trước giờ, chưa ai hỏi cô như vậy. Mãi đến bây giờ, cuộc sống của Izzy là chuỗi ngày thịnh nộ trong câm lặng và vô ích. Tuần đầu tiên đi học, sau khi đọc các tác phẩm của T.S. Eliot, cô đã chêm thêm vào các tấm biển trên mọi bảng tin: Tôi đo đời mình bằng những muỗng cà-phê Tôi có dám ăn một trái đào hay không?TÔI CÓ DÁM QUẤY ĐỘNG VŨ TRỤ? Bài thơ làm cô nghĩ đến mẹ mình, bà nhỏ chính xác từng giọt kem béo vào chiếc thìa cà-phê, nổi điên lên về tác hại của thuốc trừ sâu nếu Izzy cắn một quả táo chưa rửa, đưa ra những giới hạn khắt khe xung quanh mỗi hành động của cô - bài thơ còn làm cô nghĩ đến các anh chị của mình, chị Lexie, anh Trip và bất kỳ ai giống họ, những người mà Izzy cảm thấy họ giống với tất cả mọi người. Họ quá lo âu trong việc ăn vận đúng cách, nói năng đúng chuyện, kết bạn đúng người. Cô có những ảo tưởng bí mật về những gì các học sinh đang xì xào bàn tán trong các hội trường - Những tấm biển đó? Ai dán chúng lên? Chúng có nghĩa là gì? - hãy để ý đến chúng, nghĩ ngợi về chúng, làm ơn làm phước hãy thức tỉnh đi. Tuy nhiên, trong sự vội vã trước tiết đầu tiên, mọi người lên xuống cầu thang cứ đi ùa qua chúng, họ quá bận rộn với việc ghi chép và nhồi nhét các bài kiểm tra đến nỗi không liếc nhìn bảng tin lấy một lần, và sau tiết thứ hai cô thấy một số nhân viên an ninh nghiêm khắc đã xé các tấm áp-phích xuống, không chút bận tâm với những thông điệp khó hiểu này, chỉ để lại những tờ bướm của Tổ chức Thanh niên Xóa đói (Youth Ending Hunger), Mô hình Liên Hiệp Quốc và Câu lạc bộ tiếng Pháp. Tuần thứ hai đi học, khi cô Bellamy yêu cầu học thuộc lòng một bài thơ và đọc lại trước lớp thì Izzy đã chọn bài This Be The Verse, cô cảm thấy bài thơ - dựa trên cảm nhận của cô bé mười bốn tuổi rưỡi như cô - đã kết luận khá chính xác về cuộc sống. Cô bé chỉ đọc được mỗi câu “Họ làm ta bực, hết bố rồi mẹ...” thì cô Bellamy dứt khoát bắt cô ngồi xuống và cho 0 điểm.

Cô sẽ trả đũa thế nào chứ? Chính ý nghĩ rằng mình có thể phản ứng gì đó đã làm cô choáng váng.

Lúc bấy giờ, xe của Lexie đã đỗ ở lối đi và chị ấy bước vào, cặp sách lủng lẳng trên vai, nồng mùi thuốc lá và hương nước hoa CK One. “May quá, mày đây rồi,” cô reo lên, chộp lấy cái ví ngay rìa quầy bếp. Bà Richardson thường nói rằng cái đầu mà không dính vào người chắc Lexie cũng bỏ quên luôn ở nhà. “Ngày nghỉ vui chứ?” cô hỏi Izzy, và cô Mia thấy vẻ rạng rỡ của Izzy tắt ngấm.

Cô bé nói “Cảm ơn sandwich của cô,” sau đó trượt khỏi ghế rồi lên lầu.

“Chúa ơi,” Lexie tròn mắt kêu lên. “Không bao giờ con hiểu được con nhỏ đó.” Cô nhìn cô Mia, chờ đợi cái gật đầu đồng tình, nhưng nó không đến. “Lái xe cẩn thận,” là tất cả những gì cô ấy nói, rồi Lexie vụt đi ra, ví trên tay, và trong phút chốc chiếc Explorer của cô nổ máy rầm rầm bên ngoài.

Izzy có trái tim cực đoan, nhưng khi mười bốn tuổi cô đã trải qua thời gian sống tại vùng ngoại ô Trung Tây. Nói cách khác: cô bé loay hoay với những ý tưởng trả thù lắm công phu - ném trứng vào cửa sổ, đốt túi phân chó - và chọn lấy cách tốt nhất trong số những chiêu trò giới hạn của mình.

Một buổi chiều của hai hôm sau đó, khi Pearl và Moody đang ở phòng khách xem chương trình Ricki Lake thì nhìn thấy Izzy điềm tĩnh dứt khoát sải bước xuống hành lang, mỗi bên tay nhét sáu cuộn giấy vệ sinh. Hai người vội liếc nhìn nhau, sau đó, không cần bàn cãi mà đuổi theo con bé.

“Mày ngu ngốc bốc đồng lắm,” Moody quát, khi hai người chặn Izzy ngay tiền sảnh và thận trọng cản con bé lại trong phòng bếp. “Định quấn kín[2] nhà bà ta à?”

“Mụ chó đó cần được dọn sạch,” Izzy nói. “Những thứ này sẽ làm bả nổi khùng. Bả đáng bị chọc điên.”

“Và bà ta sẽ biết mày làm. Con nhỏ mà bả vừa đình chỉ học.” Moody đá cuộn giấy vệ sinh xuống dưới bàn. “Nếu không bị bắt tại trận. Biết đâu mày làm ra cái trò gì rồi chứ.”

Izzy quắc mắt. “Anh có cách hay hơn chắc?”

“Con không thể chỉ phá mỗi bà Peters,” cô Mia nói. Cả ba đứa trẻ ngạc nhiên ngước nhìn lên. Trong phút chốc, bọn chúng quên khuấy rằng cô Mia cũng ở đó, nhưng cô ở đó để thái ớt nấu bữa tối và điều này nghe ra không giống bất cứ phụ huynh nào mà bọn chúng từng biết. “Con phải phá hết bọn họ,” cô Mia nói tiếp. Đó là manh mối đầu tiên, sau này chúng sẽ nhận ra rằng trong cô hãy còn một góc khuất. Nhưng từ trong ánh mắt của Mia, bọn trẻ nhận ra cô không chỉ đáng gờm mà còn sắc bén hơn những gì chúng vẫn tưởng.

Bấy giờ, cơn tức giận của Izzy đã căng lên đến mức không chỉ nhắm vào bà Peters mà còn có hiệu trưởng, người đã thuê bà ta, hiệu phó người đã đình chỉ việc học của cô, mỗi giáo viên - mỗi người lớn - nhũng kẻ từng dùng thứ quyền lực độc đoán không xứng đáng để trừng phạt học sinh. “Con chính là muốn chọc điên bà ta,” Izzy nói. “Con muốn chọc điên tất cả bọn họ.”

“Hừm,” Mia lên tiếng. Cô nhớ lại thời mình còn ưẻ, nhớ đến nhũng trò chơi khăm mà mình từng thấy hoặc từng làm, và ý tưởng bắt đầu nảy ra trong đầu cô. Pearl nhìn mẹ, giật mình với mỗi thay đổi nhỏ trên gương mặt ấy, từ cái nhướn mày khe khẽ đến cái nhíu mắt khẽ khàng của mẹ. Đột nhiên, cô nhìn thấy nơi mẹ thứ khả năng không chỉ tạo ra trò tinh quái - hoặc thậm chí phá hoại - mà mẹ còn thích thú với chuyện đó. Một bộ mặt khác của mẹ mà cô chưa từng nhìn thấy.

Chèn cái tăm vào ổ khóa rồi bẻ ngang là một ý tưởng tuyệt vòi. Việc này không làm hư ổ khóa, nhưng lại làm cho chìa không thể đút vào, vì vậy không thể mở cửa. Rất khó để gỡ ra nếu không có cái nhíp đầu nhọn, cái thứ thường khó cầm và khá mất thời gian để tìm. Người giữ chìa càng nóng vội, chiếc chìa càng nhất quyết, càng khăng khăng rơi vào lỗ khóa, thì chiếc tăm càng ngoan cường níu lấy phần bên trong của ổ khóa, và càng mất nhiều thời gian để rút nó ra dù có dùng đúng dụng cụ đi nữa. Một thanh niên khá thông thạo, làm việc mau lẹ thì có thể chèn chiếc tăm vào ổ khóa, bẻ ngang rồi bỏ đi trong vòng ba giây. Ba đứa teen, đồng thời hành động có thể làm tê liệt cả một trường trung học có một trăm hai mươi sáu cánh cửa trong khoảng mười phút đổ lại, đủ nhanh để tránh sự chú ý và trở về vị trí thường ngày của chúng ở hành lang để theo dõi chuyện xảy ra sau đó.

Khi những giáo viên đầu tiên chú ý đến các cánh cửa bị khóa chặt, thì đã bảy giờ hai mươi bảy phút. Đến bảy giờ bốn mươi, khi hầu hết các giáo viên đều đến trước cửa lớp của mình và thấy khó mở cửa thì ông Wrigley, thầy giám thị đã lên lầu đi vào khu khoa học, cố dùng mũi dao nhíp bỏ túi thử bẫy mảnh tăm đầu tiên ra khỏi ổ khóa phòng thí nghiệm hóa học. Đến bảy giờ bốn mươi lăm, khi thầy Wrigley trở lại văn phòng của mình để tìm hộp dụng cụ và cái nhíp, thì ông thấy một đám đông các giáo viên tụ tập trước lối vào phòng ông, đang la hét ầm ĩ về những cái khóa bị kẹt. Trong cảnh hỗn loạn, ai đó đã đập vỡ thanh đệm cửa giữ cho cửa phòng thầy Wrigley luôn mở làm cửa phòng đóng sầm lại, và cuối cùng thì thầy Wrigley cũng khám phá ra chiếc tăm mà chính Izzy đã cẩn thận đặt vào ổ khóa đó từ sớm, lúc ông bước ra ngoài pha tách cà-phê.

Trong lúc này các học sinh dần dần đến lớp, đầu tiên là những chú chim đến sớm như thường lệ, những kẻ đến trường lúc bảy giờ mười lăm phút để đảm bảo có chỗ đỗ xe ở bãi bầu dục quanh trường, sau đó là những học sinh được bố mẹ đưa đón hoặc tự đi bộ. Khi các nhóm đi học trễ lác đác đến là đã bảy giờ bốn mươi hai phút và chuông tiết đầu đã reo lên, khắp hành lang nhồi nhét chen chúc bởi những học sinh hân hoan vui sướng, những thư ký hoang mang ngơ ngác và những giáo viên giận dữ điên tiết.

Phải mất thêm hai mươi phút thì thầy Wrigley mới từ xe tải của mình quay trở lại, ông lục lọi hộp đồ nghề trong xe và thở phào nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng tìm thấy một cái nhíp thứ hai. Chắc phải thêm mười phút nữa ông mới lấy được cái tăm đầu tiên khỏi cánh cửa đầu tiên, và cuối cùng thì giáo viên môn Hóa cũng có thể vào bàn làm việc. Các thông báo vào buổi sáng đều được hoãn lại và thay bằng những chỉ thị nghiêm khắc phát trên hệ thống loa công cộng - yêu cầu tất cả học sinh xếp hàng ngay trước phòng học tiết đầu của mình - một kênh mà chẳng học sinh nào nghe. Bầu không khí ở mỗi hành lang giống như một bữa tiệc bất ngờ, rõ ràng không hề có chủ tiệc nhưng chẳng hiểu sao ai nấy đều như những vị khách bất ngờ đầy vui vẻ. Từ một tủ cá nhân, ai đó đã lôi ra một chiếc máy nhạc xách tay, hoàn toàn chạy bằng pin. Andre Williams, một cầu thủ của đội bóng, đã kéo anten, nhấc máy nhạc lên vai và nhấn vào đĩa số quay WMMS - “The Buzzard” - sau đó bữa tiệc bất ngờ bùng nổ cùng ban nhạc The Mighty Mighty Bosstones cho đến khi bà Allerton, giáo viên môn Lịch sử Hoa Kỳ tìm đến và bảo cậu ta tắt ngay đi. Thầy Wrigley tiếp tục đi xuống hành lang, mỗi lần một cánh cửa, cạy từng vụn gỗ từ những cái khóa Yale rồi nhặt chúng bỏ vào lòng bàn tay có nhiều phần chai sạn.

Dưới khu nghệ thuật, ôm lấy cái phích cỡ đại của mình cùng cái đầu đau như búa bổ, bà Peters bắt đầu bồn chồn không yên. Phòng nhạc khá xa với khu khoa học, nơi thầy Wrigley đang chậm chạp mày mò. Với tốc độ này, phòng của bà nếu không cuối cùng thì cũng sẽ là một trong những phòng sau cùng được mở. Bà đã nhiều lần hỏi thầy Wrigley rằng liệu ông có thể nhanh hơn được không, liệu ông có thể bớt chút thời gian và mở cửa lớp của bà trước hay không, và khi bà hỏi đến lần thứ ba thì ông quay sang, vung mẩu gỗ trên chiếc nhíp lật ngửa của mình. “Tôi đang làm nhanh nhất có thể rồi đây, cô Peters à.” Ông nói. “Tôi làm nhanh nhất có thể. Mọi người đều phải đợi đến lượt của mình.” Ông quay lại với cái lỗ khóa trước mặt mình, nơi ông Desanti, giáo viên dạy Toán lớp chín đã cố đẩy chìa khóa vào ổ rồi làm cây tăm gãy cắm sâu trong trục lăn. “Ai cũng muốn mình trước tiên,” ông lèm bèm, đủ lớn để chắc rằng bà Peters có thể nghe được. “Ai cũng muốn mình quan trọng. Tốt thôi. Người cầm cây nhíp thì nói rằng, ai cũng phải đợi đến lượt mình.” Ông thọc mạnh cây nhíp vào ổ lần nữa và bà Peters quay đi.

Đã một tiếng rưỡi trôi qua, và bà ngờ rằng rõ ràng ông Wrigley xếp phòng bà cuối cùng, để trừng phạt bà. Cũng tốt thôi, bà nghĩ. Nhưng ít nhất ông ta cũng phải mở sảnh giảng viên trước chứ? Đến giờ bà đã kiểm tra ba lần và cửa vẫn cứ khóa. Mỗi một phút trôi qua, bà càng ý thức rõ rằng trong lúc chờ đợi mình đã uống cạn cả phích cà-phê - gần như cả bình đầy. Các cửa nhà vệ sinh nữ đang lúc lắc, chúng không bị khóa. Bà khắng định rằng mình sẽ không vào đó, chung đụng đám học sinh; chắc rằng ông ta sẽ sớm mở cửa sảnh giảng viên, và bà có thể dùng nhà vệ sinh ở đó, nhà vệ sinh dành cho giáo viên. Mỗi phút tích tắc trôi qua thì sự mất kiên nhẫn của bà đối với ông Wrigley càng tăng lên rồi lây lan đến hiệu trưởng, đến toàn bộ thế giới. Có ai không nghĩ cho mình trước? Có ai không ưu tiên cho mình trước? Có ai hoãn được nhu cầu cơ bản chứ? Bà bỏ phòng nhạc và đến chỗ chờ mới ở phía ngoài sảnh giảng viên, chiếc túi xách chắn ngang bụng, ôm chặt như một cái khiên. Năm tách cà-phê chậm rãi chảy qua nội tạng. Trong giây lát, bà đã nghĩ đến việc cứ đơn giản ra xe rồi lái đi. Bà có thể về nhà trong vòng hai mươi lăm phút. Nhưng càng đứng lâu thì khoảng thời gian hai mươi lăm phút đó dường như càng dài, và có vẻ như bà càng chắc chắn rằng việc ngồi xuống, ở bất cứ chỗ nào, đều mang đến thảm họa.

Bà gọi “Tiến sĩ Schwad,” khi hiệu trưởng đi ngang qua. “Ông làm ơn bảo thầy Wrigley mở giúp cửa sảnh giảng viên, có được không?”

Tiến sĩ Schwad đã trải qua một buổi sáng nhọc nhằn. Đã chín giờ bốn mươi và phân nửa lớp học vẫn bị khóa; mặc dù ông đã yêu cầu các giáo viên đưa học sinh của mình vào lớp và giữ trật tự cho đến khi các cánh cửa được mở, nhưng tám trăm học sinh vẫn tràn ra khắp hành lang. Một số tràn ra các bậc thềm; từng nhóm tụ tập thành vòng tròn trên bãi cỏ, đang cười vang cùng nhau đá cầu, thậm chí một số còn hút thuốc ngay trong khuôn viên trường. Ông dùng khớp tay xoa ấn thái dương. Phần da cổ phía dưới cổ áo bắt đầu phồng rộp, và ông dùng ngón tay lay bên dưới chiếc cà-vạt.

“Helen,” ông dùng sự tập trung kiên nhẫn hết mức có thể để trả lời. “Thầy Wrigley đang cố làm nhanh hết sức. Trong khi đó, nhà vệ sinh nữ ngay phía dưới hội trường. Tôi đảm bảo rằng cô chỉ phải dùng nó lần này thôi.” Ông rời đi, tính nhanh trong đầu. Nếu học sinh trở lại lớp vào khoảng mười giờ rưỡi - có vẻ khá lạc quan - thì giáo viên có thể dạy thời khóa biểu rút gọn, với mỗi tiết chỉ trong ba mươi bốn phút thay vì năm mươi phút.

Bà Peters đợi thêm mười lăm phút và sau đó không đợi thêm được nữa. Bà siết chiếc quai túi chặt hơn như thể điều đó sẽ giúp ích được gì, rồi chạy lon ton xuống hành lang đến nhà vệ sinh nữ. Đó là nhà vệ sinh chính, nằm ngay chỗ giao giữa hành lang chính và cầu thang chính, thậm chí ngày thường vẫn đông nghịt. Hôm nay nơi này bị bao vây. Một đám nam sinh đứng vòng tròn phía ngoài, đập lên trán đến nát những quả táo dành cho bữa trưa và ném trứng vào nhau trong những tiếng gầm gừ. Một đám nữ sinh tụ tập quanh đài phun nước, phân nửa vờ vĩnh không để ý, nửa còn lại lộ liễu tán tỉnh bọn con trai. Phía trên họ, một bức bích họa cá mập đang nhìn xuống với cái miệng há rộng. Bà Peters bỗng thấy bực bội với sức trẻ, sự phù phiếm và cảm giác thoải mái của họ. Thường ngày bà đã bảo chúng bước lên hoặc yêu cầu từng đứa một bước qua hành lang, nhưng hôm nay bà tâm trí nào mà để ý.

Bà thúc khuỷu tay lách qua đám đông. “Cảm phiền. Cảm phiền. Em trai. Em gái. Giáo viên cần đi qua.”

Bên trong, nhà vệ sinh chật ních nữ sinh. Bọn con gái tám chuyện, bọn con gái chỉnh trang tóc tai, bọn con gái chải chuốt làm đỏm. Bà Peters càng lúc càng khẩn trương, thúc khuỷu tay len qua. “Cảm phiền. Em gái. Cảm phiền, em gái.” Mọi nữ sinh đều ngước lên, giật mình trước sự xâm nhập này.

“Chào cô Peters,” Lexie lên tiếng. “Em không biết là giáo viên cũng có thể dùng nhà vệ sinh này chứ.”

“Sảnh giảng viên vẫn còn khóa,” bà Peters trả lời và mong câu nói ấy mang giọng điệu đường hoàng. Bà nhận ra hết thảy nữ sinh xung quanh đều trở nên im lặng. Trong hoàn cảnh bình thường, bà sẽ xem đây là dấu hiệu của sự tôn trọng, nhưng hôm nay bà mong họ cứ lờ mình đi. Bà quay người và hướng về buồng xa nhất, cạnh cửa sổ, nhưng khi bước đến bà mới thấy buồng đó không có cửa.

“Cửa bị gì vậy chứ?” Bà hỏi một cách ngu ngốc.

“Nó được tháo ra luôn rồi,” Lexie nói. “Từ tuần học đầu tiên. Người ta phải đem sửa. Cô đến đây này, chỉ còn ba buồng trống thôi, dù gì cô cũng muộn lớp mà.”

Bà Peters không bận tâm nghe hết phần diễn văn còn lại của Lexie. Bà kéo mạnh cánh cửa buồng bên cạnh, mở ra và đóng sầm lại sau lưng mình. Với đôi tay run rẩy bà trượt then cửa vào vị trí và lóng ngóng lần theo chiếc váy. Nhưng khi nhìn thấy cái bệ sứ trắng kia thì cơ thể bà - đã phải chờ gần hai tiếng rưỡi đồng hồ - không thể chịu đựng thêm được nữa. Bàng quang của bà tuôn ra dòng chảy xiết dữ dội, và bà Peters cảm thấy một luồng nước ấm nóng ào xuống chân mình, tràn ra thành vũng uốn lượn qua các phiến đá ốp và thoát khỏi buồng vệ sinh.

Sau bức vách ngăn mỏng manh, bà Peters nghe thấy tiếng nói, “Ôi. Trời. Ơi.” Sau đó là sự im lặng kinh hoàng, im lặng tuyệt đối. Bà vẫn giữ nguyên vị trí, như thể làm vậy - bà cố chấp nghĩ rằng - bọn nữ sinh bên ngoài có thể hoàn toàn quên đi sự hiện diện của mình. Dường như chính sự im lặng đã trì kéo tình thế này ra như kẹo kéo. Vết ướt trên váy và chiếc quần tất ướt đẫm trở trên ớn lạnh. Sau đó tiếng cười khúc khích bắt đầu vang lên, kiểu cười khúc khích mà càng cố kiềm chế lại càng rõ ràng hơn. Những chiếc túi được kéo lại rất nhanh. Những bước chân vội vã bước ra hành lang. Bà Peters nghe thấy cánh cửa xoay mở rồi đóng lại, và ít phút sau bà nghe tràng cười phá lên từ hành lang. Bà cứ ngồi trong buồng vệ sinh thật lâu, cho đến khi nghe thấy Tiến sĩ Schwab thông báo với mọi người trên hệ thống loa công cộng rằng tất cả cửa đều được mở và tất cả học sinh phải vào lớp nếu không sẽ bị cấm túc. Khi nhà vệ sinh không còn ai, bà trở lại đó, giấu cái váy nhơ nhuốc của mình trong chiếc xắc tay nhỏ và tránh mắt khỏi vũng nước đang từ từ nhỏ giọt chảy qua bồn rửa hướng đến cống thoát phía trong góc.

Trong giờ dợt nhạc của tiết hai, nếu có người nhận ra bà Peters đã vận quần áo khác với hồi đầu tiết, thì cũng chẳng ai nói lời nào. Lớp tập nhạc Offenbach, Barbour và Bản giao hưởng số 25 của Mozart bằng những bộ mặt vô hồn. Tuy nhiên, biệt danh ấy đã lan truyền rộng rãi. Vài ngày trước, đứng ngoài lớp học, bà nghe có người gọi mình là “Bà Vãi Tè”, và sẽ mất rất nhiều năm - thậm chí đến khi bà nghỉ hưu - khi cái biệt danh cùng câu chuyện ấy đã lan truyền hết lớp này đến lớp khác, có thể phai nhạt.

Sự cố tăm tre cũng gây ảnh hưởng lâu dài cho nhà trường như vậy. Các hành lang không có camera an ninh và những kẻ phá hoại, dù chúng có là ai, đã rời đi không để lại dù một dấu vân tay. Có vài cuộc trao đổi về việc thiết lập an ninh tốt hơn - vài giáo viên đề cập đến Euclid ở gần đó, gần đây thành phố này vừa đưa tin về việc cài đặt máy dò kim loại tại mỗi lối vào - nhưng ý kiến chung vẫn cho rằng Shaker Heights không giống Euclid, không nhất thiết phải bảo vệ đến mức đó, và ban giám hiệu đã quyết định xem nhẹ sự cố này như một trò chơi khăm vặt vãnh. Tuy nhiên trong tâm trí của các học sinh ở Shaker, Ngày Tăm Tre sẽ chiếm một vị thế huyền thoại, và nhiều năm về sau, suốt Tuần Lễ Chơi Khăm Siêu Cấp, trường cấm tất cả tăm tre bằng lời cảnh cáo cấm túc.

Sau Ngày Tăm Tre, Izzy chạm mắt với Deja Johnson rồi nở một nụ cười, và - dù không nghĩ rằng toàn bộ vụ việc này là thay mặt cô, và thậm chí càng không biết rằng Izzy Richardson chính là thủ phạm đứng sau vụ việc - Deja đã mỉm cười đáp lại. Nói chính xác thì hai người không trở thành bạn bè, nhưng Izzy cảm thấy giữa họ có một mối liên hệ, và mỗi ngày tập nhạc cô xem việc mỉm cười với Deja Johnson là việc làm quan trọng, và cảm thấy hài lòng khi bà Peterson giờ đã chịu để cho Deja yên.

Tuy nhiên, hóa ra Izzy mới là người chịu ảnh hưởng lâu dài nhất từ những cái tăm. Giờ đây, Izzy bị cô Mia mê hoặc. Trước giờ cô bé chưa từng gặp người lớn nào có thể bỏ qua những trò chơi khăm - với bất cứ lý do nào - huống chi lại giúp nghĩ ra cách chơi những trò tinh quái đó. Cô Mia này không chỉ là người lớn mà còn là một người mẹ: Izzy không hiểu nổi chuyện này. Trong đầu Izzy, cô Mia rất khác với mẹ mình, khác một người bình thường. Cô nhận ra một tâm hồn đồng điệu, một tia lửa hủy diệt tương đồng, bùng cháy trong nhân dạng ẩn sâu mà cô thường cảm nhận. Thay vì buông mình trong phòng suốt những buổi chiều, cô bắt đầu nấn ná lại nhà bếp bất cứ khi nào có cô Mia ở đó - anh chị cô có quá nhiều trò tiêu khiển. Izzy phớt lờ hết chúng. Con bé bị cô Mia mê hoặc đến nỗi không còn quan tâm những trò đó. Và một hay hai tuần sau đó, cô Mia ra mở cửa căn hộ nhỏ ở đường Winslow thì thấy Izzy đứng bên ngoài.

“Con muốn làm phụ tá cho cô,” Izzy buột miệng nói.

“Cô không cần người phụ,” cô Mia trả lời cô bé. “Và cô cũng không chắc mẹ con thích chuyện này.”

“Con không cần biết.” Izzy đặt tay lên khung cửa như thể lo rằng cô Mia sẽ đóng sầm ngay trước mặt nó. “Con chỉ muốn học hỏi về những thứ cô đang làm. Con có thể trộn hóa chất cho cô, không thì sắp xếp giấy tờ hoặc bất kể việc gì. Bất cứ chuyện gì cũng được.”

Cô Mia lưỡng lự. “Cô không có tiền thuê phụ tá.”

“Cô không cần trả tiền cho con. Con tự nguyện. Đi mà.” Izzy không quen xin xỏ, nhưng giọng điệu cô bé có gì đó đã nói với cô Mia rằng thỉnh cầu này là nhu cầu, không đơn thuần là mong muốn. “Bất cứ thứ gì cần làm, con đều làm hết. Đi mà.”

Cô Mia nhìn xuống Izzy, cô bé ương ngạnh, hoang dại, hung hăng này đột nhiên trở nên nhút nhát, ướt át và tuyệt vọng. Thật kỳ lạ, cô bé làm Mia nhớ lại bản thân khi ngần ấy tuổi, lang thang khắp khu phố, leo hàng rào, trèo tường để tìm những pô hình chuẩn, bướng bỉnh tiêu tiền bố mẹ vào những bộ phim. Gần như chú tâm quá mức. Có gì đó trong Izzy chạm đến thứ gì đó trong cô và bắt lửa.

“Được rồi,” cô Mia nói và mở cánh cửa rộng hơn để Izzy bước vào nhà.

❀ ❀ ❀

[1] Từ gốc: “Ebonics” - tiếng Anh nói theo giọng người da đen ở Mỹ, là tiếng tổng hợp từ tiếng Ebony và Phonics (nói mọi) xuất xứ từ Châu Phi.

[2] Từ gốc: “TP-ing” - chỉ việc dùng giấy vệ sinh quấn kín các đồ vật, cây cối, nhà cửa trong dịp lễ Halloween.

Người dịch: Lâm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.