Mùa thu năm 1980, vừa tròn mười tám tuổi, Mia Wright đã rời căn nhà nhỏ màu vàng ở Bethel Park để theo học trường Mỹ thuật New York. Trước đó cô chưa từng rời khỏi Pennsylvania, nay cô lại xa nhà với hai vali, tình yêu thương của em trai và thiếu mất sự vui vẻ hài lòng của bố mẹ.
Cô không cho bố mẹ biết chuyện đã nộp đơn vào trường mỹ thuật cho đến khi thư chấp thuận được gửi về. Chuyện này hoàn toàn không làm cho hai ông bà bất ngờ, hoặc cũng không nên bất ngờ. Từ khi còn bé cô đã bị mê hoặc bởi những thứ mà, ngay cả chính cô cũng thấy sửng sốt, dường như không ai nghĩ hoặc thậm chí để ý đến chúng. “Con quá mơ mộng,” mẹ cô nói thế. “Con ngồi trong xe nôi mà chỉ nhìn chằm chằm bãi cỏ. Con ngồi trong bồn tắm và đổ nước qua lại từ cốc này sang cốc khác cả giờ đồng hồ nếu mẹ cứ để đó". Trong những khoảnh khắc ấy, điều mà Mia ghi nhớ chính là ngắm những ngọn cỏ trong gió, đổi màu khi đung đưa, từ đậm chuyển sang nhạt, giống như cào vải nhung khi quét tay qua chúng; là cách dòng nước vỡ thành từng giọt nhỏ khi bắn vào miệng cốc. Cô sớm nhận ra rằng, dường như vạn vật đều có khả năng biến hóa khôn lường. Ngay cả hai tảng đá cuội ở sân sau đôi lúc cũng chuyển sang màu bạc trong ánh mặt trời buổi sớm. Trong những quyển sách mà cô đọc, có thể mỗi con suối đều là vị thủy thần, mỗi cái cây đều là nữ thần rừng ngụy trang, mỗi cụ già đều là bà tiên quyền lực, và mỗi viên sỏi đều là linh hồn đầy mê hoặc. Mọi thứ đều chứa đựng tiềm năng biến đổi, và đối với cô, dường như điều này chính là ý nghĩa thật sự của nghệ thuật.
Dường như chỉ có em trai Warren của cô mới hiểu được ẩn tầng trong những thứ mà cô nhìn thấy, nhưng nên hiểu rằng hai người chỉ luôn có chung sự thấu hiểu từ sau khi cậu ấy chào đời. “Em bé của con,” Mia sẽ nói vậy với bất cứ ai áp vào nghe rồi dùng một ngón tay vỗ nhẹ vào bụng mẹ cô, và Warren lúc nào cũng đá lại một cái để phản hồi. “Em bé của con. Nằm trong này,” cô chỉ tay thông báo cho những người lạ trong cửa hàng tạp hóa. Khi bố mẹ đưa Warren từ bệnh viện về nhà, cô đã ngay lập tức tuyên bố rằng cậu bé là của cô.
“Wren của chị,” cô gọi cậu như vậy, không chỉ vì cái tên Warren dài đến mức không thể phát âm cho đủ, mà vì gọi thế này rất hợp với cậu. Thậm chí trong những ngày đầu tiên đó, trông cậu giống như một đứa bé cảnh giác, đầu nghiêng sang một bên, tỉnh táo đến ngạc nhiên, hai con mắt tập trung và sáng rực đến khó tin đang thăm dò căn phòng giúp chị. Khi cậu khóc, cô biết ngay phải mang cho cậu món đồ chơi nào để cậu nín. Khi cậu không ngủ trưa, Mia nằm cạnh bên ngay giữa giường của bố mẹ, tấn chăn xung quanh làm thành một cái tổ viền, hát cho cậu nghe và vỗ má cho đến khi cậu thiếp đi. Khi bị con mèo ở sân sau cào phải, cậu đã gào khóc đòi chị Mia, và Mia là người dùng cồn i-ốt vỗ về vết rạch dài trên thái dương rồi dán miếng băng cá nhân lên cho cậu.
“Con nghĩ chị ấy là mẹ con hở,” có một lần mẹ của hai người đã nói vậy, giọng điệu nửa phàn nàn, nửa ngưỡng mộ.
Hai chị em có mật ngữ chung trong nhiều thứ, một biệt ngữ có nguồn gốc rất khó hiểu: với những lý do mà thậm chí hai người cũng không nhớ, hai chị em gọi bơ là phô mai; gọi những con sáo đá vắt vẻo trên ngọn cây là chim tí nị. Họ vẽ một vòng quanh hai người trông như một mái vòm. “Đừng kể với bất cứ người Pháp nào nha,” Mia sẽ mở đầu, trước khi thầm thì một bí mật, và lúc nào câu trả lời của Warren cũng là, “Bầy voi hoang cũng không cạy nổi miệng em.”
Và rồi, ở tuổi mười một - xấp xỉ - mười hai, Mia đã phát hiện ra nhiếp ảnh.
Warren, chỉ mới lên mười, không chỉ phát hiện ra thể thao mà cậu còn biết mình chơi rất giỏi. Bóng chày vào mùa hè, bóng đá vào mùa thu, khúc côn cầu vào mùa đông, bóng rổ vào mọi thời gian còn lại. Cậu và Mia vẫn thân thiết với nhau, nhưng cậu có những buổi chiều lê thê trên sân bóng chày bốn góc ở công viên, nhiều giờ dài dằng dặc tập luyện đường chuyền và kỹ thuật lên rổ. Vì vậy, Mia cũng tìm thấy niềm đam mê của riêng mình là chuyện hết sức tự nhiên.
Trong cửa hàng đồ si ở thị trấn, cô đã chấm được chiếc máy ảnh Brownie Starflex đặt trong góc của cửa sổ phía trước. Chiếc máy ảnh đã mất đèn nháy và dây đeo cổ, nhưng chủ tiệm đảm bảo với cô rằng nó vẫn hoạt động tốt, và ngay khi Mia bật mở nắp ống kính nhỏ xíu bằng bạc và nhìn thấy cửa hàng đồ si phản chiếu thành bức tiểu họa lờ mờ trong thấu kính thì cô cực kỳ muốn sở hữu nó. Cô đã rút ống mèo, chỗ tiết kiệm mà cô để dành sinh hoạt phí và bắt đầu mang máy ảnh đi khắp mọi nơi. Bỏ qua gợi ý mà cô đã ghi lại từ quyển sách hướng dẫn “Làm thế nào để chụp ảnh đẹp” của công ty Kodak và cô chỉ làm theo bản năng của mình. Với chiếc máy ảnh treo lủng lẳng vào hai chiếc khăn lụa cũ của mẹ, cột vào nhau, cô bắt đầu chụp ảnh - dưới con mắt của bố mẹ cô, những bức ảnh kỳ quặc: những ngôi nhà xiêu vẹo, những chiếc xe bị bỏ phế, những món đồ bị vứt lại bên đường. “Thú vui của việc chụp ảnh nhỉ,” anh nhân viên ở Fotomat đã nói vậy khi đưa cho cô phong bì ảnh rửa. Bộ ảnh đặc biệt đó gồm ba bức, thực hiện trong nhiều ngày liên tục, chụp xác một con chim nhỏ bên vệ đường, và có lúc anh tự hỏi, không phải lần đầu, liệu cô gái họ Wright này có bị chạm mạch hay không.
Tuy nhiên, đối với Mia, những bức ảnh chỉ là sự phỏng chừng mơ hồ cho những thứ mà cô muốn thể hiện, và cô nhanh chóng nhận ra mình không chỉ đang sửa lại các bức hình - bằng mọi thứ từ cây bút bi đến những vết nước tẩy quần áo - sau đó cô còn thử nghiệm ngay trên chiếc máy ảnh, bẻ cong phạm vi giới hạn theo mong muốn của cô. Starflex, cũng như tất cả các dòng máy của Brownie, không cho lấy nét. Màn trập tự động chếch lên để tránh phơi sáng kép - loại mỏ quặp thủ công như một tiện ích dành cho dân nghiệp dư. Tất cả những gì bạn phải làm chính là mọi thứ bạn có thể làm: nhìn vào kính ngắm và nhấn nút chụp. Thay vì giữ cốt máy ảnh trên ngực, theo hướng dẫn, thì Mia nghiêng máy theo các góc khác nhau, cô thắt chiếc đai tự chế lên cao hơn hoặc thấp hơn. Cô che những chiếc khăn lụa và giấy bọc Saran lên thấu kính; cô cố chụp trong sương mù, trong cơn mưa nặng hạt, trong sảnh chờ mù khói của bãi chơi bowling.
“Thật phí tiền,” mẹ cô khịt mũi, khi Mia mang về thêm một phong bì ảnh bị nhòe và bị mờ.
Tuy nhiên, mỗi một cuộn phim, cô càng hiểu rõ cách chụp một bức ảnh, hiểu những gì có thể làm và những gì thì không, có thể giãn và xoay đến mức nào. Dù rằng, bấy giờ cô không biết tất cả những thứ này đang rèn cô như nhà nhiếp ảnh mà sau này cô trở thành. Mỗi cuộn phim chỉ có mười hai tấm, cô biết phải cẩn thận sáng tác những bức ảnh của mình. Và không hề điều chỉnh - không điều chỉnh khẩu độ, không lấy nét - cô học cách sáng tạo qua việc thao tác máy và lấy khung.
Vào lúc này, hàng xóm của họ, ông Wilkinson đã tình cờ chen vào. Ông sống ở ngọn đồi gần đó, ông đã nhìn thấy Mia mang máy ảnh Brownie lang thang quanh khu phố, chụp cái nọ cái kia trong mấy tuần. Mia và Warren chỉ biết mỗi một điều về ông Wilkinson rằng: ông là người thu mua đồ chơi và dành phần lớn thời gian để đến các cuộc triển lãm đồ chơi, xem xét hàng hóa, gửi báo cáo cho trụ sở về loại đồ chơi nào cần mua. Cứ vài tháng bà Wilkinson sẽ nhóm bọn trẻ trong khu phố lại và chia cho chúng những món đồ chơi mẫu mà ông Wilkinson tha về chất đống. Hai ông bà có những món đồ chơi lạ lẫm: một bộ khuôn đổ thạch cao để đúc các đồ trang trí Giáng sinh; một quả bóng nảy hình sao Thổ, kiểu pogo; một cái đầu búp bê to đùng có tóc màu vàng dùng để tạo kiểu; một hộp nước hoa dùng pha trộn và nhiều lọ nhỏ đựng hỗn hợp đã pha. “Bác cần lấy lại tầng hầm nhà mình,” bà vừa nói vừa cười, và đảm bảo rằng mỗi đứa trẻ đều có được món gì đó, thậm chí chỉ là một cái yoyo. Khi đó, con trai nhà Wilkinson đã lớn rồi, cậu ta đang sống ở đâu đó tại Maryland, và cậu không cần đồ chơi nữa.
Trong một thời gian dài, đây là hình ảnh duy nhất mà Mia ấn tượng về ông Wilkinson, một nút giao bí ẩn giữa Marco Polo và ông già Noel, người đã chất báu vật đầy nhà. Nhưng chiều hôm ấy, ngay sau sinh nhật lần thứ mười ba của Mia, ông Wilkinson đứng trước mái hiên nhà mình rồi lạnh lùng gọi cô.
“Cả năm nay tôi thấy cô cứ thơ thẩn loanh quanh,” ông nói. “Tôi muốn xem xem cô đã làm những gì.”
Mia hoảng sợ gom một chồng ảnh và mang đến nhà Wilkinson vào sáng hôm sau. Trước giờ, trừ Warren ra, cô chưa từng cho ai xem những bức ảnh mà cô chụp, và dĩ nhiên là Warren lúc nào cũng ồ à. Nhưng ông Wilkinson là người lớn, một người đàn ông, người mà cô chẳng biết gì nhiều. Ông ấy không nhất thiết phải tử tế.
Khi cô nhấn chuông cửa nhà Wilkinson, bà Wilkinson dẫn cô vào một phòng làm việc nhỏ, ở đó ông Wilkinson đang ngồi ở cái bàn lớn và gõ gì đó trên máy đánh chữ màu kem. Nhưng khi Mia bước vào, ông xoay ghế một vòng và đẩy cái kệ đặt máy chữ xuống dưới, cho nó xếp gọn gàng vào cái tủ phía trong bàn làm việc như thể nó bị nuốt chửng vào đó vậy.
“Giờ thì,” ông nói. Ông mở cặp kính nửa vầng trăng vắt quanh cổ và đeo lên mũi, và hai đầu gối của Mia run bần bật. “Để xem nào.”
Hóa ra, bản thân ông Wilkinson là một nhà nhiếp ảnh - nhưng ông thích phong cảnh hơn. “Không thích những bức có người trong đó,” ông nói với cô như vậy. “Ngày nào bác cũng chụp cây hơn là chụp người. “ Khi đi công tác, ông mang theo máy ảnh bên mình và luôn lên kế hoạch dành nửa ngày cho việc khám phá. Ông kéo ra một chồng ảnh từ tập tài liệu: rừng gỗ đỏ lúc bình minh, dòng sông uốn lượn ngoằn ngoèo qua cánh đồng mướt sương, mặt hồ phản chiếu ánh mặt trời thành hình tam giác lấp lánh rọi về cánh rừng phía bên kia. Mia nhận ra những bức ảnh treo khắp hành lang cũng là của ông.
“Con có mắt thẩm mỹ đó,” rốt cuộc ông Wilkinson nói. “Có mắt thẩm mỹ còn có năng khiếu nữa. Thấy bức này không?” Ông gõ nhẹ lên bức trên cùng, bức ảnh Warren vắt vẻo trên những cành ngô đồng thấp, quay lưng lại máy ảnh, in bóng lên bầu trời. “Một pô hình đẹp. Sao con biết lấy khung như vậy?”
“Con không biết nữa,” Mia thừa nhận. “Chỉ là nhìn thuận mắt thôi ạ.”
Ông Wilkinson nheo mắt nhìn một bức khác. “Đừng từ bỏ nhé. Hãy tin vào đôi mắt của con. Chúng rất tinh tường.” Ông rút ra một bức ảnh khác. “Nhưng con thấy không? Con muốn chụp con sóc đó, đúng không nào?” Mia gật đầu. Nó đang chạy dọc theo dãy chóp hàng rào và cô bị mê hoặc bởi vòng cung nhấp nhô mà cơ thể và chiếc đuôi ấy vẽ nên trong khi chạy. Giống như đang xem một quả bóng nảy, cô đã nghĩ vậy khi nhấn nút chụp. Nhưng bức ảnh bị mờ, lấy nét hàng rào thay vì con sóc, con sóc hoàn toàn trở thành một đốm lờ mờ. Cô tự hỏi làm thế nào mà ông Wilkinson biết được.
“Bác nghĩ. Con cần cái máy ảnh xịn hơn. Cái này hợp với người mới chơi, hoặc chụp cho những bữa tiệc sinh nhật hay tiệc Giáng sinh. Không hợp với con.” Ông bước đến tủ quần áo và lục lọi ở phía sau, những chiếc áo khoác cũ và những chiếc đầm thụng bên trong làm giọng ông cứ nghèn nghẹt. “Con... con muốn chụp những bức ảnh đúng nghĩa.” Trong giây lát ông quay lại và chìa ra một hộp nhỏ. “Con cần cái máy ảnh đúng nghĩa, không phải kiểu đồ chơi.”
Đó là một cái máy Nikon F nhỏ gọn có màu bạc và màu trắng. Mia lướt các ngón tay lên lớp vỏ sần sùi. “Nhưng con không thể lấy cái này được.”
“Bác không cho luôn, mà bác cho mượn. Con có muốn lấy, hay không?” Không đợi cô bé trả lời, ông Wilkinson đã mở ngăn kéo bàn. “Bác không còn dùng máy này nữa. Ai dùng cũng được cả.” Ông tháo một hộp phim nhỏ màu đen và ném qua Mia. “Vả lại,” ông nói, “bác cũng chờ xem con sẽ chụp được gì với cái máy này.”
Chiều hôm đó, khi về nhà Mia đã biết cách cuộn phim vào trục bên trong máy ảnh, cách để lấy nét, cách điều chỉnh ống kính. Trong đầu cô cứ quay cuồng những từ mới vừa lạ lùng vừa thú vị: f-stop[1], khẩu độ.
Ông Wilkinson dạy cô cách tách phim khỏi cuộn và cách rửa phim, và Mia dần thích vị cay nồng hăng hắc của thuốc rửa, ông chỉ cô cách xem bóng bạc trên mặt phim để biết rằng phim đã rửa xong chưa. Giống như một phi công tập luyện xoắn máy bay chúc đầu xuống rồi kéo trở lại lên cao, cô cố tình chụp vỡ nét, với tốc độ màn trập sai hoặc chỉ số ISO không đúng, để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Cô học cách điều chỉnh ánh sáng điều chỉnh máy ảnh để lấy được hiệu ứng mong muốn, giống như người nhạc sĩ học được sự phức tạp của nhạc cụ.
“Nhưng sao bác có thể...?” cô sẽ hỏi vậy, khi xem các bức đã rửa và so sánh chúng với hình ảnh mà cô mường tượng trong đầu. Ban đầu ông Wilkinson luôn biết cách trả lời. “Kỹ thuật làm sáng (Dodging).” “Dùng nguồn ánh sáng khuếch tán.” “Hãy thử kỹ thuật freelensing[2]xem sao.” Nhưng rất nhanh sau đó những thắc mắc của cô ngày một nâng cao, khiến ông phải tìm đến quyển Những kỹ thuật chụp ảnh mà ông vẫn giữ trên kệ sách.
"Cô gái này muốn một độ sâu trường ảnh rộng hơn," chiều hôm ấy ông trầm ngâm nghĩ vậy. Lúc bấy giờ Mia mười lăm tuổi. “Thứ mà cô gái này cần chính là cái máy ảnh khổ lớn.”
Mia chưa bao giờ nghe qua về loại máy ảnh này. Nhưng chẳng bao lâu sau, tất cả chỗ tiền mà cô kiếm được, từ việc làm thư ký ở hiệu thuốc Dickson’s Pharmacy cho đến phục vụ bàn tại nhà hàng Eat’n’Park, đều lấy ra để mua máy ảnh, và cô đã dành hàng giờ đồng hồ miệt mài xem các danh mục máy ảnh và tạp chí nhiếp ảnh của ông Wilkinson.
“Con dành thời gian đọc mấy thứ này còn nhiều hơn đi chụp ảnh nữa,” ông Wilkinson chọc cô, nhưng cuối cùng cô đã chọn một cái - chiếc Graphic View II - sự lựa chọn mà ngay cả ông Wilkinson cũng không chê vào đâu được.
“Đó là cái máy ảnh rất cừ,” ông nói. “Đáng đồng tiền bát gạo đấy. Xài cho kỹ lưỡng, nó sẽ theo con đến hết cuộc đời.” Và khi chiếc Graphic View II đến tay, hàng sang tay từ một mục rao vặt, nổi tiếng, được bọc và đóng gói trong hộp chính hãng giống như cây đàn violin đắt tiền, thì Mia biết chuyện này sẽ thành sự thật.
Đối với bố mẹ cô thì chiếc máy ảnh này không ấn tượng như vậy. “Con tốn bao nhiêu tiền mua nó vậy?” mẹ cô hỏi, trong khi bố cô thì lắc đầu. Đối với hai ông bà, cái máy trông như thứ đồ từ thời Victoria, thăng bằng trên cái chân máy mảnh khảnh, thân máy xếp ly như một ống quạt gió và mảnh vải sẫm mà Mia chui người xuống dưới. Cô cố giải thích với cả nhà về cách máy ảnh hoạt động, nhưng ngay câu đầu tiên về kỹ thuật dịch chuyển và kỹ thuật nghiêng xoay thì ai nấy đã bắt đầu lơ đễnh. Ngay cả cậu em Warren yêu dấu của cô cũng dội ra ngay từ đó - “Em không cần biết dùng nó thế nào, Mi à,” cuối cùng cậu nói với cô, “Em chỉ muốn xem ảnh chị chụp ra mà thôi” - và Mia nhận ra rằng cô đang vượt qua ranh giới để bước vào vùng đất mà cô phải một mình đơn độc.
Cô chụp nhiều ảnh tại khu sân chơi ở công viên địa phương, chụp những ngọn đèn đường buổi đêm, chụp những công nhân thành phố đang đốn ngã một cây sồi bị sét đánh. Cô khệ nệ mang chiếc máy ảnh khổ lớn vào thành phố để chụp một cây cầu rỉ sét đang giăng mình qua nút giao ba con sông. Bằng cách nghịch các phần cài đặt, cô đã chụp một bức Warren chơi đá bóng, từ trên khán đài, nơi mà các cầu thủ trông như những bức tượng bé xíu, kiểu mà người ta hay thấy trên bộ đồ chơi tàu hỏa. “Em đó sao?” Warren hỏi vậy, khi nhìn vào một trong những con người bé xíu, cái người nóng lòng nơi đường biên, chờ một đường chuyền. “Là em đó, Wren ạ,” Mia trả lời. Đột nhiên cô thấy bản thân như mụ phù thủy, phát tay lên sân và biến những chàng trai dưới kia thành những con búp bê nhựa bé như hạt đậu.
Ngày hôm sau cô mang bức ảnh đó đến nhà ông Wilkinson, nhưng chỉ thấy người phụ nữ lạ mặt ở trước cửa. Hóa ra, đó là con dâu của ông Wilkinson. “Bà Della mất rồi,” cô con dâu ấy nói với Mia, mắt nhìn cô, nhìn cái máy ảnh đeo trên cổ cô và nhìn bức ảnh trong tay cô. “Em nói là em cần gì nhỉ?” Sau đám tang, cô con dâu cùng chồng thuyết phục ông Wilkinson chuyển đến một viện dưỡng lão ở Harrisburg, ở gần hai vợ chồng hơn. Chuyện xảy ra nhanh đến mức Mia thậm chí không có cơ hội nói lời tạm biệt, huống chi là cho ông xem bức ảnh, và cô cùng cái máy ảnh của mình lại một lần nữa cô đơn.
Mùa thu năm 1979, năm cuối cấp phổ thông, Mia đã nộp đơn vào trường Mỹ thuật New York bằng bộ ảnh mà cô đã chụp những tòa nhà bị bỏ hoang xung quanh thị trấn. Cô đã dùng chiếc khăn ẩm phết nhẹ lên các bức ảnh và, trong khi lớp nhũ tương còn ướt, cô dùng đầu kim rạch lên bức ảnh, để lại một sọc mảnh màu trắng. Kết quả cho ra bức chạm trổ đảo ngược: người công nhân như bóng ma ngồi sụp xuống những bậc thềm bên ngoài nhà máy bỏ hoang; hình dáng chiếc ô-tô mui kín trên đỉnh máy nâng thủy lực rỗng không của Xưởng sửa chữa Jamison; hai đứa trẻ như ảo ảnh đang cùng nhau lượm lặt trong đống đồ phế thải. Khi nhìn thấy những đứa trẻ đó, Warren đã nheo mắt nhìn kỹ hơn. Hai đứa trẻ đó có thể là bất cứ ai, nhưng hai chị em lại không phải vậy: có nhúm tóc nhỏ trên đỉnh đầu của Warren, có cái khăn lụa thắt quanh cổ của Mia, sức nặng của máy ảnh kéo cô khẽ nghiêng mình. Hai người không chụp bức nào lúc đang nhặt nhạnh như vậy nhưng dường như đối với họ, hai chị em đã dành cả tuổi thơ để chơi trên đống phế liệu ở cạnh công viên, và nhìn vào những bức ảnh của chị gái mình, Warren cảm thấy như Mia đã chụp được linh hồn trong quá khứ của chính họ, gần như nhạt nhòa tan biến. “Khi người ta gửi trả lại, cho em bức này được không?” cậu hỏi.
Đối với bố mẹ cô thì những bức ảnh này - và công việc của Mia nói chung - chẳng hấp dẫn như vậy. Thậm chí họ còn không xem những thứ cô làm là “công việc” hay “nghệ thuật”, trong tâm trí họ đó chỉ là những thứ tệ hại. Là người thuộc tầng lớp trung lưu, họ đã trải qua toàn bộ đời sống hôn nhân tại một nông trại trung lưu màu vàng nhạt trong một thị trấn trung lưu bình lặng. Đối với họ, làm việc có nghĩa là sửa chữa gì đó hoặc tạo ra thứ gì đó có ích; nếu thứ đó không có công dụng gì, họ hoàn toàn không thể hiểu được tại sao người ta lại làm ra nó. “Nghệ thuật” là thứ vui đùa dành cho những kẻ lắm tiền và dư dả thời gian. Và bạn bắt lỗi họ được không? Bố cô là một người tháo vát, người sáng lập và là chủ sở hữu duy nhất của Xưởng sửa chữa Wright, ngày này thì làm việc ở nhà thờ để sửa chữa mái hiên bị gãy ván làm cho một gia đình sóc phải lẻn vào gian giữa giáo đường, ngày khác thì ở nhà hàng xóm kéo ống nước hoặc thay thế một ống nối chữ u rỉ sét dưới bồn rửa. Mẹ cô là y tá ở bệnh viện, đếm thuốc, lấy máu, thay bô và không xa lạ gì với ca đêm hay ca đôi. Hai người đều làm việc chân tay, họ làm việc nhiều giờ, họ để dành hết mức có thể và dùng chỗ tiền ấy để trả tiền nhà, tiền của hai chiếc Buick và nuôi hai đứa con, người mà họ đã tự hào nói rằng - một cách chính xác - chúng không thiếu bất cứ thứ gì nhưng không bao giờ hư hỏng.
Trái lại, có một Mia bò lê bò càng hàng giờ trên sàn nhà, chụp Warren một bức ảnh đẹp xuất sắc và cắt hình cậu bé ra như một con búp bê giấy, lại đặt mảnh cắt rời đó vào một sa bàn lá và đặt trong một hộp giày cũ - tất cả chỉ tạo nên một bức ảnh, trong đó Warren trông giống một người tí hon bị vây quanh bởi những hạt dẻ khổng lồ: khéo léo, nhưng dường như không đáng với thời gian mà cô đã bỏ ra. Khi bố về nhà sau cô, giày vừa mới cởi và tay vẫn chưa rửa sạch dầu nhớt, có một Mia đã nài nỉ xin hai đô-la để mua thêm phim chụp, hứa hẹn con sẽ trả lại mà, con hứa đó, mặc dù nói thật thì, hiếm khi nào cô trả. Khi mẹ cho tiền mua đồng phục mới, có một Mia đã vá lại cái lỗ trên quần jean cũ và lại dành tiền mua thêm nhiều phim chụp, chạy loanh quanh trong chiếc váy đã ngắn đi cả tấc, trong chiếc áo sơ-mi đã bạc màu và mòn cũ, lại chụp thêm nhiều ảnh. Khi ra ngoài và làm công việc phục vụ bàn ở nhà hàng Eat’N’Park, có một Mia thay vì dùng chỗ tiền kiếm được để chi trả cho thực phẩm hoặc xe cộ, thì cô dành dụm lại và dùng toàn bộ chỗ ấy để mua máy ảnh, cái khối hộp lớn với cái bụng xếp ly, thứ mà cô có thể đùa nghịch vớ vẩn đến cả nửa giờ đồng hồ ngay trước khi chụp một bức ảnh. Thậm chí đó cũng không phải cái máy ảnh mà những thành viên khác trong nhà có thể dùng được - cô đã cố giải thích với họ một lần về cách hoạt động, khoảng cách ống kính, các chỉ số f-stop và gần như ai nấy đều mất hứng ngay lập tức - mặc dù hồi năm cuối trung học, cô đã chụp một bức ảnh chân dung gia đình bốn người, bức mà mẹ cô đã lồng khung rồi treo trên tường trong phòng khách. Máy ảnh được đóng gói vào chiếc va-li cỡ cặp tài liệu và không hiểu sao, điều này lại càng làm cho bố mẹ cô thất vọng: toàn bộ chỗ tiền ấy được đóng vào một chỗ nhỏ bé đến thế ư.
Làm sao có thể trách bố mẹ Mia rằng cớ sao không hiểu? Họ được sinh ra trong những năm tháng chiến tranh; họ được nuôi lớn bởi những ông bố bà mẹ đã trưởng thành trong thời kỳ suy thoái kinh tế, những người chẳng vứt bỏ bất cứ gì, dù thức ăn đã hỏng mốc. Họ đã đủ lớn để ghi nhớ giai đoạn mà giẻ rách trở thành vải tham chiến, vỏ hộp và vụn phế liệu kim loại có thể trở thành đạn dược và những hộp thuốc mỡ lại trở thành chất nổ. Thực tế đó đã ăn sâu vào xương tủy. Họ không lãng phí bất cứ thứ gì, đặc biệt là thời gian.
Vì vậy, khi lên đại học, hai ông bà đã cho rằng con gái mình sẽ học ở một nơi thiết thực, giống như trường Pitt hoặc có lẽ là Penn State, để học ngành gì đó thiết thực như quản trị kinh doanh hoặc quản lý khách sạn chẳng hạn. Họ cho rằng loại chụp ảnh này chỉ là ở giai đoạn mới lớn, giống như bọn con trai ve vãn, hay thói quen ăn chay vậy. Bao nhiêu năm qua họ làm lụng vất vả là vì cái gì chứ? Để Mia ném tiền vào trường mỹ thuật hay sao? Không, nếu con bé hết lòng muốn vào trường mỹ thuật đến vậy, thì nó sẽ phải tự mình trang trải phí học hành. Họ khăng khăng rằng đó không phải là keo kiệt. Mà đó là thực tế. Họ không cấm cô học. Họ quả quyết với cô rằng họ không nổi giận; chắc chắn không, hoàn toàn không. Nhưng họ đã bắt cô ngồi ở phòng khách và chê bai thẳng thừng rằng: nghệ thuật này là thứ đồ lãng phí thời gian. Họ khá thất vọng về con gái mình. Và chắc chắn là họ sẽ không cho cô tiền đi học. “Mẹ nghĩ là bố mẹ nuôi con để khôn ngoan hơn thế này,” mẹ cô nói thế, lời bà thắt lại giọng bất đồng.
Nghe vậy Mia rất buồn, nhưng lòng chẳng mảy may ngạc nhiên. Ngay từ đầu cô đã biết rằng bố mẹ không đồng ý; cô biết rằng, suốt thời gian qua họ chiều theo sở thích của cô nhưng bây giờ cô đã mười tám tuổi, và mọi thứ phải khác. Cô đã được xem là người lớn, thì những đặc ân dành cho trẻ con đều bị gạt sang một bên, không được tự do buông mình vào đó nữa. Cô đã tính toán đủ cả, và sẽ rất giật mình nếu bố mẹ đồng ý đóng góp chút gì. Nhà trường rất ấn tượng với hồ sơ năng lực của cô nên họ đã trao cho cô học bổng miễn học phí. Cô ước tính mình có thể chi trả tiền phòng, tiền ăn và dụng cụ bằng cách làm việc bán thời gian. Bố mẹ cô liếc nhìn nhau, như thể biết rằng mọi đe dọa của họ đều vô dụng, và họ tiếp nhận thông tin này trong im lặng.
Một tuần trước khi Mia rời đi, Warren đã đứng trước cửa phòng cô.
“Chị Mia à, em đang nghĩ là,” cậu nói, nghiêm túc đến mức khiến cô bật cười khúc khích ngoại trừ việc cậu với tay vào túi sau và kéo ra một đống những tờ tiền gấp lại. “Em nghĩ là chị nên lấy chỗ tiền này. Tuy rằng không đủ, nhưng trang trải được phần lớn chi phí chị à.”
“Vậy chiếc xe thì sao, hở Wren?” cô hỏi. Warren đang dành dụm tiền để mua một chiếc xe hơi, và thậm chí, sau nhiều nghiên cứu, cậu đã chọn được chiếc thật sự định mua: một chiếc Volkswagen Rabbit. Đó không phải là chiếc xe mà cô mong cậu mua: cô đã đoán là một chiếc Trans Am, hoặc một chiếc Thunderbird, kiểu sặc sỡ và vui nhộn. Và chiếc Rabbit này không chỉ là một trong vài chiếc xe mà cậu có khả năng mua, mà giá xăng cho nó còn là 1 đô-la 10 cent một gallon, quảng cáo cũng hứa hẹn rằng chiếc xe chạy được 38 dặm với 1 gallon, và cô rất ngạc nhiên khi chứng kiến Warren trong bộ dạng này đang xuất hiện ở đây, quá ngỡ ngàng.
Cô cầm tay cậu đặt lên mớ tiền và nhẹ nhàng đẩy ra. “Đi mua chiếc xe đó đi Wren ạ,” cô nói. “Mua xe đi và hứa sẽ ra trạm xe buýt đón chị mỗi lần chị về nhà nhé.”
Mia đã lên xe buýt Greyhound đến Philly, sau đó đến New York, với một va-li quần áo và một va-li đựng những chiếc máy ảnh của cô. Từ bảng thông báo, cô tìm được một căn hộ ở Làng, không xa khuôn viên trường, ở cùng với hai cô gái cũng đang học ở trường. Cô làm phục vụ bàn ở một quán ăn nhỏ gần nhà ga Grand Central và một chỗ khác ở cửa hàng Dick Blick trên đường West Houston, ở đó cô đã dùng chỗ tiền tiết kiệm cuối cùng của mình để mua học cụ với mức giảm 20% cho nhân viên. Theo cách đó, cô đã bắt đầu các lớp học của mình: Hình họa 1, Ánh sáng và Màu sắc 1, Mỹ thuật Tổng quan 1, Nhập môn nghiên cứu phê bình, và - cực kỳ phấn khích - lớp Thuật nhiếp ảnh 1 do cô Pauline Harrison nổi tiếng giảng dạy.
Hóa ra, bất chấp những dự định tốt đẹp nhất của mình, bố mẹ cô đã chuẩn bị cho việc cô theo học tại trường mỹ thuật một cách riêng biệt thế này.
Mỗi buổi sáng, cô thức dậy lúc bốn giờ rưỡi và làm công việc rót cà-phê cho các doanh nhân chờ tàu lửa. Những cái đĩa nóng mà cô mang ra từ nhà bếp đã làm bỏng phần má trong cánh tay với những vết sẹo hình vòng cung. Thậm chí khi phải làm ca đôi, mẹ cô lúc nào cũng cố nhẫn nại hơn chứ không chỉ là một cơ thể nằm bẹp trên giường - trò chuyện với bọn trẻ về buổi khiêu vũ của con gái hoặc mới đây là cậu con trăn trở về chiếc xe, hỏi han mấy con thú cưng của tụi nhỏ - và sau nhiều năm quan sát mẹ, Mia cũng học hỏi được thứ năng lực này: ghi nhớ rằng ai lấy kem và đường, ai thích cho xốt cà chua lên trứng, ai luôn bỏ lại vỏ bánh trên mép đĩa và rất vui lòng khi thấy rằng, lần sau, cô đã cắt vỏ bánh ra sẵn từ trong bếp rồi. Cô biết cách đọc vị người khác: trong khi mẹ cô biết khi nào thì xuất hiện với liều morphin tiếp theo hoặc phải dọn bô, thì cô biết khi nào phải xuất hiện với bình cà-phê ngay khi khách đặt ly cà-phê đã uống hết xuống bàn, khi nào phải để ý đến những khách hàng có chút hối hả và sải bước, nhũng điều đó báo hiệu rằng họ đang vội và sẵn sàng rời đi ngay, hoặc họ đang thư giãn và muốn nán lại. Vì điều này mà các doanh nhân và những người làm quảng cáo thích ngồi ở khu của cô, và họ thường xuyên giúi thêm 1 đô-la - hoặc đôi khi là 5 - lên bàn như phần tiền boa.
Trong bếp, khi anh quản lý không để ý, thay vì vét bỏ vào thùng rác, cô đã ăn những mẩu bánh mì nướng còn sót lại cùng những nĩa trứng khuấy đã nguội lạnh từ các đĩa thức ăn. Chúng chính là bữa sáng của cô.
Khi xuống ca, cô thay đồ trong một buồng nhỏ ở phòng vệ sinh nhân viên, cuộn bộ đồng phục và chiếc tạp dề chặt lại thành khối trụ trước khi nhét vào ba-lô, để cho chúng không nhăn. Không có bàn ủi nên nếu cẩn thận làm theo cách này, cô có thể mặc một bộ đồng phục cho cả tuần hoặc hơn, trước khi phải mang đến hiệu giặt tự động. Sau đó, cô đến lớp với áo thun và quần jean.
Từ bố mình, cô học được cách thay nhớt xe, bắt ổ cắm điện, đục đẽo, cưa xẻ - điều này có nghĩa cô sử dụng thành thạo các dụng cụ: cô biết có thể bẻ cong một đoạn dây hoặc một tấm kim loại đến mức nào để nó không gãy vỡ, làm sao để làm sạch dây thép, làm mềm các chỗ phồng và chỗ cong, làm sao để lừa cái ống đồng vào chỗ góc hay các đoạn uốn. Từ mẹ mình, cô biết cách xử lý vải - từ vải dệt thưa đến các loại vải bạt dày dặn - và cách sử dụng chúng, giới hạn của chúng là gì, có thể kéo căng ra bao nhiêu và có thể chùn lại bao nhiêu. Vệ sinh dụng cụ thế nào cho đúng để không sót lại dấu vết nào của những thứ đã chạm vào nó. Giờ đây, trong lớp học, khi được yêu cầu dùng kim loại làm ra một cái ghế, cô đã biết cách hàn và làm mọi thứ thật chắc chắn; khi được yêu cầu thực hành trên vải, cô biết rằng bằng cách siết vải thật nhanh sẽ biến vải nhung tăm và vải lanh thành một cái cây, cao sáu bộ, điều mà ngay cả giáo viên cũng lấy làm thán phục. Cô biết cần phải sơn mỏng làm sao để vải có thể rũ và sơn dày thế nào để chúng vón cục như đất sét, để nhào nặn ra hình thù gì đó. Trong môn giải phẫu, khi người mẫu tháo lưng áo choàng và để áo rơi xuống dưới chân, cô không lãng phí thời gian để đỏ mặt, mà ngay lập tức bắt tay vẽ phác thảo đôi chân dài và đường cong của bộ ngực: ở bệnh viện, khi phụ giúp mẹ, cô đã nhìn qua quá nhiều cơ thể đến nỗi không còn ngại ngùng trước bất cứ thứ gì.
Lúc ba giờ, sau khi kết thúc lớp học, cô lại đi làm. Mỗi tuần hai buổi cô có ca ở cửa hàng Dick Blick, bán các dụng cụ mỹ thuật cho các bạn học, hoặc bổ sung hàng hóa cho kho. Cô nói chuyện về nghệ thuật cùng các sinh viên khóa trên, và họ kể với cô về những thứ mà họ đang làm, tại sao họ thích dùng dao hơn cọ hoặc dùng màu acrylic hơn màu dầu, hoặc thích phim Fujicolor hơn là Kodachrome. Trong nhà kho, sếp của Mia - người có cô con gái trạc tuổi cô và vì lẽ đó đã dành cho cô lòng thương cảm khi phải làm ba công việc để trả tiền thuê nhà - đã cho phép cô lấy những cây bút chì và phấn màu đã bị tách màng co, các ống màu bị rò rỉ, những cây cọ và những tấm bạt vẽ đã bị tưa đầu hoặc xuống cấp. Bất cứ thứ gì không thể bán được nữa thì Mia đều mang về nhà và sửa chữa lại, căng lại các tấm bạt vẽ hoặc dán băng keo phía sau để vá chúng lại; đánh bóng lại cán cọ bị vỡ, gọt nhọn hai cây bút chì còn phân nửa để thay cho một cây nguyên. Bằng cách này, Mia có thể mang về cho mình khá nhiều học cụ miễn phí.
Ba buổi tối một tuần, Mia bắt tàu 1-9 và bắt xe buýt số 116, ở đó cô khoác lên người bộ đồng phục khác và phục vụ bàn ở một quán bar gần Columbia. Những sinh viên năm cuối mà cô phục vụ có xu hướng hoặc ngạo mạn và đáng ghét hoặc đểu cáng và đáng ghét, đêm càng muộn thì lại càng nhiều, nhưng họ boa cho cô, và khi kết thúc một đêm thuận lợi, có lẽ trong tạp dề của cô có ba mươi hoặc bốn mươi đô-la. Cô ăn những miếng bánh mì kẹp mà họ bỏ thừa, khoai tây chiên mà họ bỏ quên và những miếng dưa chua mà họ ăn tối và nhét toàn bộ chỗ tiền mặt vào túi quần jean của mình.
Bằng cách này, suốt năm nhất cô đã góp nhặt dành dụm được một số tiền tiết kiệm thậm chí sau khi đã trả tiền thuê nhà. Thỉnh thoảng, khi gọi điện về nhà - vì cô đã gọi điện về nhà, nên cả cô và bố mẹ cô đều có thể chắc rằng hai bên đều mạnh khỏe; họ khách sáo hỏi han trường lớp thế nào, hoặc ít nhất là giả đò, thể hiện sự quan tâm đến câu trả lời của cô - Warren đã hỏi rằng liệu có đáng hay không. Cậu em này lúc nào cũng là đứa vô tư lự, sẵn sàng đón nhận mọi chuyện xảy đến; còn cô là một người chủ động, một người đầy tham vọng, một người đặt kế hoạch.
“Rất đáng,” cô đảm bảo với em trai như vậy. Và cô kể với cậu về các lớp học, về những bức tranh mà cô được học vào tuần đó, và về thứ mà cô yêu thích, lý do thật sự đã khiến cô thức dậy lúc bốn giờ rưỡi mỗi sáng và thức khuya mỗi tối: chính là nhiếp ảnh.
Khi cô kể về Pauline Harrison, giọng của cô nửa tha thiết của một nữ sinh dành cho người mà mình phải lòng, nửa tôn sùng của một tín đồ dành cho vị thánh. Ban đầu, chẳng thể nhìn rõ rằng mọi chuyện lại thành ra như vậy. Vào ngày đầu tiên của lớp nhiếp ảnh, sinh viên ngồi thẳng lưng ở bàn của mình, mỗi người có một chiếc máy ảnh 35mm và hai quyển sổ ghi chép trong tay - theo danh mục học cụ được chỉ định. Khi lớp bắt đầu học, cô Pauline sải bước về phía sau căn phòng, tắt đèn, và, không hề giới thiệu bản thân, cô bật máy chiếu. Trước mắt họ, một bức ảnh của Man Ray hiện lên trên màn hình chiếu: một phụ nữ khêu gọi, tấm lưng cô biến thành cây đàn cello bởi hai lỗ-f[3] được vẽ. Sự im lặng chiếm lĩnh trọn vẹn căn phòng. Sau năm phút, cô Pauline ấn ngón tay cái, và nàng cello được thay bằng bức ảnh phong cảnh của Ansel Adams, ngọn núi McKinley chằm chằm nhìn qua mặt hồ trong văn vắt. Không ai nói một lời. Ấn thêm cái nữa: bức chân dung của Dorothea Lange chụp một người đàn bà trong sự kiện Dust Bowl[4], mái tóc đen của cô bỏ ra sau, thoáng cười nhếch mép. Cứ như vậy liên tục suốt hai tiếng đồng hồ lên lớp, nghiên cứu các bức ảnh mà tất cả sinh viên đều công nhận nhưng đó - cũng như bà Pauline ắt hẳn đã nhận ra - là những thứ mà họ chẳng đời nào dành nhiều thời gian ngắm nghía. Nhờ đọc sách ở thư viện, Mia nhận ra tất cả những bức ảnh ấy, nhưng cô cũng nhận ra rằng sau khi ngắm nhìn chúng đủ lâu, thì chúng có những đường viền mới, giống như những gương mặt của người mà cô yêu quý.
Sau hai giờ trôi qua, cô Pauline ấn tắt máy chiếu và cả lớp hấp háy mắt trong ánh sáng đột ngột. “Buổi sau, hãy mang theo bức ảnh mà các em tự hào nhất,” cô dặn, và rời khỏi lớp. Đó là những câu đầu tiên và duy nhất mà cô nói.
Buổi học tiếp theo, sau nhiều suy nghĩ, Mia đã mang theo một trong những bức ảnh mà cô chụp bằng chiếc máy ảnh khổ lớn của mình. Nhập môn về Nhiếp ảnh tập trung vào các máy ảnh cầm tay, nhưng cô Pauline đã nói rằng bức ảnh mà các em tự hào nhất, và của cô là đây: bức ảnh chụp em trai đang chơi khúc côn cầu ở sân sau, ngôi nhà và khu phố xung quanh trải rộng phía sau cậu giống như bức tiểu họa. Cô đã cố sức trèo lên đỉnh đồi sau nhà để chụp bức ảnh ấy. Khi bước vào, mọi người nhìn thấy một phiếu làm mục lục với tên của mỗi sinh viên được đính lên tường quanh lớp học, bằng một cái ghim gắn chặt bên dưới. Đúng hai phút sau khi vô tiết, cô Pauline bước vào - lại một lần nữa, không hề tự giới thiệu - và cả lớp nhóm lại bên từng bức ảnh một cách tuần tự, cô Pauline nhận xét về bố cục hoặc kỹ thuật chụp ảnh, các sinh viên rụt rè trả lời những câu hỏi của cô liên quan đến vị trí ngắm chụp hoặc sắc độ. Vài bức được dàn dựng rất chu đáo; vài bức - rõ ràng là các sinh viên ấy chưa bao giờ học qua lớp nhiếp ảnh - là những bức ảnh gia đình đơn giản. Một hoặc hai sinh viên đã cố thử chút gì đó mang tính nghệ thuật: bóng cô gái ngược sáng với màn hình chiếu phim cực lớn; một bức ảnh cận cảnh sợi dây điện thoại rối quấn quanh cái ống nghe.
Mia - và các bạn học khác - đã căng mình đáp trả những câu hỏi của cô Pauline. Từ buổi học đầu tiên đó thì cả lớp đã chắc chắn rằng cô ta là một trong những bà rồng, là những giảng viên nổi tiếng khắc nghiệt: những người thích thú trong việc làm cho sinh viên khó chịu, những người nghĩ rằng cách tốt nhất để đẩy sinh viên ra khỏi vùng an toàn là dùng những lời phê bình để dọa dẫm chúng đến tan tành. Nhưng, Mia rất ngạc nhiên khi cô Pauline không phải một bà rồng. Bất chấp phong thái nghiêm túc và dứt khoác của mình, cô ấy đều nhìn ra điểm gì đó ở mỗi bức ảnh để nhấn mạnh và khen ngợi. “Nhìn cái cách mà cô em gái đang cười kìa,” cô nói, chạm vào một trong những bức ảnh chân dung gia đình. “Cô bé ấy là người duy nhất không nhìn máy ảnh - điều này mang lại cảm giác rằng có thứ gì đó bên ngoài khung hình. Cô bé là đứa nổi loạn sao? Hay chuyện này có phải ám chỉ về hồn ma của cả gia đình hay không?” Hoặc: “Hãy chú ý tòa chọc trời này cứ như sắp chọc thủng mặt trăng. Đó là một sự lựa chọn thận trọng về luật xa-gần.” Ngay cả những lời chỉ trích - cũng bình thường như những lời khen của cô vậy -không phải là những gì mà Mia mong đợi. “Nước rất khó,” cô đơn giản nói vậy, khi có người chỉ bức ảnh chụp thác nước bị vỡ nét nghiêm trọng. “Chúng ta hãy giả sử rằng người ta cố tình chụp như vậy. Nó mang lại hiệu ứng gì?”
Bức của Mia xếp cuối cùng, và khi cả lớp tập trung lại trước nó, cô Pauline đã im lặng trong một lúc, như thể bị bất ngờ. Cô cẩn thận nghiên cứu nó, trong hai, ba, rồi năm phút, và sự im lặng này làm cả lớp cảm thấy không yên. “Mia Wright là ai?” rốt cuộc cô hỏi, và Mia bước lên. Những người khác lùi lại nửa bước, như thể bất cứ tia sét nào cũng có thể đánh trúng họ. Sau đó cô Pauline bắt đầu hỏi. Sao em lại chụp nhỏ như vậy? Sao em lại để dòng này chạy từ phải sang trái? Sao em dịch chuyển máy ảnh theo cách này? Sao em lấy nét cây gậy khúc côn cầu, thay vì khung thành? Mia cố trả lời tốt nhất có thể: cô muốn bắt được hình ảnh ngôi nhà và bãi cỏ nhỏ bé ra sao so với những ngọn đồi đằng sau chúng; cô muốn thể hiện đường vân trên mặt cỏ và cái cách mà những ngọn cỏ bị nghiền nát dưới gót giày của cậu em trai. Nhưng ở một mức độ nhất định, khi những câu hỏi của cô Pauline ngày càng nghiêng về mặt kỹ thuật, thì cô càng trở nên bối rối và ậm ừ không rõ. Dòng ấy để vậy chỉ vì nhìn thuận mắt. Dịch chuyển máy ảnh như vậy chỉ vì nhìn thuận mắt. Độ sâu trường ảnh như vậy chỉ vì nhìn thuận mắt. Cuối cùng, ngay khi kết thúc buổi học, cô Pauline rời đi với một cái gật đầu.
“Buổi học tới các em hãy mang theo máy ảnh,” cô nói. “Chúng ta sẽ bắt đầu chụp ảnh.” Cô nhấc túi lên và rời khỏi phòng, bỏ lại Mia không chắc rằng liệu cô vừa vượt qua hay thất bại hoàn toàn.
Suốt mấy tuần sau đó, cô Pauline đối xử với Mia cũng như bất cứ sinh viên nào khác. Mọi người học cách quấn phim vào máy ảnh sau đó tháo nó ra, cách để tạo ra một bức ảnh, cách để tính toán khẩu độ và độ rộng thích họp. Từ sự hướng dẫn của ông Wilkinson và từ những thử nghiệm thực tế suốt những năm qua, Mia đã biết tất cả những điều này rồi. Tuy nhiên, khi cô Pauline giải thích, những linh cảm của cô về cách định hình ảnh chụp càng trở nên rõ ràng. Cô biết diễn đạt lý do vì sao lại chọn một mức f-stop cụ thể, không chỉ thấy rằng chọn như vậy khiến cho bức ảnh trông thuận mắt mà còn giải thích được lý do vì sao nó lại trông thuận mắt như vậy. Ba tuần vào học kỳ, khi cả lớp bắt đầu chụp những bức đầu tiên, trong phòng tối, cô Pauline đã dừng lại ngay chỗ của Mia. Trong ánh chói lóa của ngọn đèn màu đỏ, trông cô như thể được chạm khắc từ một viên ngọc khổng lồ.
“Em dùng máy ảnh khổ lớn được bao lâu rồi?” cô hỏi, và khi Mia trả lời, cô nói, “Em có muốn cho tôi xem thêm các bức ảnh khác của em không?”
Thứ Bảy sau đó, Mia nhận ra mình đang đứng ở sảnh đợi căn hộ của cô Pauline, tay cầm một phong bì ảnh. Tòa nhà có một người trực cửa, trước đây chưa từng gặp lần nào, và Mia hoảng đến nỗi không nghe ra anh ta nói tầng của cô là tầng mấy, và cô phải dùng cách ấn lần lượt từng nút trong thang máy và kiểm tra tên trên mỗi cửa phòng trước khi chúi nhanh vào trong và ấn tầng tiếp theo. Cuối cùng khi cô bước ra ở tầng sáu, cô thấy cô Pauline đang đứng nơi cửa mở.
“Em đây rồi,” cô nói. “Anh trực cổng đã gọi lên để thông báo rằng em đã đến từ mười phút trước rồi. Cô còn đang thấy lạ.” Cô ấy đi chân trần nhưng về mặt khác thì trông y hệt như khi lên lớp: chiếc áo phông màu đen, cái váy dài màu đen và đôi bông tai dài đính hạt mà mỗi khi cô bước đi nó trông giống như hai cái chuông nhỏ. Mia, đỏ mặt, bước theo cô vào một căn phòng rộng lớn, tường trắng, tràn ngập ánh nắng, nơi mà mọi thứ dường như phát sáng. Cô đã mong rằng căn hộ của một nhiếp ảnh gia sẽ treo đầy ảnh chụp, nhưng các bức tường đều trống tron. Sau đó cô mới biết phòng chụp của cô Pauline là ở trên lầu, rằng cô ấy không bao giờ treo bất cứ gì lên tường vì khi không làm việc, cô muốn có một không gian tinh sạch. Vị của chất tẩy, cô Pauline giải thích như vậy. Nhưng trong khoảnh khắc này, Mia chỉ ngồi xuống bên cạnh cô trên bộ sô-pha rời màu xám, nơi đó họ bày ra bàn cà-phê hết bức này đến bức khác. Từ buổi học thứ hai đó, lòng cô Pauline ngập tràn thắc mắc: Sao bức này em lại chỉnh máy chậm như vậy? Sao bức kia em lại chỉnh gần như vậy? Em có nghĩ về việc điều chỉnh độ nghiêng ở đây không? Em nghĩ gì trong lúc chụp bức này? Trong những bức ảnh, Mia không còn e ngại nữa. Hai người mải mê đến mức khi một phụ nữ bước vào và để hai tách cà-phê xuống chiếc bàn trà, mỗi bên một tách, thì cô giật nảy người.
“Chị Mal này,” cô Pauline thân mật vẫy tay nói. “Chị Mal, đây là Mia Wright, sinh viên của em.”
Cô Mal mảnh khảnh với mái tóc nâu dài lượn sóng. Cô mặc quần jean và áo choàng màu xanh lá, và cũng như cô Pauline, cô ấy đi chân trần.
“Cô nghĩ là em thích cà-phê,” cô Mal nói. “Rất vui được gặp em, Mia.” Cô hôn lên đỉnh đầu của Pauline và rời đi.
Mia đã ở đó cả buổi chiều, cho đến giờ vào ca ở quán bar. Cô Pauline và cô Mal cố nài cô ở lại dùng bữa tối, mãi đến khi cuối cùng Mia thừa nhận rằng mình phải đi làm. “Vậy tuần tới nhé,” cô Pauline đề nghị, “khi đó em được nghỉ một ngày.” Thực tế, suốt nhiều tháng sau đó cô thường xuyên ghé thăm cô Pauline và cô Mal, trò chuyện về nhiếp ảnh cùng cô Pauline, xem cô ấy làm việc ở phòng chụp, nghe cô bày tỏ về bất cứ thứ gì mà cô đang làm vào khi ấy. “Cô đang đọc về Ai Cập cổ đại,” cô Pauline có thể lật mở một cuốn sách và bắt đầu nói vậy. “Cho cô biết là em nghĩ sao về chủ đề này.” Trên bàn ăn, Mia nếm những món mà cô chưa bao giờ ăn: atiso, olive và pho-mát mềm của Pháp. Cô biết được cô Mal là một nhà thơ, cô ấy đã xuất bản vài tập thơ. “Nhưng không ai quan tâm đến thơ cả,” cô Mal cười buồn nói vậy. Cô đã cho Mia mượn cả chồng sách: nhà thơ Elizabeth Bishop, nhà thơ Anne Sexton và nhà thơ Adrienne Rich.
Khi đông về, gần như tuần nào cũng vậy, Mia đều mang những bức ảnh mới nhất đến khoe với cô Pauline, và họ sẽ thảo luận về chúng, cô Pauline bắt cô diễn đạt rõ ràng cô đã làm những gì, và tại sao. Trước đây, Mia dựa vào cảm giác để chụp ảnh, việc dựa vào bản năng đã cho cô biết cái gì đúng và cái gì sai. Cô Pauline đã thách thức cô biết cân nhắc kỹ lưỡng, biết làm việc có kế hoạch, biết thuyết minh cho mỗi bức ảnh, bất kể bức ảnh đó có đơn giản ra sao. “Không gì là ngẫu nhiên cả,” cô Pauline cứ nhắc đi nhắc lại. Mia đã biết được, đó là câu thần chú yêu thích của cô ấy, trong cả nhiếp ảnh lẫn đời sống thực tế. Trong căn nhà của cô Pauline và cô Mal, không gì là đơn giản. Ở nhà bố mẹ, mọi thứ là tốt hoặc xấu, đúng hoặc sai, có ích hay hoang phí. Không có gì lưng chừng. Còn ở đây, cô phát hiện ra, mọi thứ đều có sắc thái; mọi thứ đều có một mặt ẩn hoặc những điều thầm kín ẩn khuất. Mọi thứ đều đáng được xem xét kỹ lưỡng hơn.
Sau mỗi buổi gặp đó, lúc nào cô Pauline và cô Mal cũng ép Mia ở lại dùng bữa tối. Đến khi đó, họ đã biết về ba công việc của Mia, và cô Mal sẽ nài cô lấy thêm thức ăn, sẽ gửi cô mang về những chiếc hộp Tupperware đựng đầy thức ăn thừa, và cô sẽ mang trả hộp vào lần ghé thăm tiếp theo. Thực tế, nếu một trong hai người có thể nghĩ ra cách đề nghị tế nhị, thì họ sẽ khuyến khích cô ngủ lại qua đêm, sẽ sắp xếp cho cô ở phòng dành cho khách và tiếp đãi cô thật tốt.
Mia là con người tự trọng, điều này quá hiển nhiên. Mặc dù cô nhận sự hiếu khách của họ bằng thái độ biết ơn, thì sau lần đầu ghé thăm ấy, cô đã quyết định rằng không bao giờ đến bằng tay không. Cô mang đến những món đồ nho nhỏ tự làm: những bó lá được nhặt ở Công viên Trung tâm và dùng dải ruy băng buộc quanh thành một bó hoa hung đỏ; một cái rổ cỡ ngón tay cái dùng cỏ kết lại thành; có một lần, cô dùng mực vẽ bức phác họa nho nhỏ cho hai người, thậm chí là vài viên sỏi nhỏ màu trắng sau khi cô Pauline nhắc qua về một dự án mới với đá mà cô vừa khởi động. Cả cô Pauline và cô Mal đều biết rõ rằng những món quà này giúp xoa dịu cảm giác tội lỗi của Mia đối với tất cả những thứ mà hai người cho cô - thức ăn, kiến thức và tình cảm của họ - nếu không thì lòng tự trọng của Mia sẽ ngăn cô quay trở lại.
Và hai người họ rất mong cô quay lại. Đến dịp lễ Giáng sinh thì mọi người - cô Pauline, cô Mal, những giáo viên khác của Mia và những người bạn cùng lớp - đều biết quá rõ rằng Mia vô cùng tài năng.
“Chị sẽ nổi tiếng, chị biết điều đó mà, phải không?” đêm nọ, Warren nói với chị mình. Cô về nhà ăn lễ Giáng sinh, và đúng như đã hứa, cậu đến trạm xe buýt đón cô bằng chiếc VW Rabbit cỡ nhỏ màu nâu vàng nhạt mà cậu đã mua vào mùa thu năm ấy. Bây giờ, bốn ngày sau lễ Giáng sinh, cậu đưa cô trở lại trạm xe. Chẳng cần bàn bạc, hai chị em đều nhất trí chạy theo cung đường dài, dọc theo những con đường quanh co, để kéo dài chút thời gian cuối cùng được ở cùng nhau. Lúc này Warren đã học năm ba trung học, và dường như đối với Mia, cậu em này đã trưởng thành trong lúc cô đi xa: không cao hơn, nhưng có gì đó chín chắn hơn. Giọng cậu trầm hơn và đôi bàn tay, các ngón tay và bàn chân của cậu bắt đầu lớn thêm, những bộ phận mà vài năm trước đã lớn quá khổ với cậu rồi, giống như một bàn chân cún vậy. Trong ánh nắng chiều nhợt nhạt, mớ râu lởm chỏm trên cổ cậu trông chỉ như một mảng tối, nhưng cô biết đó là gì.
“Để rồi xem,” là tất cả những gì mà cô nói. Sau đó: “Còn em? Lớn lên em định sẽ làm gì?” Hồi còn mẫu giáo, khi cô giáo hỏi câu này, Warren đã trả lời về những thứ cậu định làm trong chiều hôm ấy - buổi chiều có vẻ xa xôi đến mức trở thành tương lai mà tâm trí của một đứa bé năm tuổi như cậu có thể tường tượng ra. Từ đó về sau “Lớn lên em định sẽ làm gì” là cách mà hai chị em hỏi về những dự định trong ngày, và mặc dù Mia cứ trêu cậu, dường như không bao giờ Warren có thể tính xa hơn một hoặc hai tuần tới.
“Bữa thứ Sáu em và Tommy Flaherty sẽ đi săn,”giờ cậu trả lời. “Định sẽ đi thêm một chuyến nữa trước khi nhập học.” Mia nhăn mặt. Cô không bao giờ tán thành chuyện săn bắn, mặc dù trong khu phố này ai ai cũng để một hoặc hai cái đầu hươu ở đâu đó trong nhà.
“Khi nào về chị sẽ gọi em,” cô nói, và hôn lên gò má cậu. Lại lần nữa cô bị bất ngờ trước sự trưởng thành của cậu em, trông cậu dường như gầy hơn, mạnh mẽ hơn và cứng cáp hơn nhũng gì mà cô nhớ. Cô tự hỏi liệu đã có cô gái nào bước vào cuộc sống của cậu chưa. Cô nghĩ, lần sau cô về nhà cậu sẽ trông ra sao - và đó là khi nào? Có lẽ là mùa hè, nếu như cô không nhận việc để dành dụm cho năm sau. Có quá nhiều việc để làm. Đã vài tháng trôi qua kể từ khi cô đến New York, công việc của cô đã tiến triển: từ khoảng thời gian ở cùng cô Pauline, từ việc nghiên cứu tác phẩm của các bạn cùng lớp, thậm chí từ những giờ dài dằng dặc mà cô làm nhiều công việc và từ những người lạ luân phiên liên tục mà cô tiếp xúc ở chỗ làm. Cô trở nên thông minh hơn, thận trọng hơn, kỹ thuật nâng cao hơn và mạo hiểm hơn, táo bạo hơn và sắc sảo hơn, và mọi người - bao gồm bản thân Mia, và Warren, người đang vẫy tay chào cô qua cửa sổ phụ trước khi ngả người đóng lại - đều chắn chắn rằng cô sẽ tiến rất xa. Mia tự hứa với lòng rằng không gì có thể làm cô xao lãng công việc. Công việc là điều quan trọng duy nhất. Cô sẽ không cho phép bản thân nghĩ về bất cứ điều gì khác.
Cô tập trung vào công việc đến nỗi, chiều tháng Ba hôm ấy khi người đàn ông với chiếc cặp táp bắt đầu nhìn cô chằm chằm, cô đã không lập tức nhận ra. Đó là lúc giữa trưa khi cô lên tàu ở đường Houston, hướng đến chỗ làm gần Columbia, và tàu số 9 vắng đến ngỡ ngàng, chỉ có một vài hành khách. Mia đang nghĩ về dự án mà cô làm cho cô Pauline - ghi lại sự biến đổi theo thời gian - thì đột nhiên cô cảm thấy nổi gai ốc, thứ cảm giác nói lên rằng cô đang bị theo dõi. Mia từng nhiều lần bị nhìn chằm chằm - rốt cuộc thì, nơi này là New York - và giống như mọi phụ nữ khác, cô biết phải phớt lờ chúng, cũng như phớt lờ luôn những tiếng huýt sáo đôi khi đi kèm vậy. Nhưng cô không hiểu được người đàn ông này. Ông ta có vẻ khá đứng đắn: bộ vest sọc đơn giản, mái tóc tối màu, cặp táp chèn giữa hai chân. Người của Phố Wall, cô đoán vậy. Đó không phải là cái nhìn thèm khát, hoặc thậm chí là cợt nhả. Một ánh mắt khác - sự pha trộn lạ lẫm của việc nhận ra và khao khát - và điều đó làm cô bất an. Sau ba trạm dừng, khi người đàn ông ấy vẫn không ngừng dán mắt, cô gói ghém đồ đạc của mình và xuống ở Giao lộ Columbus.
Ban đầu, cô nghĩ rằng mình đã cắt đuôi hắn ta. Tàu đã rời đi và cô yên vị trên chiếc ghế dài bụi bậm chờ chuyến tiếp theo và rồi, khi vài hành khách rời nhà ga, cô lại thấy hắn: bây giờ tay cầm cặp táp, nhìn dáo dát sân ga. Hắn đang tìm cô, cô chắn chắn. Trước khi hắn phát hiện ra thì cô đã quay người lại và bước lên cầu thang ở đầu kia sân ga rồi men theo đường hầm, cô bước nhanh nhất có thể mà không làm thu hút sự chú ý từ khu sân ga tàu c. Bây giờ cô đã trễ giờ làm, nhưng chuyện đó không còn quan trọng nữa. Một khi rời được, cô sẽ xuống một hoặc hai trạm, dễ dàng đến Broadway và bắt đúng chuyến tàu.
Khi tàu C đến Mia đã bước lên toa giữa và đưa mắt nhìn qua các hàng ghế. Toa tàu còn trống phân nửa, khi cần cũng có đủ nhiều người để cô nhờ giúp đỡ, nhưng không đông đến mức đám đông sẽ che khuất bất cứ rủi ro nào. Cô yên vị vào chỗ ngồi trống ở ngay giữa. Ở đường số 72 không có dấu hiệu nào của hắn. Nhưng ở đường số 81, ngay khi Mia đứng dựa cánh cửa cuối toa mở ra và người đàn ông với chiếc cặp táp bước vào. Bây giờ tóc hắn hơi rối bời, vài lọn rũ xuống mặt như thể đang vội vàng chạy qua các toa tàu tìm kiếm cô. Ánh mắt cô chạm phải mắt hắn và chẳng còn cách nào để vờ cô không trông thấy hắn. Bạn cùng phòng của Mia đã kể lần bị cướp trong lúc đang về nhà vào đêm muộn, và cô bạn học Sandra đã kể với cô rằng một gã đàn ông đã nắm chùm tóc đuôi ngựa của cô rồi lôi cô vào con hẻm cụt ở đường Christopher - cô cố chống lại, nhưng cô bị hắn giật đứt 1 nùi tóc. Mia đã thấy chỗ hói đó. Những gì phải xảy ra, bây giờ sẽ xảy ra, bất kể cô ở lại tàu hay rời khỏi.
Cô xuống tàu và hắn đi theo, và khi cửa tàu đóng lại cô ngồi yên ở sân ga một lúc. Không có bất cứ nhân viên phục vụ hành khách hay một cảnh sát nào trong tầm mắt, chỉ có một bà cụ từng bước chậm rãi tiến về phía cầu thang và, ở đầu kia sân ga, một gã ăn mày mang giày rách đang nằn ngủ. Cô nghĩ, nếu bỏ chạy, có lẽ cô có thể chạy lên cầu thang; trước khi hắn bắt được cô.
“Đợi đã,” hắn gọi to khi tàu bắt đầu rời đi. “Chú chỉ muốn nói chuyện với con. Làm ơn.” Hắn dừng lại và giơ hai tay lên. Lúc bấy giờ cô có thể nhìn ra hắn trẻ hơn cô nghĩ, có lẽ chỉ mới bốn mươi, và cũng mảnh khảnh hơn. Cô có thể nhìn thấy, bộ vest của hắn rất đắt tiền, đường chỉ bạc tinh xảo luồn qua sợi len, và đôi giày hắn mang cũng vậy: da thuộc mềm với những quả tua rua và đế da trơn nhẵn. Không phải giày của một gã đàn ông bình thường.
“Làm ơn mà,” ông ta tiếp tục. “Xin lỗi vì chú đã đi theo con. Xin lỗi vì chú đã dán mắt vào con. Ắt đã làm con lo lắng...” Ông ta lắc đầu. “Chú không thích vợ mình đi tàu điện ngầm vì lo cô ấy sẽ bị những gã như vậy bám theo.”
“Ông muốn gì?” Mia càu nhàu. Cô không nhận ra rằng cổ họng mình đã khô khốc ra sao. Đằng sau lưng, cô càng siết chặt chùm chìa khóa của mình, chĩa thẳng ra. Sandra đã nói với cô rằng Trông nó không được việc cho lắm, nhưng sẽ đau đấy.
“Để chú giải thích,” ông ta nói. “Chú sẽ chỉ đứng ngay đây thôi. Chú sẽ không bước lại gần đâu. Chú chỉ cần được nói chuyện cùng con.” ông ta đặt chiếc cặp táp xuống dưới, ở giữa hai chân, và Mia thả lỏng được chút xíu. Nếu giờ ông ta có nhào tới, nó sẽ ngáng chân ông.
Ông ta tên là Joseph Reed - “Joey,” ông ta tự sửa lại - và như cô đoán, ông làm việc ở Phố Wall: ông ta lướt qua một loạt những cái tên mà Mia nhận ra chúng là một trong những công ty thương mại lớn. Ông cùng vợ sống ở Riverside Drive; giờ ông đang về nhà; họ đã kết hôn được 9 năm; họ gặp và yêu nhau từ hồi trung học; họ không có mụn con nào.
“Cô chú không thể,” ông Joseph Reed giải thích. “Vợ chú không thể sinh con. Và...” ông im bặt và nhìn Mia một cái van nài, luồn tay lên tóc và hít một hơi thật sâu, trong bầu không khí mà một gã đàn ông biết rõ mình sắp thốt ra điều gì đó hết sức lố bịch. “Cô chú đang tìm người mang thai hộ Một người thích hợp.” Và rồi: “Cô chú sẽ trả công cho người đó. Thật hào phóng.”
Đầu Mia quay cuồng. Cô ấn đầu chìa khóa sâu vào lòng bàn tay - bây giờ không phải để bảo vệ, mà để thuyết phục bản thân rằng những gì cô đang nghe đây là sự thật “Ôi muốn...” rốt cuộc cô cũng xoay sở được. “Tại sao lại là tôi?
Ông Joseph Reed lần mò trong túi và lấy ra một tấm danh thiếp. “Làm ơn. Con sẽ đến ngay và nói chuyện với chú chứ? Ngày mai được không? Vào bữa trưa được không. Tất nhiên, cô chú sẽ mời.”
Mia lắc đầu. “Tôi phải đi làm,” cô nói. “Tôi không thể.
“Vậy, bữa tối thì sao? Chú và vợ chú có thể giải thích với con mọi chuyện. Nhìn này... ở Four Seasons. Lúc 7g nhé? Ít nhất, chú hứa là con sẽ được ăn một bữa ngon lành. Ông ta gật đầu giống như cậu học sinh nhút nhát và nhấc chiếc cặp táp lên. “Nếu con không đến, chú sẽ hiểu mà,” Ông nói. “Chú cũng không thể tưởng tượng nổi... lại có người đề nghị chuyện này với con. Ở ga tàu điện ngầm.” Ông lắc đầu “Nhưng xin con... hãy suy nghĩ về chuyện này. Con giúp đỡ cô chú nhiều lắm. Con sẽ thay đổi cả cuộc đời của hai vợ chồng chú.” Và rồi ông ta quay đi và đi lên cầu thang, bỏ Mia đứng nơi sân ga, cầm tấm thiếp trên tay.
Suốt quãng đời còn lại, Mia sẽ tự vấn rằng cuộc đời mình sẽ ra sao nếu hôm ấy cô không đến nhà hàng. Lúc bấy giờ, chuyện này có vẻ chỉ như trò đùa: chỉ là cách thỏa mãn lòng hiếu kỳ của cô mà thôi, và được ăn một bữa ngon miễn phí. Tất nhiên, sau đó cô sẽ nhận ra rằng quyết định ấy đã thay đổi cuộc đời cô mãi mãi.
Tối hôm đó cô bước từ đường số 52 vào tiền sảnh nhà hàng Four Seasons, trong chiếc váy đẹp duy nhất mà cô có: chiếc váy mà cô đã mặc khi đi đám cưới em họ Debbie hồi năm ngoái. Từ sau lần đó, cô có lớn thêm lên, vì vậy mà chiếc đầm hơi ngắn và hơi chật một chút, và dù nó có vừa vặn đi chăng nữa thì phong cách ấy cũng không phù hợp với sảnh chờ xa hoa này, nơi có đèn chùm cực lớn, thảm trải sang trọng và những chậu cây rừng quý giá. Thậm chí bầu không khí nơi đây cũng có vẻ căng tràn và dày đặc, giống như nhung, đang nuốt trọn tiếng lộc cộc nơi gót giày phụ nữ và tiếng huyên thuyên của những người đàn ông mặc vest, vì vậy họ im lặng lướt qua, giống như những chiếc tàu lượn. Ông Joseph Reed không nói với cô sẽ gặp nhau ở đâu, vì vậy cô cứ lúng túng đứng qua một bên, vờ như đang chiêm ngưỡng bức tranh đang che phủ một trong những bức tường khổng lồ nơi tiền sảnh, cố tránh sự chú ý của quản lý nhà hàng, người đang lượn lờ quanh lối vào phòng ăn giống như một bóng ma lo lắng.
Cô nghĩ, năm phút nữa, và nếu họ không đến, cô sẽ về nhà. Cô phát hiện ra mình quên đeo đồng hồ, vì vậy cô bắt đầu từ từ đếm nhẩm, giống chơi trò trốn tìm hồi cô và Warren còn nhỏ vậy. Cô sẽ đếm đến ba trăm, sau đó cô sẽ về nhà và quẳng cái chuyện điên rồ này vào quên lãng. Và rồi, ngay khi cô đếm đến một trăm chín mươi tám, ông Joseph Reed đi xuất hiện sát bên cô, như người bồi bàn.
“Picasso,” ông nói.
“Cái gì?”
“Bức họa Tấm thảm thêu.” Ở đây là tiền sảnh, ông có vẻ gần như bẽn lẽn, và cô cũng gần như quên mất mối đe doạ mà hôm qua mình cảm thấy. “Chà, thực chất đây không phải là tấm thảm, chú đoán vậy. ông ấy đã vẽ nó trên một bức màn. Người ta yêu cầu ông vẽ một bức, nhưng ông ấy không có thời gian, vậy nên, thay vào đó ông đã đưa họ bức này, Chú luôn ngưỡng mộ điều này.”
“Tôi nghĩ là chú có đưa vợ đi cùng.” Mia nói.
“Vợ chú đang ngồi ở bàn.” Ông đưa tay ra như thể sắp nắm lấy cánh tay cô, sau đó nghĩ lại và nhét tay mình vào túi áo khoác. Khi theo ông xuống tiền sảnh, cô nghĩ rằng vẻ lịch lãm của ông ta gần như quá khôi hài.
Một căn phòng cực lớn màu trắng - cô chớp mắt - một bể bơi màu xanh ngọc ngay chính giữa. Bên trong, những cái cây được khảm hoa hồng và những ngọn đèn dựng ngược. Giống như khu rừng cổ tích ẩn mình trong trung tâm của một tòa văn phòng New York. Xung quanh là tiếng chuyện trò râm ran nhẹ nhàng. Một tấm lưới chặn mỏng manh đang buộc vào cửa sổ, dập dờn như sóng gợn mặc dù nơi này chẳng có gió. Và sau đó chuyện kỳ lạ xảy ra. Khi họ vào phòng ăn và ông Joseph Reed tiến đến chiếc bàn trong góc, thì Mia nhìn thấy chính mình đã ngồi ở đó: cô ở đó, nơi chiếc bàn, trong chiếc váy xanh giản dị, ly cocktail trên tay. Trong một khoảnh khắc cô nghĩ rằng mình đang tiến lại gần chiếc gương, và cô dừng lại, bối rối. Và rồi người phụ nữ nơi bàn ấy đã đứng dậy và với tay ra nắm lấy tay Mia.
“Cô là Madeline,” bà nói, và khi tay họ chạm vào nhau, Mia có cảm giác phi thường của việc chạm vào hình ảnh phản chiếu của mình trong bể bơi.
Phần còn lại của tối hôm ấy diễn ra như trong một giấc mơ nào đó. Mỗi lần nhìn bà Madeline Reed cô lại trông thấy chính mình: họ không chỉ có chung mái tóc quăn sẫm màu và những đường nét tương tự mà còn có nhiều kiểu cách giống nhau: cùng có xu hướng cắn môi dưới của mình, cùng có thói quen lơ đãng kéo một lọn tóc quăn, như cái lò xo, xuống đến dái tai và để nó nảy lên trở lại. Họ không giống hệt nhau - cằm của bà Madeline nhọn hơn một chút, mũi của bà thanh hơn một chút, giọng bà trầm hơn, ấm hơn, gần như khàn khàn - nhưng hai người trông rất giống nhau, họ có thể bị nhầm lẫn thành chị em. Tối muộn hôm đó, rất lâu sau khi chiếc taxi mà nhà Reed gọi đến đã đưa cô về nhà, Mia không ngủ, suy nghĩ về tất cả những gì cô đã nghe.
Tại sao mà Madeline, ở tuổi mười bảy, vẫn không có kinh nguyệt, và tại sao mà sau đó bác sĩ khám cho bà ấy và phát hiện ra bà không có tử cung. Bà Madeline đã giải thích rằng, 1 trong 5.000 phụ nữ - nó có một cái tên tiếng Đức rất dài, Mayer-cái-gì-đó, mà Mia không nghe kịp. Cách duy nhất để họ có con là nhờ người mang thai hộ. Bây giờ là năm 1981, và ba năm trước có nhiều bài báo đã đưa tin về đứa trẻ Louise Brown vừa chào đời, em bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới, nhưng tỉ lệ sinh của phương pháp này còn quá nhỏ, và hầu hết mọi người vẫn nhìn những đứa trẻ được nuôi trong đĩa Petri[5] bằng thái độ nghi ngờ. “Không dành cho vợ chồng cô,” bà Madeline nói, dùng các ngón tay mềm mại xoay xoay đế ly rượu. “Không, cảm ơn con, không phải em-bé-kiểu-Franken[6].” Thay vào đó, gia đình Reed quyết định thực hiện lộ trình cũ thêm một lần: ông Joseph đã đưa ra một cách, xưa như là Kinh Thánh. Tinh trùng của người bố, trứng từ - và được mang bởi - một phụ nữ có vẻ phù hợp. Họ đã đăng quảng cáo trong nhiều tháng - một cách kín đáo, bà Madeline nói thêm - để tìm một người mang thai hộ có những đặc điểm phù họp, và chẳng tìm được người nào. Và rồi ông Joseph Reed, đi tàu điện ngầm sau một một bữa ăn trưa bàn công việc, đã phát hiện ra một gương mặt quen thuộc đến kỳ lạ ở đầu kia toa tàu, và cảm giác ấy giống như định mệnh.
“Chúng ta đã có được,” ông nói, “như một cơ hội để chúng ta làm một điều tốt cho nhau.” ông và bà Madeline liếc nhìn nhau, và bà Madeline trao ông cái gật đầu khẽ khàng nhất, và cả hai người họ đều ngồi thẳng hơn một chút và quay sang Mia, người đã đặt cái nĩa xuống.
“Con đừng nghĩ rằng cô chú quyết chuyện này một cách nhẹ nhàng,” bà Madeline nói. “Cô chú đã suy nghĩ suốt một thời gian dài. Và hai vợ chồng cô chỉ đang tìm một người thích hợp.” Bà nghiêng bình nước và châm đầy ly của Mia. “Cô chú nghĩ con chính là người đó.”
Bây giờ trong phòng của mình, Mia đã có nhiều sự cân nhắc. Họ đã đề nghị 10.000 đô-la, để mang thai hộ một đứa trẻ khỏe mạnh. Họ nói điều này với cô như thể vạch ra các điều khoản của một lời mời làm việc, và đặt ra các gói phúc lợi theo cách hấp dẫn nhất. “Và tất nhiên là cô chú sẽ chi trả tất cả phí y tế,” ông Joseph nói thêm.
Vào cuối bữa tối, ông Joseph đã đẩy nhẹ một tờ giấy gấp trên bàn. “Số điện thoại nhà chú,” ông nói. “Hãy suy nghĩ thật kỹ. Cô chú sẽ thảo một bản họp đồng để con xem xét. Và mong rằng con sẽ gọi cho cô chú.” Ông ấy đã thanh toán hóa đơn, Mia không nhìn nhưng cô biết ắt hẳn là nhiều đến ngỡ ngàng: họ đã ăn hàu, uống rượu vang đỏ; một người đàn ông mặc tuxedo chuẩn bị thịt bò tartare tại bàn, khéo léo vén lòng đỏ trứng vào chỗ thịt đỏ sẫm. Ông Joseph gọi cho Mia một chiếc taxi và kéo cô vào đó. “Cô chú mong rằng con sẽ gọi điện,” ông nhắc lại một lần nữa. Phía sau ông, phía sau cửa sổ bằng kính nơi sảnh chờ, bà Madeline cài lại khuy cổ trên chiếc áo khoác lông bà mặc. Chỉ sau khi ông đóng cửa xe lại, và chiếc taxi đang trên đường trở về trung tâm, về căn hộ chật chội của Mia, thì bà mới mở tờ giấy gấp để nhìn lại con số đáng kinh ngạc ấy một lần nữa: 10.000 đô-la. Và bên dưới là chữ: làm ơn.
Sáng hôm sau, cô đã nghĩ rằng đó chỉ là một giấc mơ kỳ quái cho đến khi nhìn thấy mẩu giấy nhăn nhúm ấy vẫn đang nằm trong tủ áo. Thật điên rồ, cô nghĩ. Tử cung của cô không phải căn hộ cho thuê. Cô còn không thể tưởng tượng nổi mình có một đứa con, nói gì đến việc đem cho nó. Trong ánh nắng sáng màu lam xám, giờ đây chuyện tối qua chỉ như một ảo tưởng của con nít. Cô lắc đầu, nhét nhanh mẩu giấy vào ngăn kéo tủ, lôi bộ đồng phục đi làm ra. Và rồi, vài tuần sau đó, Mia biết học bổng của mình không được gia hạn. Đó là một cú sốc với tất cả mọi người. Cô Pauline và cô Mal mở cửa và không nói một lời, cô đưa cho họ một lá thư, xé tay nhăn nhở.
Thưa Chị Wright: Chúng tôi tin rằng chị đã nhận phúc lợi cho năm học đầu tại Trường Mỹ thuật New York. Tuy nhiên, chúng tôi rất tiếc khi phải thông báo rằng do các hạn chế về việc tài trợ kinh phí, chúng tôi không thể tiếp tục hỗ trợ tài chính cho niên khóa 1981 - 1982 của chị. Tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng năm học tới chị sẽ tiếp tục học tại trường của chúng tôi và...
“Bọn họ là những tên ngốc,” cô Pauline nói, ném lá thư lên bàn cà-phê. “Họ còn không biết đã để mất điều gì.”
“Đó là chính sách,” cô Mal nói. Cô nhặt lại lá thư và nhét trở vào phong bì. “Người ta cắt giảm trợ cấp để trường trang trải được nhiều hơn, và làm cho các suất học bổng bị ảnh hưởng.”
“Cũng không phải chuyện lớn,” Mia nói. “Em sẽ làm thêm việc. Em sẽ dành dụm suốt mùa hè.”
Tuy nhiên, tối hôm đó, khi đi thang máy xuống tầng dưới, cô đã tựa đầu vào bức tường bằng kính và nuốt nước mắt vào lòng. Cô không thể làm nhiều giờ hơn hiện tại vì nếu thế thì cô sẽ không còn thời gian lên lớp, và dù có làm như vậy thì cô cũng chỉ vừa đủ trang trải cho các nhu cầu cơ bản mà thôi. Nếu cô làm việc toàn thời gian trong suốt mùa hè... Cô nhẩm tính lại trong đầu. Nếu không tìm được việc lương cao hơn gấp đôi, thì cô không thể nào ở lại.
“Em vẫn ổn chứ, em gái?” Cửa thang máy mở ra và cô ở đó, quay lại sảnh chờ, anh trực cửa tốt bụng đang chăm chú nhìn cô qua cặp kính. Phía sau anh ta, một tấm thảm màu rượu vang cố sức quấn vào cái cửa kính dày đã chặn lối ra Đại lộ Thứ Năm. Sảnh chờ im ắng như thư viện, nhưng cô biết, rời khỏi những cánh cửa này là vỉa hè bê-tông bị nứt, là sự vội vã, là tiếng ồn ào và sự tàn nhẫn của thành phố.
“Ổn mà,” cô nói. Bây giờ họ đã biết nhau chút ít, như mọi người ở New York thường hay làm: anh ấy tên Martin lớn lên ở New Jersey và có nguồn gốc là người Mets - không; phải người Yankees đâu, anh nói với cô, không đời nào là người Yankees - và ở nhà có nuôi một cô chó chồn tên là Rosie, về phần mình, Martin biết tên của Mia và biết cô là người được các Quý bà Nghệ sĩ ở lầu trên che chở - anh trìu mến nhắc đến cô Pauline và cô Mal - và tuy rằng Mia chỉ kể chút ít về cuộc sống của mình, thì đôi mắt dày dạn của anh có thể đoán ra thêm đôi điều từ cái máy ảnh sang tay mà cô đang đeo trên cổ, từ bộ đồng phục đen-và-trắng mà đôi khi cô vẫn mặc khi đến đây, từ những hộp đựng thức ăn mà cô thường hay mang về nhà theo sự khăng khăng của cô Mal. Anh cố nén lòng thôi thúc vỗ lên vai cô và đưa bàn tay đeo găng đẩy mở cửa trước.
“Ngủ ngon nhé,” anh nói, và Mia bước ra Đại lộ Thứ Năm rồi để cho thành phố này nuốt chửng lấy cô.
❀ ❀ ❀
[1] F-stop: thông số biểu hiện kích thước của khẩu độ ống kính trong mối liên hệ với độ dài tiêu cự.
[2] Tên của kỹ thuật nhiếp ảnh giúp gỡ bỏ những ràng buộc của ống kính và máy ảnh, làm tấm ảnh bộc lộ rõ những điểm nổi quang học.
[3] Lỗ âm thanh trên nhạc cụ, có dạng chữ “f’.
[4] Sự kiện Dust Bowl, còn gọi là Thập niên Ba mươi Dơ bẩn (Dirty Thirties) hay Sự kiện Cơn bão Đen: một giai đoạn lịch sử ở Hoa Kỳ và Canada, nổi bật với hiện tượng rất nhiều cơn bão và lốc cuốn theo nhiều cát bụi hoành hành ở các đồng cỏ tại khu vục Bắc Mỹ, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho hệ sinh thái và nông nghiệp trong khu vực.
[5] Đĩa Petri: một loại đĩa bằng thủy tinh hoặc chất dẻo, dạng hình trụ có nắp đậy mà các nhà sinh vật học sử dụng để nuôi cấy tế bào hay những cây rêu nhỏ.
[6] Hay em bé kiểu Frankenstein. Frankenstein là tiểu thuyết giả tưởng do Mary Shelley sáng tác, xuất bản năm 1818. Nội dung cuốn tiểu thuyết kể về một nhà khoa học cố gắng tìm cách tạo ra sự sống giống con người từ những vật chất đã chết (bộ phận cơ thể), nhưng cuối cùng lại tạo ra cái mà ông gọi là quái vật, và cố giết chết nó. Ở đây nhân vật muốn đề cập đến em bé sinh ra bằng phương pháp “nhân tạo”.