Mia không trao đổi với bố mẹ, bạn cùng phòng, hoặc thậm chí với cô Pauline hay cô Mal. Nghĩ lại, giờ cô nhận ra đây là bằng chứng cho thấy rằng cô đã có quyết định. Cái ngày sau khi nhận được thư của trường, Mia đã thảo luận với quản lý tiệm cà-phê về mong muốn tăng lương. “Ước gì anh có thể, bé à,” anh ta trả lời cô, “nhưng anh không thể trả cho các em nhiều hơn mà không tăng giá và làm mất khách hàng.” Quản lý ở cửa hàng Dick Blick cũng trả lời như vậy, và sau đó cô thậm chí còn không thèm hỏi chủ quán bar. Suốt tuần, cô né tránh những lời mời đến dùng bữa tối mà cô Pauline đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần; và có lẽ cũng như cô Pauline, cô Mal có thể cảm nhận được mối bận tâm của cô ngay lập tức. Mia đã gửi một lời nhắn đến nhà họ để thay cho chuyến viếng thăm thường lệ vào ngày Chủ nhật, báo rằng cô bị đau bụng và phải nghỉ ở nhà. Suốt tuần cô chỉ nghĩ đến tiền học phí - và hai vợ chồng nhà Reed. Cô dùng ngọn đèn sáng phá hủy toàn bộ cuộn phim bằng cách kéo nó ra khỏi cái hộp đựng, việc mà trước đây cô chưa từng làm. Trong bữa tối, cô đánh rơi đĩa trứng, cạnh mép lởm chởm cứa vào ngón tay, và cô nhìn dòng máu từ vết cắt cứ rỉ ra nhỏ giọt lên men sứ trắng. Suốt ngày, cô đưa tay vuốt lên cái bụng phẳng phiu của mình hết lần này đến lần khác, như thể cô có thể cảm nhận được gì đó ở sâu bên trong, thứ gì đó có thể mang lại cho cô sự sáng suốt.
Chiều hôm ấy, vào giờ nghỉ làm, cô đã lôi tấm danh thiếp của ông Joseph Reed ra - tấm thiếp mà ông đưa cô vào lần đầu gặp mặt - từ trong túi và đi đến tàu điện ngầm. Biết đâu ông ta là một gã bịp bợm. Làm sao cô biết được hai vợ chồng nhà Reed sẽ trả cho cô như đã hứa, thậm chí họ còn tự đặt họ Reed thì sao? Nhưng quả thật, địa chỉ trên danh thiếp đã đưa cô đến tòa nhà kính Dykman, Strauss, Tanner & Giroux lấp lánh ở Phố Wall. Đứng ngoài sảnh chờ bằng kính, Mia ngập ngừng trong ít phút, quan sát hình ảnh phản chiếu của khách bộ hành lướt qua trên vỉa hè, và mất hút, quan sát những cái bóng của những người bên trong. Sau đó cô chen qua cánh cửa quay và đến một dây các quầy điện thoại xếp thành hàng ở sảnh. Cô nhét một đồng 25 cent vào khe và quay số điện thoại trên tấm thiếp. Ngay lập tức giọng của một phụ nữ vang lên bên kia đầu dây.
“Công ty Dykman, Strauss, Tanner và Giroux,” người phụ nữ nói. “Văn phòng Joseph Reed xin nghe. Chúng tôi có thể giúp gì cho quý vị?”
Mia gác máy và kéo quyển danh bạ lên đùi mình. Ở Manhattan có sáu người tên Joseph Reed được liệt kê trong đây, nhưng không có ai ở Riverside Drive cả. Cô để quyển danh bạ lại dãy và moi trong túi ra thêm một đồng 25 cent. Lần này, cô đã gọi cho tổng đài, để lấy địa chỉ. Đã gần đến giờ vào ca ở quán bar rồi, nhưng cô vẫn đón chuyến tàu lên khu phố trên như thường, và cô nhận ra mình đã đứng bên ngoài một tòa nhà gạch đỏ kiểu trước chiến tranh[1] với mái hiên màu đen và một người gác cổng. Chắc hẳn bất cứ ai sống ở nơi này đều có thể trả 10.000 đô-la để đổi lấy một đứa con.
Chiều hôm sau, khi bà Madeline Reed bước ra khỏi tòa nhà, thì Mia đã đi theo. Cô đã đi theo bà ấy suốt một tiếng đồng hồ: đến cuối đường số 86, vào công viên, lại trở ra và quay về nhà. Trên đường ra khỏi tòa nhà, Mia đã nhìn thấy bà Madeline Reed gật đầu chào bác gác cổng ra sao khi bác ấy giúp bà mở cửa, nhìn thấy bà đã dừng chân nơi vỉa hè thế nào, quay lại để nói gì đó khiến bác ấy mỉm cười, sau đó vỗ nhẹ lên cánh tay bác trước khi đi khỏi. Cách mà bà Madeline bước chậm lại khi lướt qua người phụ nữ đang đẩy xe nôi, cách mà bà mỉm cười với đứa bé trong xe, bất kể bọn chúng có vui vẻ, cáu kỉnh hay ngủ khì, cách mà bà mỉm cười và nói xin chào với người phụ nữ ấy, hỏi thăm họ, bàn luận về thời tiết, mặc dù - Mia có thể nhìn thấy - ánh mắt bà cực kỳ khao khát. Bà vội vàng mở cửa cho những người đàn bà này, thậm chí đó là những bà vú đang đẩy những đứa trẻ da trắng rõ ràng không phải con của họ, bà giữ cánh cửa mở cho đến khi người đàn bà và đứa bé đã vào cửa hàng rượu vang hoặc quán cà-phê hoặc tiệm bánh rồi mới để cửa từ từ đóng lại sau lưng họ trong ánh mắt đăm chiêu, gần như là thê lương. Khi một bà mẹ - vội vã, trong đôi giày cao gót - lộc cộc lướt qua, thì bà Madeline Reed đã nhặt cái núm vú giả rơi khỏi xe nôi và đuổi theo để đưa cho họ. Trước đó, Mia chưa bao giờ để ý xem có bao nhiêu em bé: chúng ở khắp nơi, con nít phủ đầy thành phố, sự mắn đẻ không nao núng tràn ngập đường phố, và cô thật lòng thương xót cho bà Madeline Reed. Bà Madeline dừng ở một sạp bán hoa, mua một bó hoa mẫu đơn được gói bằng giấy lụa màu xanh lá, những nụ hoa vẫn chưa nở cuộn lại thành búp thật chặt. Bà về nhà, và Mia không đi theo nữa.
Cuối cùng, cô tự nhủ rằng đó là một bài toán mà cô đã quyết định. Đề nghị của nhà Reed đủ để cô trả hơn hai năm đi học. Đủ để cô có thời gian kiếm đủ tiền trả phần còn lại. Nếu làm thế, cô có thể học tiếp. Nếu không, cô không thể. Theo cách đó, có vẻ sự lựa chọn đã quá rõ ràng. Và cô đang giúp họ. Họ là người tử tế, chân thành; cô có thể nhìn thấy điều đó. Cô nghĩ, ắt hẳn họ vô cùng mong mỏi một mụn con. Cô có thể giúp họ. Cô sẽ giúp họ. Cô nhắc đi nhắc lại điều này với bản thân, hết lần này đến lần khác, sau đó nhấc ống nghe lên và quay số.
Ba tuần sau, cô rời khỏi phòng khám của một bác sĩ sản khoa với lá thư xác nhận cô có sức khỏe tốt, khả năng miễn dịch với các bệnh truyền nhiễm, và cấu tạo cơ thể phù họp. “Khung chậu lý tưởng để sinh nở,” ông bác sĩ đã đùa như thế khi cô kéo chân mình ra khỏi bệ đỡ. “Mọi thứ bên trong đều ổn. Nếu cô muốn mang thai, thì không có vấn đề gì đâu.” Một tuần sau đó, cô xin nghỉ học một năm. Và sau đó, ngay khi tháng Tư vừa đến và các lớp học đang dần thư thả, thì cô thấy mình đang ở trong phòng dành cho khách tại căn hộ trang nhã nhà họ Reed. Bà Madeline đã sắm cho cô một cái áo choàng vải bông xù màu hồng rất đẹp. “Là vải cotton Thổ Nhĩ Kỳ,” bà nói, khi đặt cái áo và một đôi dép lên giường. “Cô chú muốn đảm bảo rằng con cảm thấy thoải mái.” Giường được trải tấm ga vải lanh trắng mịn, như thể cô là vị khách quý của gia đình. Bên ngoài, cô có thể nhìn thấy ánh mặt trời phản chiếu trên mặt sông Hudson. Cô biết rằng, dưới hành lang, ông Joseph ắt đang bận rộn chuẩn bị trong chính phòng ngủ của nhà họ.
Có tiếng gõ cửa nhẹ, và Mia kéo cái áo choàng quanh người mình chặt hơn. Quần áo của cô được xếp gọn gàng trên ghế bành trong góc. Bà Madeline gõ thêm lần nữa, sau đó mở cửa ra.
“Con sẵn sàng chưa?” bà hỏi. Trong tay bà là cái khay điểm tâm bằng gỗ đựng một tách trà nhỏ có đậy nắp và một ống hút với quả chóp màu vàng nhạt. Bà đặt cái khay lên bàn cạnh đầu giường, sau đó - một điều làm Mia sững sờ - bà quỳ xuống và vòng tay ôm Mia. “Cảm ơn con,” bà thì thầm.
Khi bà Madeline đi khỏi, Mia hít một hơi thật sâu. Cô chắc chứ? Cô nhấc ống hút từ cái khay: nó rất ấm. Cô nhận ra rằng, ắt hản bà Madeline đã dùng nước nóng tráng qua cho bớt lạnh, và cử chỉ nhỏ đầy rộng lượng ấy khiến mắt cô ngân ngấn nước. Cô nhấc cái nắp ra khỏi tách trà, nói lỏng dây lưng áo choàng, và ngả lưng xuống giường.
Nửa tiếng sau - “Con phải nâng chân lên cao ít nhất hai mươi phút,” bà Madeline giải thích với cô, “để tăng khả năng thụ thai” - từ căn phòng dành cho khách, Mia bước ra thì thấy bà Madeline và ông Joseph đang nắm tay, ngồi trên bậc cao nhất ngay ngoài cửa. Cô đã mặc lại quần áo của mình nhưng khi họ đồng loạt nhìn cô - đôi mắt mở to, như hai đứa trẻ hoảng sợ - đột nhiên cô cảm thấy mình trần trụi.
“Xong rồi,” cô nói, và vỗ nhẹ vào eo quần jean.
Bà Madeline từ bậc thềm nhẹ nhàng đứng dậy và siết chặt tay Mia.
“Cô chú không biết cảm ơn sao cho đủ,” bà nói. “Mong rằng sẽ được. “ Bà đặt hai lòng bàn tay lên bụng Mia, như thể đang dâng một lời tạ ơn, và từng thớ thịt Mia căng lên rồi cứng lại.
“Chú Joey sẽ đưa con về,” bà Madeline nói, và sau đó, “Tất nhiên chúng ta đều biết rằng chuyện này sẽ phải thử một vài lần. Tất cả chúng ta phải bền chí. Gặp lại con vào ngày mốt nhé?”
Mia nghĩ đến cái khay vẫn đang đặt ở căn phòng dành cho khách, nghĩ đến bà Madeline đang rửa cái ống và cái tách trong bồn rửa nơi phòng bếp, chuẩn bị sẵn sàng cho lần sau sử dụng. “Tất nhiên,” bà ấy đã nói. “Tất nhiên.” Cô im lặng suốt đường về Làng, trong khi ông Joseph Reed kể cô nghe về việc ông và bà Madeline đã gặp nhau thế nào, họ lớn lên ở đâu và những thứ mà ông đã lên kế hoạch cho con của hai người. Khi cô đứng dậy bước xuống xe, cô cảm thấy một giọt ấm nhỏ chảy xuống chân mình.
Suốt mùa hè, chuyện này đã trở thành thủ tục. Bác sĩ sản khoa đã vạch ra cho cô một biểu đồ các thời kỳ dễ thụ thai nhất, và suốt tuần đó, cô sẽ đến nhà Reed cách ngày. Rồi, tuần sau đó, cô sẽ chờ, xem xét dấu hiệu của cơ thể. Mỗi lần như vậy cô đều bị đau lưng, đau đầu, chuột rút, và sau đó - tất nhiên - vẫn không có em bé.
“Sẽ phải mất một thời gian,” bà Madeline nói vậy khi tháng Bảy sắp sửa sang. Trong ba tháng nay, thật không may. “Cô chú luôn biết rõ chuyện này. Không thể có bầu ngay lập tức được.” Nhưng Mia lo lắng. Theo hợp đồng đã ký, nhà Reed được đơn phương hủy hợp đồng nếu sau sáu tháng cô vẫn không có thai. Cô vẫn làm việc ở quán ăn, quán bar và cửa hàng mỹ thuật - và né tránh những câu hỏi từ bạn học, họ trở lại sau kỳ nghỉ hè, đi mua học cụ cho kỳ mới, họ thắc mắc rằng tại sao cô không đi học lại. “Mình đang nghỉ một năm để kiếm tiền,” cô nói, điều đó đúng, và đó cũng là những gì mà cô đã nói với cô Pauline và cô Mal lúc này - nhưng cô cũng biết rằng, nếu không có thai, cô sẽ không có gì cả, cô sẽ phải bỏ cả năm mà không được gì cả, và sự vắng mặt của cô gần như sẽ trở thành mãi mãi.
Và sau đó, vào tháng Chín, cô chờ đợi và chờ đợi và không có gì xảy ra. Không có máu. Không chuột rút. Chỉ có cảm giác mệt mỏi cực độ, ngập tràn khao khát được cuộn mình trên giường và bới tung trong chăn giống như một con mèo. Hai ngày sau, bà Madeline gần như sướng vui nhảy múa khi Mia đến nhà họ với cùng cảm giác sung sướng đó. Bà trùm áo khoác quanh người Mia, như thể bản thân Mia là một đứa bé, và dồn cô vào thang máy, vào taxi đến hiệu thuốc trên đường Broadway. Từ một dãy hộp làm bối rối với những cái tên tin cậy - Predictor; Fact; Accu-Test - bà chọn lấy một và dúi nó vào tay Mia.
Hóa ra, việc kiểm tra rất phức tạp. Việc này liên quan đến một ống thử bằng thuỷ tinh để trong giá đỡ đặc biệt, treo lên trên mặt kính góc cạnh. Mia nhỏ thêm vài giọt nước tiểu của mình và ngồi chờ trong một giờ. Nếu hình thành một vòng màu đen, thì cô đã mang thai. Cô và bà Madeline ngồi im trong bốn mươi lăm phút, sát bên nhau cạnh mép bồn tắm, và sau đó bà Madeline đột nhiên nắm lấy tay Mia. “Nhìn kìa,” bà thì thầm, dựa vào bàn trang điểm, và Mia nhìn thấy, trong mặt kính nhỏ xíu, một tâm điểm sẫm màu từ từ hiện ra.
Kể từ đó mọi thứ nhanh chóng thay đổi. Bạn cùng phòng của Mia không nhận ra cho đến khi cô bắt đầu nôn mửa trong phòng vệ sinh. “Chuyện tốt đấy,” một người nói. Người khác nói, “Tớ sẽ không chịu đựng mấy chuyện này đâu, có một triệu đô-la cũng không.” Nhiều tuần trôi qua. Nhà Reed chuyển cô đến căn hộ nhỏ một buồng mà họ sở hữu, một tòa nhà yên tĩnh không thang máy sát gần đại lộ West End. “Cô chú cho thuê căn này nhưng khách thuê vừa dọn đi rồi,” bà Madeline nói với Mia. “Để con yên tĩnh hơn. Có nhiều không gian hơn. Ít người tới lui. Và con sẽ gần gũi với cô chú hơn, chuẩn bị cho lúc sinh nở.” Mia đã nghỉ việc ở cửa hàng mỹ thuật - bụng cô bắt đầu lộ ra - nhung cô vẫn tiếp tục làm những công việc khác, mặc dù cô để cho hai vợ chồng nhà Reed có cảm tưởng rằng cô đã nghỉ làm. Sau mỗi cuộc hẹn với bác sĩ, cô ghé qua để đưa họ thông tin cập nhật mới nhất, và khi quần áo của cô bắt đầu chật hơn thì gia đình này sẽ tặng cô cái mới. “Cô nhìn thấy cái đầm này,” bà Madeline sẽ nói vậy, và đưa cho Mia một túi giấy mua sắm kẻ sọc đựng cái đầm bầu hoa. “Cô nghĩ là nó rất hợp với con.” Mia nhận ra rằng, bà ấy đang mua cho cô những bộ đầm bầu mà cô phải tự mua, và Mia mỉm cười nhận nó, mặc cái đầm vào lần gặp tiếp theo.
Cô chẳng nói gì với bố mẹ, bất cứ gì về chuyện này; khi lễ Giáng sinh đến gần, cô chỉ nói với họ rằng cô sẽ không về nhà. Cô lấy lý do là vì quá tốn kém, và biết rằng nếu cô không tự nói thì họ sẽ không bao giờ hỏi gì về trường lớp, và họ đã không hỏi. Nhưng vào cuối tháng Một, cuối cùng cô cũng kể với Warren, cô đã kể sự thật. “Chị đừng bao giờ nói gì về trường lớp nữa,” tối hôm ấy cậu nói vậy qua điện thoại. Đến lúc đó cô đã có bầu năm tháng, và mặc dù cô có thể giấu cậu - làm sao mà cậu biết được chứ? - nhưng cô không thích cái ý nghĩ giấu giếm em mình thêm chút nào nữa.
“Wren à, hứa là không nói bố mẹ biết nha,” cô dặn, hít một hơi thật sâu. Sau đó, một sự im lặng kéo dài trong điện thoại.
“Chị Mia,” cậu nói, và cô biết cậu nghiêm túc, vì em trai mình không bao giờ gọi đầy đủ tên chị gái. “Em không tin nổi chị lại làm ra chuyện này.”
“Chị đã suy nghĩ rất kỹ.” Mia đặt một tay lên bụng mình, nơi mà gần đây cô bắt đầu cảm nhận những cử động nhẹ nhàng. Thai máy[2], bà Madeline gọi như vậy, khi bà đặt tay lên da bụng của Mia - như một cách nói tránh lỗi thời, một thứ khiến cô nghĩ đến một con cá nhỏ mềm mại, hiếu động đang quẫy đạp bên trong cơ thể mình. “Họ là người tốt. Người tử tế. Chị đang giúp cho họ, Wren à. Họ vô cùng mong mỏi đứa con này. Và họ cũng đang giúp chị nữa. Họ đã làm rất nhiều việc cho chị.”
“Nhưng chị không nghĩ ràng việc từ bỏ đứa bé này là rất khó hay sao?” Warren hỏi. “Em không nghĩ là em làm được chuyện đó.”
“Nào, em có phải là người trong cuộc đâu, đúng không?”
“Đừng nổi giận với em,” Warren nói. “Nếu chị hỏi em, em vẫn nói với chị là không.”
“Đừng nói cho bố mẹ biết,” Mia nhắc lại.
“Em sẽ không làm vậy,” cuối cùng Warren nói. “Nhưng em nói chị biết một điều. Em là chú của đứa bé, và em không thích chuyện này.” Giọng cậu rất tức giận, điều mà trước đây cô chưa bao giờ nghe qua, ít nhất là nhằm vào cô.
Sau đó, cô và Warren đã không nói chuyện với nhau một thời gian. Mỗi tuần, khi cô nghĩ đến việc gọi điện cho cậu, thì cô lại quyết định rằng không.
Gọi làm gì để lại tranh cãi nữa, cô suy nghĩ. Trong một vài tháng nữa em bé sẽ chào đời, cô sẽ trở về với cuộc sống ban đầu của mình, và mọi thứ sẽ đâu vào đó. “Đừng gắn bó,” cô nói với cái bụng khi bào thai thúc chân vào bụng cô. Dù vậy, không bao giờ cô biết rõ được, liệu mình đang nói với đứa bé, hay với cái bụng này, hay với chính bản thân.
Cô và Warren vẫn không nói chuyện với nhau thì mẹ cô gọi đến, vào một sáng tinh mơ, để báo cô biết về vụ tai nạn.
Trời đã đổ tuyết, cô biết được chừng ấy. Cậu và Tommy Flaherty trên đường về nhà lúc tối muộn - mẹ cô không nói rằng họ đã ở đâu - và hai đứa chạy rất nhanh về nhà, chiếc Buick của Tommy bị trượt sau đó lật nhào. Mia không nhớ nổi các chi tiết: rằng nóc xe bị nghiền nát, rằng các nhân viên cấp cứu đã phải cắt chiếc Buick ra như cái lon thiếc, rằng cả Warren và Tommy đều không thắt dây an toàn. Cô cũng không nhớ, chí ít là trong một thời gian, rằng Tommy Flaherty nằm trên giường bệnh, một lá phổi bị thủng, bị chấn động, và gẫy bảy cái xương, mặc dù cậu ấy đã lớn lên ngay ngọn đồi cạnh nhà họ, mặc dù cậu và Warren là bạn bè đã nhiều năm, mặc dù đã có lần cậu ấy say nắng cô. Cô chỉ nhớ duy nhất một điều rằng Warren là người cầm lái, và giờ đây em đã mất.
Vé máy bay rất đắt nhưng cô không thể chịu nổi cái suy nghĩ chờ đợi, thậm chí thêm một vài giờ. Cô muốn căn nhà ấy nuốt chửng lấy mình, nơi cô và Warren đã cùng nhau trưởng thành, cùng chơi cùng tranh cãi và cùng lên kế hoạch, nơi em không còn chờ cô về nữa, căn nhà mà em sẽ không bao giờ bước vào lần nào nữa. Cô muốn quỳ sụp xuống con đường lạnh giá tại nơi em đã mất. Cô muốn gặp bố mẹ, để không phải ngồi một mình trong sự chết lặng khủng khiếp này, thứ đang dọa dẫm nuốt chửng lấy cô.
Nhưng khi cô bước ra khỏi taxi từ sân bay và bước vào cửa trước, bố mẹ cô chết lặng, nhìn chằm chằm vào cái bụng phình to của cô, cái bụng đã quá to đến mức cô không thể kéo khóa áo khoác. Mia rà tay xuống eo, như thể một bàn tay có thể giấu đi những gì đang nảy nở nơi đó.
“Mẹ ơi,” cô nói. “Bố ơi. Không như bố mẹ nghĩ đâu.”
Trong bếp, sự im lặng kéo dài được tháo ra, giống như dải ruy băng màu xám. Nó đã bao lấy Mia, lâu thật lâu.
“Nói đi,” rốt cuộc mẹ cô lên tiếng. “Nói cho bố mẹ mày biết là tụi tao đang nghĩ gì.”
“Ý con là.” Mia nhìn xuống bụng mình, như thể bản thân cô cũng kinh ngạc khi nhìn thấy sự hiện diện của nó. “Nó không phải con của con.” Bên trong, bào thai đá một cú rất mạnh.
“Ý mày là sao, không phải con của mày hả?” mẹ cô hỏi. “Làm sao không phải con của mày được hả?”
“Con mang thai hộ. Con mang hộ cho một cặp vợ chồng.” Mia nhận ra mình đang cố gắng giải thích: về hai vợ chồng nhà Reed, về việc họ tử tế ra sao, họ mong mỏi một mụn con thế nào, họ sẽ hạnh phúc ra làm sao. Cô cố tập trung vào việc cô đang giúp đỡ họ nhường nào. Như thể đây là một việc làm nhân đức, hoàn toàn vì lòng vị tha: giống như việc làm tình nguyện tại nơi phát chẩn thức ãn, hoặc việc nhận nuôi một con chó từ nơi nuôi tạm. Nhưng mẹ cô hiểu ra ngay tức khắc.
“Nhà Reed này,” bà nói. “Tao sẽ tin là mày đang làm chuyện này chỉ vì lòng tốt thôi sao?”
“Không,” Mia thừa nhận. “Họ trả tiền cho con. Khi đứa bé chào đời.” Đột nhiên, Mia nhận ra cô vẫn đang choàng khăn và đội nón. Một lớp bùn loãng xám xịt từ hai đế giày ống cô mang nhỏ giọt lên lớp vải sơn lót nhà màu kem.
Mẹ cô quay người và đi thẳng về phía cửa. “Bây giờ tao không đối diện được với chuyện này,” bà nói, giọng nhỏ dần khi bước vào phòng khách. “Không phải bây giờ.” Tại chân cầu thang, bà dừng lại và rít lên, giọng điệu chua chát khiến Mia sững sờ: “Em trai mày đã chết - đã chết, mày có biết hay không? - còn mày về nhà trong bộ dạng đó hả?” Tiếng bước chần nện ầm ầm lên các bậc thang.
Mia liếc nhìn bố. Cô cảm thấy y như lúc còn nhỏ, khi cô làm vỡ gì đó hoặc phá hỏng gì đó hoặc tiêu chỗ tiền mà mẹ dành mua quần áo vào việc mua phim: những lúc như vậy mẹ cô sẽ giận dữ, quát mắng và bỏ vào phòng, để cô lại với bố, ông sẽ siết chặt tay cô, sau đó nói, một cách nhẹ nhàng rằng, “Mua cái mới đi con,” hoặc “Để mẹ con yên một giờ đi, rồi hãy xin lỗi,” hoặc đôi khi, chỉ đơn giản là, “Sửa lại đi.” Họ vẫn luôn mâu thuẫn như vậy. Nhưng lần này, bố không nắm lấy tay cô. Bố không nói với cô rằng, hãy sửa lại. Thay vào đó, ông nhìn vào bụng cô, như thể ông không tài nào nhìn nổi mặt cô, và ông khiến cô kinh ngạc bằng đôi mắt ướt nhòe và hàm răng nghiến lại.
“Bố ơi?” cuối cùng cô gọi. Cô thà rằng hét vào cái không khí lê thê này, còn hơn sự im lặng sắc tựa dao đến vậy.
“Bố không tin nổi con lại đem bán con ruột của mình,” ông nói, và sau đó, ông cũng rời khỏi phòng.
Bố mẹ không đuổi cô đi, thậm chí sau khi cô treo áo khoác vào tủ quần áo lớn, đặt túi xách xuống chiếc giường cũ kỹ của cô, họ cũng không nói gì. Vào bữa tối, cô ngồi ở chỗ cũ nơi bàn ăn và mẹ cô đặt đĩa và nĩa trước mặt cô, còn bố cô thì đưa món thịt hầm mà một trong những người hàng xóm của họ đã mang đến, nhưng hai người họ vẫn không mở miệng với cô, và khi cô hỏi chuyện - Lễ tang sẽ diễn ra vào khi nào? Họ có nhìn mặt Warren không? - thì bố mẹ cô đã trả lời ngắn gọn nhất có thể. Cuối cùng Mia bỏ cuộc sau đó dùng nĩa cuộn mì và cá ngừ. Trong tủ lạnh có cả đống thịt hầm, một tháp nghiêng đĩa nướng Pyrex xếp lượn thành hình lá. Như thể không ai biết phải làm sao để đối mặt với bi kịch này ngoại trừ việc nấu những món ăn chắc bụng nhất, thịnh soạn nhất, bình thường nhất mà họ có thể, để mang cho tang quyến thứ gì đó cụ thể giúp họ tiếp tục cuộc sống. Không người nào đề cập, hoặc ghé mắt, đến chỗ trống của Warren bên cửa sổ.
Bố mẹ quyết định mọi chuyện mà không cần đến cô, dùng hoa gì, loại nhạc nào, đặt Warren vào áo quan màu sắc ra sao: gỗ óc chó với lớp lót lụa màu xanh dương. Họ đã khéo léo đề nghị với Mia rằng đừng ra ngoài; họ nói rằng, cô hẳn sẽ bị mệt, họ không muốn cô bị trượt trên mặt băng, nhưng cô hiểu: họ không muốn láng giềng trông thấy cô. Khi Mia chọn ra một cái áo sơ-mi và chiếc cà-vạt cho Warren - cái mà cậu luôn chọn khi bắt buộc phải ăn vận - thì mẹ cô lại chọn cái khác, chiếc sơ-mi trắng và cà-vạt sọc đỏ mà bà đã mua cho Warren khi cậu lên trung học, cái mà cậu từng nói là làm cậu trông giống một tay môi giới chứng khoán, và cũng là cái mà cậu không bao giờ mặc. Hai người không hề đề cập đến tình cảnh đáng bận tâm, hoặc tình trạng phức tạp mà cô chịu. Nhưng khi họ nói rằng cô không tham dự đám tang là điều tốt nhất - “Chúng tôi chỉ không muốn có bất cứ ai hiểu lầm điều gì cả,” mẹ cô đã nói vậy- Mia đành chịu. Đêm trước đám tang, cô gói ghém đồ đạc. Từ đáy tủ quần áo, cô lôi ra túi vải len thô đã cũ và lấy cái chăn bông trên giường, một vài cái chăn cũ. Rồi cô nhón chân đi qua hành lang vào phòng của Warren.
Giường của cậu vẫn còn lộn xộn; cô tự hỏi liệu mẹ có bao giờ dọn lại giường hay không, hoặc liệu bà chỉ đơn giản tháo tấm ga trải giường ra, dỡ căn phòng, sơn lại màu trắng và vờ rằng nơi đó chưa từng có gì cả. Cô tự hỏi, liệu bố mẹ sẽ làm gì với đồ đạc của Warren. Họ sẽ mang cho người ta hay sao? Họ sẽ đóng chúng vào những cái thùng trên mái gác, để cho meo mốc, hao mòn và cũ kỹ hay sao? Trên tấm bảng của Warren, cô phát hiện bức ảnh từ hồ sơ đăng ký vào trường mỹ thuật của mình: bức ảnh khắc-chụp hai con người, hai đứa trẻ, đang trèo lên núi đồ phế thải. Cô nhét nhanh vào túi. Sau đó, trên bàn của cậu, cô nhìn thấy thứ mà mình đang tìm kiếm: chùm chìa khóa xe của Warren.
Bố mẹ cô đã ngủ; buổi tối mẹ cô đang phải uống thuốc ngủ để làm dịu thần kinh, và khe hở bên dưới cánh cửa phòng ngủ của họ đã tắt. Chiếc Rabbit nổ máy bằng một tiếng rền khan. “Tiếng nổ máy đều đều của chiếc Porsche,” có một lần Warren đã nói vậy với cô, “một chiếc vw kiểu golf.” Cô phải cố sức kéo ghế trước chạm vào khớp ly họp; chân của cậu lúc nào cũng dài hơn chân cô. Sau đó cô đạp cần số và, sau một lúc lùng sục, cô lùi xe, và căn nhà tối đã mờ dần trong ánh đèn pha khi chiếc xe lùi ra đường lái.
Cô lái xe suốt đêm và đến Upper West Side khi bình minh vừa rạng. Trước đó cô chưa bao giờ phải đỗ xe ở Manhattan và phải chạy loanh quanh khu phố trong vòng mười phút rồi mới chen được vào một chỗ trên đường số 72. Trong căn hộ của mình, cô cuộn người nằm giữa chiếc giường thuê và vùi mình dưới tấm chăn. Cô biết rằng, sẽ mất rất lâu, cô mới được ngủ lần nữa trên chiếc giường thoải mái thế này. Khi cô thức dậy thì mặt trời hoàng hôn đã lặn xuống dòng Hudson, và cô phải đi làm. Cô chỉ mang theo những thứ thật sự là của cô, những thứ cô đã bỏ vào túi xách của mình: bộ đồ chật chội, một nắm váy muumuus[3] rộng lùng thùng mà cô đã mua ở Goodwill, một vài tấm chăn cũ, vài tấm ga trải giường đã sờn, một nhúm đồ dùng bằng bạc. Một hộp lưu âm bản, và những chiếc máy ảnh của cô. Cô gấp gọn gàng chiếc đâm bầu yêu thích mà nhà Reed mua cho và đặt vào một chiếc túi giấy tạp hóa.
Khi xong xuôi, cô ngồi xuống với cây bút và mảnh giấy. Suốt đường lái xe từ Pittsburgh cô đã nghĩ xem phải nói những gì, và cuối cùng, cô quyết định nói dối. “Không dễ gì để nói ra chuyện này,” cô viết. “Con đã sẩy thai. Con rất xấu hổ và rất tiếc. Theo hợp đồng, cô chú không nợ con gì cả, trái lại con cảm thấy mình mắc nợ cô chú. Đây là chỗ tiền cho những lần khám sức khỏe, con trả lại cô chú. Con mong rằng sẽ đủ - đó là toàn bộ tiền để dành của con.” Cô đặt mẩu giấy lên một đống hóa đơn - chín trăm đô-la tiền lương mà cô dành dụm, cô biết chỗ tiền này, khi gọi đến bệnh viện, nhiều hơn phần hai vợ chồng nhà Reed đã trả rất nhiều. Sau đó cô gói chúng vào trong túi với những bộ đầm bầu.
Tối hôm đó, bác gác cổng thường lệ đã nghỉ ca, và với áo khoác quấn quanh người, người gác cổng đêm đó dường như không chú ý đến cái bụng của Mia. Anh ta nhận bưu kiện cho nhà Reed mà không hề nhìn mặt cô lấy một lần, và Mia quay trở lại chiếc Rabbit, đang đỗ cách đó vài dãy nhà. Trong bụng cô, em bé lại đạp thêm lần nữa, sau đó xoay người lại, như thể sửa soạn vào giấc ngủ.
Cô lái suốt đêm, qua New Jersey và Pennsylvania, nhiều dặm đường cao tốc vụt lướt qua trong bóng tối. Khi mặt trời bắt đầy ló dạng cô rẽ khỏi cao tốc lân cận thành phố Erie và tiếp tục lái cho đến khi cô nhìn thấy một con đường nông thôn nhỏ. Khi đã đỗ xe sát lề đường, cô khóa hết cửa lại, trèo vào ghê sau, và cuộn mình trong tấm chăn đã cũ. Cô mong rằng nó có mùi thuốc tẩy, như ở nhà, và bản thân cô chuẩn bị ứng phó nỗi nhớ nhà quay quắt. Nhưng cái chăn, vẫn nằm trên chiếc giường mà năm ngoái cô không đụng đến, lại chẳng có mùi - không sạch, không bụi, không mùi gì cả - và, kéo nó quá đầu để che mắt khỏi ánh mặt trời, Mia ngủ thiếp đi.
Suốt tuần, cô đã lái xe như vậy, như thể trong cơn sốt: lái đến khi sức cùng lực kiệt buộc cô phải dừng lại, ngủ đến khi nghỉ đủ để lại lái tiếp, bỏ mặc đồng hồ, bỏ mặc ánh sáng và bóng tối mỗi ngày. Thỉnh thoảng, khi đi qua một thành phố, cô dừng lại để mua bánh mì, bơ đậu phộng, mấy quả táo, để châm đầy nước từ vòi phun cho bình ga-lông ở ghế phụ. Trong đồ đạc cá nhân, cô đã giấu hai nghìn đô-la ở khắp nơi, tiền để dành từ chỗ tiền boa và tiền lương kể từ khi cô đến New York: trong hộp đựng âm bản, trong ngăn đựng găng tay, trong bầu áo ngực bên phải. Ohio, Illinois, Nebraska. Nevada. Và sau đó, đột nhiên, cơn gió lốc mưa như trút nước của San Francisco, Thái Bình Dương nổi sóng xanh-xám và sóng trắng trước mặt cô, và cô không thể đi xa hơn được nữa.
Biết làm gì khác đây? Mia tìm thấy một căn hộ, một phòng cho thuê ở quận Sunset trong một ngôi nhà trát vữa tường màu muối biển, có bà chủ nhà nghiêm khắc và luống tuổi - người đã nhìn bụng cô và chỉ hỏi rằng, “Trong vòng một tuần sẽ có ông chồng giận dữ đến gõ cửa nhà tôi hả?” Trong ba tháng cuối của thai kỳ, Mia đi bộ khắp thành phố, loanh quanh đầm phá ở công viên cổng Vàng, leo lên tháp Coit, ngày nọ băng qua cầu cổng Vàng trong màn sương mù dày đặc mà cô chỉ có thể nghe, không thể nhìn thấy, tiếng xe cộ đổ xô sát cạnh cô. Màn sương phản chiếu tiếng lòng hoàn hảo đến mức Mia cảm thấy như đang bước xuyên qua bộ não của chính mình: màn sương mù không hình dạng, cảm xúc lan tỏa khắp nơi, cô không thể nắm bắt được gì, ngoại trừ đầy ắp bao suy nghĩ đang lờ mờ hiện ra từ đâu đó, chúng làm cô sững sờ, sau đó lại mờ dần thành sắc trắng trước khi cô kịp nhìn rõ mình đã thấy điều gì. Bà chủ nhà của cô, bà Delaney không bao giờ cười với cô khi hai người chạm mặt ở hành lang, hoặc khi tình cờ gặp nhau trong nhà bếp, nhưng khi nhiều tuần trôi qua, cô thường về nhà để tìm cái đĩa trong lò, thì trên kệ bếp có lời nhắn ghi rằng, Còn thức ăn dư. Không muốn phải vứt đi.
Khi Pearl chào đời - vào một chiều tháng Bảy mát mẻ bất thường, tại bệnh viện, sau mười bốn tiếng đau đẻ - Mia đã nhận tấm thẻ mà y tá đưa cho cô. Từ nhiều tháng nay cô vẫn nghĩ về việc đặt tên cho đứa bé này, trong đầu thầm lướt qua tất cả những người mà cô biết, qua những quyển sách mà cô đọc được ở trường trung học. Chẳng có cái tên nào nghe thuận tai cả cho đến khi cô nhớ lại quyển Chữ A màu đỏ (The Scarlet Letter), và cái tên đúng chợt nảy ra trong cô ngay lập tức: Pearl. Tròn trịa, đơn giản, trọn vẹn như một tiếng chuông ngân. Và, tất nhiên, được sinh ra trong hoàn cảnh phức tạp. Bên cạnh đó, trên dòng đề “Tên người mẹ,” cô đã viết, bằng những chữ cái ngắn gọn, MIA WARREN. Sau đó cô với tay vào chiếc xe nôi cạnh bên giường và lần đầu tiên cô ôm lấy con gái mình trong vòng tay.
Đêm đầu tiên trở về căn phòng thuê, Pearl cứ khóc và khóc cho đến khi chính Mia cũng bắt đầu khóc theo.
Cô tự hỏi, liệu ở thành phố New York, trong căn hộ lung linh của mình, hai vợ chồng nhà Reed vẫn còn thức hay không, liệu họ sẽ nói gì nếu cô nhấc điện thoại lên và nói với họ rằng, con đã nói dối. Đứa bé ở đây. Hãy đến và mang nó đi. Cô biết, họ sẽ bay chuyến kế tiếp và đến trước cửa nhà cô, sẵn sàng cuỗm Pearl đi khỏi. Cô không biết liệu suy nghĩ ấy là đáng sợ hay cám dỗ hay cả hai, và cả cô và Pearl đều đang than khóc. Sau đó có tiếng gõ cửa nhẹ, bà Delaney lạnh lùng xuất hiện và đưa tay ra. “Đưa con bé lại đây,” bà nói, có uy đến nỗi Mia đã đưa cái bọc mềm mại ra mà không hề suy nghĩ. “Bây giờ con nằm xuống và chợp mắt một chút,” bà Delaney nói, đóng cánh cửa phía sau bà, và trong sự im lặng đột ngột, Mia ném phịch người xuống giường và ngủ ngay tức khắc.
Khi tỉnh giấc, cô vào bếp với đôi mắt lờ đờ, sau đó vào phòng khách, ở đó bà Delaney ngồi trong vạc sáng đèn, đung đưa bé Pearl đang say ngủ.
“Con có nghỉ ngơi được không?” bà hỏi Mia, và khi Mia gật đầu, bà nói, “Tốt,” và đặt em bé trở lại vòng tay Mia. “Con bé là của con,” bà Delaney nói. “Con hãy chăm sóc nó.”
Cô đã trải qua mấy tháng tiếp theo trong sự mơ hồ như vậy, nhưng có gì đó đã bắt đầu thay đổi. Bà Delaney không lần nào đến bồng đứa bé đi nữa, dù Pearl có khóc dữ đến thế nào, nhưng mỗi tối bà sẽ khẽ gõ cửa với một bát xúp, miếng sandwich phô mai, hay một khúc bánh mì thịt. Bà luôn bảo rằng, đó là thức ăn thừa, nhưng Mia biết tặng phẩm đó là gì, và cô cũng hiểu rằng, theo sau những tặng phẩm này là sự cộc lốc của bà “Hạn chót tiền nhà là thứ Năm,” hoặc “Đừng có vẩy bùn ở hành lang,” là những gì mà bà đang cố nói.
Pearl được ba tuần tuổi - vẫn khuôn mặt quả bí, trông như ông cụ - và màn sương chỉ vừa bắt đầu tan, thì cô Mal gọi điện đến.
Khi ổn định chỗ ở, Mia đã gửi cho cô Pauline và cô Mal một bức thư, kèm địa chỉ và số điện thoại mới của cô. “Em ổn,” cô nói với họ như vậy, “nhưng em sẽ không về lại New York. Nếu có cần đến em, hai cô có thể liên lạc với em theo địa chỉ này.” Và bây giờ, cô Mal cần phải tìm đến cô. Một vài tuần trước, dường như cô Pauline bắt đầu xuất hiện những cơn đau đầu. Những triệu chứng lạ. “Những hiện tượng thoáng qua,” cô Mal nói. “Em ấy nói nhìn cô giống như thiên thần, với vầng hào quang bao quanh.” Sau khi quét máy kiểm tra đã phát hiện trong não cô ấy có một khối u cỡ quả banh golf.
“Cô nghĩ là,” cô Mal nói, sau một hồi lâu, “nếu em muốn gặp em ấy, có lẽ em nên lập tức về đây.”
Tối hôm đó, Mia đặt vé máy bay, cái vé thứ hai mà cô từng mua. Nó ngốn gần hết chỗ tiền mà cô dành dụm, nhưng một chuyến xe buýt chạy dọc đất nước sẽ mất nhiều ngày. Quá lâu. Cô đến căn hộ của cô Pauline và cô Mal với chiếc ba-lô trên vai và ẵm Pearl trên tay. Cô Pauline, sụt mất hai mươi pound, trông như phiên bản cô đặc của chính mình: gầy đi, chẳng hiểu sao, gầy đét còn da bọc xương.
Họ dành cả buổi chiều cùng nhau, cô Mal và cô Pauline thủ thỉ với em bé, còn Mia thì lần đầu và cũng là lần cuối, ở cả đêm trong căn phòng dành cho khách của nhà họ, cùng Pearl cuộn mình nằm bên cạnh. Sáng hôm sau, cô thức dậy sớm để chăm Pearl ở bộ sô pha trong phòng khách và cô Pauline bước vào.
“Yên nào,” cô Pauline nói. Đôi mắt cô Pauline gần như cuống cuồng rực sáng, và Mia muốn đứng dậy ôm lấy cô vào lòng. Nhưng cô Pauline đã phát tay bảo cô ngồi đó rồi giơ máy ảnh lên. “Nhé,” cô nói. “Cô muốn chụp hai mẹ con em.”
Cô lấy nguyên cuộn phim, phơi sáng hết tấm này đến tấm khác, sau đó cô Mal xuất hiện với bình trà và cái khăn choàng vai cho cô Pauline, và cô Pauline đặt máy ảnh ra chỗ khác. Tối hôm đó, khi Mia lên máy bay trở về San Francisco, ẵm Pearl trên tay, cô đã quên sạch chuyện này. “Cứ làm những gì phải làm,” cô Pauline nói vậy khi ôm lấy cô nói lời từ biệt. Đó là lần đầu tiên, cô hôn lên má Mia. “Cô mong đợi những điều tuyệt vời nhất nơi em.” Cô dùng thì hiện tại - như thể đây chỉ là lời từ biệt bình thường, như thể cô, Pauline, rất mong đợi sẽ chứng kiến sự nghiệp của Mia mở ra trước mắt mình qua nhiều thập kỷ - giọng của Mia mắc nơi cổ họng. Mia kéo cô Pauline sát gần hơn và hít lấy hơi cô, mùi oải hương và mùi bạch đàn đặc trưng, và Mia quay đi lần nữa trước khi cô Pauline có thể trông thấy cô rơi nước mắt.
Một tuần rưỡi sau đó, cô Mal gọi điện một lần nữa, cuộc gọi mà Mia biết rằng nó sẽ đến. Mười một ngày, cô nghĩ. Cô biết rằng chuyện này sẽ đến nhanh thôi, nhưng không thể tin rằng mười một ngày trước cô Pauline vẫn còn sống. vẫn ảm đạm, vẫn là tháng Một. Thậm chí tờ lịch còn chưa bóc. Và rồi, một vài tuần sau đó, một gói bưu phẩm được gửi đến hộp thư. “Em ấy định gửi những thứ này cho em,” đọc lời nhắn, nét chữ viết tay yếu ớt của cô Mal. “Nhưng không còn thời gian.” Bên trong có mười tấm ảnh, cỡ 8x10, trắng đen, mỗi tấm đều rực rỡ như thể chiếu ngược đèn theo kiểu rất riêng như mọi bức ảnh của cô Pauline vậy. Mia đang ôm Pearl vào lòng. Mia đang nâng Pearl quá đầu. Mia đang chăm Pearl, nếp gấp trên áo choàng chỉ đang che đi đường cong mờ nhạt của ngực cô. Mặt sau mỗi tấm, rõ ràng là chữ ký của cô Pauline. Và một lời nhắn, được cắt ra từ cái danh thiếp: Anita sẽ bán những bức ảnh này khi em cần tiền. Khi đã sẵn sàng, em hãy gửi các tác phẩm của em cho cô ấy. Cô đã bảo cô ấy chờ em. P.
Sau đó, Mia bắt đầu chụp hình lại, với lòng nhiệt tình gần như là nhẹ nhõm. Cô lại lang thang quanh thành phố, mỗi lần vài tiếng, Pearl đeo trên lưng bằng cái địu mà cô tạo ra từ một cái áo choàng bằng lụa cũ. Bấy giờ, phần lớn chỗ tiền tiết kiệm đã tiêu hết, và mỗi cuộn phim đều quý giá, vì vậy cô chụp hết sức cẩn thận, mỗi hình ảnh đều lấy khung đi lấy khung lại trong đầu trước khi chụp thật. Mỗi lần màn trập kêu lách tách cô đều nghĩ đến cô Pauline. Khi mùa xuân đến, cô có bảy bức ảnh, những bức mà cô nghĩ rằng chúng có thể chứa đựng điều gì đó, như cô Pauline đã luôn tin tưởng.
Anita không hoàn toàn chấp nhận. Có triển vọng, cô viết phản hồi những bức ảnh mà Mia gửi. Nhưng vẫn chưa được. Hãy mạo hiểm hơn đi. Đáp lại, Mia đã gửi cho cô bức ảnh đầu tiên trong mớ ảnh của cô Pauline. Vậy em cần thêm thời gian, cô viết. Hãy cho em nhiều thời gian nhất có thể. Đừng tiết lộ tên em với bất cứ ai. Anita, sau cuộc đấu giá sôi nổi, đã có được hai năm đáng giá của Mia, thậm chí sau khi trừ 50% tiền hoa hồng, và trong vòng một năm Mia đã gửi cho cô một bộ ảnh khác - mỗi bức ghi lại sự mục ruỗng lần mòn của một thứ gì đó: cây sung dâu đã chết, ngôi nhà bỏ hoang, chiếc xe rỉ sét - những bức mà Anita sẵn lòng chấp nhận.
“Chúc mừng em,” cô nói với Mia, khi gọi cho Mia vào một tháng sau. “Chị đã bán được một bức, bức trong mớ ảnh chụp chiếc xe. Bốn trăm đô-la. Không nhiều, nhưng đó là bước khởi đầu.”
Mia xem đây là một dấu hiệu. Nãy giờ cô đã mơ về sa mạc, về cây xương rồng và những bầu trời đỏ rực rộng lớn. Những hình ảnh mới đang bắt đầu hình thành trong tâm trí cô. “Em sẽ gọi cho chị trong vòng một hoặc hai tuần,” cô nói, “và báo chị thông tin chuyển khoản.”
Từ cửa sổ phòng khách, bà Delaney quan sát Mia nhồi nhét vào cốp sau của chiếc Rabbit, nhét cái nôi của Pearl vừa vặn gọn gàng vào chỗ để chân ở ghế trước. Khi cạy cái chìa khóa nhà ra khỏi xâu chìa và đưa trả lại, Mia rất ngạc nhiên khi bà Delaney kéo cô ôm vào lòng một cách bất thường.
“Bác chưa bao giờ kể với con về con gái bác, đúng không,” bà nói, chậm nhẹ nơi khóe mắt, và sau đó, Mia chưa kịp nói gì, bà lấy chìa khóa và vội vàng lui lại bậc thềm trước, cánh cổng kim loại lanh lảnh đóng sầm phía sau lưng.
Suốt quãng đường dài Mia cứ nghĩ về chuyện này cho tới khi đến giáp Provo, nơi mà cô đã quyết định bước vào - trạm đầu tiên trong rất nhiều trạm mà cô và Pearl sẽ dừng chân suốt nhiều năm. Suốt quãng đường dài, nằm trong chiếc giỏ bên cạnh mẹ, Pearl cứ ê a, như thể con bé chắc chắn, thậm chí ở tuổi non nớt thế này, rằng hai mẹ con đang hướng đến những điều tuyệt vời và quan trọng, như thể chẳng hiểu sao con bé có thể nhìn thấy tất cả con đường dọc khắp đất nước và theo thời gian đến Shaker Heights này, đến căn nhà nhỏ trên đường Winslow, đến gia đình Richardson, đến mọi chuyện đang xảy ra.
❀ ❀ ❀
[1] Pre-war building: những tòa nhà được xây dựng từ giữa thế kỷ 20 đến trước Thế chiến thứ hai, là những căn hộ chung cư cao tầng, thường thì đó là những căn hộ cao cấp.
[2] Một hiện tượng y khoa để chỉ khoảnh khắc đầu tiên thai phụ cảm nhận được cử động của thai nhi trong bụng.
[3] Muumuus: kiểu váy tới từ Hawaii với chất liệu thoáng mát rất thoải mái và mát mẻ. Tuy nhiên, nhược điểm của kiểu mốt này là chúng không có bất kỳ độ ôm nào, rộng và thường dài tới mất cá hay bắp chân.