Những Đốm Lửa Lưu Lạc

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16

❊ ❊ ❊

Mia đã đúng: vào tháng Ba khi bắt đầu mở phiên tòa về quyền giám hộ, thì một loạt phóng sự đã xuất hiện - trong báo giấy và trên TV - nói về Bebe Châu và tư cách làm mẹ của cô ấy. Một số bài miêu tả cô như một người nhập cư chăm chỉ, người đang tìm kiếm cơ hội cho bản thân và đã bị đánh bại - chỉ tạm thời, những người ủng hộ cô khăng khăng thế - bởi trở ngại và sự khác biệt, số khác thì kém tử tế hơn. Cô ta không kiên định, không đáng tin, là một ví dụ về kiểu làm mẹ tồi tệ nhất. Tuần đầu tháng Ba, khi phiên tòa đã mở, các bậc thềm dẫn vào tòa án đông nghẹt ký giả cũng như các phóng viên báo lá cải, và tất cả đều điên cuồng bắt lấy bất cứ mẩu vụn vặt nào xuất hiện trong lời khai.

Vì phiên tòa được xử kín, giống như mọi vụ tố tụng tại tòa án gia đình, nên các bài phóng sự có thể tiếp tục được giật tít và những tranh luận được đơn giản hóa, dễ dàng cho bên này hoặc bên kia. Trong phiên tòa, chỉ có những người này-gia đình McCullough, luật sư của họ, ông Richardson, luật sư Ed Lâm, cô Bebe, và bản thân ngài thẩm phán - đã nghe tói nghe lui toàn bộ những điều xảy ra, trong toàn bộ mớ hỗn tạp lộn xộn của câu chuyện này.

Và những gì đã xảy ra thì quá phức tạp. Đó là một câu chuyện cực kỳ khó xử, ảm đạm nặng nề, đặc biệt phiền não đã được bày ra tại tòa trong suốt một tuần qua, tới lui giữa ông Richardson và ông Ed Lâm: người này thì thể hiện quan điểm khách hàng của mình, người kia thì thành thạo bắt lấy điểm mấu chốt và gọn gàng xoay vần nó.

Khi được người ta phát hiện, em bé đã bị suy dinh dưỡng. Thóp đầu của bé lõm xuống, một dấu hiệu của việc mất nước, xương sườn và các xương nhỏ của cột sống đều lộ ra dưới da, giống như chuỗi hạt. Lúc hai tháng tuổi, cô bé chỉ nặng có tám pound.

(Nhưng em bé không chịu bú mẹ. Cô Bebe đã phải thử hết lần này đến lần khác cho đến khi núm vú của cô rách toạc và chảy máu. Cô cứ ngồi và khóc, ngực cô căng cứng sữa mà lại không thể cho con bú, đứa con ẵm ngửa thì đang hét toáng lên trong lòng, giận dữ quay mặt đi, và trong tiếng khóc của đứa bé thì dòng sữa hồng từ ngực cô phun ra và chảy nhỏ giọt xuống vạt áo. Hai tuần từ sau lần đó, sữa của Bebe đã cạn. Cô phải dùng bảy đô-la cuối cùng của mình để mua sữa bột và sau đó cái ví cô trống rỗng, chỉ sót lại tờ tiền giả mệnh giá một triệu đô-la mà người ở sở làm đã cho cô, để lì xì.)

Trên người bé, chỗ mặc tã bị phát ban nặng cho thấy bé đã mặc tã bẩn trong nhiều giờ - nếu không nói là nhiều ngày - liên tục.

(Nhưng cô Bebe không có tiền mua tã. Hãy nhớ rằng cô ấy đã phải tiêu bảy đô-la cuối cùng của mình vào sữa bột. Cô đã cố hết sức. Cô đã cỏi cái tã bẩn ra, cào sạch hết mức có thể, sau đó quấn lại quanh cái eo bé xíu của con gái. Cô đã bôi Vaseline - thứ duy nhất mà cô có - lên những mảng viêm đỏ tấy mọc đầy trên cái mông nhỏ xíu của con gái mình.)

Hàng xóm láng giềng nghe tiếng con nít khóc ầm ĩ nhiều giờ liên tục. “Suốt ngày, suốt đêm,’’ hàng xóm ở nhà 3B nói vậy. “Khóc thét khi tôi đi làm buổi sáng. Khóc thét khi tôi về nhà buổi tối.” ông ấy đã nghĩ đến việc gọi cảnh sát nhưng cũng không muốn dây vào. “Thôi tôi lo làm chuyện của mình.”

(Nhưng cô Bebe cũng khóc. Đúng vậy, cô đã nằm rạp xuống và nức nở, đôi khi đặt bé Mai Linh nằm ngang trên ngực, cuống cuồng vuốt ve tấm lưng và mái tóc con, đôi khi một mình, nằm trên sàn bên cạnh cái ngăn kéo mà cô dùng làm nôi cho Mai Linh, trong khi Mai Linh khóc thét bên cạnh mình, tiếng khóc của hai mẹ con vang vọng lên mái nhà trong màn hòa âm đau đớn.)

Trong một tháng rưỡi hỗn loạn với bổn phận làm mẹ, cô Bebe không một lần tìm đến sự giúp đỡ của chuyên gia tâm lý hay bác sĩ.

(Cô ấy nên như vậy, đó là sự thật. Nhưng cô không biết phải tìm họ ở đâu. Tiếng Anh của cô cùng lắm cũng chỉ trung bình, khả năng đọc hiểu của cô chỉ vừa đủ dùng. Cô không biết làm sao để tìm nhân viên xã hội, những người có thể giúp được mình, thậm chí cô còn không biết đến sự tồn tại của họ. Cô không biết làm sao để nộp đơn xin trợ cấp. Cô không biết rằng có thể xin trợ cấp xã hội. Khi nhìn xuống, cô không thấy tấm lưới chắn an toàn nào cả, chỉ có rừng nhà chọc trời đâm thẳng lên giống như những mũi kim tiêm sẽ đâm vào cô. Bạn có thể trách cứ cô ấy được không khi cô giấu con gái mình vào bờ tường an toàn trong khi bản thân lại lao thẳng xuống đó?)

Vào sáng sớm ngày 5 tháng 1 năm 1997, Bebe đã bỏ đứa bé tại trạm cứu hỏa trên đường Kinsman. Đêm đó nhiệt độ đã hạ xuống gần 0 độ C. Với mức phong hàn là âm 8 độ. Lúc hai giờ rưỡi sáng, khi người lính cứu hỏa mở cửa và phát hiện ra em bé, đang nằm trong cái thùng các-tông, khi tuyết mới vừa rơi, và mọi thứ bị phủ lên một lớp bụi trong suốt, mỏng manh.

(Khi Bebe đặt em bé xuống bậc thềm ở trạm cứu hỏa, mặc dù trời thật sự khá lạnh nhưng em bé đã được mặc ba lớp áo, hai cái quần dài và được quấn trong bốn tấm chăn - tất cả quần áo trẻ con mà Bebe có. Đôi bàn tay bé nhỏ của bé được giấu vào trong để giữ ấm và một tấm chăn gấp phủ lên đầu bé để che gió. Theo ước lượng tốt nhất của mọi người thì khi đội trưởng cứu hỏa mở cửa, bé đã ở ngoài đó được khoảng hai mươi phút, và có lẽ nằm trong tuyết chừng hai phút. Chỉ có một ít tuyết bắt đầu dính vào chăn, làm cho bé trông như thể được bọc đường, hoặc được nhúng kim cương.

Tính đến lúc em bé chào đời, Bebe chỉ mới ở đất nước này có hai năm, và ở Cleveland mới chỉ một năm. Trong thời gian ở Cleveland, cô đã sống tại ba căn hộ, đã vi phạm họp đồng tại một căn hộ, thường xuyên trễ hạn và thiếu tiền thuê nhà tại một căn khác, và không bao giờ có một công việc được trả lương cao hơn mức tối thiểu.

(Mỗi tháng, cô đều mắc nợ vì để trễ nải. Tháng này cô trả đủ thì sau đó lại không đủ tiền mua thực phẩm và trả tiền điện: vấn đề ở đây là, phải chọn nhịn đói hay chịu tối. Sau đó cô quyết định chi trả cho những thứ trong khả năng, và vào những ngày mà cô được bộn tiền boa cô sẽ viết tên mình lên một mẩu giấy, gấp một tờ hai mươi đô-la vào bên trong, và đẩy nhẹ dưới cửa chủ nhà. Cô theo dõi bảng kê trên chiếc phong bì cũ lúc nào cũng nằm ở quầy bếp. Bảng kê có nội dung như sau:

Tháng 9 thiếu 100 đô-la

-20 đô-la

-20 đô-la

-20 đô-la

Tháng 10 thiếu 80 đô-la tính đến nay là thiếu 120 đô-la

-20 đô-la

-20 đô-la

-20 đô-la

Tháng 11 thiếu 70 đô-la tính đến nay là thiếu 150 đô-la

Một khi đã trễ tiền, thì làm sao cô có thể trả kịp? Và cô còn kiếm được loại công việc nào khác chứ, khi cô chỉ bập bẹ vài chữ tiếng Anh, thậm chí còn không bằng một chứng chỉ trung học bổ túc (G.E.D[1])?)

Trong thời gian mang thai, và cho đến không bao lâu trước khi bỏ rơi Mai Linh, Bebe đã làm việc tại một nhà hàng nơi mà một trong những đầu bếp ở đó đã bị bắt vì tội buôn bán heroin. Trước thời điểm đó, có vài nhân viên khác đã nghi ngờ rằng hai người họ có gì đó. Đã có tán tỉnh. Ít nhất một lần, gã đầu bếp đã đề nghị đưa Bebe về nhà lúc tinh mơ. Với mối quan hệ mờ ám như vậy, Bebe không có khả năng dính líu đến chuyện bất hợp pháp hay sao?

(Gã đầu bếp, Vinny, thật sự đã buôn bán heroin. Không thể phủ nhận chuyện này. Nhưng tình cảm mà anh ta dành cho Bebe là hoàn toàn trong sáng. Anh ta thương xót Bebe, khi nhìn bụng cô phình ra, khi biết rằng cô đã bị gã bạn trai phản bội, hắn quất ngựa truy phong và bỏ cô lại trong tình cảnh gian nan. Mười tháng trước, em gái của anh ta cũng lâm vào tình cảnh như vậy và mỗi đêm, khi anh ta về căn hộ mà hai anh em ở cùng với mẹ, Teresa trông buồn bã hơn, đứa nhỏ quấy khóc ầm ĩ trong lòng cô hoặc sụp xuống vai cô giống như một ông già tí hơn, hai con người ấy ngồi trên bộ sô-pha trông sao già nua, sao kiệt sức. Có gì đáng ngạc nhiên khi mỗi buổi sáng, lúc nhìn Bebe, trái tim anh ta quặn thắt? Có gì sai khi anh ta pha trò chọc cô, cố làm cô cười khi mà anh không thể làm cho em gái mình cười được nữa, anh đưa cô về nhà lúc nhìn thấy chân cô sưng đến nỗi những sợi dây giày gần như muốn bứt ra?

Về phần Bebe, cô thấy Vinny thu hút, đó là sự thật. Nhưng phần lớn vẻ cuốn hút đến từ sự tử tế mà anh ta dành cho cô, và đối với cô, khi mà bào thai trong bụng đưa đôi chân bé tẹo đạp thình thịch thì ý nghĩ về một người đàn ông - một người đàn ông bất kỳ - đã khiến lòng cô ngập tràn sự phản kháng. Khi Vinny bị cảnh sát giải đi, Bebe buồn cho anh vô hạn, như thể đó là người anh trai mà cô không bao giờ gặp lại.)

Công việc phục vụ mà Bebe hiện đang làm đem lại cho cô mức lương tối thiểu là 2,35 đô-la một giờ. Năm mươi giờ mỗi tuần cộng tiền boa, mức lương thực lĩnh trung bình mỗi tháng của cô là 317,50 đô-la. Với mức thu nhập đó, liệu cô có thể hy vọng nuôi nấng được một đứa trẻ, hy vọng cho nó tất cả nhu yếu phẩm cần thiết hay không? Liệu cô có buộc phải tìm đến trợ cấp, phiếu ăn, và những bữa trưa ở trường học hay không, liệu cô và con gái sẽ không trở thành những kẻ bòn rút nguồn tài nguyên cộng đồng chứ?

(Nhưng còn có tình yêu, hơn nữa, rất nhiều tình yêu. Bằng tình yêu thương đó, bạn có thể vượt qua dù hoàn cảnh ngặt nghèo ra sao. Chỗ tiền đó đủ cho nhũng thứ cơ bản: thuê nhà, thức ăn, quần áo. Làm sao mang tình yêu của người mẹ cân đong với chi phí nuôi nấng một đứa trẻ cho vừa?)

Rõ ràng là ông David và bà Linda McCullough có đầy đủ nguồn lực cần thiết để nuôi con. Ông McCullough có công việc ổn định, được trả lương cao, trong mười ba tháng qua, bà McCullough đã dùng toàn bộ thời gian vào việc làm mẹ Mirabelle và dự định sẽ mãi như thế. Hai vợ chồng sở hữu nhà riêng trong một khu phố an toàn và giàu có. Nhìn chung, về phương diện tài chính họ có mức phân vị thứ chín mươi sáu[2]. Với sự chăm sóc của họ, Mirabelle được ăn ngon, mặc đẹp và được chăm sóc tốt. Bé được kiểm tra sức khỏe định kỳ, nhiều cơ hội hòa nhập với xã hội, và có rất nhiều thứ phụ trội: thư viện chuyện kể, tập bơi từ lúc sơ sinh, các lớp nhạc mẹ-và-bé. Căn nhà của gia đình McCullough đã được kiểm tra nghiêm ngặt và được chứng nhận là không có chì.

Hơn nữa, hai vợ chồng McCullough đã thể hiện rằng họ dốc lòng dành toàn bộ tâm trí vào việc nuôi dạy con. Hồ sơ ghi chép cho thấy họ đã cố gắng trong suốt mười năm để thụ thai một đứa con ruột, và đã mất thêm bốn năm nữa để chờ đợi nhận con nuôi. Họ đã tìm kiếm ý kiến giúp đỡ của mọi chuyên gia y tế ở khu vực lân cận Cleveland - những bác sĩ sản khoa giỏi nhất tại Phòng khám Cleveland - và sau đó đăng ký vào trung tâm nhận nuôi có uy tín nhất tiểu bang. Điều này không cho thấy rằng họ sẽ mang đến cho Mirabelle sự chăm sóc hết mực yêu thương, cùng tất cả cơ hội tốt nhất hay sao?

(Nhưng Mirabelle đã có một người mẹ. Dòng máu đó đang chảy trong huyết quản. Là ai đã bụng mang dạ chửa bao nhiêu tháng trời, là ai đã cảm nhận từng cái đạp chân, cái lật người của con, là ai đã vật vã trong hai mươi mốt tiếng chuyển dạ khi con bé ló mặt chào đời và gào khóc trong ánh đèn sáng trưng của phòng hộ sinh, là ai đã nức nở những giọt nước mắt vui sướng khi lần đầu tiên nghe giọng con, là ai - thậm chí trước khi y tá lau người cho bé, thậm chí họ còn chưa kịp cắt dây rốn - đã chạm vào từng phần cơ thể ấy, hai lỗ mũi bé tí đang phình rộng, hai vết mờ của đôi lông mày và đôi lòng bàn chân trơn mượt, để chắc chắn rằng con bé được sinh ra đầy đủ, để dùng trái tim mình cảm nhận được con.)

Nếu quyền nuôi dưỡng được trả lại cho Bebe, tất nhiên cô ta sẽ nuôi nấng đứa bé như một bà mẹ đơn thân, lao động chân tay. Ai sẽ chăm sóc bé trong lúc cô ta đi làm? Chẳng phải đứa nhỏ sẽ khá hơn khi sống trong một gia đình có hai phụ huynh hay sao - khi một trong số họ không đi làm và dành toàn bộ thời gian ở nhà nuôi nấng bé - hơn là phần lớn thời gian trong ngày con bé phải ở nhà trẻ hay sao? Và chẳng phải đứa nhỏ sẽ khá khẩm hơn khi sống trong một gia đình có cả bố lẫn mẹ, khi có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hình ảnh người đàn ông mạnh mẽ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của một đứa trẻ hay sao?

(Hết lần này đến lần khác, chung quy là: Điều gì làm nên một người mẹ. Chỉ là máu mủ ruột thịt, hay tình cảm mẹ con?)

Ông Richardson đặc biệt biết ơn khi không ai nghe phần cuối, khi bà McCullough được gọi lên chất vấn. Bà bước lên phía trước - trong tòa án gia đình không có ghế nhân chứng, mà chỉ có một cái ghế được đặt một bên của thẩm phán - rồi ngồi xuống, và qua cách bà bắt chéo hai chân, rồi lại bỏ ra, qua cách bà không biết bỏ tay vào đâu, để trên tay vịn ghế hay cho vào chỗ trũng mềm mại của cái váy, ông có thể nhìn ra bà lo lắng biết nhường nào. Trước đó ông không hề chú ý rằng cái ghế nhân chứng trong tòa, với tất cả sự trang trọng và oai nghiêm của nó, đã che khuất từ eo trở xuống: rằng ít nhất cả thế giới sẽ không trông thấy đôi chân bồn chồn không yên của bạn, rằng có thể bạn bị chất vấn đến thế nào, thì ít nhất đôi chân bạn sẽ không bị như thế.

Ông Ed Lâm đã dành thời gian để hỏi bà. Ông cao ráo, đặc biệt so với một người châu Á: cao sáu bộ, gầy và chân tay dài, với thân hình của một người chơi bóng rổ - và thực tế, ông đã chơi vị trí tiền đạo cho đội tuyển trường Shaker vào những năm bảy mươi, ông và bà McCullough chỉ cách nhau ba năm học, đều là những cư dân lâu đời và đã tốt nghiệp ở Shaker, và trước vụ này, ông chỉ nhớ về bà với hình ảnh một cô sinh viên năm nhất nhút nhát, hơi đầy đặn trong mái tóc dài màu nâu-vàng.

“Bây giờ, bà McCullough,” ông nói, khi đặt cây bút xuống bàn. “Bà đã sống cả cuộc đời ở Shaker này, phải không?”

Bà McCullough thừa nhận điều đó.

“Trường trung học Shaker Heights, lớp niên khóa 1971. Có phải các trường mà bà học đều ở Shaker này?

“Từ mẫu giáo. Trường cấp hai Boulevard, khi đó vẫn được gọi là trường K cho đến năm lớp Tám. Và sau đó, tất nhiên là vào trường trung học.”

“Và sau đó bà đã theo học tại Đại học Ohio phải không?”

“Phải. Lớp niên khóa 1975.”

“Và sau đó bà trở về Shaker Heights này. Ngay lập tức?”

“Phải, tôi được mời làm việc ở đây, ông xã tôi - khi đó là chồng chưa cưới - và tôi biết rằng chúng tôi muốn xây dựng gia đình ở nơi này.” Bà liếc nhanh qua ông Richardson và bàn của ông ta, và ông đáp lại bằng cái gật đầu khẽ nhất. Khi chuẩn bị, họ đã thảo luận về điều này: trọng tâm là phải nhắc nhở thẩm phán, bất cứ khi nào có thể, rằng bà và ông McCullough mong mỏi đứa bé này biết bao, rằng họ chú tâm vào gia đình như thế nào, rằng họ hết lòng với Mirabelle ra sao.

“Vậy nên thật sự là bà đã sống ở Ohio này suốt cả cuộc đời.” Ông Ed Lâm ngồi lên tay vịn ghế. “Như tất cả chúng ta đều biết, bố mẹ của Mai Linh là người Quảng Đông. Hoặc có lẽ bà biết đến nơi đó với cái tên Canton? Bà đã bao giờ đến đó chưa?”

Bà McCullough cựa mình trên ghế. “Tất nhiên là chúng tôi dự định đưa Mirabelle đến đó trong một chuyến về nguồn. Khi con bé lớn hơn chút xíu.”

“Bà nói được tiếng Quảng Đông không?”

Bà McCullough lắc đầu.

“Tiếng Quan thoại? Tiếng Thượng Hải? Tiếng Đài Sơn? Hay bất cứ thổ ngữ nào của Trung Quốc hay không?”

Ông Richardson bấm cây viết của mình một cách cáu gắt. Bây giờ ông Ed Lâm chỉ đang khoe mẽ, ông nghĩ.

“Bà có biết chút gì về văn hóa Trung Quốc hay không? Ông Ed Lâm hỏi. “Còn lịch sử Trung Quốc thì sao?”

“Tất nhiên chúng tôi sẽ học hết những thứ đó,” bà McCullough trả lời. “Đối với chúng tôi việc Mirabelle được kết nối với cội nguồn văn hóa là điều hết sức quan trọng. Nhưng chúng tôi cho rằng điều quan trọng nhất chính là cho bé một mái ấm yêu thương, với tình yêu của cả bố và mẹ.” Bà liếc nhìn ông Richardson lần nữa, hài lòng rằng bà đã xoay xở vào được vấn đề này. Ông ấy đã nói rằng, vợ chồng bà có hai người, so với một bà mẹ đơn thân, đó có thể là lợi thế.

“Rõ ràng, bà và ông McCullough rất yêu thương bé. Tôi cho rằng chẳng ai nghi ngờ chuyện này cả.” ông Ed Lâm mỉm cười với bà McCullough, và ông Richardson ngồi cứng người trên ghế. Ông hiểu rõ các luật sư đến nỗi biết được khi nào thì họ sắp chốt bẫy. “Bây giờ, chính xác thì bà sẽ làm gì để bé Mai Linh được ‘kết nối với cội nguồn văn hóa,’ như bà đã nói?”

Im lặng kéo dài.

“Có lẽ vấn đề này quá lớn rồi. Chúng ta trở lại nào. Đến nay, Mai Linh đã ở cùng bà được mười ba, mười bốn tháng rồi phải không? Trong khoảng thời gian mà bé ở với bà, bà đã làm gì để bé được kết nối với văn hóa Trung Quốc?”

“Ồ.” Im lặng một lần nữa, lần này im lặng rất lâu. ông Richardson muốn bà McCullough hãy nói gì đó, bất cứ gì cũng được. “Ngọc Phương Đông là một trong những nhà hàng yêu thích nhất của chúng tôi. Mỗi tháng hai vợ chồng tôi cố gắng đưa bé đến đó một lần. Tôi nghĩ rằng để bé nghe chút tiếng Hoa là điều tốt, để tiếng nói đó đi vào tai bé. Để cảm giác tự nhiên này cứ thế lớn dần lên. Và, tất nhiên, khi bé lớn hơn tôi chắc rằng con bé sẽ yêu thích thức ăn ở đó.” Phòng xử im lặng như tờ. Bà McCullough cảm thấy cần phải nói thêm nữa. “Có lẽ chúng tôi sẽ đăng ký một lớp nấu món Hoa ở nhà văn hóa và cùng nhau học. Khi con bé lớn hơn.”

Ông Ed Lâm không nói gì, và bà McCullough cứ lo lắng mà nói vớ vẩn. “Chúng tôi cố thận trọng với các vấn đề này bất cứ nơi nào mà chúng tôi có thể.” Cảm hứng đã đến. “Như sinh nhật đầu tiên của bé, chúng tôi muốn tặng bé một con gấu nhồi bông. Bé có thể giữ nó lại như đồ gia bảo. ở đó có một con gấu màu nâu, một con gấu bắc cực và một con gấu trúc, và chúng tôi suy nghĩ và quyết định chọn con gấu trúc. Chúng tôi nghĩ có lẽ bé sẽ cảm thấy gần gũi hơn với con gấu trúc.”

“Mai Linh có con búp bê nào không?” ông Ed Lâm hỏi.

“Dĩ nhiên rồi. Nhiều lắm.” Bà McCullough cười khúc khích. “Bé thích chúng lắm. Giống như mọi cô bé. Chúng tôi mua cho bé búp bê, chị tôi mua cho bé búp bê, và bạn bè của chúng tôi cũng mua cho bé búp bê...” Bà lại cười khúc khích lần nữa, và quai hàm của ông Richardson căng cứng lại. “Ắt con bé phải có cả tá hoặc nhiều hơn.”

“Và chúng trông như thế nào, mấy con búp bê đó?” ông Ed Lâm vẫn dai dẳng.

“Chúng trông như thế nào ấy à?” Đôi lông mày của bà McCullough nhíu lại. “Chúng... chúng là búp bê thôi mà. Một số là em bé, và một số là cô bé...” Rõ ràng là bà không hiểu câu hỏi. “Một số ôm bình sữa, một số thì, mình có thể thay đồ cho chúng, và có một con sẽ nhắm mắt khi mình đặt nó nằm xuống, và hầu hết mớ búp bê, mình có thể làm tóc cho nó...”

“Và tóc của chúng có màu gì?”

Bà McCullough suy nghĩ một lúc. “Ồ... hầu hết là tóc vàng. Một con tóc nâu. Có lẽ là hai con.”

“Còn con búp bê nhắm mắt đó thì sao? Mắt nó màu gì?”

“Màu xanh.” Bà McCullough bắt chéo chân lên, sau đó bỏ chân trở lại. “Nhưng điều đó chẳng nói lên gì cả. Ông hãy nhìn vào gian đồ chơi mà xem - hầu hết búp bê đều tóc vàng mắt xanh cả. Tôi muốn nói, đó chỉ là lẽ thường tình thôi.”

“Lẽ thường tình thôi,” ông Ed Lâm lặp lại, và bà McCullough có cảm giác mình đang bị lừa, mặc dù bà cũng không chắc là tại sao.

“Không phải phân biệt chủng tộc gì cả,” bà khẳng định. “Người ta chỉ muốn tạo ra một bé gái đại trà thôi. Ông biết không, kiểu mà sẽ thu hút tất cả mọi người.”

“Nhưng nó không giống tất cả mọi người, đúng không? Nó không giống Mai Linh.” Ông Ed Lâm đứng dậy, đột nhiên sừng sững trong phòng xử. “Bé Mai Linh có bất cứ con búp bê Châu Á nào hay không - ý là, có bất cứ con búp bê nào trông giống cô bé hay không?”

“Không... nhưng khi bé lớn hơn, và khi bé đã sẵn sàng, chúng tôi sẽ mua cho bé một con búp bê Barbie Châu Á.”

“Bà có thấy con búp bê Barbie Châu Á nào chưa? ông Ed Lâm hỏi.

Bà McCullough đỏ mặt. “À... Tôi không tìm con nào cả. Chưa tìm. Nhưng chắc là phải có chứ.”

“Không hề có. Trên thực tế, Mattel không hề sản xuất con nào cả.” Ông Ed Lâm đi đi lại lại một vài bước. “Còn sách thì sao? Bà đọc loại sách nào cho Mai Linh nghe?”

“À.” Bà McCullough bắt đầu suy nghĩ. “Chúng tôi đọc cho bé nghe nhiều sách kinh điển. Tất nhiên là có Goodnight Moon[3] rồi. Và Pat the Bunny[4] - con bé thích mấy cuốn này lắm. Madeline. Eloise. Blueberries for Sal. Tôi đã lưu lại toàn bộ những cuốn sách yêu thích từ hồi còn nhỏ, và được chia sẻ chúng với Mirabelle là điều hết sức đặc biệt.”

“Bà có quyển nào về các nhân vật đặc trưng của Trung Quốc không?”

Bà McCullough đã sẵn sàng cho câu hỏi này. “Có, thực sự, chúng tôi có chứ. Chúng tôi có quyển The Five Chinese Brothers[5] - nó là bản viết lại rất đẹp về một câu chuyện dân gian nổi tiếng của Trung Quốc.”

“Tôi biết cuốn sách đó.” ông Ed Lâm lại cười, và đôi vai của ông Richardson căng cứng. Ông dần biết rằng, bất cứ khi nào ông Ed Lâm cười, có nghĩa là ông ta đang chuẩn bị vồ mồi. Ông Richardson nghĩ rằng, Không thể nào biết được thật ra ông ta đang nghĩ gì, và sau đó, ngay lập tức, bị thất vọng, Nghĩ thôi cũng thấy khủng khiếp rồi. Ông bừng bừng. “Trong quyển sách đó năm anh em Trung Hoa trông như thế nào?” ông Ed Lâm hỏi.

“Họ... họ là hình vẽ. Bọn họ trông giống như... à, đều trông giống nhau, họ là anh em, đó là tình tiết trong câu chuyện, không ai có thể phân biệt họ...” bà McCullough lúng túng.

“Họ có bím tóc, đúng không? Và những cái mũ cu-li nhỏ xíu? Những đôi mắt xếch?” ông Ed Lâm không đợi bà McCullough trả lời. “Tôi không hẳn muốn Mai Linh sẽ mang hình ảnh một người Trung Quốc như vậy vào năm 1998. Còn bà thì sao?”

“Đó là truyện xưa lắm rồi,” bà McCullough khẳng định. “Họ mặc trang phục truyền thống.”

“Còn những quyển sách khác thì sao, hở bà McCullough? Bất cứ quyển nào khác có các nhân vật Trung Quốc?”

Bà McCullough cắn môi. “Tôi không thực sự tìm kiếm những quyển đó.” Bà thừa nhận. “Tôi không nghĩ đến chuyện đó.”

“Tôi có thể tiết kiệm thời gian cho bà,” ông Ed Lâm nói. “Thật sự chẳng có bao nhiêu. Vậy nên Mai Linh không có con búp bê nào trông giống cô bé, và không có quyển sách nào có hình ảnh những con người trông giống cô bé.” Ông Ed Lâm đi tới đi lui thêm một vài bước nữa. “Bà và chồng bà không nói tiếng Hoa hoặc không biết nhiều về văn hóa hay lịch sử Trung Hoa. Bằng lời khai của chính bà, bà thậm chí còn không nghĩ đến mọi mặt về nhân dạng của Mai Linh. Không công bằng khi nói rằng nếu Mai Linh sống với bà và ông McCullough, thì cô bé sẽ bị tách khỏi cội nguồn văn hóa của mình một cách sâu sắc hay sao?”

Ngay lúc này, bà McCullough bật khóc nức nở. Trong những tuần đầu, bà đã cho Mirabelle ăn mỗi bốn giờ, đã giữ bé mỗi khi bé khóc, và nhìn bé lớn lên cho đến khi hai gót chân của bé kéo căng cái quần yếm sơ sinh đến mức sắp rách ra. Chính bà là người đã thường xuyên kiểm tra cân nặng cho Mirabelle, là người đã hấp đậu Hà Lan, khoai lang, cải bó xôi tươi rồi xay nhuyễn chúng và đút từng muỗng nhỏ cho Mirabelle. Khi Mirabelle lên con sốt, chính bà là người đã chườm khăn mát lên trán bé, là người đã ấn môi mình lên đôi lông mày non tơ của bé để kiểm tra nhiệt độ. Và khi hóa ra thủ phạm là do đau tai, chính bà là người đã nhỏ từng giọt kháng sinh si-rô vào cái miệng hồng hào nhỏ xíu của Mirabelle và để bé nốc ùng ực như một con mèo con. Khi cúi xuống hôn lên đôi má đỏ ửng của bé, bà đã nghĩ rằng, dù đứa bé này là máu thịt của chính mình thì bà cũng yêu nó đến chừng ấy thôi. Suốt đêm - vì bị sốt nên Mirabelle không ngủ được mà cứ cựa quậy - bà đã ẵm Mirabelle trong vòng tay và đi tới đi lui trong phòng từ đầu này đến đầu kia. Vào buổi sáng bà đã đi bộ gần bốn dặm. Sau bữa sáng, trước giờ tắm, và giờ ngủ, chính bà là người đã rúc vào cái bụng mềm mại của Mirabelle cho đến khi cô bé ríu rít cười to hơn. Chính bà là người đã chộp lấy Mirabelle trong vòng tay khi cô bé sẩy chân suýt ngã lúc đứng thẳng, chính bà là người mà Mirabelle đã dang tay ra khi bé đau đớn, sợ hãi, hoặc cô đơn. Bằng một tiếng khóc - không, chỉ một cái chạm tay thì bà cũng biết Mirabelle thấy tối đen như mực. Không, một mùi hơi thở của bé thôi.

“Đó không phải điều kiện cần,” bây giờ bà nhấn mạnh. “Không phải điều kiện cần buộc chúng tôi phải là những chuyên gia văn hóa Trung Quốc. Yêu cầu duy nhất là chúng tôi yêu thương Mirabelle. Và chúng tôi đã như vậy. Chúng tôi muốn cho bé một cuộc sống tốt đẹp hơn.” Bà tiếp tục khóc, và thẩm phán đã cho bà về chỗ.

“Không sao đâu,” ông Richardson nói vậy khi bà đứng cạnh ông. “Chị trả lời tốt lắm.” Tuy nhiên, thậm chí trong lòng ông đang bắt đầu run sợ về mối hồ nghi không rõ ràng. Tất nhiên là Mirabelle sẽ có một cuộc sống tốt đẹp khi sống cùng David và Linda. Không nghi ngờ gì chuyện này. Nhưng có điều gì đó - một thứ gì đó - đang bị bỏ lỡ nếu bé trưởng thành bên cạnh họ hay không? Bất chợt ông Richardson nhận thức sâu sắc về Mirabelle, về sức nặng khủng khiếp mà thế giới phức tạp đè lên con người bé nhỏ, yếu ớt này.

Nơi các bậc thềm của tòa, khi các phóng viên ngắt lời để yêu cầu phát ngôn, ông đã đưa ra một lời phát biểu ngắn gọn, trấn an về việc ông tin vào tiến trình xét xử. “Tôi hoàn toàn tin tưởng vào Thẩm phán Rheinbeck, ông ấy sẽ cân nhắc tất cả các vấn đề và đưa ra phán quyết công bằng,” ông nói.

Gia đình McCullough dường như không nhận ra sự thay đổi tinh tế trong ngữ điệu này của ông - trong những phát ngôn trước đó, ông đã mạnh mẽ nói rằng phía họ nên nhận được quyền nuôi dưỡng là chuyện rõ ràng ra sao, rằng hiển nhiên họ sẽ nuôi dưỡng cô bé tốt nhất thế nào, rằng Mirabelle thuộc về gia đình McCullough là chuyện tất lẽ dĩ ngẫu ra sao (ông đã nhấn mạnh rằng bé một thành viên của nhà McCullough). Hay các tờ báo, chính là những tờ đã đăng các bài báo với tiêu đề “Luật Sư Phía Gia Đình Nhận Nuôi Cầm Chắc Phần Thắng” cũng không hề nhận ra. Tuy nhiên, ông Richardson đã không còn chắc chắn như những gì mà các bản tin đã đưa.

Vào bữa tối hôm đó, khi bà Richardson hỏi phiên tòa hôm nay ra sao, ông chỉ nói chút ít. “Hôm nay chị Linda đã làm chứng trước tòa,” ông nói. “Ông Ed Lâm khá gay gắt với chị ấy. Xem ra không tốt cho lắm.” Ý ông là không tốt cho bà McCullough, nhưng khi ngôn từ rơi ra cửa miệng thì một ý nghĩ đã nảy ra trong đầu ông, một cách để lật lại chuyện này, và sau buổi tối hôm đó ông sẽ gọi cho các đầu mối của ông tại các tờ báo. Sáng hôm sau, tờ Plain Dealer đã công bố một bài báo đề cập đến chiến thuật “hung hăng” của ông Ed Lâm, cái cách mà ông ta đã khai thác bà McCullough tội nghiệp đến mức bà ấy phải rơi nước mắt. Bài báo đã ám chỉ rằng, đàn ông như ông ta không bị cho là mất đi vẻ điềm tĩnh - mặc dù cũng không bao giờ xác định liệu “kiểu như ông ta” có đúng là luật sư, hoặc thứ gì đó hoàn toàn khác. Nhưng sự thật là - như ông Richardson nhận ra - hình ảnh một người đàn ông châu Á giận dữ là không phù hợp với kỳ vọng của công chúng, thành ra lại thiếu tính thuyết phục. Đàn ông châu Á có thể bị hội chứng sợ hãi xã hội, kém cỏi và lố lăng, giống như Long Duk Dong[6], hoặc tốt nhất là không gây đe dọa và có chút buồn cười, giống như Jackie Chan (Thành Long). Ít nhất là trong nhận thức của công chúng, họ không được phép nổi giận, nói năng lưu loát hay mạnh mẽ. Và có thể đúng, ông Richardson khó chịu nghĩ vậy. Một khi bài báo được đăng, một số người phía trung lập đã dành sự ủng hộ cho gia đình McCullough, và một số người từng thiên về phía Bebe thì lại thấy nhiệt huyết của họ đang dần nguội lạnh.

Bây giờ, ý nghĩ ấy vẫn đang hình thành trong tâm trí ông, ông chỉ nói rằng, “Rồi chúng ta sẽ thấy mọi thứ lay chuyển ra sao.”

“Con thấy tội cho cô ấy,” từ phía cuối bàn, Lexie đột nhiên nói vậy. “Ý con là cho cô Bebe. Ắt cô ấy cảm thấy kinh khủng lắm.”

“Xin lỗi chứ,” Izzy nói, “đó có phải Bebe, người mà mới mấy bữa trước chị gọi người ta là đồ mẹ cẩu thả không vậy?”

Lexie đỏ mặt. “Cô ấy nên chăm sóc em bé tốt hơn,” cô thừa nhận. “Nhưng chị không biết. Chị thắc mắc liệu cô ấy có vung tay quá trán. Liệu có phải cô ấy không biết là mình đang dính vào chuyện gì.”

“Và đó là lý do vì sao mang thai không phải chuyện đơn giản,” bà Richardson cắt ngang. “Có nghe mẹ nói không, hả Alexandra Grace? Hả Isabelle Marie?” Bà nhấc đĩa đậu xanh Hà Lan lên và tự rắc cho mình một muỗng hạnh nhân. “Tất nhiên có con là chuyện lớn. Đó là bước ngoặt cuộc đời. Rõ ràng là Bebe không hề sẵn sàng đón nhận chuyện này, dù trên phương diện thực tế hay tình cảm. Và có thể đây sẽ là lập luận tốt nhất để trao đứa bé cho Linda và David.”

“Vậy nên có một sai lầm, và sai lầm chính là chỗ đó sao?” Lexie hỏi. “Con không sẵn sàng sinh một đứa con. Nhưng nếu con...” Cô ngập ngừng. “Nếu con có thai, mẹ cũng bắt con bỏ nó, như vậy sao?”

“Lexie, chuyện đó không bao giờ xảy ra. Bố mẹ nuôi nấng con để khôn ngoan hơn thế.” Mẹ cô đặt cái đĩa trở lại giữa bàn và dùng nĩa xiên một hạt đậu xanh.

“Ôi chao, hôm nay trái tim của ai đó đã lớn thêm ba số rồi kìa,” Izzy nói với Lexie. “Chị bị sao vậy?”

“Chẳng sao cả,” Lexie trả lời. “Chị chỉ nói là. Đó là hoàn cảnh phức tạp, vậy thôi. “ Cô hắng giọng. “Thậm chí Brian cũng nói rằng bố mẹ anh ấy cũng không đồng tình chuyện này.”

Moody trợn mắt. “Các gia đình ở khắp Cleverland đã bị vụ này chia rẽ.”

“Anh John và chị Deborah có quyền có quan điểm riêng của họ,” ông Richardson nói. “Cũng như bất cứ ai ngồi ở bàn này.” Ông lướt mắt một vòng quanh bàn. “Trip này, bố nghe nói trận đấu hôm qua có một cú hat-trick hả con?”

Tuy nhiên, sau bữa tối, những ý nghĩ trong đầu ông Richardson vẫn rất mập mờ. “Em có nghĩ là,” ông hỏi bà Richardson khi hai người dọn bàn, “David và Linda có thật sự biết cách nuôi dạy một đứa trẻ người Trung Quốc hay không?”

Bà Richardson nhìn ông chằm chằm. “Em nghĩ là, cũng y như nuôi bất cứ đứa trẻ nào khác thôi mà,” bà trả lời một cách kiên quyết, trong khi sắp xếp mớ đĩa vào máy rửa bát. “Có cái quái gì khác nhau cơ chứ?”

Ông Richardson vét phần mì trứng còn thừa trong cái đĩa tiếp theo vào thùng rác và chuyền qua. “Tất nhiên, mọi điểm quan trọng thì đều như nhau,” ông thừa nhận. “Nhưng anh muốn nói, khi cô bé đó trưởng thành hơn, nó sẽ có rất nhiều câu hỏi. về việc mình là ai, mình đến từ đâu. Con bé sẽ muốn biết về cội nguồn của nó. Liệu họ có thể dạy cho con bé những điều đó hay không?”

“Ngoài kia có đầy nguồn.” Bà Richardson tùy tiện phát tay, vô tình văng vài giọt nước thịt bê xốt kem chua lên quầy bếp. “Em không hiểu nổi tại sao họ không thể cùng học với con bé chứ. Chẳng phải như vậy sẽ mang họ lại gần nhau hơn sao, khi cùng nhau học về văn hóa Trung Quốc?” Bà và Linda McCullough đã làm bạn từ khi lên bảy, và bà có những ký ức sâu sắc về hình ảnh Lindy dùng cái khăn tay cũ của mẹ để quấn con búp bê Raggedy Ann của mình rồi nhẹ nhàng đặt nó lên giường. Hơn bất cứ ai, bà biết trong lòng bạn mình, Linda McCullough luôn khao khát có một đứa con ra sao, khao khát trở thành một người mẹ đến thế nào - đó là vai trò màu nhiệm, kỳ diệu và đáng sợ. Bà nghĩ, Mia phải hiểu điều đó hơn bất cứ ai: cô ta không thấy nỗi khao khát đó trong gia đình nhà Reed hay sao? Có lẽ, ngay cả bản thân cô ta còn không cảm nhận được, đó chẳng phải là lý do cô ta mang Pearl bỏ chạy hay sao? Bà đẩy ngón cái lau quầy bếp, trên mặt đá granit nhòe nhoẹt. “Thành thật mà nói, em nghĩ đây là một cơ hội tuyệt vời đối với Mirabelle. Con bé sẽ được trưởng thành trong một gia đình thật sự không hề phân biệt chủng tộc. Rằng họ không quan tâm, dù nhỏ nhất, việc con bé trông như thế nào. Còn gì tốt hơn thế chứ? Đôi khi em nghĩ,” bà nói, một cách quyết liệt, “rằng bằng cách đó tất cả chúng ta đều tốt hơn. Có lẽ lúc chào đời, mọi người nên được trao cho một gia đình mang chủng tộc khác để nuôi dưỡng. Có lẽ điều đó sẽ giải quyết được vấn đề phân biệt chủng tộc một lần và mãi mãi.”

Bà đóng máy rửa bát đánh xoảng một cái và rời khỏi phòng bếp, mớ đĩa bên trong vẫn kêu lách cách bởi sự khuấy động của bà. ông Richardson lấy miếng xốp và lau sạch quầy bếp nhớp nháp. Ông nhận ra rằng, ông nên để bụng hơn là khỏi nó ra: với bà ấy chuyện này quá cá nhân, bà không thể nhìn rõ, bà quá thân cận đến nỗi thậm chí không nhận ra bà đang thiếu thấu đáo đến mức nào. Đối với bà, chuyện này rất đơn giản: Bebe Châu là một bà mẹ xấu, Linda McCullough là một bà mẹ tốt. Một người tuân theo quy tắc, và một người thì không. Nhưng, ông mông lung suy nghĩ, vấn đề của quy tắc nằm ở chỗ mặc nhiên cho rằng cách này đúng và cách kia sai. Thực tế, thường thì đơn thuần có những cách, chúng không hoàn toàn đúng cũng không hoàn toàn sai, và không gì có thể khẳng định rằng bạn đang đứng ở phía nào. Ông vẫn luôn ngưỡng mộ chủ nghĩa lý tưởng của vợ mình, bà tin rằng có thể tạo dựng thế giới tốt đẹp hơn, có thể làm cho nó trật tự hơn, có lẽ thậm chí có thể khiến nó hoàn hảo. Lần đầu tiên, ông tự hỏi rằng liệu với ông điều đó có đúng không.

❀ ❀ ❀

[1] G.E.D (General Education Development): kỳ thi để lấy chứng chỉ tương đương Trung học Phổ thông (THPT) của Mỹ. Kỳ thi dành cho những người chưa tốt nghiệp THPT, hoặc đã tốt nghiệp ở những quốc gia khác ngoài Mỹ nhưng vì lý do nào đó mà bằng cấp không sử dụng được, hoặc dành cho những người muốn ôn lại kiến thức phổ thông cơ bản để chuẩn bị bước vào đại học.

[2] Nguyên tác: “The ninety-sixth percentile”. Trong thống kê mô tả, việc sử dụng giá trị phân vị là phương pháp ước tính tỷ lệ dữ liệu trong một tập Số liệu rơi vào vùng cao hơn hoặc vùng thấp hơn một giá trị cho trước, số phân vị Pth là một giá trị mà tại đó nhiều nhất có P% số trường hợp quan sát trong tập dữ liệu có giá trị thấp hơn giá trị này và nhiều nhất là (100 - P) % của trường hợp có giá trị lớn hơn giá trị này. Do đó, phân vị thứ chín mươi sáu là giá trị mà tại đó nhiều nhất là 96% số quan sát là kém hơn giá trị này.

[3] Goodnight Moon: tiểu thuyết của trẻ em Mỹ, được viết bởi Margaret Wise Brown, minh họa bởi Clement Hurd. Sách được xuất bản vào ngày 3 tháng 9 năm 1947, và là một câu chuyện kể trước giờ đi ngủ rất được hoan nghênh.

[4] Pat the Bunny: một cuốn sách “cảm động” cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh và từng là sách bán chạy nhất ở Hoa Kỳ trong nhiều năm kể từ khi được xuất bản vào năm 1940.

[5] The Five Chinese Brothers: cuốn sách dành cho trẻ em nguôi Mỹ được viết bởi Claire Huchet Bishop và được minh họa bởi Kurt Wiese. Sách được xuất bản lần đầu vào năm 1938 bởi Coward McCann.

[6] Một nhân vật người Trung Quốc trong phim hài Mỹ Sixteen Candles (1984).

Người dịch: Lâm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.