Những Đốm Lửa Lưu Lạc

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Một năm trước, khi cô Mia và Pearl chuyển đến thuê căn hộ nhỏ ở đường Winslow, dù bà Richardson (chủ sở hữu căn hộ) hay ông Richardson (người bàn giao chìa khóa) đều không bận tâm nhiều về họ. Hai ông bà chỉ biết rằng gia đình họ không có ông Warren, và cả chuyện cô Mia ba mươi sáu tuổi, theo như bằng lái xe Michigan mà cô cung cấp. Họ để ý thấy cô không đeo nhẫn bên tay trái, mặc dù cô đeo rất nhiều nhẫn: một chiếc thạch anh tím cỡ lớn ở ngón trỏ, một chiếc làm từ cán chiếc thìa bạc đeo ngón út, và một chiếc đeo ở ngón cái khiến bà Richardson ngờ rằng nó trông giống một chiếc nhẫn tâm trạng . Nhưng trông cô có vẻ tử tế, và con gái cô cũng vậy, Pearl, một cô bé mười lăm tuổi, ít nói, thắt bím tóc đen dài. Cô Mia đã trả tiền thuê nhà tháng đầu và tháng cuối, cộng với tiền đặt cọc bằng một xấp những tờ hai mươi đô-la, và chiếc VW Rabbit màu nâu vàng nhạt - dù quá đỗi cà tàng - cũng đã lịch xịch chạy xuống đường Parkland Drive, phía bờ nam Shaker, nơi có những căn hộ san sát hơn và sân vườn cũng nhỏ hơn.

Đường Winslow là một dãy dài những căn hộ hai tầng[1], nhưng khi đứng trên vỉa hè bạn sẽ không nhận ra điều này. Từ ngoài nhìn vào, bạn chỉ thấy có một cửa trước, một đèn cửa trước, một hộp thư và số nhà. Có lẽ người ta có thể đặt một đồng hồ điện đôi, nhưng những thứ này - mỗi thành phố đều quy định - phải giấu ra phía sau nhà, bên cạnh nhà để xe. Chỉ khi bước đến lối vào bạn mới nhìn thấy hai cánh cửa bên trong, một dẫn lên căn hộ tầng trên, một đến tầng dưới và xuống tầng hầm chung của hai tầng. Mỗi một căn nhà ở Winslow đều có hai gia đình nhưng nhìn bề ngoài lại như chỉ một mà thôi. Người ta thiết kế như vậy đều có chủ ý. Thiết kế đó giúp người dân tránh khỏi kỳ thị khi sống trong căn hộ hai tầng - chỉ thuê, thay vì làm chủ - và nó còn giúp cho các nhà quy hoạch đô thị giữ gìn diện mạo phố phường, vì mọi người sẽ ít biết về những vị hàng xóm thuê nhà cạnh mình.

Shaker Heights là như vậy. Tồn tại những luật lệ, nhiều luật lệ, về những gì bạn được làm và không được làm, cô Mia và Pearl bắt đầu biết về chúng khi dọn vào ngôi nhà mới. Họ biết cách viết địa chỉ mới của mình: số 18432 đường Winslow Thượng, chữ Thượng này để chắc rằng thư của họ được chuyển lên căn hộ của mình ở tầng trên chứ không phải cho ông Dương ở tầng dưới. Họ biết rằng dãy cỏ nhỏ nằm giữa vỉa hè và mặt đường được gọi là bờ cỏ - nhờ một cây phong Na-uy nhỏ trước mỗi nhà đã tô điểm cho làn cỏ - và thùng rác không được kéo đến đó vào những sáng thứ Sáu, thay vào đó chúng được đặt ra phía sau nhà, tránh thùng rác bừa bộn nơi lề đường khiến quang cảnh khó coi. Những chiếc xe máy cỡ lớn được lái bởi người đàn ông vận bộ đồng phục màu da cam, chạy vụt qua mỗi ngõ lui xe để gom rác trong sân sau, chở chúng đến chiếc xe tải lớn đang đỗ ở đường ngoài, và qua nhiều tháng cô Mia vẫn nhớ rõ ngày thứ Sáu đầu tiên của hai mẹ con tại đường Winslow này, nỗi kinh hãi mà cô gặp phải khi chiếc xe máy, y như chiếc xe golf đỏ rực gào rú, bắn qua cửa sổ nhà bếp cùng tiếng động cơ rầm rầm. Rốt cuộc họ cũng quen với điều đó, giống như quen với việc nhà để xe nằm tách biệt - ở vị trí hợp lý phía sau nhà, lại để giữ gìn cảnh quang đường phố - và biết mang theo ô để giữ người khô ráo khi phải chạy từ xe vào nhà trong những ngày mưa gió. Hồi tháng Bảy, khi ông Dương đi Hồng Kông hai tuần thăm mẹ, họ biết rằng với bãi cỏ chưa cắt sẽ nhận được lá thư lịch sự nhưng không kém phần nghiêm khắc từ thành phố, thông báo rằng bãi cỏ của nhà họ đã cao quá sáu inch và nếu tình trạng này không được khắc phục, thành phố sẽ cắt cỏ - và thu phí một trăm đô-la - trong vòng ba ngày. Có rất nhiều quy định cần phải biết.

Và còn nhiều quy định khác mà cô Mia và Pearl không thể nhận biết hết trong suốt thời gian dài. Chẳng hạn như các quy tắc quy định về màu sắc được phép sơn nhà. Thành phố có một bản đồ tiện ích phân loại từng ngôi nhà theo phong cách Tudor[2] kiểu Anh, hay kiểu Pháp, và bố trí màu sắc tương thích cho các kiến trúc sư cũng như gia chủ. Những ngôi nhà theo “phong cách kiểu Anh” chỉ được sơn những màu xám nhạt, xanh rêu, hoặc một sắc nâu vàng nhạt nhất định để đảm bảo thẩm mỹ hài hòa cho mỗi con phố; những ngôi nhà mang phong cách Tudor đòi hỏi phải có sắc kem đặc biệt trên nền thạch cao và sắc nâu tối đặc biệt trên các thanh gỗ. Ở Shaker Heights, mọi thứ đều có kế hoạch. Từ khi thành phố được quy hoạch vào năm 1912, các trường học đều được bố trí sao cho tất cả trẻ em có thể đi bộ mà không phải băng qua bất kỳ đường lớn nào; các đại lộ đều có vỉa hè, với những trạm giao thông nhanh được đặt ở các vị trí chiến lược để nhanh chóng đưa những hành khách dùng vé tháng vào khu trung tâm Cleveland. Trên thực tế, khẩu hiệu của thành phố là - thật sự, như Lexie nói, ít nhất được một lần chính xác - “Cộng đồng nào cũng có chuyện; tốt nhất là lập kế hoạch”: triết lý cơ bản để mọi thứ có thể - và phải - được lên kế hoạch, bằng cách này người ta có thể tránh được sai lầm, bất mãn và tai họa.

Tuy nhiên cũng trong những tuần đầu đến đây, hãy còn nhiều điều thú vị khác đáng để hai mẹ con khám phá. Giữa bộn bề dọn dẹp, sơn sửa rồi tháo dỡ, họ còn biết tên các con phố xung quanh: đại lộ Van Aken, nơi những chiếc xe điện chạy vào trung tâm thành phố Cleveland; đường Winchell; đường Latimore và đường Lynnfield. Đại lộ Chagrin, nơi mà cô Mia gọi là “Đại lộ Tuyệt vọng”. Họ biết đường nhà mình gần siêu thị Heinen’s ở địa phương, nơi mà cô Mia nói rằng họ đối xử với khách như tầng lớp quý tộc: thay vì phải đẩy xe hàng ra tận bãi gửi xe, thì một nhân viên xe hàng trong chiếc sơ-mi lụa thẳng thớm sẽ treo một số thứ tự vào xe đẩy và đưa khách tấm thẻ đỏ - trắng tương ứng. Sau đó khách mắc tấm thẻ ấy lên cửa sổ xe hơi của mình rồi lái đến phía trước siêu thị, ở đó có một nhân viên xe hàng khác sẽ đẩy hàng hóa ra rồi xếp gọn gàng vào cốp xe cho khách mà không nhận bất kỳ phần tiền boa nào.

Họ biết trạm xăng rẻ nhất ở đâu - nó ở ngay góc đường Lomond và Lee Roads, nơi lúc nào cũng rẻ hơn những trạm khác một cent; họ cũng biết các tiệm thuốc ở đâu và tiệm nào có áp dụng phiếu giảm giá đôi[3]. Hai mẹ con còn biết rằng gần Cleveland Heights, Warrensville và Beachwood, dân địa phương thường bỏ lại lề đường những vật dụng cá nhân không dùng nữa, và họ còn biết rõ ngày nào là ngày phế liệu tại con đường nào. Họ biết rằng có thể mua được cái búa, cái tua vít, một lít sơn mới và cái bàn chải ở nơi đâu: mọi thứ đều có thể tìm thấy tại cửa hàng Shaker Hardware, nhưng chỉ vào khoảng chín giờ rưỡi đến sáu giờ chiều, khi chủ cửa hàng cho đám nhân viên về nhà ăn tối.

Và, đối với Pearl, đó còn là cuộc khám phá hai vị chủ nhà và khám phá những đứa trẻ của gia đình Richardson.

Moody là thành viên đầu tiên của gia đình Richardson đã cả gan đến căn hộ nhỏ ở đường Winslow. Cậu nghe mẹ mô tả những khách thuê mới với bố. “Cô ấy kiểu nghệ sĩ,” bà Richardson nói, và khi ông Richardson hỏi là nghệ sĩ gì, bà phì cười đáp lại, “Kiểu nghệ sĩ chật vật”.

“Không sao đâu,” bà trấn an chồng. “Cô ấy đưa em tiền cọc luôn rồi.” “Vậy cũng đâu có nghĩa họ sẽ trả tiền thuê nhà,” ông Richardson nói, nhưng họ đều biết phần tiền cho thuê đó không quan trọng - chỉ ba trăm đô-la mỗi tháng cho tầng trên - và họ không cần khoản tiền ấy để trang trải cuộc sống. Ông Richardson là luật sư bào chữa và bà Richardson làm việc cho tờ báo địa phương, tờ Sun Press. Căn nhà ở đường Winslow là tài sản thuộc toàn quyền sở hữu của hai vợ chồng, bố mẹ của bà Richardson đã mua nó như một tài sản đầu tư từ khi bà mới ở tuổi thiếu niên. Chỗ tiền thuê đó giúp bà theo học ở Denison, sau đó trở thành chỗ tiền “phụ trội” hàng tháng - như cách mà mẹ bà đã gọi - trong giai đoạn bà mới đảm nhận vai trò phóng viên tập sự. Sau đó, từ khi bà kết hôn với Bill Richardson và trở thành bà Richardson, phần tiền cho thuê đã phụ vào chỗ tiền đặt cọc để mua căn nhà Shaker xinh đẹp, cũng là ngôi nhà ở đường Parkland nơi mà sau này bà chứng kiến vụ cháy. Năm năm sau khi bố mẹ qua đời, bà Richardson thừa kế ngôi nhà ở đường Winslow. Trước khi mất, hai cụ đã sống trong viện dưỡng lão một thời gian và ngôi nhà nơi bà trưởng thành đã được bán đi rồi. Nhưng gia đình vẫn giữ lại căn nhà ở đường Winslow, tiền cho thuê căn nhà này được dùng để trả phí chăm sóc cho hai cụ và đến giờ bà Richardson vẫn giữ lại, xem đó như một kỷ vật.

Không, tiền bạc không phải vấn đề. Tiền cho thuê - cả thảy năm trăm đô-la mỗi tháng - giờ đều chuyển vào quỹ du lịch của gia đình Richardson, năm ngoái họ đã dùng quỹ ấy cho chuyến thăm thú đảo Martha’s Vinyard, ở đó, Lexie tập thành thạo kiểu bơi ngửa, Trip thì mê hoặc hết thảy thiếu nữ địa phương còn Moody bị sạm nắng đến lột cả da cháy. Thực ra, nếu không có chỗ tiền cho thuê kia thì gia đình họ vẫn dư dả tiền đi du lịch. Đối với bà Richardson vấn đề nằm ở chỗ khách thuê nhà là ai. Vì bà không cần khoản tiền cho thuê mà cái bà muốn là cảm giác bản thân đang hành thiện. Bố mẹ đã nuôi nấng bà để làm việc tốt; hàng năm họ đều quyên góp cho Tổ chức nhân đạo và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF đồng thời luôn tham gia vào các quỹ góp vốn ở địa phương, có lần họ đã thắng được một con gấu nhồi bông cao ba bộ tại buổi đấu giá kín[4] do Câu lạc bộ Rotary tổ chức. Bà Richardson xem ngôi nhà như một hình thức làm từ thiện. Bà định giá thuê thấp - bất động sản ở thành phố Cleveland cực kỳ rẻ, nhưng nhà ở những khu có giá trị như Shaker thì lại đắt - và bà chỉ cho đúng một kiểu người thuê, kiểu người mà bà cảm thấy họ xứng đáng, nhưng vì lý do này kia, họ gánh chịu một cuộc sống bất công. Và bà thấy vui lòng khi có thể bù đắp được phần nào cho họ.

Ông Dương là vị khách thuê đầu tiên kể từ khi bà thừa kế căn nhà; là dân Hồng Kông nhập cư, ông đến Mỹ mà chẳng quen biết bất cứ ai, vả lại còn nói tiếng Anh nặng giọng, chắp vá. Sau nhiều năm, giọng ông chỉ nhẹ bớt đôi phần và mỗi lần nói chuyện, đôi khi bà Richardson buộc phải gật đầu cười trừ. Tuy nhiên, bà cảm nhận được ông Dương là người tốt; ông chăm chỉ làm việc, lái xe buýt chở học sinh đến Học viện Laurel, một trường nữ tư thục ở gần đó, đồng thời ông còn là thợ thủ công, sống một mình với mức thu nhập ít ỏi là thế, chẳng bao giờ ông có khả năng sống trong khu phố tử tế đến vậy. Lẽ ra với chi phí đó, ông sẽ phải bó mình ở một nơi xám xịt tù túng nào đó ở đường Buckeye, hoặc có khả năng phải ở khu tam giác gai góc phía đông Cleveland, người ta gọi đó là Khu người Hoa, nơi mà hồi cuối những năm 90 giá cho thuê thấp đến đáng ngờ, mọi tòa nhà đều bị bỏ hoang và tiếng còi vang lên ít nhất một lần mỗi đêm. Thêm vào đó, ông Dương luôn giữ căn nhà ở trạng thái không chê vào đâu được, ông sửa chửa các vòi nước bị rò rỉ, trát lại bê-tông phía trước và chăm chút khoảnh sân hình con tem sau nhà thành khu vườn trĩu quả. Hè nào cũng vậy, ông luôn mang bí đao nhà trồng sang biếu bà, một vài quả, mặc dù bà Richardson vẫn chưa biết làm gì với chúng - mớ trái màu ngọc bích, uốn gợn và rối rắm những lông - dù sao đi nữa bà cũng đánh giá cao sự chu đáo nơi ông. Ông Dương chính xác là kiểu khách thuê mà bà Richardson mong muốn: kiểu người mà bà có thể làm ơn cho họ, cũng là kiểu sẽ cảm kích cái ơn của bà.

Căn hộ tầng trên không thành công được vậy. Mỗi năm, hoặc cũng tầm thời gian đó, tầng trên lại đón một khách thuê mới: một nghệ sĩ đàn cello, người vừa được thuê để giảng dạy tại Học viện Âm nhạc, một phụ nữ bốn mươi đã ly hôn, một đôi vợ chồng son vừa chuyển đến Cleveland. Khi bà bắt đầu nghĩ đến việc họ xứng đáng nhận thêm đôi chút hỗ trợ. Thì chẳng người nào ở lại lâu. Nghệ sĩ đàn cello bị từ chối vị trí nhạc trưởng của bang nhạc Cleveland đã rời thành phố trong nỗi buồn chua xót. Người phụ nữ ly hôn thì tái hôn sau cơn lốc tình yêu dài bốn tháng rồi cùng chồng mới cưới chuyển đến Dinh thự[5] mới toanh ở thành phố Lakewood. Còn đôi vợ chồng trẻ, trông quá đỗi chân thành, lại rất tận tâm và yêu nhau sâu đậm, thì lại cãi nhau đến nỗi không thể cứu vãn rồi chia tay chỉ sau mười tám tháng, bỏ lại một hợp đồng thuê dang dở, vài bình hoa vỡ và ba vết nứt trên tường, cao ngang đầu, ngay vị trí chiếc bình đã vỡ.

Bà Richardson xem đó là bài học. Lần này, bà sẽ thận trọng hơn. Bà nhờ ông Dương trát lại lớp thạch cao và dành thời gian tìm người thuê khác, kiểu khách thuê đúng ý bà. Căn hộ số 18432 đường Winslow Thượng đã để trống gần sáu tháng cho đến khi Mia Warren và con gái dọn đến. Một bà mẹ đơn thân, giỏi giao tiếp, khéo léo, đang nuôi dạy cô con gái lễ độ, khá xinh đẹp và có lẽ cũng rất thông minh.

“Em nghe nói trường học ở Shaker là tốt nhất Cleveland,” cô Mia nói, khi bà Richardson hỏi lý do vì sao hai mẹ con chuyển đến Shaker này. “Pearl rất nỗ lực để vào đại học. Nhưng em không đủ khả năng cho con bé học trường tư thục.” Cô liếc vội Pearl, con bé đứng yên tại phòng khách trống trải của căn hộ, siết chặt đôi tay đặt phía trước, và Pearl mỉm cười ngượng ngùng. Trong cái nhìn giữa hai mẹ con ấy có gì đó làm trái tim bà Richardson như bị mắc vào cái vợt bướm. Bà quả quyết với Mia rằng đúng như vậy, trường ở Shaker này là tuyệt nhất - Pearl có thể ghi danh học các lớp AP[6] cho từng môn, còn có phòng thí nghiệm khoa học, đài thiên văn, năm thứ tiếng mà con bé có thể theo học.

“Có một chương trình kịch nghệ rất hấp dẫn, nếu con bé hứng thú,” bà nói thêm. “Năm ngoái, Lexie nhà chị đã đóng vai Helena trong vở Giấc mộng đêm hè.” Bà dẫn nguyên văn khẩu hiệu Trường học ở Shaker: Một thành phố nổi tiếng nhờ hệ thống trường học của mình. Thuế bất động sản ở Shaker cao hơn bất kỳ đâu, nhưng chắc chắn người dân nhận được những giá trị xứng đáng với đồng tiền họ bỏ ra. “Tuy nhiên, em chỉ thuê nhà, và em hoàn toàn nhận được mọi phúc lợi mà không phải chịu bất kỳ gánh nặng nào,” bà cười và nói thêm. Tuy bà đưa cô Mia lá đơn, nhưng trong lòng đã có quyết định. Và bà rất mực hài lòng khi mường tượng cảnh người phụ nữ ấy cùng con gái dọn vào căn hộ này, Pearl sẽ đang làm bài tập ở bàn bếp, còn Mia có lẽ sẽ đang vẽ một bức tranh hoặc một tác phẩm điêu khắc nào đó - vì cô ấy không đề cập chính xác chuyên môn của mình - nơi mái hiên nhỏ khép kín và hướng ra sân sau.

Khi nghe mẹ tả về những khách thuê mới, Moody bị hấp dẫn bởi một nghệ sĩ thì ít mà bởi đứa con gái “sáng láng” trạc tuổi cậu được nhắc đến kia mới là nhiều. Vài hôm sau, khi cô Mia và Pearl chuyển đến, sự tò mò đã chế ngự con người cậu. Như mọi khi, cậu dắt chiếc xe đạp của mình, một chiếc xe đạp không phanh hiệu Schwinn đã cũ mà ngày trước tại Indiana nó thuộc sở hữu của bố cậu. Ở Shaker Heights không ai cưỡi xe đạp cả, cũng không ai đi xe buýt nếu họ còn cách khác: hoặc bạn lái, hoặc người khác sẽ chở bạn; người ta xây dựng thành phố này cho xe hơi và cho những người có xe hơi. Moody cứ đạp xe. Đến mùa xuân tới cậu mới tròn mười sáu tuổi, và cậu chẳng khi nào nhờ chị Lexie hay anh Trip chở mình đi bất cứ đâu nếu cậu tự đi được.

Cậu chuồn đi, men theo đoạn vòng của đường Parkland Drive, ngang qua hồ vịt, chưa bao giờ cậu nhìn thấy con vịt nào ở đó, mà chỉ có bầy ngỗng Canada vừa to béo vừa xấc xược; băng qua Van Aken và các đường giao thông nhanh để đến đường Winslow. Cậu chẳng mấy khi đến đây - chẳng đứa trẻ nào lại liên quan đến nhà cho thuê cả - nhưng cậu biết đường đến đó. Hồi còn nhỏ, đôi lần cậu đã ngồi trong xe tạm đỗ ở ngõ vào nhà, ngắm nhìn cây đào trong sân và lướt qua các đài phát thanh trong khi mẹ chạy vào đưa đồ hoặc kiểm tra gì đó. Việc này không thường xảy ra; ngoại trừ khi mẹ cậu đang tìm khách thuê, còn lại thì chủ yếu ngôi nhà vẫn được để nguyên đó. Khi hai bánh xe đạp đâm sầm lên đoạn nối giữa phiến đá sa thạch to nơi vỉa hè, cậu mới nhận ra rằng mình chưa bao giờ đặt chân vào căn nhà này. Cậu không chắc liệu những đứa trẻ khác có như vậy.

Phía trước, Pearl đang cẩn thận xếp những thanh gỗ giường lên bãi cỏ trước nhà. Lượn qua trạm dừng bên kia đường, Moody trông thấy thiếu nữ mảnh mai trong chiếc váy dài nhàu nhĩ và áo phông lùng nhùng in dòng chữ cậu không tài nào nhìn rõ. Mái tóc của cô dài, quăn xoắn và cột thành bím dày xõa sau lưng tạo cảm giác căng đến sắp sổ tung. Cô gái đặt tấm ván đầu giường xuống chỗ đất phẳng gần các luống hoa trồng quanh nhà, đặt các thanh ray bên dưới và đặt những thanh gỗ mỏng ở phía bên kia thành hàng ngay ngắn, giống như bộ xương sườn. Dường như chiếc giường cố hít một hơi thật sâu, sau đó yêu kiều ép tấm thân lên bãi cỏ. Moody nấp nửa người sau thân cây, quan sát cô gái đang tìm lối vòng qua chiếc Rabbit mở toang cửa đang đỗ ở ngõ vào, cô rút bậc tam cấp từ ghế sau. Cậu muốn biết họ đã chơi trò Tetris[7] kiểu gì mà có thể xếp chừng ấy thanh giường vào chiếc xe nhỏ bé như vậy. Cô gái để chân trần, hai lòng bàn chân hồng vỏ sò khéo léo bước qua bãi cỏ để đặt bậc tam cấp vào vị trí. Sau đó, quá đỗi ngạc nhiên, cô bước vào giữa khuôn chữ nhật trống ấy, nơi lẽ ra phải đặt chiếc nệm giường, và ném phịch người nằm xuống.

Từ tầng hai của ngôi nhà, cánh cửa sổ lạch cạch mở ra và cô Mia ló đầu nhìn xuống. “Đủ cả chứ?”

“Thiếu hai thanh mỏng ạ,” Pearl trả lời.

“Mình sẽ thay cái khác. Không, đợi đã, con nằm yên đó. Đừng nhúc nhích.” Đầu của cô Mia lại lần nữa mất hút. Ít phút sau cô trở lại cùng cái máy ảnh, là máy ảnh thật, với ống kính dày như hộp thiếc lớn. Pearl vẫn nằm yên đó, nhìn chằm chằm lên bầu trời giăng mây, còn cô Mia ngả rạp người đến hông, canh góc một pô ảnh chuẩn. Moody như nín thở, lo máy ảnh sẽ tuột khỏi tay cô mà rơi lên khuôn mặt để ngửa đầy tin cậy của cô gái, lo rằng bất thình lình cô tự ngã nhào khỏi bậu cửa rồi đâm sầm xuống thảm cỏ. Không xảy ra gì cả. Đầu của cô Mia nghiêng hướng đó và khung cảnh bên dưới nằm trọn trong kính ngắm của cô. Máy ảnh che mặt cô, che hết khuôn mặt chỉ để lộ mái tóc, búi tóc quăn xoắn xếp chồng trên đỉnh đầu y như một quầng tối. Sau này, khi Moody nhìn thấy những bức ảnh hoàn chỉnh, suy nghĩ đầu tiên hiện lên trong đầu cậu là Pearl trông như mẫu hóa thạch tinh xảo, một vật phẩm hàng thiên niên kỷ mới có thể bắt gặp trong bộ xương của loài mãnh thú thời tiền sử. Sau đó cậu thấy nàng giống như thiên thần đang chớp mắt với đôi cánh sải rộng ở sau lưng. Và rồi, sau một khoảnh khắc, trông nàng đơn giản như thiếu nữ say giấc trên chiếc giường mướt xanh, đợi chờ người tình đến cuộn mình nằm bên cạnh.

“Đẹp rồi,” cô Mia gọi vọng xuống. “Chụp được rồi.” Cô lui trở vào trong và Pearl đứng dậy, hướng mắt sang bên đường, nhìn thẳng Moody, trái tim cậu thình thịch.

“Cậu muốn giúp không?” cô bé hỏi. “Hay cứ đứng đó?”

Moody sẽ không bao giờ nhớ về việc băng qua đường, việc dựng chiếc xe đạp trước vệ đường, hay đã tự giới thiệu bản thân. Vì trong cậu có cảm giác rằng mình vẫn luôn biết rõ tên cô gái này và rằng cô ấy cũng luôn biết đến mình, bằng cách nào đó, cậu và Pearl luôn biết về nhau.

Họ cùng nhau vác mớ khung giường lên cầu thang chật hẹp. Căn phòng khách trống trơn chỉ có chồng hộp nhỏ nằm trong góc và cái đệm lớn màu đỏ giữa sàn nhà.

“Lối này.” Pearl kéo mạnh bó thanh giường cao lên và dẫn Moody vào phòng ngủ lớn hơn, căn phòng chẳng có gì ngoài tấm đệm bông đôi sạch sẽ, sờn cũ đặt dựa vào một phía tường.

“Đây này,” cô Mia bảo, đặt hộp dụng cụ bằng thép dưới chân Pearl. “Con sẽ cần đến mấy cái này.” Cô cười với Moody, như thể cậu là một người bạn cũ. “Cứ gọi mẹ khi cần giúp nhé Pearl.” Sau đó cô trở vào hành lang, và ít phút sau họ nghe tiếng cứa phát ra từ chiếc hộp đang được tách mở.

Pearl sử dụng bộ dụng cụ với đôi tay thành thạo, cô bẩy các thanh vịn vuông góc với vách đầu giường, dựng chúng lên tì vào mắc cá chân trong khi cài chốt cố định lại. Moody ngồi cạnh hộp đồ nghề đang mở, quan sát cô gái với lòng nể phục. Trong nhà cậu, nếu đồ đạc gì hư hỏng thì mẹ sẽ gọi thợ đến sửa - bếp lò, máy giặt, máy nghiền rác - không thì, hầu hết những đồ dùng khác đều mang vứt hoặc mua mới. Cứ mỗi ba hay bốn năm, hoặc vào các đợt khuyến mại xuân, mẹ lại chọn một bộ đồ dùng mới cho phòng khách; bộ cũ sẽ được mang xuống phòng giải trí ở tầng hầm; còn những bộ cũ rích từ phòng giải trí sẽ được quyên cho nhà trẻ vị thành niên ở khu phía Tây, hoặc quyên cho trại nữ tạm trú ở khu trung tâm. Bố cậu không sửa xe qua loa ở ga-ra tại nhà; khi nó kêu lạch cạch hay rít gắt ông đều mang đến xưởng sửa chữa ô-tô Lusty Wrench, nơi mà bác Luther đã bảo dưỡng cho từng chiếc xe của nhà Richardson suốt hai mươi năm qua. Moody nhận ra rằng lần duy nhất cậu tự tay dùng bộ dụng cụ là ở phân xưởng hồi lớp Tám: chúng được xếp thành nhóm, một nhóm đo đạc, một nhóm cưa và một nhóm chà nhám, và khi kết thúc khóa học, mọi người nghiêm túc bắt vít các linh kiện lại với nhau để làm cái máy nhả kẹo nho nhỏ dạng hộp, cái máy sẽ thả ra cho bạn ba viên kẹo Skittles mỗi lần kéo cần gạt. Năm ngoái anh Trip cũng làm một cái tương tự ở xưởng, năm trước nữa chị Lexie cũng làm một hộp y hệt, sang năm tới Izzy mới làm thêm một cái, và mặc dù trải qua cả khóa học ở xưởng, mặc dù bốn cái máy nhả kẹo y hệt nhau được cất kỹ đâu đó trong nhà, thì Moody vẫn không chắc rằng nhà mình có ai làm được gì ngoài việc dùng cái tua vít Phillips.

“Sao cậu biết xài mớ đồ nghề này?” cậu hỏi trong khi chuyền cho Pearl thanh giường khác.

Pearl nhún vai. “Học từ mẹ tớ đấy,” cô nói, dùng một tay ghim thanh giường vào vị trí và chụp lấy cái đinh ốc trong mớ phụ tùng ở trên thảm.

Khi láp vào, đây rõ ràng là chiếc giường đôi kiểu cũ với các tay nắm ở đầu giường, loại giường Goldilocks[8] có thể đã từng nằm ngủ.

“Cậu lấy nó ở đâu thế?” Moody đặt nệm vào vị trí và bật nhún để thử.

Pearl đặt tua vít trở vào hộp đồ nghề rồi khóa lại. “Nhà tớ nhặt được nó.”

Cô ngồi lên giường, tựa lưng vào bậc tam cấp, hai chân duỗi theo chiều dài chiếc giường, nhìn chằm chằm lên trần nhà, giống như đang kiểm tra gì đó. Moody ngồi xuống đầu giường, sát cạnh chân cô. Những lá cỏ bé xíu mắc vào chân Pearl, vào bắp chân và viền nối của chiếc váy cô mặc. Người cô tỏa hương dầu gội hương hoa cỏ và mùi oải hương.

“Đây là phòng của mình,” đột nhiên Pearl nói, và Moody bật dậy. “Tớ xin lỗi,” cậu nói, với đôi má nóng bừng đỏ lự.

Pearl ngước nhìn với vẻ ngạc nhiên, như thể trong tích tắc cô đã quên rằng cậu ấy đang có mặt. “Ôi,” cô thốt lên. “Tớ không có ý đó.” Cô nhặt một mẩu cỏ từ các ngón chân và búng văng đi rồi hai người cùng nhìn ngọn cỏ rơi trên nền thảm. Khi bắt đầu nói tiếp, giọng cô nghe rất lạ. “Trước đây, tớ chưa bao giờ có phòng riêng.”

Lòng Moody đắn đo từng lời cô nói. “Ý là cậu luôn phải dùng chung phòng?” Moody cố tưởng tượng thế giới nào mà lại có chuyện này. Cậu cố tưởng tượng phải dùng chung phòng với anh Trip, người lúc nào cũng bày bừa vớ bẩn và tạp chí thể thao ra đầy sàn, người mà việc đầu tiên anh làm khi trở về nhà là bật đài phát thanh tầng số 93.5 Mhz y như rằng thiếu cái giọng trầm cực kỳ ngu ngốc đó thì trái tim anh ta chắc ngưng đập. Vào kỳ nghỉ, gia đình Richardson lúc nào cũng đặt ba phòng: một phòng cho vợ chồng Richardson, một cho Lexie với Izzy và một cho Trip với Moody - vào buổi sáng Trip sẽ cười nhạo Moody vì đã nói mớ trong lúc ngủ. Trong khi Pearl và mẹ cô ấy thì phải dùng chung phòng - Moody gần như không tin nổi còn có người nghèo đến như vậy.

Pearl lắc đầu. “Trước đây hai mẹ con tớ làm gì có nhà riêng,” cô nói, và Moody kiềm chế lòng thôi thúc muốn nói với cô rằng đây nào phải nhà, chỉ phân nửa căn nhà mà thôi. Cô đưa đầu ngón tay lần theo chỗ lún trên chiếc đệm giường, xoay vòng ở mỗi chỗ trũng.

Nhìn Pearl, Moody không tài nào hiểu hết những gì mà cô ấy đang nhớ lại: cái lò khó chịu ở Urbana, hai mẹ con phải đánh diêm mới có thể đốt lò; căn hộ lầu năm không có thang máy ở Lafayette, khu vườn đầy cỏ dại ở Ocala và căn hộ mù khói ở Muncie, nơi người thuê nhà trước đây đã thả con thỏ nuôi chạy khắp phòng khách, để lại những lỗ gặm loang lổ cùng nhiều vết bẩn đáng ngại. Và ngôi nhà cho thuê lại ở Ann Arbor, cách đây nhiều năm, đó là nơi cô không muốn rời đi nhất, vì gia đình sống ở đó có một cô con gái chỉ lớn hơn cô một hoặc hai tuổi, suốt sáu tháng cùng mẹ ở đó, ngày nào cô cũng chơi với bộ sưu tập tượng ngựa của cô bé may mắn kia, cùng ngồi vào chiếc ghế bành cỡ trẻ em của cô bé ấy, cùng nằm ngủ trên chiếc giường có màn che màu tuyết trắng của họ, đôi khi, vào giữa đêm khi mẹ ngủ rồi, cô bật đèn đầu giường và mở tủ của cô ấy rồi thử đầm, thử giày dù những thứ ấy đều khá rộng so với cô. Ảnh của cô bé ấy dán khắp nơi trong nhà - trên mặt lò sưởi, trên chiếc bàn trà nơi phòng khách, một bức lớn ở cầu thang, tấm ảnh điêu khắc chân dung tuyệt đẹp tạo dáng bàn tay giữ lấy cằm - và thật dễ dàng để Pearl giả vờ rằng đây là nhà của cô, đồ đạc đó là của cô, phòng của cô, cuộc sống của cô. Khi hai vợ chồng họ cùng cô con gái trở về sau kỳ nghỉ dài (sabbatical) Pearl thậm chí không nhìn được cô gái kia, làn da rám nắng, vóc người gầy khỏe và giờ đã quá cao so với những bộ đầm trong tủ. Pearl đã khóc suốt chặng đường đến Lafayette, nơi hai mẹ con sẽ ở lại trong tám tháng tới, thậm chí chú ngựa nhỏ dáng nhảy màu vàng, có bờm và đuôi sáng mà cô trộm từ bộ sưu tập của cô gái kia cũng không làm cô thoải mái, dù cô có bồn chồn chờ đợi thì chẳng bao giờ có ai mắng vốn gì cho việc mất đồ, và còn gì thất vọng cho bằng việc lấy cắp đồ của người ta để làm của để dành mà họ thậm chí chẳng nhận ra đã mất những gì? Mẹ của cô bé ấy chắc hẳn đã biết, vì thế họ không cho thuê lại nữa. Pearl không than phiền thêm chi, bởi bây giờ cô biết bản thân thích một căn hộ trống hơn là căn hộ chất toàn đồ của người khác.

“Tớ và mẹ đã chuyển nhiều chỗ. Bất cứ khi nào mẹ tớ cao hứng.” Cô nhìn Moody chằm chằm, gần như trừng trừng, Moody thấy đôi mắt ấy thẫm xanh màu ngọc bích, đôi mắt mà cậu từng nghĩ nó có màu nâu lục nhạt. Khoảnh khắc ấy, đột nhiên Moody hiểu thấu những điều xảy ra vào sáng hôm ấy: chúng chia tách cuộc đời cậu thành nửa trước và nửa sau, và cậu sẽ luôn so sánh hai đoạn đời ấy với nhau.

“Cậu định làm gì vào ngày mai hở Pearl?” Moody hỏi.

❀ ❀ ❀

[1] Từ gốc: “duplex” - ở Mỹ, đây là từ dùng để chỉ một căn nhà có hai tầng, có cửa hông, có cầu thang bên hông, mỗi tầng sẽ có một hộ gia đình riêng biệt sinh sống, đây thường là những căn nhà dùng cho thuê. Ở đây, chúng tôi tạm dịch là căn hộ hai tầng.

[2] Phong cách Tudor là sự pha trộn giữa Phục hưng và Gothic thời những năm 1500, có các đặc điểm chính: tường xây gạch mộc có viền bằng khung gỗ, có nhiều cửa sổ nhỏ, có nhiều mái vát lợp đá xanh, ống khói bằng gạch cao và khá cầu kỳ, cửa chính nhỏ, chắc chắn và thường nằm cân đối.

[3] Phiếu giảm giá đôi (double coupon): hình thức giảm giá bằng cách tăng gấp đôi giá trị mệnh giá trên phiếu giảm giá, trong một khoảng thời gian cụ thể và áp dụng cho các sản phẩm cụ thể với mức giá trần cụ thể tùy theo từng cửa hàng áp dụng hình thức giảm giá này.

[4] Đấu giá kín (silent auction): thuật ngữ đấu giá, hình thức này được xem là biến thể của đấu giá công khai truyền thống, khi đó giá thầu được viết lên phiếu rồi bỏ vào thùng kín. Khi kết thúc phiên đấu giá, thùng phiếu được mở và công khai giá thầu thắng cuộc.

[5] Từ gốc: “McMansion”, chỉ ngôi nhà có diện tích vô cùng rộng, trần nhà cao, nhiều phòng, mỗi phòng có diện tích rất rộng, nhiều cửa sổ, cầu thang lớn, có ba hoặc bốn nhà để xe. Ngôi nhà được trang bị không gian nội ngoại thất đặc biệt sang trọng và tiện nghi.

[6] AP (Advanced Placement) gồm các khóa học tương ứng với nội dung đào tạo năm đầu của Đại học, cho phép học sinh làm quen, nhập môn và có cơ hội lấy được tín chỉ Đại học ngay từ khi còn ở bậc phổ thông. Kỳ thi AP được tổ chức một lần vào tháng Năm dưới dạng trắc nghiệm và tự luận, kéo dài từ 3 đến 4 giờ. Thang điểm của các bài thi là từ 1 đến 5, với 3 là điểm đạt yêu cầu đối với hầu hết các trường.

[7] Tetris: một trò chơi điện tử xếp hình, đầu tiên được Alexey Pajitnov thiết kế và phát triển vào ngày 6 tháng 6 năm 1984, trong lúc ông đang làm việc tại Trung tâm Dorodnitsyn của Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô tại Moskva.

[8] Goldilocks: cô bé nghịch ngợm trong truyện cổ Grim Goldilocks và ba chú gấu. Cỡ giường Goldilocks để chỉ giường gỗ anh đào cỡ nhỏ.

Người dịch: Lâm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.