Những Đốm Lửa Lưu Lạc

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18

❊ ❊ ❊

Lòng cảm thông của bà Richardson dành cho Bebe chỉ kéo dài đến ngày hẹn ăn trưa với bà Elizabeth Manwill.

“Betsy à,” bà nói khi bị kéo vào văn phòng. “Đã quá lâu rồi. Lần cuối cùng chúng ta gặp nhau là khi nào nhỉ?”

“Tôi không nhớ nổi luôn. Có lẽ là bữa tiệc trong kỳ nghỉ hè năm ngoái. Bọn trẻ thế nào rồi?”

Bà Richardson dành chút thời gian để khoe mẽ mấy đứa con của mình: dự định vào đại học Yale của Lexie, trận đấu bóng vợt gần đây của Trip, những điểm số giỏi của Moody. Như thường lệ, bà tuyệt nhiên che đậy về chuyện của Izzy, nhưng bà Elizabeth Manwill không nhận ra điều đó. Tối hôm qua, bà đã quyết định là không nói, và dặn lòng nhất định không nói.

“Năm tới trong nhà chỉ còn có ba đứa, sẽ lạ lắm cho xem, “ bà Richardson nói. “Và, tất nhiên, anh Bill rất kiệt sức với vụ kiện này. Chị có nhớ Linda và David đã gặp ở những bữa tiệc của nhà chúng tôi không? Linda là người mà vài năm trước đã đề nghị giữ chó cho chị đó. Chúng tôi đều hy vọng chuyện này sẽ sớm kết thúc, và họ sẽ nuôi dạy em bé thật tốt.”

Bà Elizabeth đứng dậy. “Đi ăn trưa luôn nhé?” Bà nói, với tay lấy túi xách. Bà Richardson không rời khỏi chỗ ngồi.

“Tôi cần ý kiến của chị trong chuyện này, Besty à,” bà Richardson nói. Một tay đẩy cửa đóng lại. Bây giờ người ta chỉ nhìn thấy họ qua các khe hẹp ở hai bên cánh cửa. Bà Elizabeth ngồi xuống một lần nữa và liếc nhìn bà Richardson, như thể hy vọng bà ấy quên đi thứ mình muốn.

“Elena này,” bà nói. “Tôi xin lỗi. Tôi không làm được.”

“Betsy à,” bà Richardson khẽ nói, “Liếc nhanh một cái. Vậy thôi. Chỉ để biết liệu có tìm ra điều gì hay không thôi.”

“Không phải là tôi không muốn giúp chị...”

Bà Richardson giơ tay lên. “Được rồi. Tốt thôi, Best. Không, thực sự là vậy. Quên nó đi.” Bà mở túi xách và rút ra một thỏi son màu vàng. “Nhưng tôi phải thừa nhận là tôi rất ngạc nhiên. Rằng tình cảm bạn bè bao nhiêu năm, mà chị vẫn không tin tôi.”

“Không phải vấn đề tin hay không,” bà Elizabeth Manwill bắt đầu, nhưng bà Richardson vẫn tiếp tục như thể bà không bị ngắt lời.

“Không đời nào tôi đặt chị vào bất cứ rủi ro gì,” bà nói. “Tôi sẽ không bao giờ sử dụng thông tin này. Besty à, ý tôi là, chúng ta đã kề vai sát cánh bên nhau bao nhiêu lần rồi? Chúng ta đã làm được cho nhau bao nhiêu chuyện rồi?” Với những nét mảnh tỉ mỉ, bà tô viền môi rồi đậy nắp son lại. “Tôi chỉ nghĩ rằng giữa chúng ta có thể cho và nhận nhiều hơn thế chứ.”

Bà Elizabeth im lặng. Bà hẳn biết rằng, trong tất cả mọi người, thì Elena Richardson không bao giờ dừng lại nếu không có được thứ mà bà muốn. Với vài thao tác gõ phím nhanh, bà đã lấy ra một danh sách bệnh nhân. “Đây là danh sách ba tháng qua. Ai cũng có ghi thủ tục ở đây, phẫu thuật hoặc chăm sóc y tế.” Bà đẩy chiếc ghế của mình ra khỏi bàn. “Tôi sẽ vào nhà vệ sinh trong vài phút,” bà nói. “Dĩ nhiên tôi phải nói trước là chị đừng nhìn vào bất kỳ thông tin nhạy cảm nào trên máy của tôi. Nhưng nếu chị làm vậy, tất nhiên, tôi cũng không biết được.” Bà Elizabeth bước ra khỏi phòng làm việc, để cửa mở, và bà Richardson cúi xuống màn hình và cuộn nhanh qua danh sách. Không có tên Bebe Châu. Nhưng có một cái tên ở cuối danh sách, vào đầu tháng Hai, đã thu hút sự chú ý của bà Richardson. Là Pearl Warren.

Sau bốn phút bà Elizabeth Manwill từ nhà vệ sinh quay trở lại, bà Richardson đã trở về chỗ ngồi của mình, điềm tĩnh và thản nhiên ngoại trừ một tay nắm chặt tay vịn ghế.

“Cảm ơn, Betsy. Tôi biết tôi có thể trông cậy vào chị mà.” Bà xếp mấy tờ giấy trên bàn cho ngay ngắn và nói, “Rồi, chúng ta đi ăn trưa nhé?” Vừa nhấm nháp món bánh saag paneer và món gà tikka masala, bà cố gắng hết sức để nói chuyện phiếm. Nhưng kết thúc cuộc trò chuyện mới là gượng gạo nhất. Trong khi đó, bà Elizabeth Manwill đã hối hận khi quyết định để cho bà Richardson lén nhìn vào hồ sơ. Khi đang dùng nĩa xiên một miếng thịt gà, bà nghĩ, giữa họ lúc nào cũng vậy. Bằng sức thu hút, bằng lòng tốt của mình, Elena Richardson luôn nói với bạn những điều tử tế, khiến cho bạn yêu mến, và sau đó khi bà ta muốn thứ gì đó thì bạn không thể chối từ. Chao ôi, đây là lần cuối cùng. Bây giờ họ trả lại cho nhau. Thực tế, hôm nay là bữa ăn trưa cuối cùng của hai người đàn bà, mặc dù họ sẽ vẫn thân thiết với nhau trong suốt quãng đời còn lại.

Vậy là bé Pearl ngây thơ có một bí mật! Bà Richardson nghĩ về điều đó trên đường về văn phòng. Dĩ nhiên, trong đầu bà biết rõ ai là bố đứa bé. Từ lâu bà đã nghi ngờ mối quan hệ của Pearl và Moody khi ngày càng thân thiết - ở cái tuổi này, một thằng con trai và một đứa con gái không dành quá nhiều thời gian bên nhau nếu không xảy ra chuyện gì đó - và bà kinh hãi. Làm sao chúng có thể bất cẩn đến thế? Bà biết Shaker xem trọng việc giáo dục giới tính ra sao; hai năm trước khi bà còn giữ chức trong ủy ban hội đồng trường, thì một phụ huynh phàn nàn rằng trong lớp sức khỏe, con gái bà đã bị giáo viên yêu cầu thực hành tròng bao cao su vào quả chuối. Tuổi teen sẽ có quan hệ tình dục, bà Richardson đã nói vậy; chuyện tuổi tác, chuyện hormone, chúng ta không thể cấm cản được; điều tốt nhất chúng ta có thể làm là dạy chúng biết giữ an toàn trong chuyện này. Tuy nhiên, giờ đây quan điểm đó có vẻ cực kỳ ngây thơ. Làm sao chúng có thể vô trách nhiệm như vậy? Bà tự hỏi. Cấp bách hơn: Làm sao Moody giấu được bà chuyện này? Làm sao chuyện này có thể xảy ra ngay trước mặt bà?

Trong một lúc bà cân nhắc đến việc sẽ ghé trường, kéo hai đứa chúng nó ra khỏi lớp, yêu cầu chúng giải thích sự ngu ngốc này. Rồi bà quyết định, đừng làm ầm ĩ sẽ tốt hơn. Người ta sẽ biết hết. Bà chắc chắn, con gái ở Shaker này đôi khi vẫn phá thai - rốt cuộc chúng chỉ mới tuổi teen - nhưng tất nhiên là tất cả đều được giữ kín. Chẳng ai muốn vạch áo cho người xem lưng cả. Thiên hạ sẽ bàn tán, và chính bà cũng biết tin đồn sẽ loan đi như thế nào. Bà biết, loại chuyện này sẽ cản trở một đứa con gái ra sao. Nó sẽ vấy bẩn cuộc sống của họ. Tối hôm đó, ngay khi về nhà, bà sẽ nói chuyện với Moody.

Quay lại văn phòng của mình, bà vừa mới cởi áo khoác thì điện thoại reo.

“Anh Bill,” bà nói. “Chuyện gì vậy?”

Giọng của ông Richardson nghẹn lại, chất chứa đầy nỗi hỗn loạn bên trong. “Thẩm phán Rhinebeck vừa ra quyết định. Một tiếng trước, ông ấy mới gọi mọi người. Một sự ngạc nhiên cho tất cả chúng ta.” Ông hắng giọng. “Con bé sẽ ở với David và Linda. Chúng ta thắng rồi.”

Bà Richardson ngồi lọt thỏm vào ghế. Lindy hẳn phải hạnh phúc lắm, bà nghĩ. Cùng lúc đó, cảm giác thất vọng như con rắn nhỏ đang luồn lách trườn qua lồng ngực. Bà mong khám phá ra quá khứ của Bebe, để phóng ra thứ vũ khí bí mật có khả năng kết thúc mọi chuyện trong êm đẹp. Nhưng rốt cuộc bà không cần nó nữa. “Thật tuyệt vời.”

“Anh chị ấy rất vui. Tuy nhiên, Bebe Châu rất khó chấp nhận. Cô ấy đã hét lên. Như ai đó cắt mất chân cô. Nhân viên chấp pháp phải hộ tống cô ấy ra ngoài.” Ông tặc lưỡi. “Người đàn bà đáng thương. Anh không ngăn được cái cảm giác thương hại cho cô ấy.”

“Ngay từ đầu cô ấy đã từ bỏ đứa bé,” bà Richardson nói. Đó chính xác là những gì mà bà đã nói trong sáu tháng qua, nhưng lần này nghe có vẻ ít thuyết phục hơn. Bà hắng giọng. “David và Linda đâu rồi?”

“Họ đang sửa soạn cho một cuộc họp báo. Các nhóm tin đã nắm bắt được tin tức này và đang xuất hiện ở khắp mọi ngõ ngách, vì vậy bọn anh nói rằng sẽ có công bố lúc ba giờ. Vậy nên, anh phải đi rồi.” Ông Richardson thở dài thườn thượt. “Nhưng xong rồi. Giờ con bé là của họ. Họ chỉ phải chịu đựng chuyện này cho đến khi mọi thứ chìm vào quên lãng, khi đó cả nhà họ có thể quay trở lại cuộc sống bình thường.”

“Thật tuyệt vời,” bà Richardson nói thêm lần nữa. Chuyện của Pearl và Moody đè trên vai như cái túi nặng, và bà cực kỳ muốn buột miệng nói ra với chồng mình, để chia sẻ phần nào gánh nặng, nhưng bà gạt phăng đi. Giờ không phải lúc, bà tự nhủ. Tối hôm đó, bà sẽ nói chuyện với Moody. Và một khi bà biết được sự thật từ miệng cậu, có lẽ đó cũng là lúc thích hợp để cậu tự nói với bố mình.

“Em sẽ xuống tòa,” bà nói. “Anh nói là ba giờ, phải không?”

Cuộc họp báo kéo dài hơn dự kiến - gần như mọi trang tin tức đều đặt câu hỏi cho gia đình McCullough, và gia đình McCullough, vì hoa mắt trước sự may mắn của mình, đã ở lại để trả lời tất cả các câu hỏi của cánh nhà báo. Họ có cảm thấy nhẹ nhõm với thử thách vừa qua hay không? Có, tất nhiên rồi. Kế hoạch trong vài ngày tới của họ là gì? Họ sẽ dành thời gian cho gia đình, giờ Mirabelle đã có nhà. Họ đang mong chờ cuộc sống quây quần bên nhau như một gia đình. Họ sẽ nấu gì trong bữa ăn đầu tiên khi Mirabelle về nhà? Bà McCullough trả lời: mì ống và pho-mát, món con bé thích nhất. Khi nào thì hoàn thành thủ tục nhận con nuôi? Sớm thôi, họ hy vọng là như vậy.

Một phóng viên đến từ Kênh số 19, đứng phía sau đám đông, đã giơ tay lên. Họ có dành cho Bebe Châu chút cảm thông nào hay không, cho người đàn bà không bao giờ được gặp lại con gái mình?

Bà McCullough ngây người. “Chúng ta hãy nhớ rằng,” bà nói một cách gay gắt, “Bebe Châu không thể chăm sóc cho Mirabelle, rằng cô ta đã bỏ rơi con mình, rằng cô ta đã từ bỏ trách nhiệm làm mẹ của mình. Tất nhiên bất cứ ai trải qua chuyện như vậy cũng đều làm tôi buồn. Nhưng điều quan trọng cần phải nhớ là tòa án đã quyết định rằng anh David và tôi là bố mẹ thích hợp nhất của Mirabelle. Tôi nghĩ rằng phán quyết này có trọng lượng, phải không?”

Vào lúc họp báo kết thúc, và gia đình McCullough đã đưa Mirabelle về nhà an toàn, lúc đó cũng đã gần năm giờ rưỡi. Vì sự chính trực trong báo giới, nên bà Richardson không thể viết bài cho tờ Sun Press theo ý mình; thay vào đó, Tom Levi đã được chỉ định là người viết bài. Ở vị trí của mình, bà Richardson có thể giám sát bài đăng thường lệ của Tom - mảng hoạt động chính trị của thành phố.

“Gọi pizza nhé,” bà nói với Lexie qua điện thoại. “Tiền trong ngăn kéo dưới cuốn danh bạ đấy. Mẹ sẽ về nhà sau khi sắp xếp mớ tài liệu. Chắc là tám giờ rưỡi. Bố con đến khuya mới về nhà - ông ấy đang soạn lại giấy tờ sau phiên xét xử.”

Thực tế, gần chín giờ bà Richardson mới về đến nhà. Mấy đứa con của bà đều tản ra ôm thiết bị giải trí của chúng. Xe của Lexie và Trip đã không còn, và trên quầy bà Richardson thấy một lời nhắn: Mẹ, con đến nhà Serena, sẽ về - 11 L. Trip không để lại lời nhắn nào, nhưng đó là chuyện thường: Trip không bao giờ nhớ chuyện để lại ghi chú hay gọi điện. Thông thường đây là nguồn cơn gây khó chịu, nhưng lần này bà Richardson thấy lòng nhẹ nhõm: khi có quá nhiều người trong nhà, thường sẽ có một người nghe thấy, mà tối nay bà không muốn người nào nghe được chuyện này.

Trên lầu, bà thấy cửa phòng Izzy đã đóng, âm nhạc rền rĩ bên trong. Từ sớm, Izzy đã đón nhận tin về quyết định của thẩm phán bằng thái độ im lặng lạ thường. Cô lên lầu khi pizza còn chưa giao đến và ở trong phòng từ đó đến giờ, nghĩ về cô Mia và Bebe, ắt hẳn họ phải đau lòng đến thế nào. Một phần trong cô muốn thét lên, vì vậy cô đã cho đĩa CD Tori Amos vào đầu đĩa, mở to âm lượng lên, và để nó thay cô hét vang. Và một phần trong cô muốn khóc - mặc dù cô chưa từng khóc, không khóc trong nhiều năm. Cô nằm ngay giữa giường và bấm móng tay sâu vào lòng bàn tay mạnh đến mức hằn lên những dấu trăng khuyết, để ngăn nước mắt đừng rơi. Khi mẹ cô bước qua ngưỡng cửa và xuống hành lang, đến phòng của Moody, thì cô đã nghe album này đến bốn lần và mới bắt đầu hát lại lần thứ năm.

Thường ngày, bà Richardson đã mở cửa, bảo Izzy giảm âm lượng, ném ra vài lời phê bình miệt thị rằng dường như âm nhạc của Izzy lúc nào cũng thảm sầu ai oán. Tuy nhiên, hôm nay, trong đầu bà có chuyện quan trọng hơn. Thay vào đó, bà đi xuống hành lang đến phòng của Moody và gõ cửa.

“Mẹ cần nói chuyện với con,” bà nói.

Moody nằm ườn trên giường, guitar nằm bên cạnh, đang viết nguệch ngoạc vào sổ. “Gì vậy?” Cậu hỏi, chẳng thèm nhìn lên. Cậu cũng không buồn ngồi dậy khi mẹ bước vào, điều này càng làm bà cáu tiết. Bà đóng cửa lại, bước đến giường và giật mạnh quyển sổ khỏi tay cậu.

“Con phải nhìn mẹ khi mẹ nói chuyện với con,” bà nói. “Con có biết là mẹ đã phát hiện ra. Con nghĩ mẹ sẽ không biết hay sao?”

Moody nhìn chằm chằm. “Phát hiện ra cái gì?”

“Con tưởng mẹ bị mù à? Con nghĩ rằng ngay cả mẹ cũng không nhận ra sao?” Bà Richardson đóng sầm quyển sổ. “Suốt thời gian qua hai đứa bây đã vụng trộm. Mẹ không ngu ngốc đâu, Moody à. Tất nhiên mẹ biết tụi bây đã quyết định chuyện gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ rằng tụi bây sẽ có trách nhiệm hơn một chút.”

Trong phòng Izzy, nhạc đã nhấn tắt, nhưng cả Moody lẫn mẹ cậu đều không nhận ra.

Moody từ từ ngồi dậy. “Mẹ đang nói cái gì vậy?”

“Mẹ đã biết,” bà Richardson nói. “Về chuyện của Pearl, về đứa bé.” Vẻ mặt bị sốc của Moody, sự im lặng sững sờ của cậu, đã cho bà biết tất cả. Bà nhận ra rằng, cậu không biết. “Con bé không nói với con sao?” Ánh mắt của Moody từ từ không còn tập trung vào mặt bà nữa, như một chiếc thuyền trôi dạt. “Nó không nói với con,” bà Richardson nói, ngồi sụp xuống giường bên cạnh cậu. “Pearl đã phá thai.” Lòng bà dâng tràn cảm giác tội lỗi. Bà tự hỏi, nếu con trai bà biết thì liệu mọi thứ có khác đi không? Khi Moody vẫn không nói gì, bà Richardson cúi xuống nắm tay cậu. “Mẹ đã nghĩ là con biết,” bà nói. “Mẹ cho rằng con đã trao đổi và quyết định kết thúc.”

Sau đó, khiến bà ngạc nhiên, Moody từ từ, lạnh lùng rút tay ra. “Con nghĩ là mẹ nói sai người rồi,” cậu nói. Đến lượt bà Richardson bị bất ngờ. “Giữa con và Pearl chẳng có gì cả. Đứa bé không phải của con.” Cậu bật cười, ho khan một tiếng. “Sao mẹ không đi hỏi anh Trip đi? Anh ta là kẻ đang dính vào Pearl đấy.”

Cậu với tay lấy lại quyển sổ từ trong lòng mẹ mình và mở nó ra, tập trung vào chữ viết tay của mình trên trang giấy để ngăn nước mắt rơi. Bây giờ đó là sự thật dành cho cậu, theo cách mà trước giờ chưa từng xảy ra. Pearl đã ở bên Trip, anh ta đã làm tình với cô và cô chấp nhận, rồi chuyện này đã xảy ra. Tuy nhiên, bà Richardson đã không nhận ra. Bà ngơ ngác đứng dậy và đi xuống hành lang trở về phòng mình để suy nghĩ lại. Trip ư? Bà nghĩ. Có thể như thế sao? Cả bà và Moody đều không nhận ra sự im lặng đột ngột từ phòng của Izzy, rằng cánh cửa phòng Izzy giờ đã hé ra một chút, rằng Izzy cũng đang ngồi trong sự im lặng sững sờ, tiếp nhận những gì cô nghe được.

Bên kia thành phố, trong ngôi nhà nhỏ ở đường Winslow, Bebe đang khóc ở bàn bếp của cô Mia suốt buổi chiều. Ngay sau khi phán quyết được công bố, cô nghe thấy một nỗi kinh hoàng khủng khiếp, sắc lẹm đến mức cô ép chặt hai tay mình lên tai và cuộn mình thành quả bóng. Chỉ khi viên chấp pháp nắm tay để hộ tống cô ra khỏi phòng, thì cô mới thật sự nhận ra rằng tiếng than khóc đang phát ra từ chính miệng mình. Viên chấp pháp, có con gái trạc tuổi Bebe, đưa cô đến một phòng chờ nhỏ và ấn vào tay cô một tách cà-phê âm ấm. Bebe đã uống ực, từng ngụm đầy, cắn răng sâu vào vành ly nhựa mỗi lần cảm thấy tiếng hét trong cổ họng chực trào ra, và khi cà-phê cạn, chiếc cốc gần như bị cắt thành từng mảnh. Cô thậm chí không nói được lời nào, chỉ có một cảm giác, một cảm giác trống rỗng khủng khiếp, như thể mọi thứ bên trong đã bị múc sống ra.

Khi uống xong ly cà-phê và bình tĩnh lại, viên chấp pháp nhẹ nhàng rút những mảnh nhựa khỏi tay cô và ném chúng đi. Sau đó ông dẫn cô ra bằng lối sau, có chiếc taxi đang đợi ở đó. “Đưa cô ấy đến bất cứ nơi nào cô ây muốn,” ông nói với tài xế, rút ví mình đưa cho anh tài xế ba tờ hai mươi đô-la. Ông nói với Bebe, “Con sẽ ổn thôi, con gái yêu quý. Con sẽ ổn mà. Chúa hành sự theo những cách bí ẩn. Con cứ ngẩng cao đầu lên nhé.” Nói rồi ông đóng cửa xe taxi và quay vào trong, lắc đầu. Bằng cách này, Bebe có thể tránh được toàn bộ máy quay và đám phóng viên săn tin đang xếp hàng ở lối vào phía trước, cuộc họp báo mà gia đình McCullough chuẩn bị cho chiều hôm đó, các phóng viên hy vọng sẽ hỏi cô ấy rằng liệu, vì quyết định này, cô sẽ thử và có một đứa con khác hay không. Chiếc taxi chạy nhanh trên Đại lộ Stokes hướng về Shaker Heights, và Bebe, chống tay lên đầu rồi tựa vào cửa sổ, đã bỏ lỡ lần cuối cùng được thoáng nhìn con gái, từ phòng chờ con bé được một nhân viên xã hội DCF đưa xuống hành lang và đặt vào vòng tay chờ đợi của bà McCullough.

Bốn mươi lăm phút - sau khi nhận thông tin - taxi đỗ trước căn nhà nhỏ trên đường Winslow. Cô Mia vẫn còn ở nhà, cố gắng hoàn thành tác phẩm đang làm dở, cô nhìn Bebe một cái và hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Sau đó cô Mia sẽ biết hết chi tiết - một số từ chính Bebe, khi cô ấy bình tĩnh lại; một số từ bản tin phát sóng vào tối hôm đó và các bài báo sẽ in vào sáng hôm sau. Lúc này, cô chỉ đơn giản vòng tay ôm lấy Bebe, dẫn Bebe vào bếp, đặt một tách trà nóng trước mặt cô, và để cô khóc.

Bebe vẫn ở đó khi Pearl về nhà vào khoảng giờ ăn tối, gần như cả buổi chiều Pearl đi chơi với Trip trong xe của anh ta, sau đó đến nhà Richardson xem TV với Moody, Lexie và Izzy. “Mẹ sẽ không về nhà ăn tối,” Lexie đã thông báo cho mọi người, rồi gác điện thoại. “Vụ án kết thúc. Nhà McCullough đang giữ Mirabelle.” Cố nhấn nút mở lại âm lượng TV, và ba đứa trẻ ngồi đó, xem chương trình Judge Judy[1] trong sự im lặng gượng gạo, cho đến khi Pearl nói cô phải về. “Có muốn đến Yours Truly không?” Cô hỏi Moody. Thực tế, cậu muốn đi, nhưng cậu vẫn còn giận cô, và cậu trả lời, “Không chắc” rồi nhặt cái điều khiển từ xa, bấm chuyển kênh, cho đến khi cô rời đi.

“Con thực sự rất tiếc, cô Bebe ạ,” Pearl nói vậy khi bước vào bếp. “Con... Con rất tiếc.” Bebe chẳng nói gì, thậm chí không nhìn lên, và Pearl biến vào phòng ngủ rồi đóng sầm cửa lại.

Cô Mia và Bebe ngồi im lặng một lúc, cho đến khi trời khá tối và cuối cùng Bebe cũng rời đi.

“Đứa bé vẫn mãi là con em,” Mia nói với Bebe, nắm lấy tay cô. “Em vẫn mãi là mẹ nó. Không điều gì thay đổi được chuyện đó.” Cô hôn lên má Bebe và để Bebe đi. Suốt nãy giờ, Bebe không nói gì, cũng như cô không nói gì cả, và cô Mia tự hỏi liệu có nên hỏi Bebe đang nghĩ gì hay không, liệu có nên giữ em ấy ở lại không, liệu Bebe sẽ ổn chứ. Cô nghĩ rằng, ở vị trí của em ấy, em ấy không muốn bị buộc phải nói chuyện, và sự tế nhị đã thắng thế. Về sau, cô nhận ra rằng Bebe ắt đã tiếp nhận chuyện này theo cách khác. Rằng Bebe ắt đã tiếp nhận, vài chữ thôi, việc một sự chấp thuận đã được thông qua. Cô Mia tự hỏi nếu cô hối thúc hơn thì liệu Bebe có nói cho cô biết em ấy đang lên kế hoạch gì hay không, và liệu cô Mia có cố ngăn Bebe lại hay không, hoặc nếu cô biết, liệu cô có giúp hay không. Thậm chí nhiều năm về sau, cô cũng không bao giờ có được đáp án khiến bản thân hài lòng.

Sáng thứ Sáu bà Richardson đi làm sớm, sớm hơn nửa tiếng để tránh chạm mặt với bất kỳ đứa con nào của bà. Đêm hôm trước, Lexie về nhà gần nửa đêm, thậm chí Trip còn về trễ hơn, và dù thường ngày bà đã rầy la tụi nó chuyện về trễ; thay vào đó, nay bà ở yên trong phòng, phớt lờ việc chúng cố rón rén bước lên lầu. Bà đang cố gắng hiểu thông mọi chuyện. Cảm thấy căng thẳng hơn, bà cho phép mình uống thêm ly vang trắng, ly rượu giờ đã ấm. Trip và Pearl sao? Tất nhiên, bà hiểu cớ sao Pearl phải lòng Trip - các cô gái thường như vậy - nhưng Trip có thể nhìn thấy gì nơi Pearl thì lại là chuyện khác. Bà chìm vào giấc ngủ cùng nỗi băn khoăn về chuyện đó, và thức dậy cũng chẳng tỏ tường hơn. Bà mông lung suy nghĩ khi lùi xe khỏi ga-ra, thằng nhỏ này không phải kiểu con trai thường phải lòng mấy đứa con gái nghiêm túc, trí thức giống như Pearl. Thậm chí là mẹ nó, bà cũng phải thừa nhận chuyện này, rằng ngay cả bà còn thấy yêu mến nó. Thằng nhỏ luôn chuộng hình thức, vẻ đẹp, sự rạng ngời của tụi con gái, thằng con trai nông cạn, và xét về hình thức bà không tài nào hiểu nổi điều gì ở Pearl đã thu hút thằng nhỏ như vậy. Vì Pearl có vẻ đẹp tiềm ẩn, hay là Trip? Suy nghĩ này làm bà bận tâm suốt quãng đường lái xe tới văn phòng.

Cả ngày bà cứ nghĩ đến chuyện phải làm sao. Đối mặt với Trip ư? Đối mặt với Pearl ư? Hay đối mặt với cả hai? Hai vợ chồng bà không đem chuyện yêu đương của tụi nhỏ ra nói - khi Lexie và Izzy mới có kinh nguyệt, bà đã có lần nói chuyện với hai đứa, về trách nhiệm của bản thân. (“Những điểm yếu”, Izzy đã chỉnh lại mẹ, và rời khỏi phòng.) Nhưng nói chung bà thích giả định rằng các con mình đủ thông minh để tự đưa ra quyết định, rằng trường học đã trang bị cho chúng những kiến thức cần thiết. Nếu chúng đã làm chuyện ấy - như cách nghĩ hoa mỹ tránh né của bà - thì bà không cần, cũng không muốn biết. Chẳng lẽ đứng trước Trip và cô bé đó, bà sẽ huỵch toẹt với chúng rằng, mẹ đã biết tụi bây đang làm gì - và điều đó sẽ làm chúng mất mặt chẳng khác gì đem lột trần hai đứa.

Cuối cùng, lúc xế trưa, bà nhận ra mình đã lấy xe và lái đến căn nhà nhỏ trên đường Winslow. Bà biết, Mia có ở nhà, đang sáng tác nghệ thuật. Bà Richardson mở khóa cánh cửa hông dùng chung và tiến vào trong mà không hề gõ cửa. Suy cho cùng thì đây là nhà bà, không phải của Mia; với tư cách là chủ nhà, bà có quyền làm như vậy. Căn hộ ở tầng dưới im ắng; chưa đến một giờ chiều và ông Dương vẫn còn ở chỗ làm. Tuy nhiên, ở tầng trên, bà nghe tiếng Mia trong nhà bếp: tiếng ấm nước kêu đùng đùng sắp sôi, tiếng còi rít lên rồi lắng xuống khi có người nhấc nó ra khỏi bếp. Bà Richardson bước trên bậc thang lên tầng hai, để ý tấm vải sơn lót sàn vừa bắt đầu bong góc khi giẫm chân lên. Bà nghĩ, mấy cái này cần phải sửa lại rồi. Bà phải tháo ra và làm lại toàn bộ cầu thang - không, là toàn bộ căn nhà.

Cửa hộ tầng trên không khóa lại, và cô Mia ngước nhìn, giật mình, khi bà Richardson bước vào căn bếp.

“Em không biết có người đến,” cô nói. Ấm nước rền rĩ yếu ớt khi cô đặt nó trở lại bếp nóng. “Chị có cần gì không?” Bà Richardson nhận ra, Mia đang mang đôi dép lê cũ mềm màu hồng, cực kỳ giống đôi dép mà bà Richardson đã mang mỗi tối sau khi tháo đôi giày cao gót và thay xuống bộ đồ đi làm, và lòng bà Richardson bỗng dâng lên lòng thương hại. Bà đưa mắt nhìn khắp căn hộ: mấy cái đĩa ăn sáng của Pearl vẫn chồng đống lên ống nước nơi bồn rửa, mớ gối tựa bày binh bố trận trải thành bộ sô-pha, cửa phòng Mia nửa mở, trong phòng chỉ có tấm nệm đặt trên thảm. Bà nghĩ, một cuộc sống thảm hại đến thế này, họ quá nghèo nàn. Và sau đó bà phát hiện ra một thứ quen thuộc, mắc sau một trong những cái ghế nhà bếp không đồng bộ: áo khoác của Izzy. Hôm qua Izzy đã bỏ quên ở đó, và cử chỉ bất cẩn vô ý vô tứ này khiến bà Richardson mất thể diện. Như thể Izzy sống ở đây, như thể đây là nhà của con bé, như thể con bé là con gái của Mia, chứ không phải con bà.

“Tôi luôn biết cô có chuyện gì đó,” bà nói.

“Chị nói gì?”

Bà Richardson không trả lời ngay lập tức. Thậm chí không có nổi một cái giường ra hồn, bà Richardson nghĩ. Thậm chí không có nổi bộ sô-pha đàng hoàng. Loại phụ nữ trưởng thành nào mà lại ngồi trên sàn, ngủ trên sàn được chứ? Sống cái kiểu gì thế này?

“Tôi tưởng rằng cô nghĩ cô có thể che giấu mọi chuyện rồi chứ,” bà nói vọng sang cái bàn bếp, nơi Mia đang tỉ mẩn ghép bức ảnh con chó và người đàn ông lại với nhau. “Tôi cho rằng cô nghĩ không bao giờ có người biết được.”

“Em không hiểu chị đang nói gì cả,” cô Mia bắt đầu. Các khớp ngón tay nắm chặt lấy quai cốc.

“Cô không biết sao? Tôi chắc rằng ông Joseph và bà Madeline Reed biết đấy.” Mia chợt im lặng. “Tôi chắc rằng họ muốn biết cô đang ở đâu. Bố mẹ cô cũng vậy. Tôi chắc rằng họ cũng rất muốn biết Pearl ở đâu.” Bà Richardson liếc sang Mia. “Đừng cố nói dối nữa. Cô là kẻ nói dối đại tài, nhưng tôi biết hết rồi. Tôi biết tất cả về cô đấy.”

“Bà muốn gì?”

“Tôi không muốn nói gì cả. Tôi nghĩ, những gì thuộc về quá khứ cứ để nó chìm vào quá khứ. Có lẽ bà ấy đã có cuộc sống mới. Tôi thấy cô đã nuôi dạy con gái của cô cũng vô học như cô.”

“Pearl sao?” Đôi mắt giật mình của Mia mở to. “Bà đang nói cái gì vậy?”

“Cô đúng là thứ đạo đức giả. Cô bắt cóc con của cặp vợ chồng đó và rồi cô cố lấy đi đứa nhỏ của nhà McCullough.”

“Pearl là con của tôi.”

“Cô chỉ giúp chút xíu để tạo ra nó thôi, phải không?” Bà Richardson nhướn mày. “Linda McCullough và tôi làm bạn trong bốn mươi năm. Cô ấy giống như chị em của tôi. Và không ai xứng đáng có con hơn cô ấy.”

“Không phải vấn đề xứng đáng hay không. Tôi chỉ nghĩ rằng một người mẹ thì phải có quyền nuôi con của mình.”

“Cô nghĩ vậy sao? Hay đó chỉ là những gì cô tự nói để cô có thể chớp mắt mỗi đêm?”

Mia đỏ mặt. “Nếu Mai Linh có thể lựa chọn, bà không nghĩ con bé muốn sống với mẹ ruột của nó sao? Người mẹ đã sinh ra nó hay sao?”

“Có thể.” Bà Richardson nhìn thẳng vào mặt Mia. “Nhà Reed rất giàu. Họ rất nóng lòng muốn có một đứa con. Họ sẽ cho con bé một cuộc sống tuyệt vời. Nếu Pearl được chọn, cô có nghĩ rằng con bé chọn sống với cô không? Sống cầu bơ cầu bất như vậy?”

“Chuyện đó làm phiền đến bà, phải không?” Mia đột nhiên nói. “Tôi nghĩ bà không thể tưởng tượng nổi. Tại sao người ta lại chọn một cuộc sống khác với cuộc sống của bà. Tại sao người ta lại muốn những thứ khác hơn là nhà cao cửa rộng có bãi cỏ lớn, một chiếc xe yêu thích, một công việc văn phòng. Tại sao người ta lại chọn mọi thứ khác với những gì bà chọn.” Bây giờ đến lượt cô tìm hiểu bà Richardson, như thể mã hóa khuôn mặt bà ta chính là mấu chốt để hiểu được bà. “Nó khiến bà sợ. Rằng bà đã bỏ lỡ điều gì đó. Rằng bà đã từ bỏ điều gì đó mà bà không ngờ là mình muốn.” Một cái cười thương hại nhẹ nhếch lên từ khóe môi cô. “Đó là gì? Là một đứa con trai sao? Là sự nghiệp sao? Hay là cả một cuộc đời?”

Bà Richardson xáo trộn những bức ảnh cắt vụn ở trên bàn. Dưới tay bà, mẩu con chó và mẩu người đàn ông được cắt ra rồi ghép lại và tái tạo.

“Tôi nghĩ đã đến lúc cô phải dọn đi,” bà nói. Bà với tay lấy cái áo khoác của Izzy ra khỏi ghế và phủi bụi, như thể nó bị bẩn. “Trước ngày mai.” Rồi bà đặt lên quầy tờ một trăm đô-la gấp lại. “Chỗ này bù dư cho những ngày còn lại của tháng này. Chúng ta không nợ nần gì nhau nữa.”

“Sao bà làm như thế?”

Bà Richardson đứng dậy và đi về phía cửa. “Hỏi con gái cô thì biết,” bà nói, và đóng sầm cửa lại.

❀ ❀ ❀

[1] Chương trình truyền hình thực tế về tòa án.

Người dịch: Lâm
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.