Suốt cả tuần, bà Richardson vẫn cứ bực mình với Izzy, dù nói thật thì, bà vẫn thường tức giận với Izzy không chuyện này cũng chuyện khác. Căn nguyên làm bà phát cáu thì vừa dài dòng, nhiều nguyên do lại vừa sâu xa. Không phải vì Izzy là một sự cố, hoặc đứa con không mong đợi - như chính Izzy hoài nghi, và như Lexie, nhiều khi tị nạnh, đã chọc ghẹo em. Thực tế lại hoàn toàn ngược lại.
Bà Richardson luôn muốn có một gia đình đông con. Là con một trong nhà, bà đã lớn lên trong niềm khao khát có anh chị em, trong lòng ghen tị với những người bạn của mình ví như Maureen O’Shaughnessy, bà ấy không bao giờ trở về một ngôi nhà vắng người, và dường như lúc nào cũng có người cùng trò chuyện. “Cũng không tuyệt lắm đâu,” Maureen quả quyết với bà, “đặc biệt khi cậu có em trai”. Maureen là con đầu, mười lăm tuổi, có cô em gái út tên Katie vừa lên hai, và giữa họ là sáu cậu em trai, nhưng bà Richardson vẫn tin chắc rằng thậm chí có sáu đứa em trai vẫn tốt hơn là lớn lên một mình. “Sinh thật nhiều con,” bà đã nói vậy với ông Richardson khi hai người kết hôn, “ít nhất là ba hoặc bốn đứa. Và sinh năm một,” bà nói thêm và lại nghĩ về gia đình O’Shaughnessy, tại sao nhà O’Shaughnessy lại có một năm nghỉ sinh nhỉ. Ai cũng biết gia đình đó; ở Shaker Heights họ giống như một triều đại, một dòng họ vô cùng hấp dẫn, vĩ đại và náo nhiệt, dường như lúc nào cũng có làn da rám nắng và tóc rối trong gió, giống như gia đình Kennedy vậy. Ông Richardson, nhà có hai anh em, cũng đồng ý chuyện này.
Vì vậy họ đã sinh Lexie đầu lòng, vào năm 1980, tiếp đó là Trip vào năm sau và Moody vào năm sau nữa, và bà Richardson đã thầm tự hào về khả năng sinh nở, khả năng hồi phục của cơ thể mình. Bà sẽ đẩy Moody trên chiếc xe nôi, còn Lexie và Trip lẽo đẽo theo sau, mỗi đứa túm một nhúm váy của bà như voi con lê bước theo voi mẹ, và người đi đường sẽ ngạc nhiên ngoái lại: người phụ nữ trẻ trông mành mai thế này làm sao mà sinh ba đứa con, phải không? Cho đến khi đó, cô bạn cũ Linda của bà đã cố gắng thụ thai bao nhiêu năm qua mà không thành, và mỗi lần gặp nhau - Linda luôn háo hức ôm lấy em bé, bất cứ đứa nào sinh vào năm đó - bà Richardson luôn thấy nhói lòng trước nỗi khát khao ánh lên trong mắt bạn mình. “Tôi sẽ đẻ thêm cho chị một đứa”, bà gần như bật khóc khi Linda, tay bế Moody, thầm thì niềm vui sướng. Mặc dù vào lúc đó dĩ nhiên bà không thật sự nói ra rằng mình đã mang thai Izzy, điều mà vài tuần sau bà vẫn chưa nhận ra. “Chỉ một đứa nữa thôi,” bà nói với chồng. Họ nhất trí sinh con sớm, để sau đó bà Richardson có thể đi làm lại. Trong lòng, một phần bà muốn ở nhà, trọn vẹn bên cạnh các con, nhưng mẹ của bà lúc nào cũng coi thường những phụ nữ không đi làm. “Lãng phí tiềm năng của bản thân,” mẹ bà khịt mũi. “Elena à, tinh thần của con minh mẫn. Con sẽ không ngồi nhà rồi đan móc thôi, phải không?” Bà cụ luôn ám chỉ rằng một phụ nữ hiện đại có khả năng - không, mà là nhất thiết - có được mọi thứ. Vì thế, sau mỗi lần sinh nở, bà Richardson đều quay lại làm việc, sáng tạo nên những bài báo hay, bổ ích mà ban biên tập yêu cầu, sau đó trở về nhà chăm chút đàn con thơ, chờ đợi em bé tiếp theo chào đời.
Chỉ đến khi sinh Izzy thì niềm say mê con trẻ mới kết thúc. Những ngày đầu, bà Richardson ốm nghén ngay sau khi phát hiện đã mang thai, những cơn chóng mặt và nôn mửa cứ liên tục không dứt không chỉ trong tam cá nguyệt đầu tiên mà mãi nhiều tuần trôi qua vẫn không thuyên giảm - nếu không nói là ngày càng dữ dội. Lexie gần lên ba, thì Trip lên hai, Moody mới lên một, ở nhà có ba em bé thế này thì bà Richardson gần như bất lực, gia đình thấy cần phải thuê một người giúp việc - một cuộc sống xa hoa mà họ dần làm quen, và là cuộc sống mà họ sẽ tiếp tục duy trì bằng mọi giá trong suốt những năm tuổi teen của đàn con, một cuộc sống quá xa vời với cô Mia. “Đó là dấu hiệu của một thai kỳ khỏe mạnh,” bác sĩ khẳng định với bà Richardson như vậy, nhưng vài tuần sau khi thuê người giúp việc, bà bắt đầu bị chảy máu và phải nằm trên giường tĩnh dưỡng. Mặc dù đã thực hiện những biện pháp phòng ngừa này, thì rất nhanh sau đó Izzy đã đột ngột chào đời - sớm mười một tuần - hạ sinh trong vòng một tiếng sau khi bà đến bệnh viện.
Trong trí nhớ của bà Richardson thì mấy tháng sau đó chỉ như một đám sương mù mơ hồ và đáng sợ. Bà chỉ nhớ chút ít các chi tiết hậu cần. Bà nhớ Izzy đã cuộn mình trong lồng kính: không thể bé nhỏ hơn, lưới mạch máu ánh tím bên dưới làn da màu hồng da cam. Bà nhớ đã dõi theo đứa con út qua các ô cửa nhỏ của lồng ấp, gần như ấn mũi vào mặt kính để chắc rằng con bé vẫn còn thở. Bà nhớ đã đi đi lại lại giữa nhà và bệnh viện, bất cứ khi nào bà có thể giao ba đứa con lớn cho người giúp việc đảm đang săn sóc - giờ ngủ trưa, giờ ăn trưa, mỗi tiếng đây đó - và khi y tá cho phép, bà bế Izzy áp vào người: lần đầu tiên là trong đôi bàn tay chụm của bà, sau đó là hõm trũng giữa hai bầu vú, và cuối cùng - khi Izzy cứng cáp hơn, đầy đặn hơn và bắt đầu trông giống một em bé hơn - là trong vòng tay bà.
Đối với sự phát triển của Izzy: mặc dù sinh non nhưng con bé đã thể hiện tính gan lì đến mức các bác sĩ phải chú ý. Con bé giật ống truyền dịch; con bé làm bật ống dẫn thức ăn. Khi y tá đến thay, con bé đã đá bàn chân bé xíu của mình và hét toáng lên làm các em bé khác trong các lồng ấp bên cạnh thức giấc rồi khóc theo. “Phổi bé ổn,” bác sĩ báo với gia đình như vậy, mặc dù họ cũng cảnh báo về một loạt các vấn đề khác có thể phát sinh: các vấn đề về thị giác, mất thính giác, bệnh vàng da, thiếu máu. Thiểu năng trí tuệ. Dị tật tim bẩm sinh. Động kinh. Bại não. Cuối cùng thì Izzy cũng được về nhà - hai tuần sau lịch dự sinh - danh sách này sẽ là một trong những điều hiếm hoi mà bà Richardson sẽ nhớ lại về thời gian ở bệnh viện. Một danh sách mà bà sẽ theo dõi Izzy suốt chục năm tiếp theo: liệu Izzy có thật sự không nhận thức được sự vật, hay con bé có bị mù hay không? Con bé đang bướng bỉnh phớt lờ mẹ mình hay nó thật sự bị điếc? Làn da con bé trông có hơi vàng hay không? Con bé trông có xanh xao hay không? Nếu Izzy lóng ngóng với tay lấy thêm chiếc nhẫn chập làm đồ chơi, thì bà Richardson tự thấy bản thân đang nắm chặt lấy tay vịn chiếc ghế mình đang ngồi. Đó có phải là con rùng mình, hay chỉ là một đứa trẻ đang học cách điều khiển các hoạt động phức tạp của các ngón tay?
Dù bà Richardson bỏ hết mọi chuyện liên quan đến bệnh viện ra khỏi tâm trí mình - bà nghĩ rằng mình có thể quên sạch chúng - thì từng tế bào trên người bà vẫn ghi nhớ: lo lắng quá độ, ngập tràn sợ hãi trong bao suy nghĩ về Izzy. Tập trung từng li từng tí vào mỗi việc mà Izzy làm, lật đi lật lại, xem xét kỹ lưỡng những dấu hiệu đó liệu là nhược điểm hay khiếm khuyết. Có phải con bé chỉ mắc chứng khó đọc, hay đây là dấu hiệu của thiểu năng trí tuệ? Liệu con bé chỉ viết xấu, con bé chỉ dở Số học, tính khí cáu kỉnh của con bé là bình thường, hay đó là biểu hiện của vấn đề nghiêm trọng hơn? Thời gian trôi qua, nỗi lo lắng đã tự tách khỏi sự sợ hãi và tồn tại như mặc nhiên phải có. Từ khi sinh Izzy, bà biết rằng cuộc sống của con người có thể lăn dọc vạch an toàn mỏng manh ra sao và sau đó, không lời cảnh báo, trượt một cách ngoạn mục khỏi hành trình đã định thế nào. Mỗi lần nhìn Izzy, cái cảm giác mọi thứ đang vụt khỏi tầm kiểm soát lại lần nữa ập vào bà, giống như một bắp thịt mà bà không tài nào thả lỏng.
“Izzy, ngồi thẳng lưng lên,” bà sẽ nói với Izzy ngay bàn ăn và suy nghĩ: chứng vẹo cột sống. Bệnh bại não. “Izzy, bình tĩnh nào.” Mặc dù không bao giờ bà nói rõ ra nhưng cơn oán giận đã bắt đầu vây lấy nỗi lo. Tức giận là vệ sĩ của nỗi sợ, một tấm áp-phích trong bệnh viện đã ghi như vậy, nhưng bà Richardson không bao giờ để ý; bà quá bận tâm: chuyện không đến nước này đâu. “Sau tất cả những rắc rối mà con bé gây ra...” đôi khi bà sẽ bắt đầu, khi Izzy cư xử sai quấy. Không bao giờ bà nói được câu nào hoàn chỉnh, ngay cả ở trong đầu, nhưng nỗi lo sợ xưa cũ trong bà đã len khắp huyết quản. Izzy chỉ nhớ rằng mẹ mình cứ nói không, không, Izzy, sao con không chịu nghe mẹ, Izzy, cư xử cho phải phép đi, Izzy, làm ơn làm phước, không, con bị điên rồi sao? Vạch ra những ranh giới mà Izzy dám bước qua.
Phải chăng Izzy là một đứa trẻ khác biệt, có thể điều này khiến con bé kỳ quái, hoặc suy nhược thần kinh, hoặc bệnh hoang tưởng. Tuy nhiên, Izzy được sinh ra để trêu ngươi, và khi lớn lên - với thị giác và thính giác tuyệt vời, không có dấu hiệu động kinh hay tê liệt, và trí tuệ linh hoạt đến ngỡ ngàng - mẹ cô càng dõi mắt theo cô sát sao bao nhiêu, thì cô càng chọc tức sự chú ý ấy bấy nhiêu. Khi cả nhà xuống hồ bơi, Lexie, Trip và Moody được phép tóe nước ở những chỗ cạn, nhưng Izzy - khi đó đã lên bốn - phải ngồi trên khăn tắm, bôi kem chống nắng và che dù. Sau đó một tuần, cô bé đã lao đầu nhảy xuống chỗ sâu và được nhân viên cứu hộ cứu nguy. Mùa đông sau đó, khi cả nhà chơi xe trượt, Lexie, Trip và Moody thét inh tai khi cả ba đứa cùng lúc nằm sấp bụng trượt ngược xuống đồi và một lần - vào lượt của Trip - đứng lên như một tay lướt sóng. Ngồi trên đỉnh đồi, bà Richardson vỗ tay cổ vũ. Sau đó, Izzy mới một lần lật ngược ở nửa đường, thì bà Richardson đã không cho cô vào xe trượt lần nữa. Buổi tối, sau khi mọi người đi ngủ, Izzy đã lấy tấm trượt của Moody ở bên kia đường, trượt xuống bờ sông nơi ao vịt và trượt ra chỗ nước đóng băng đến bốn lần trước khi một người hàng xóm nhận ra cô và báo cho phụ huynh. Lên mười, lúc mẹ cô muộn phiền khi cô kén ăn, tự hỏi liệu con gái có bị thiếu máu hay không, thì Izzy tuyên bố mình sẽ ăn chay. Sau khi bị cấm qua đêm ở nhà bạn - “Izzy, nếu ở nhà mình con còn cư xử tệ, thì làm sao mẹ tin con cư xử đàng hoàng ở nhà người khác” - đêm xuống Izzy đã lẻn ra ngoài và quay về với một mớ quả thông hoặc một nắm táo tây dại hoặc một cây dẻ ngựa để lại trên đảo bếp. “Con không biết mấy thứ này ở đâu ra mẹ à,” sáng ra, cô bé sẽ nói vậy, khi mẹ cô nhìn thấy tặng phẩm mới nhất của con gái. Chỉ mới năm ngoái, học lớp Tám, con bé đã không gội đầu và để cho tóc xoắn lại thành kiểu dây thừng. “Em đang cố thành cái giống gì vậy, Bob Marley đầu hoe hả?” Lexie hỏi gặng, nhưng Izzy đã giữ các lọn tóc đến gần cả năm trước khi cuối cùng cũng cắt phăng chúng đi và để cho các lọn tóc quăng của cô lại phủ kín đầu. Lý lẽ mà đứa trẻ nào cũng có - gồm cả Izzy - rằng cô là nỗi thất vọng cá biệt của mẹ mình, rằng vì nhiều nguyên nhân mơ hồ, cô làm mẹ phật ý. Tất nhiên, Izzy càng xốc tới, thì cơn giận càng tiến bước vây lấy nỗi lo âu ngày xưa của mẹ cô, giống như chiếc vỏ bao phủ con ốc sên mềm yếu. “Trời ơi, Izzy,” bà Richardson kêu lên, hết lần này đến lần khác, “con bị gì vậy?”
Ông Richardson thì lại kiên nhẫn với Izzy hơn. Đó là vì bà Richardson là người đã ẵm, là người đã nghe tất cả dự báo của bác sĩ, những cảnh báo kinh khủng về những thứ có thể xảy đến với Izzy. Còn ông Richardson, vừa mới tốt nghiệp trường Luật, đang bận rộn xây dựng văn phòng luật của mình, cố gắng làm việc nhiều giờ liền để trở thành đồng sự. Đối với ông, dường như Izzy chỉ là một đứa bướng vặt, nhưng ông rất vui khi thấy con bé vẫn còn sống sau chặng đầu đời kinh hãi. ông rất thích trí thông minh và trí tuệ của con bé. Thật sự, con bé làm ông nhớ đến mẹ nó, ngày bà còn trẻ: ông đã bị cuốn vào sự nồng nhiệt, chí hướng rõ ràng của bà, cách mà bà luôn hiểu rõ lòng mình và luôn có kế hoạch, cách mà bà quan tâm sâu sắc đến chuyện rạch ròi đúng sai. Qua nhiều năm an cư ở vùng ngoại ô, dường như sự nồng nhiệt nơi bà đã hóa thành tro tàn nguội lạnh, “ổn mà Elena,” ông sẽ nói với vợ. “Con bé ổn. Em cứ mặc nó.” Tuy nhiên, bà Richardson không thể để mặc Izzy, và cái cảm giác mà mọi thứ cứ gộp lại: Izzy thì trêu ngươi, mẹ cô thì kiềm chế, và có một lần không ai nhớ nổi cơn bốc đồng tại sao lại bắt đầu, chỉ biết rằng nó luôn luôn hiện hữu.
Một tuần sau vụ bức ảnh, trong khi bà Richardson vẫn khó chịu với Izzy, thì gia đình Richardson sẽ tham dự bữa tiệc sinh nhật do gia đình McCullough, bạn lâu năm của họ tổ chức.
“Pearl đi chung có được không mẹ?” Moody hỏi. “Nhà bác McCullough sẽ không để ý đâu. Bữa tiệc này các bác mời hết người quen mà.”
Bà Richardson chỉ vừa mở miệng định nói được, sao lại không chứ thì Izzy chen vào.
“Có thêm chị ấy thì lại thêm người xúm vào em bé,” Izzy nói. “Anh biết con bé là tâm điểm của toàn bộ bữa tiệc mà.”
Bà Richardson lại im lặng. “Izzy à, có nhiều lúc thích hợp mời thêm bạn bè của con, và nhiều khi có những bữa tiệc chỉ dành cho gia đình,” bà nói. “Đây là tiệc gia đình. Pearl không phải thành viên trong nhà.” Bà chộp lấy chiếc túi xách của mình và quàng nó lên vai. “Con phải biết phân biệt. Đi thôi, mình trễ rồi.”
Vì vậy chỉ có gia đình Richardson là đến buổi tiệc cuối tuần vào trước Lễ Tạ ơn của nhà McCulloughs bằng hai chiếc xe - Lexie, Trip và Moody đi một chiếc, hai vợ chồng Richardson đi chiếc còn lại cùng con bé Izzy rầu rĩ ủ dột phía ghế sau. Không ai có thể bỏ lỡ ngôi nhà. Xe cộ đỗ đầy hai bên đường - gia đình McCullough đã định rõ các giới hạn đỗ xe với cảnh sát Shaker Heights trước rồi - và tràn ra đại lộ Nam Woodland ở gần đó, và một chùm bong bóng khổng lồ màu hồng-và-trắng treo lủng lẳng ở hộp thư.
Bên trong, căn nhà đã chật kín người. Có cocktail mimosa và món trứng tráng. Những người phục vụ thức ăn bày ra bàn những miếng bánh tart nhỏ vừa miệng và món trứng chần trong các vũng sốt hollandaise mịn màng. Cái bánh kem ba tầng màu hồng-và-trắng, được trang trí bằng kẹo mềm và đặt lên đó một bức tượng bọc đường hình em bé đang cầm số một trên đôi tay mũm mĩm. Khắp mọi nơi, những dải ruy-băng hồng-và-trắng trải rộng sự vui mừng hướng về phía nhà bếp, nơi mà Mirabelle McCullough, bé gái sinh nhật, rúc mình trong vòng tay của bà McCullough.
Tất nhiên, vài tháng trước bà Richardson đã gặp bé Mirabelle McCullough rồi, ngay lần đầu bé về với gia đình McCullough. Bà và Linda McCullough đã lớn lên cùng nhau - lớp Shaker năm 1971, là bạn lâu năm từ khi học lớp Hai - và con đường họ đã đi có sự đối xứng thú vị khi cả hai đi học xa rồi trở về nhà và ổn định sự nghiệp riêng của mình tại Shaker này. Chỉ có một điểm là gia đình Richardson ngay lập tức đã sinh Lexie, sau đó nhanh chóng và liên tục cho ra đời Trip, Moody và Izzy, còn bà McCullough phải trải qua hơn một thập kỷ khó khăn trước khi bà và chồng quyết định nhận con nuôi. Và trải qua nhiều năm chờ đợi danh sách bố mẹ tương lai - hết thảy bọn họ đều mong mỏi một đứa con thì cầu sẽ vượt quá cung - trước khi Mirabelle xuất hiện trong cuộc sống của hai người.
“Là ý trời, như mẹ em từng nói,” bà Richardson kể cho chồng nghe chuyện này. “Hoàn toàn không còn từ nào thích hợp hơn. Anh biết mà, David và Linda đã trải qua những gì, bao nhiêu năm gian khổ, và rồi chờ đợi nhận con nuôi. Ý em là, em cá họ đã có được một đứa trẻ cừ khôi, cảm tạ trời đất. Và sau đó, hoàn toàn bất ngờ, nhân viên xã hội đã gọi cho họ vào mười giờ rưỡi sáng, báo rằng có một em bé người châu Á bị bỏ lại ở trạm cứu hỏa, và đến bốn giờ chiều hôm đó em bé đã ở nhà họ rồi.”
Ngay ngày hôm sau bà đã ghé qua nhà họ để gặp đứa nhỏ và vừa thủ thỉ với em bé vừa nghe bà Linda kể lại chi tiết câu chuyện - bà đã nhận điện thoại ra sao và lái xe đến thẳng Babies R Us như thế nào để sắm sửa mọi thứ từ trọn bộ tủ quần áo đến cũi em bé đến mớ tã lót đủ dùng cho sáu tháng. “Hết sạch thẻ Visa luôn,” bà Linda McCullough bật cười. “Anh David vẫn mang cái cũi em bé theo cùng khi nhân viên xã hội nhấc con bé lên. Nhưng nhìn con bé này. Hãy nhìn con bé đi. Chị có tin nổi chuyện này không?” Bà cúi xuống nhìn đứa trẻ sơ sinh nhỏ bé đang ôm ấp trong vòng tay mình bằng ánh mắt ngỡ ngàng.
Đó đã là mười tháng trước, và thủ tục nhận nuôi đang được thực hiện theo trình tự. Họ hy vọng sẽ hoàn thành trong một hoặc hai tháng, bà McCullough kể với bà Richardson khi bà đưa cho bà Richardson một ly cocktail mimosa. Nép mình trong vòng tay bà, Mirabelle bé bỏng là cục cưng yêu dấu: mái tóc xù màu đen được chụp bởi dải băng đô màu hồng, khuôn mặt tròn trĩnh bé xíu với đôi mắt nâu cực to đang nhìn chằm chằm vào đám đông, mấy ngón tay tí nị của em ghì chặt chuỗi hạt đeo cổ của bà McCullough.
“Ôi, nhìn em cứ như nàng búp bê bé bỏng,” Lexie há hốc miệng ngạc nhiên. Mirabelle quay đi và giấu mặt vào chiếc áo len của bà McCullough.
“Đây là bữa tiệc lớn đầu tiên mà nhà bác tổ chức kể từ khi có con bé,” bà McCullough nói, đưa tay vuốt lên mái tóc đen của em. “Em không quen với việc có quá nhiều người vây quanh như vậy. Phải không hở Mimi?” Bà hôn vào lòng bàn tay nhỏ xíu của em. “Nhưng hai vợ chồng bác không thể để sinh nhật đầu tiên của con trôi qua mà thiếu vắng lời chúc mừng.”
“Sao bác biết ngày sinh của em ấy?” Izzy hỏi. “Nếu em ấy bị bỏ rơi, và chỉ vậy.”
“Em bé không phải bị bỏ rơi, Izzy à,” bà Richardson nói. “Con bé bị bỏ lại ở trạm cứu hỏa, nơi mà ai đó sẽ tìm ra em một cách an toàn. Chuyện này hoàn toàn khác. Tức là mang gia đình tuyệt vời này đến cho con bé.”
“Nhưng, rồi thì, mọi người đâu biết ngày sinh thật của nó, đúng không?” Izzy hỏi. “Bác chọn đại một ngày hay sao?”
Bà McCullough chỉnh thế ẵm em. “Các nhân viên xã hội ước lượng bé được khoảng hai tháng tuổi khi về với gia đình, trao và nhận mất đâu hai tuần. Đó là ngày 19 tháng Một. Vì vậy nhà bác quyết định lấy ngày 19 tháng Mười một làm ngày sinh nhật của bé.” Bà miễn cưỡng cười với Izzy. “Hai bác thấy rất vui khi có thể cho bé được một ngày sinh nhật. Cùng ngày sinh nhật với ca sĩ Jodie Foster, chắc con biết mà. Cả diễn viên Meg Ryan nữa.”
“Tên thật của bé là Mirabelle hả bác?” Izzy hỏi.
Bà McCullough quả quyết. “Khi hoàn thành các thủ tục giấy tờ thì tên đầy đủ của bé là Mirabelle Rose McCullough,” bà nói.
“Nhưng trước đó hẳn bé đã có tên rồi,” Izzy thắc mắc. “Bác có biết bé tên gì không?”
Thực tế thì bà McCullough biết rất rõ. Em bé được đặt trong cái hộp các-tông, mặc ba bộ đồ và quấn trong bốn cái chăn để chống lại lạnh giá của tháng Một. Có một mảnh giấy ghi chú giấu trong những tấm chăn, mẩu giấy mà cuối cùng bà McCullough cũng thuyết phục được nhân viên xã hội cho bà xem: Đứa trẻ này tên là Mai Linh. Xin hãy chăm sóc và cho nó một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đêm đầu tiên đó, khi cuối cùng thì em bé cũng ngủ say trong vòng tay họ, hai vợ chồng McCullough đã dành hai giờ đồng hồ lướt qua từ điển đặt tên. Từ đó đến giờ, họ chưa khi nào mảy may luyến tiếc cái tên cũ của con bé.
“Hai bác thấy rằng nên đặt một cái tên mới để đánh dấu khởi đầu cuộc sống mới của bé,” bà nói. “Mirabelle có nghĩa là ‘nhan sắc tuyệt trần’. Cái tên có dễ thương không?” Quả thật, đêm đó khi chăm chú ngắm nhìn đôi mi dài của bé, cái miệng bé xíu hồng xinh nửa mở ra trong giấc say nồng mãn nguyện, thì bà và chồng thấy rằng chẳng còn tên nào thích hợp hơn.
“Khi nhận nuôi mèo từ nơi nuôi tạm, tụi con giữ lại tên cũ của nó,” Izzy kể. Cô bé quay sang mẹ mình. “Mẹ nhớ không? Con Purrty đó? Chị Lexie nói làm vậy quê lắm nhưng mẹ nói là chúng ta không nên đổi tên vì sẽ làm cho nó bị rối.”
“Izzy à,” bà Richardson nói. “Cư xử cho phải phép.” Bà quay sang bà McCullough. “Mirabelle lớn hơn nhiều so với mấy tháng trước. Tôi còn không nhận ra con bé. Hồi trước con bé ốm hơn, giờ nhìn mũm mĩm và linh hoạt quá. Ôi, Lexie, con nhìn mấy ngón tay bé tí kìa.”
“Con có thể ẵm em được không?” Lexie hỏi. Với sự trợ giúp của bà McCullough, Lexie ẵm bé trên vai. “Ôi, nhìn làn da em ấy kìa. Giống như kẹo bơ vậy.” Mirabelle chìa tay ra và đan các ngón tay nhỏ của mình vào mái tóc dài của Lexie, và Izzy sưng sỉa mặt mày bỏ đi.
“Em không phát cuồng như vậy,” Moody lầm bầm với Trip, trong góc phía sau đảo bếp, ở đó hai người rút lui sau mấy đĩa giấy bánh tart và bánh ngọt. “Nó ăn. Nó ngủ. Nó ị. Nó khóc. Em nuôi một con chó còn hơn.”
“Nhtmg bọn con gái thích con nít,” Trip nói. “Anh cá là bé Pearl mà có ở đây thì em ấy cũng chỉ để ý em bé.”
Moody không biết liệu anh Trip đang chế giễu mình hay chỉ đơn giản là nghĩ đến Pearl. Cậu không chắc điều nào sẽ khiến cậu phiền não hơn.
“Khi lớp sức khỏe giảng về biện pháp ngừa thai anh đã nghe hết rồi, đúng không?” cậu hỏi. “Nếu không thì sẽ có hàng tá con gái đặc biệt bận rộn với các phiên bản nhí của Trip. Ý nghĩ hãi hùng quá.”
“Ha ha.” Trip xiên một miếng trứng cho vào miệng. “Em lo thân mình đi. À khoan đã, làm sao con gái người ta có bầu cho được khi mà chẳng em nào ngủ với cưng.” Anh quẳng cái đĩa không vào thùng rác và đi tìm thức uống, bỏ Moody một mình ở lại với mấy miếng bánh tart cắn dở đã nguội lạnh.
Theo yêu cầu của Lexie, bà McCullough đưa cô đi tham quan phòng của Mirabelle: được trang trí với màu hồng và xanh lá nhạt, tấm băng rôn thêu tay treo lên trên cái cũi em bé đánh vần tên Mirabelle. “Con bé thích tấm thảm này,” bà McCullough nói, vỗ nhẹ lên tấm da cừu trên sàn nhà. “Cô chú đặt bé xuống đây sau khi tắm xong và em cứ lăn vòng vòng rồi chỉ cười và cười.” Kế đến là phòng chơi của Mirabelle, cả phòng ngủ khổng lồ chỉ dành để đồ chơi của bé: các khối gỗ với đủ sắc màu cầu vồng, một con voi lắc được làm bằng nhung và một kệ chất đầy búp bê. “Phòng phía trước nhà thì rộng hơn,” bà McCullough giải thích. “Nhưng phòng này đón nắng tốt nhất - trọn nắng sáng và hầu hết nắng chiều. Vì vậy cô chú làm một phòng khác dành cho khách và giữ phòng này lại làm chỗ cho Mirabelle chơi.”
Khi họ trở xuống tầng dưới, khách đến càng đông hơn, và Lexie bất đắc dĩ nhường Mirabelle lại cho những người mới đến. Lúc cắt bánh, cô bé chủ tiệc đã mệt lả vì việc giao tiếp nên phải mang nhanh một bình sữa và đặt bé xuống cho ngủ thiếp đi, và Lexie thất vọng khi đến tàn tiệc mà em vẫn ngủ, còn gia đình Richardson thì phải về rồi.
“Con muốn chơi với bé thêm lần nữa,” cô than thở khi cả nhà quay trở lại xe.
“Nó là em bé, không phải đồ chơi chị Lex ạ,” Moody chêm vào.
“Mẹ đảm bảo bác McCullough sẽ rất thích nếu con xung phong làm người giữ trẻ,” bà Richardson nói. “Lexie lái xe cẩn thận nha. Gặp lại con ở nhà.” Bà đẩy vai thúc Izzy về phía chiếc xe kia. “Còn con, lần sau đi tiệc phải bớt hỗn lại, không thì con phải ở nhà. Hồi con còn nhỏ, bác Linda McCullough đã từng chăm con, con biết không. Bác ấy thay tã và dắt con đi công viên. Hãy nhớ rõ điều đó khi con gặp bác vào lần tới.”
“Con biết rồi,” Izzy trả lời, và đóng sầm cửa xe.
Suốt mấy ngày sau, Lexie chẳng nói gì ngoài Mirabelle McCullough. “Cơn sốt em bé đó,” Trip nói, và thúc Brian một cái. “Coi chừng nha ông anh.” Brian miễn cưỡng cười đáp lại. Thế nhưng, Trip đã nói đúng: đột nhiên Lexie cực kỳ quan tâm đến mọi thứ về em bé, thậm chí còn đến cửa hàng Dillard’s để mua một chiếc đầm diềm tầng hoa oải hương làm quà tặng cho Mirabelle.
“Trời ơi, Lexie, hồi Moody và Izzy còn nhỏ, mẹ không nhớ ra là con từng hào hứng với em bé như vậy,” mẹ cô nói. “Hoặc hào hứng với những con búp bê đến thế. Thực ra...” bà Richardson hồi tưởng lại. “Có lần con thật sự nhốt Moody vào tủ đựng xoong chảo luôn.”
Lexie trợn tròn mắt. “Khi con lên ba á,” cô nói. Cô vẫn nói về em bé vào hôm thứ Hai, và khi cô trở về nhà thì thấy cô Mia ở phòng bếp, cô rất vui khi có một thính giả mới.
“Mái tóc của con bé tuyệt đẹp,” cô tuôn một tràng. “Con chưa bao giờ thấy em bé nào có nhiều tóc đến vậy. Mượt mà lắm. Và em ấy có đôi mắt cực kỳ to tròn, đôi mắt có thể bắt lấy mọi thứ. Người ta phát hiện bé ở một trạm cứu hỏa, cô tin nổi không? Thật luôn, ai đó vừa bỏ con bé lại đó.”
Phía bên kia phòng, cô Mia, người đang lau dọn bàn bếp, đã chết điếng.
“Một trạm cứu hỏa sao?” cô hỏi. “Trạm cứu hỏa ở đâu?”
Lexie phát tay. “Con không biết. Phía Đông Cleveland hay đâu đó đại loại vậy.” Với cô, mọi chi tiết không còn quan trọng bằng tấn bi kịch lãng mạn của câu chuyện.
“Và chuyện này xảy ra khi nào?”
“Tháng Một vừa rồi. Hay tháng Hai. Tầm đó. Bác McCullough nói rằng một trong những người lính cứu hỏa ra ngoài làm điếu thuốc và phát hiện con bé nằm đó, trong cái thùng các-tông.” Lexie lắc đầu. “Con bé cứ như một con cún mà ai đó không cần nữa.”
“Còn bây giờ gia đình McCullough có kế hoạch nhận nuôi nó sao?”
“Con nghĩ vậy.” Lexie mở tủ và lấy một thanh ngũ cốc Nutrigrain. “Hai bác ấy vẫn luôn mong một đứa con mà Mirabelle thì đáng yêu lắm. Họ yêu bé đến chết mất. Làm gì còn ai thích hợp hơn để nuôi dạy con bé chứ?” Cô bốc vỏ thanh ngũ cốc granola vứt vào thùng rác rồi đi lên lầu, bỏ cô Mia miên man suy nghĩ.
Thỏa thuận giữa cô Mia và bà Richardson đã cấn vào phần tiền thuê nhà, nhưng cô và Pearl vẫn cần tiền mua thực phẩm và chi trả hóa đơn tiền điện và xăng xe, vì vậy mỗi tuần cô làm thêm hai ca ở Điện Hồng Phúc, ở đó, chỗ tiền lương và phần thức ăn thừa còn lại sẽ vừa đủ đáp ứng nhu cầu của hai mẹ con. Điện Hồng Phúc có một đầu bếp, một phụ bếp, một người phụ dọn dẹp, và một phục vụ toàn thời gian, là Bebe, cô làm việc ở đó mới được vài tháng trước khi cô Mia đến làm. Bebe đến từ Hồng Kông từ hai năm trước, và dù tiếng Anh chỉ vừa bập bẹ chưa sõi thì cô ấy cũng rất thích trò chuyện với cô Mia, tìm cho mình một người nghe biết cảm thông, người không bao giờ chỉnh sửa ngữ pháp hay tỏ ra không hiểu lời cô. Suốt những giờ chiều buồn tẻ, trong khi hai người cuộn bộ đũa muỗng bạc vào khăn ăn và đợi có đơn giao đi, thì Bebe đã kể với cô Mia khá nhiều về cuộc sống của mình. Tất nhiên, cô Mia cũng chia sẻ lại một ít, nhưng qua nhiều năm, cô đã học được điều mà người ta hiếm khi nào để ý, rằng nếu cô là một thính giả tốt - điều đó có nghĩa cô phải giữ cho người kia liên tục kể về chính họ. Trong suốt bốn tháng qua, cô gần như biết được toàn bộ chuyện đời của Bebe, và chính vì điều này mà những gì Lexie kể về bữa tiệc đã làm cô giật mình.
Một năm trước Bebe đã sinh một đứa con. “Em sợ lắm rồi,” cô kể với cô Mia trong khi các ngón tay lướt trên tấm khăn ăn bằng vải satin màu hồng. “Không một ai giúp em. Em không thể đi làm. Em không thể ngủ. Suốt ngày dài em chỉ có thể ôm con và khóc.”
“Bố đứa bé đâu?” cô Mia hỏi, và Bebe trả lời rằng, đi rồi. “Em báo với anh ta là em có thai, hai tuần sau anh ta biến mất. Người ta nói em biết là anh ta trở về Quảng Châu. Em đã chuyển đến đây là vì anh ta, chị có biết chuyện đó không? Trước đó tụi em sống ở San Francisco, em làm tiếp tân ở phòng nha, mức lương tốt và ông chủ thật sự rất tử tế. Anh ta nói rằng đã nhận việc trong xưởng sản xuất xe hơi ở đây, Cleveland rất đẹp, Cleveland rất rẻ, San Francisco thì lại đắt đỏ, nếu chuyển đến Cleveland thì hai đứa có thể mua một căn nhà có sân vườn. Thế là em theo anh ta đến đây rồi sau đó...”
Cô im lặng một lúc, sau đó bỏ một cuộn khăn ăn đã quấn gọn gàng vào một chồng, đũa, nĩa và dao tất cả quấn lại vào trong. “Ở đây không ai nói tiếng Hoa cả,” cô nói. “Em phỏng vấn xin làm tiếp tân, người ta nói tiếng Anh của em không đủ giỏi. Em chẳng tìm được việc ở đâu cả. Không có ai trông con cả.” Cô Mia nhận ra có lẽ cô ấy đã bị trầm cảm nhẹ sau sinh, có lẽ thậm chí còn bị rối nhiễu tâm lý sau sinh. Em bé không được chăm sóc và sữa của cô cũng đã cạn khô. Cô mất việc - chỗ tiền lương cực ít khi xếp các gói ly nhựa vào thùng các-tông - khi vào bệnh viện sinh nở, và không có tiền mua sữa bột. Cuối cùng - và đây là đoạn mà cô Mia cảm thấy không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên - trong cơn tuyệt vọng, Bebe lang thang đến một trạm cúu hỏa và bỏ đứa nhỏ ngay trước thềm nhà.
Vài ngày sau đó, hai cảnh sát phát hiện ra Bebe nằm dưới một băng ghế công viên, bất tỉnh vì mất nước và vì đói. Họ đã đưa cô đến một trại tạm trú, tại đó cô được tắm rửa, cho ăn, cho thuốc chống trầm cảm và được trả về sau ba tuần. Nhưng lúc đó, không ai có thể cho cô biết chuyện gì đã xảy ra với con gái của mình. Cô khăng khăng là một trạm cứu hỏa, cô đã để bé lại tại một trạm cứu hỏa. Không, cô không thể nhớ ra là trạm cứu hỏa nào. Cô đã ẵm bé trên tay rồi cứ bước, loanh quanh thành phố, cố hình dung xem phải làm gì, và cuối cùng cô đi qua một trạm, những khung cửa sổ ấm áp đang rực sáng trong đêm tối, và cô quyết định. Có bao nhiêu trạm cứu hỏa vậy? Nhưng không ai giúp cô. Khi cô bỏ rơi đứa bé đồng nghĩa cô từ bỏ mọi quyền của mình, cảnh sát đã nói với cô như vậy. Rất tiếc. Chúng tôi không thể cho cô thêm bất cứ thông tin gì.
Cô Mia biết rằng Bebe đã tuyệt vọng tìm lại đứa con gái, cô đã tìm kiếm con bé trong nhiều tháng nay, kể từ khi cô tìm lại được chính mình. Bây giờ cô có một công việc, một công việc ổn định với mức lương thấp; cô sẽ tìm một căn hộ mới; tinh thần của cô đã ổn định. Nhưng cô lại không thể tìm ra con gái mình nơi đâu. Như thể con bé đã tan biến vào thinh không. “Đôi khi,” cô nói với cô Mia, “Em tự hỏi liệu có phải mình đang mơ. Nhưng đâu mới thật sự là mơ?” Cô đưa mu bàn tay chặm lên đôi mắt. “Rằng em không thể tìm thấy con mình? Hay có thật là em đã có một đứa con?”
Sau bao nhiêu năm rày đây mai đó, cô Mia đã lập ra cho mình một nguyên tắc: không gắn bó. Với bất kỳ đâu, bất kỳ căn hộ nào, bất kỳ điều gì. Và bất kỳ ai. Theo như cô tính, từ khi Pearl chào đời, họ đã sống tại bốn mươi sáu thành phố khác nhau, hai mẹ con chỉ giữ lại những món tài sản để vừa chiếc VW cỡ nhỏ - nói cách khác, đến mức tối thiểu. Hai mẹ con hiếm khi ở lại nơi nào lâu đến mức có thể kết bạn, và trong vài trường họp, họ đã có bạn, nhưng họ lại chuyển đi mà không hề gửi lại địa chỉ, và mất hết liên lạc. Mỗi lần di chuyển, hai mẹ con đem bán hoặc vứt bỏ mọi thứ mà họ có thể bỏ lại, và gửi các bức ảnh của cho Anita bán, đồng nghĩa cô sẽ không bao giờ nhìn thấy chúng lần nữa.
Vì vậy cô Mia luôn tránh dính líu đến chuyện của người khác. Điều này làm cho mọi thứ trở nên đơn giản hơn, trở nên dễ dàng hơn khi hợp đồng thuê chấm dứt hoặc khi cô thấy mệt mỏi với thành phố này hoặc khi cô cảm thấy, bứt rứt khó chịu, cô muốn rời đi nơi khác. Nhung với Bebe thì lại khác. Cái ý nghĩ rằng ai đó có thể lấy mất đứa bé khỏi vòng tay của người mẹ đã làm cô kinh hãi. Như thể ai đó trượt một lưỡi dao lên người cô, xoáy nhanh một nhát đào sâu một lõm trên cơ thể cô, trống hoác, chẳng để lại gì ngoài luồng gió lạnh thổi thốc vào. Lúc bấy giờ, Pearl vào nhà bếp tìm đồ uống và cô Mia vội vòng đôi tay ôm lấy con gái mình, như thể con bé đang ở rìa vách núi, cô ôm con thật lâu, thật chặt đến nỗi cuối cùng Pearl phải mở miệng, “Mẹ ơi. Mẹ vẫn ổn chứ?”
Cô Mia chắc chắn rằng gia đình nhà McCullough này là người tốt. Cô cũng thừa nhận rằng gia đình Richardson cũng là người tốt. Nhưng vấn đề không phải chỗ đó. Đột nhiên cô nghĩ đến những khoảnh khắc ở nhà hàng, khi bữa trưa ồ ạt đã qua nhưng bữa tối đông đúc vẫn chưa đến, nơi đó đôi khi Bebe chống khuỷu tay lên quầy như kẻ mất hồn. Cô Mia biết chính xác cô ấy đang miên man nơi nào. Đối với bố mẹ, con cái không chỉ là hình hài: con cái là nơi chốn, một nơi kiểu như Narnia[1], vùng đất bao la vĩnh cửu, là nơi hiện tại ta đang sống, quá khứ ta nhớ về và tương lai ta mơ ước, tất cả tồn tại cùng một lúc. Họ có thể nhìn thấy vùng đất ấy mỗi khi nhìn vào con mình: phân tầng trên gương mặt ấy là đứa bé của hiện tại, là đứa trẻ sắp lớn lên và một người lớn khi trưởng thành, và cùng một lúc họ nhìn thấy tất cả phân tầng ấy, như một ánh 3D. Nó khiến đầu họ quay mòng mòng. Nơi đó, nếu biết cách bước vào, họ có thể nương náu. Và mỗi khi rời đi, mỗi khi con cái vuột khỏi tầm mắt, họ sợ rằng không bao giờ được quay lại chốn ấy một lần nữa.
Ban đầu, ngay từ đầu, ngay đêm đầu tiên cô và Pearl bắt đầu những chuyến hành trình của mình, Mia đã cuộn người trên chiếc giường tự chế ở ghế sau chiếc Rabbit, còn Pearl rúc vào chỗ cong nơi bụng cô, và cô ngắm nhìn con gái ngủ. Khi ấy, gần đến mức cô có thể cảm nhận được hơi thở yếu ớt ấm áp của Pearl phả trên má mình, cô ngạc nhiên trước sinh linh bé nhỏ này. Máu mủ ruột rà, cô đã nghĩ. Mẹ của cô Mia đã bắt cô đến trường vào Chủ nhật mỗi tuần cho đến khi cô lên mười ba tuổi, và như những lời niệm trong một câu thần chú, cô đột nhiên nhìn thấy khuôn mặt của mẹ mình hiện ra trên khuôn mặt của Pearl: khuôn hàm, nếp nhăn mờ nhạt giữa đôi chân mày hiện ra khi Pearl lạc trôi vào một giấc mơ hoang hoải. Đã lâu rồi cô không còn nghĩ đến mẹ mình, và tiếng sét chát chúa của nỗi khát khao đã lóe ngang qua lồng ngực. Như thể nỗi khao khát ấy làm cô nhiễu loạn, Pearl ngáp rồi duỗi người và Mia ôm con gái mình chặt hơn, vuốt tóc con và đặt làn môi lên đôi má mềm mại đến ngỡ ngàng. Máu mủ ruột rà, cô lại nghĩ khi đôi mắt của Pearl hấp háy nhắm lại, và cô chắc chắn rằng chẳng ai trên đời yêu đứa trẻ này bằng cô.
“Mẹ không sao,” giờ cô trả lời Pearl, và trong nỗi gắng gượng đớn đau cô buông Pearl ra. “Xong việc ở đây rồi. Gặp lại con ở nhà, nhé?”
Thậm chí, sau đó cô Mia cảm nhận được những thứ đang nhen nhóm trong lòng; một luồng hơi cay xộc vào mũi, như làn khói mỏng đợt đầu từ đám lửa xa xôi. Cô không biết liệu Bebe có nhận lại được con hay không. Cô chỉ biết rằng cái suy nghĩ có ai đó đang lấy đi con của người phụ nữ ấy làm cô không chịu nổi. Cô nghĩ rằng, tại sao những người này lại có thể, tại sao những người này có thể tách đứa bé khỏi mẹ nó? Cô tự nhủ điều này suốt quãng đường về nhà, khi cô quay số và đợi điện thoại reo. Chuyện này không đúng. Một người mẹ không bao giờ phải từ bỏ con mình.
“Bebe này,” cô nói, khi giọng nói vang lên từ đầu dây bên kia. “Chị Mia làm cùng em đây. Chị nghĩ là em nên biết chuyện này.”
❀ ❀ ❀
[1] Vùng đất tưởng tượng Narnia, trong tác phẩm Biên niên sứ Narnia,một thế giới kỳ ảo của phép thuật, những loài thú huyền thoại, và động vật biết nói, loạt truyện kể về những cuộc phiêu lưu của những đứa trẻ đóng vai trò trung tâm trong diễn biến lịch sử của thế giới đó.