Bước đầu tiên của bà Richardson là nghiên cứu về bà Pauline Hawthorne. Bà biết rằng, bà Pauline sinh ra ở vùng nông thôn Maine, và chuyển đến Manhattan lúc mười tám tuổi, bà sống vài năm tại Làng Greenwich trước khi đột ngột xuất hiện trong giới nghệ thuật vào giữa thập niên 1970. Mỗi quyển sách nghệ thuật mà bà Richardson tham khảo đều miêu tả bà ấy bằng những mỹ từ: một thiên tài tự-học, người tiên phong chụp ảnh nữ quyền, nhân tài năng động và hào phóng.
Tất nhiên, bà đã nghe về bà Pauline Hawthorne. Khi bà học môn nghệ thuật tự chọn ở trường đại học thì bà Pauline Hawthorne đã là nhân vật tiêu điểm mới, được rất nhiều người nhắc đến, được mô phỏng bởi rất nhiều sinh viên khoa nhiếp ảnh, những người lang thang trong sân trường với máy ảnh đeo quanh cổ như những chiếc phù hiệu. Bây giờ bà nhìn những bức ảnh một lần nữa và nhớ về chúng. Một phụ nữ nhìn vào tấm gương của tiệm làm đẹp, nửa mái tóc quấn gọn gàng trong ống cuộn, nửa còn lại buông thõng trong những lọn xoáy lộn xộn. Hình ảnh một phụ nữ phản chiếu trong tấm gương hiệu Chrysler đang chạm vào lớp trang điểm trên mặt mình, điếu thuốc lá đong đưa trên đôi môi son thắm. Một phụ nữ mang giày và vận bộ đồ mặc nhà màu xanh lục, đang hút bụi tấm thảm cúc hoàng anh, màu sắc đậm đến mức dường như chúng đang rỉ nhựa. Ấn tượng đến mức dù đã nhiều năm qua đi, bà vẫn nhớ mình từng nhìn thấy chúng lóe lên trên màn hình chiếu nơi giảng đường tối, trong khoảnh khắc, chúng khiến bà nín thở khi bị cuốn vào thế giới nghệ thuật phim màu rực rỡ đầy sức sống.
Về cuộc sống cá nhân thì bà Richardson tìm được rất ít tư liệu, chỉ có một tóm lược ngắn gọn rằng bà ấy vẫn bảo quản một căn hộ ở khu Thượng Tây. Tuy nhiên, bà đã tìm được một mẩu tin lý thú: Pauline Hawthorne từng giảng dạy tại Trường Mỹ thuật New York - dù rõ ràng là không phải dạy vì tiền. Sau một vài năm trong ngành, những bức ảnh của bà Pauline Hawthorne được bán lên đến hàng chục ngàn đô-la - khá cao so với các nhiếp ảnh gia lúc bấy giờ, chưa kể còn là một phụ nữ. Sau khi bà mất vào năm 1982, giá trị của những bức ảnh ấy đã tăng vọt, theo đó Bảo tàng Nghệ Thuật Hiện Đại đã trả gần hai triệu đô-la để bổ sung thêm một bức ảnh vào bộ sưu tập vĩnh viễn của mình.
Dựa vào linh cảm, bà Richardson tra cứu số điện thoại của cán bộ đào tạo tại trường Mỹ thuật New York. Khi bà Richardson trình thư ủy nhiệm, cán bộ đào tạo đã tỏ thái độ hết lòng giúp đỡ. Bà Pauline Hawthorne đã giảng dạy lớp nhiếp ảnh nâng cao tại trường trong nhiều năm, mãi đến năm bà ấy mất. Trong mấy năm cuối này, không có cái tên Mia Warren nào trong bất cứ lớp dạy nào của Giáo sư Hawthorne cả. Tuy nhiên có một cái tên Mia Wright lớp mùa thu niên khóa 1980; lẽ nào đó là người mà bà Richardson đang tìm kiếm?
Hóa ra, vào học kỳ ấy, Mia Wright đã ghi danh sinh viên năm nhất tại trường Mỹ thuật, nhưng đến mùa xuân năm 1981 cô ta đã yêu cầu, và được chấp thuận, nghỉ phép trong năm học sau. Và cô ta không bao giờ quay lại. Bà Richardson, nhẩm nhanh trong đầu, tính ra rằng Mia - ngay cả đó chính là Mia - cũng chưa mang thai Pearl vào mùa xuân năm ấy. Vậy tại sao Mia lại bảo lưu lịch học, nếu không phải vì có bầu?
Không có gì ngạc nhiên khi cán bộ đào tạo đã do dự khi cung cấp địa chỉ của sinh viên, thậm chí còn là địa chỉ của mười lăm năm trước. Nhưng bà Richardson cố dùng những câu hỏi khéo léo để tìm hiểu, rằng địa chỉ của Mia Wright ghi trong hồ sơ là một địa chỉ nội vùng mà sao không ghi tên phụ huynh.
Vậy nên, bà phải giải quyết vấn đề từ đầu mối khác. Và chẳng mấy chốc, một cơ hội đã tự mình tìm đến, dưới hình thức một bức thư gần-như-đoán-trước. Kể từ Lễ Tạ Ơn, mỗi khi về nhà, việc đầu tiên của Lexie là kiểm tra thư, và cuối cùng, vào giữa tháng Mười hai, rốt cuộc một phong bì dày mang logo trường Yale trên góc cũng đáp xuống hộp thư nhà họ. Bà Richardson đã gọi cho hết thảy họ hàng để báo tin vui này; còn ông Richardson mang bánh kem về nhà. Và buổi tối hôm ấy, khi đang rửa mặt trước khi đi ngủ, một ý tưởng chợt nảy ra trong đầu bà Richardson.
Chiều hôm sau, bà vào phòng tắm nắng để tìm Lexie. Vào những hoàn cảnh bình thường, bà để bọn trẻ một mình, thấy rằng bọn nhóc tuổi teen cần có không gian riêng của chúng, rằng chúng được quyền riêng tư nhất định. Mặc dù vậy, hôm nay, bà muốn hai đứa con gái của mình và Pearl cùng có mặt. Trip đi tập khúc côn cầu, còn Lexie, Pearl và Moody đang nằm ườn trên sô-pha, lún nửa người xuống đệm ghế dày cộm. Izzy thì nằm sấp trên ghế bành, cằm tựa vào tay vịn, chân này đá chân kia xoạc vào khoảng không.
“Lexie, con yêu,” bà Richardson bắt đầu. “Mẹ đang nghĩ là nhà mình nên làm gì đó thật đặc biệt để ăn mừng. Ý mẹ là, đâu phải ngày nào con cũng đỗ vào trường Yale.” Bà tế nhị ngồi vào tay vịn ghế sô-pha ngay cạnh Pearl. “Sao nhà mình không ra ngoài ăn một bữa giữa buổi thịnh soạn và chúc mừng đi chứ? Chính xác là một phen để các cô gái vui vẻ - con nghĩ sao nào?” Sau đó, làm như một suy nghĩ chợt nảy ra, bà quay sang Pearl. “Pearl này, con cũng tham gia nữa nhé. Xét cho cùng, con đã giúp Lexie sửa bài luận mà. Và bác đảm bảo con cũng sẽ thích một bữa giữa buổi thịnh soạn, đúng không nào?
“Còn con thì sao?” Moody hỏi. “Chẳng lẽ con chỉ ở nhà rồi ăn ngũ cốc thôi hả mẹ?”
“Mẹ đã bảo là một phen cho mấy ẻm vui vẻ rồi mà,” Trip bật cười, và Moody cáu kỉnh. “Em cũng muốn tham gia vào dịp các nàng vui vẻ à?”
“Bây giờ Moody à,” bà Richardson nói. “Như anh Trip của con nói đó. Lần này chỉ để chúc mừng cho chị Lexie. Hội bên này sẽ lên đồ và sẽ ra ngoài làm một tiệc sáng nhỏ cho các cô gái.”
“Thế còn con thì sao?” Izzy đột nhiên chống khuỷu tay nhỏm dậy, gặng hỏi. “Có nghĩa là con cũng tham gia đúng không?”
Bà Richardson không lường trước chuyện này. Nhưng đôi mắt của Lexie đã sáng rực lên, Lexie đã huyên thuyên về địa điểm mà con bé muốn đi, và quá trễ để nói tiếng không.
Đây là cách mà Pearl đã nhận ra mình ngồi ở chiếc bàn gỗ, phía trong góc bên cạnh Lexie, đối diện với bà Richardson và đối diện một Izzy sưng sỉa. Lexie đã chọn Hundredth Bombers Club, một nhà hàng gần sân bay, gia đình cô thường đến đây vào những dịp đặc biệt, lần gần nhất là bữa tiệc sinh nhật bốn mươi lăm tuổi của ông Richardson.
Sáng hôm ấy Hundredth Bombers’ Club rất đông, một động tác xoay vòng đến hoa mắt chóng mặt và một bữa tiệc đứng làm cho người ta hoang mang khi trải dài hết cả chiều dài căn phòng: từ món thịt nướng nơi người đàn ông vạm vỡ đeo chiếc tạp dề trắng tinh không tì vết cắt miếng thịt bò nướng từ miếng đùi tái cực lớn, đến món trứng tráng nơi các đầu bếp rót dòng trứng vàng sủi bọt vào chiếc chảo rán, và hóa ra món trứng tráng mịn màng là tất cả những gì mà người ta mong muốn. Những thứ mà Pearl chưa bao giờ được lấy kèm với món trứng tráng: nấm, măng tây, những miếng tôm hùm màu san hô.
Trên mọi bức tường đều treo kỷ vật của những người đàn ông từ Đội Oanh Tạc Cơ Một Trăm: những tấm bản đồ các trận chiến lớn chống lại Đức Quốc Xã, những tấm huy chương, những tấm thẻ định danh, những bức thư gửi cho gia đình yêu dấu, những bức ảnh của những chiếc máy bay, những bức ảnh của chính những người đàn ông này, rạng ngời trong những bộ đồng phục, trong chiếc mũ sĩ quan và những bộ ria mép đặc biệt.
“Nhìn ông ấy kìa,” Lexie reo lên, vỗ nhẹ vào một bức ảnh ngay sau tai của Pearl. “Là đội trưởng John C. Sinclair. Em sẽ không muốn gặp ông ấy đâu nhỉ?”
“Chị có biết là,” Izzy nói, “nếu ông ấy vẫn còn sống, giờ chắc được chín mươi bốn tuổi rồi. Có lẽ đã mang một cái khung tập đi rồi đó.”
“Ý chị là em sẽ không muốn gặp ông ấy, nếu em sống vào thời đó. Xét nét quá đó, Izzy à.”
“Chị có biết là có lẽ ông ta đã ném bom vào các thành phố,” Izzy nói. “Có lẽ ông ta đã giết rất nhiều người vô tội. Hết thảy mấy ông này có lẽ đều đã làm như vậy.” Cô phát tay lên những bức ảnh giăng rộng quanh họ.
“Izzy,” bà Richardson lên tiếng, “để dành những bài lịch sử đó lại lúc khác đi. Chúng ta đến đây để ăn mừng thành tích của chị Lexie.” Bà cười rạng rỡ sang bên kia bàn, chỗ Lexie, và vì vậy bà cũng cười với Pearl, cô gái ngồi cạnh Lexie. “Chúc mừng con gái Lexie,” bà nói, nâng ly cocktail Bloody Mary của mình lên, và Lexie cùng Pearl nhấc ly nước cam lên, tỏa sáng trong ánh mặt trời.
“Chúc mừng chị Lexie,” Izzy lặp lại. “Em đảm bảo trường Yale sẽ có hết thảy những thứ mà chị muốn.” Cô lắc ly nước, như thể mong rằng nó là thứ gì đó vững vàng hơn. Ở bàn bên cạnh, em bé ném phịch lòng bàn tay bụ bẫm lên tấm khăn trải bàn và bộ dụng cụ ăn bằng bạc nảy lên loảng xoảng.
“Ôi trời ơi,” Lexie kêu lên. Cô nghiêng người qua lối đi chồm sang em bé. “Bé cưng đáng yêu quá. Đúng rồi, là cưng đó. Cưng là em bé đáng yêu nhất toàn thế giới luôn.”
Izzy mở to mắt và đứng dậy. “Để mắt đến con bé,” cô nói với bố mẹ của đứa trẻ. “Ông bà không bao giờ biết được khi nào sẽ có kẻ bắt cóc con mình đâu.” Trước khi ai đó kịp phản ứng, cô đi qua bên kia phòng về phía tiệc đứng.
“Làm ơn bỏ quá cho con gái tôi,” bà Richardson nói với bố mẹ đứa bé. “Con bé đang ở tuổi dở chứng.” Bà mỉm cười với đứa nhỏ, giờ em bé đang cố đút đầu to của cái thìa vào miệng. “Lexie, Pearl, sao hai đứa không qua chỗ tiệc tự chọn luôn? Mẹ sẽ đợi ở đây.”
Khi các cô gái đã lấy đầy mấy đĩa thức ăn và quay trở lại bàn, thì bà Richardson bắt đầu tinh tế xoay chuyển cuộc trò chuyện dần dần từng bước một. Hóa ra chuyện này dễ hơn bà tưởng. Bà bắt đầu bằng chủ đề đáng tin cậy, đó chính là thời tiết: bà hy vọng rằng Lexie sẽ không quá lạnh khi ở New Haven; họ sẽ phải đặt cho con bé một cái áo khoác ấm hơn từ cửa hàng L.L. Bean, một cái áo khoác nhồi lông tơ. Sau đó bà quay sang Pearl.
“Pearl, còn con thì sao?” bà hỏi. “Con đến New Haven lần nào chưa?”
Pearl ăn một nĩa đầy trứng tráng và lắc đầu. “Chưa, con chưa từng đến đó. Mẹ con không thích miền duyên hải phía đông cho lắm.”
“Thật vậy sao,” bà Richardson ngạc nhiên. Bà miết đầu dao vào quả trứng lòng đào và lòng đỏ trứng chảy ra thành một vũng màu vàng. “Thật đáng tiếc khi con không được bước ra thế giới ngoài kia. Có rất nhiều thứ để nhìn ngắm. Rất nhiều nền văn hóa. Vài năm trước, nhà mình đã làm một chuyến, mấy đứa còn nhớ không? Boston, Đại lộ Tự do và Bảo tàng Nhà Paul Revere. Và tất nhiên có cả New York nữa, ở đó có rất nhiều thứ để khám phá. “ Bà trao cho Pearl một nụ cười rộng lượng. “Bác mong rằng một ngày nào đó con có thể bước ra thế giới ngoài kia. Bác thật sự tin rằng không gì mở mang tầm nhìn của thanh niên bằng việc đi du lịch.”
Pearl cảm thấy chua chát khi mà bà Richardson đã biết về cô như thế. “Ôi, nhà bác đi du lịch nhiều lắm,” bà kể. “Nhà bác đã đi khắp mọi nơi. Illinois, Nevada, Kansas, Nebraska...” Bà ngừng lại, lục lọi thứ gì đó hấp dẫn hơn. “Thậm chí nhà bác đã đến California. Cũng vài lần rồi.”
“Tuyệt vời lắm!” bà Richardson lấy bình nước trái cây trên bàn châm đầy ly Pearl. “Thật sự thì con đã đi khắp nơi rồi. Nói một cách chính xác thì cũng khá giống với du khách. Và con có thích như vậy không, kiểu di chuyển nhiều như thế?”
“Cũng bình thường ạ,” Pearl lấy nĩa xiên một miếng trứng. “Ý con là, nhà con sẽ chuyển đi bất cứ lúc nào mẹ con làm xong một dự án. Chỗ ở mới sẽ mang lại ý tưởng mới cho mẹ.”
“Con đang trưởng thành để trở thành một công dân thực thụ của thế giới đấy,” bà Richardson nói, và Pearl, dù chẳng thích, đã đỏ mặt. “Biết đâu con biết về đất nước này còn nhiều hơn bất cứ thiếu niên nào. Ngay cả Lexie hay Izzy - nhà bác cũng đi du lịch kha khá - thậm chí Lexie và Izzy chỉ mới đi một ít tiểu bang thôi.” Sau đó, thật ngẫu nhiên, “Nơi con ở lâu nhất là ở đâu? Bác không biết là con sinh ra ở đâu?"
“Vâng.” Pearl nuốt miếng trứng. “Con sinh ra ở San Francisco. Nhưng hai mẹ con đã rời khỏi đó khi con còn rất nhỏ. Con không còn nhớ chút nào nữa. Nhà con không khi nào ở lại đâu lâu cả.”
Bà Richardson cất mẩu thông tin này vào đầu. “Rồi một ngày nào đó con cũng phải trở về thôi,” bà nói. “Bác tin rằng việc người ta biết được nơi chôn nhau cắt rốn của mình cũng là một kiểu tác động rất lớn lên việc định hình cá tính của họ. Bác được sinh ra ngay tại Shaker này, con có biết không?”
“Mẹ ơi,” Izzy gọi. “Chị Pearl không muốn nghe gì chuyện này đâu. Không ai muốn nghe gì đâu.”
Bà Richardson phớt lờ con bé. “Ông và bà của bác là một trong những gia đình đầu tiên chuyển đến đây,” bà nói. “Nơi này từng được xem là một quốc gia, con có tin nổi không? Hai cụ có chuồng ngựa riêng, có nhà để xe ngựa và đi cưỡi ngựa vào mỗi cuối tuần.” Bà quay sang Lexie và Izzy. “Mấy cô gái này chắc không còn nhớ gì về các cụ rồi. Mẹ nhớ lúc họ qua đời thì Lexie hãy còn là em bé. Dù sao đi nữa, hai cụ đã chuyển đến đây và định cư. Họ thật sự tin vào những thứ mà Shaker đã đấu tranh để có được. Những thứ dựa trên giá trị của những người Shaker chính gốc.”
“Họ không sống độc thân, không phải là người cộng sản à?” Izzy lên tiếng hỏi, khi đang hớp từng ngụm nước cam.
Bà Richardson phóng tia mắt vào Izzy. “Lập kế hoạch một cách chu đáo, đặt niềm tin vào sự bình đẳng và đa dạng. Trân trọng xem mọi người bình đẳng như nhau. Họ truyền tinh thần ấy cho bà ngoại của mấy đứa, và bà ngoại lại truyền nó cho mẹ.” Bà quay trở lại Pearl. “Mẹ con lớn lên ở đâu vậy?”
Pearl bồn chồn lo lắng. “Con không chắc lắm. Có lẽ là ở California?” Cô chọc vào miếng trứng tráng, giờ đã dai ngoách như cao su. “Mẹ con không kể nhiều về chuyện này. Con không nghĩ là mẹ còn có gia đình nào khác.” Thật ra thì, chưa bao giờ Pearl có đủ can đảm để trực tiếp hỏi mẹ về nguồn cội của bà, và cô Mia luôn dễ dàng làm chệch hướng mọi câu hỏi vòng vo của con gái. “Hai mẹ con mình là dân du cư,” cô sẽ nói với Pearl như vậy. “Dân Gipxi hiện đại, chính là mình đấy. Không bao giờ đặt chân hai lần cùng một chỗ.” Hoặc, một lần khác cô bảo rằng, “Chúng ta xuất thân từ một gánh xiếc rong. Tính vô định đã có sẵn trong máu rồi.”
“Em nên tìm hiểu đi,” Lexie chen vào. “Chúng ta có thể hỏi mẹ em và sau đó tra tên em trong những cuốn gia phả. Trong tiết lịch sử, thầy Mitchell đã dạy cho bọn chị cách này. Trong cuốn phả hệ có mọi thông tin, giống như danh sách hành khách và những thứ đại loại vậy. Thầy nói là ở đảo Ellis thì phải? Người ta có thể tra được tổ tiên của họ đã đến bằng con thuyền nào và tất cả những thứ tương tự vậy. Em có nghĩ rằng mẹ em biết được họ đã đến khi nào không?
Bà Richardson cảm thấy cuộc trò chuyện đang trượt vào thế bí. “Lexie, con nói chuyện cứ như một phóng viên mới vào nghề vậy đó,” bà nói, bằng giọng điệu khá chói tai. “Có lẽ khi vào trường Yale con nên nghiên cứu ngành báo chí.”
Lexie khịt mũi. “Con không bao giờ làm phóng viên đâu mẹ,” cô trả lời. “Con sẽ không dành cả đời ngồi trong phòng điểm tin chán ngắt để viết một mục báo trên cây-lược-tin của ủy ban thành phố.”
“Chị Lexie,” trước khi mẹ chúng kịp lên tiếng thì Izzy ngắt lời, “muốn trở thành một Julia Roberts thứ hai hả. Hôm nay là phim Miss Adelaide; ngày mai là phim Người tình nước Mỹ.”
“Im đi,” Lexie quát. “Có lẽ Julia Roberts cũng vào nghề bằng các vở kịch ở trường trung học thôi nha.”
“Em rất thích,” đột nhiên Pearl nói. Ai nấy đều nhìn chằm chằm.
“Thích cái gì?” Lexie hỏi.
“Trở thành một phóng viên,” Pearl nói. “Ý em là, trở thành một nhà báo. Chị có thể tìm ra mọi thứ. Chị được nghe mọi người kể chuyện và tìm ra sự thật rồi viết về sự thật ấy.” Pearl nói bằng thứ nhiệt huyết mà chỉ thiếu niên mới thật sự có, rằng “Chị dùng ngôn từ để thay đổi thế giới. Em thích làm công việc đó.” Cô bé liếc nhìn bà Richardson, lần đầu tiên bà nhận ra đôi mắt Pearl mới to tròn và chân thành làm sao. “Giống như công việc của bác vậy. Con rất thích làm những việc mà bác làm.”
“Thật sao,” bà Richardson hỏi. Bà thật sự xúc động, và trong phút chốc bà quên mất lý do vì sao họ có mặt tại bữa ăn nửa buổi này. “Tuyệt lắm. Con có thể thử và viết cho tờ Shakerite - một tờ báo trường - xem như cách tốt để học từ những điều cơ bản. Rồi sau đó, khi con đã sẵn sàng, có lẽ bác có thể giúp con tìm một ghế thực tập.” Bà dừng lại, đột nhiên nhớ ra lý do ban đầu mình đã mời Pearl đến đây. “Dù sao đi nữa, còn nhiều thứ để nghĩ lắm,” bà dứt lời và dùng que cần tây khuấy mạnh ly nước. “Izzy, con ăn hết chỗ này à? Bánh mì nướng và thạch trái cây hả? Nói thiệt, con có thể ăn mấy món này ở nhà mà.”
Phải mất vài cuộc gọi để tìm ra văn phòng Hộ tịch ở San Francisco, nhưng một khi bà Richardson đã có số điện thoại của họ thì không còn gì trở ngại nữa. Trong vòng mười phút, cô thư ký đã fax qua một biểu mẫu yêu cầu giấy khai sinh mà không hỏi bất cứ câu gì. Bà Richardson đánh dấu vào ô một bản sao “tư liệu” rồi điền tên và ngày sinh của Pearl vào, theo đó là tên của Mia. Tất nhiên, chỗ điền tên người bố vẫn để trống, nhưng cô thư ký đã đảm bảo với bà rằng họ có thể tìm ra tài liệu chính xác ngay cả khi không có tên người bố, rằng tất cả đều là hồ sơ mở. “Từ hai đến bốn tuần - nếu chúng tôi tra ra, chúng tôi sẽ gửi nó cho chị,” cô ta đã hứa vậy, và bà Richardson đã điền địa chỉ của mình, đính vào một tờ séc mười tám đô-la, và bỏ phong bì vào trong thư.
Phải mất năm tuần, nhưng khi tờ giấy khai sinh được bỏ vào hộp thư của nhà Richardson, thì có chút thất vọng. Dưới dòng “Người bố” là chữ “KHÔNG” được gõ một cách gọn gàng. Bà Richardson mím môi đầy thất vọng. Bà cảm thấy thật bất hợp pháp khi cho phép ai đó che giấu tên của một phụ huynh. Rõ ràng là có gì đó không hợp lý, việc không sẵn lòng chia sẻ về nguồn gốc như thế này, không sẵn lòng tuyên bố lai lịch một cách thẳng thắn như vậy. Bà nghĩ, chuyện này có gì đó giống như từ chối bàn giao các tài liệu bảo trì khi bán một chiếc xe đã qua sử dụng. Chẳng lẽ người ta không có quyền biết về nguồn gốc của một thứ gì đó, để chắc rằng liệu nó có đáng tin cậy hay không? Chẳng lẽ bà - là người thuê người phụ nữ này, cũng là chủ nhà của cô ta - lại không có quyền được biết?
Ít nhất, bà nghĩ, bà có chút thông tin mới: quê của Mia, đã ghi là thành phố Bethel Park, bang Pennsylvania, trên tờ giấy khai sinh bên cạnh tên Mia Warren.
Danh bạ hộ khẩu của Bethel Park đã cho bà biết rằng thành phố có bốn mươi bốn mục họ “Warren”. Sau vài suy nghĩ, bà Richardson đã gọi cho phòng văn thư lưu trữ của thành phố, một nơi không sẵn lòng giúp đỡ như văn phòng ở San Francisco. Người phụ nữ trong điện thoại đã khăng khăng rằng trong tài liệu ghi chép không hề có Mia Warren nào cả.
“Còn Mia Wright thì sao?” bà Richardson hỏi, trong một cơn bốc đồng, và sau một đỗi im lặng cùng tiếng bàn phím lốc cốc, người phụ nữ kia trả lời rằng có, một cái tên Mia Wright sinh năm 1962 tại Bethel Park. Ôi, và còn có một Warren Wright sinh năm 1964 - bà Richardson đã có được cái tên kết hợp của cô ta rồi phải không?
Bà Richardson cảm ơn và gác máy.
Phải mất vài ngày, nhưng nhờ những kỹ năng báo cáo kỹ lưỡng và các cuộc điện thoại phong phú đó giờ, mà cuối cùng bà Richardson cũng tìm thấy mấu chốt mà bà đang tìm kiếm. Nó nằm trong một bản cáo phó trên tờ nhật báo Pittsburgh Post, ngày 17 tháng 2 năm 1982.
Các Dịch Vụ cho Trường Phổ Thông được Tổ Chức Vào Thứ Sáu
Dịch vụ tang lễ cho Warren Wright, 17 tuổi, sẽ được tổ chức vào thứ Sáu, ngày 19 tháng Một, lúc 11 giờ sáng tại Nhà tang lễ Walter E. Griffith, số 5636 đường Brownsville. Cậu Wright vẫn sống mãi trong lòng bố mẹ mình, hai vợ chồng George Wright, những cư dân lâu năm của Bethel Park, và người chị gái Mia Wright đã tốt nghiệp quận năm 1980. Thay cho hoa, gia đình đề nghị quyên góp cho đội bóng đá của trường Bethel Park, nơi mà cậu Wright cũng là một thành viên đáng tự hào của đội.
Không thể nào là trùng hợp, bà Richardson quả quyết. Mia Wright. Warren Wright. Mia Warren. Bà gọi cho dịch vụ nhân khẩu của Bethel Park một lần nữa và khi gác máy, bà nhìn xuống ghi chú mình vừa kê ra trên một mẩu giấy. George và Regina Wright, số 175 đường Nam Ridge. Một mã zip. Một số điện thoại.
Có chút khinh khỉnh, bà nghĩ rằng quá dễ dàng để tìm ra thông tin của người khác. Tất cả đều bày ra đó, mọi thứ về họ. Bạn chỉ việc nhìn. Nếu đủ cố gắng, bạn có thể tìm ra bất cứ thông tin gì về người đó.
Vào lúc bà Richardson tìm ra bố mẹ của Mia, thì vụ kiện vẫn nằm trên mặt báo - thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Trong một tháng vừa qua, đất nước bị kích động bởi những hớ hênh hào nhoáng của tổng thống: bất cứ ai cũng có thể nói về những điếu thuốc lá, một bộ đầm xanh thẫm, những thứ có thể xảy ra nơi bàn họp ở phòng Bầu Dục. Hẳn nhiên là xôn xao dư luận, mặc dù, toàn bộ chuyện này tạo cảm giác khá khôi hài. Khắp thành phố, nhiều ý kiến khác nhau từ Không việc gì phải lo về cách điều hành đất nước của Tất cả các vị Tổng thống có trình độ cho đến một cách súc tích hơn là Ai quan tâm chứ? Nhưng công chúng - và đặc biệt là công chúng tại Shaker Heights - bây giờ đang cực kỳ chú tâm vào vụ của Mirabelle McCullough, và chuyện này, không giống như vụ bê bối thực tập, mà lại vô cùng nghiêm trọng.
Gần như mỗi buổi tối đều có ít nhất một cập nhật mới về vụ án - vụ mà, chưa có tiền lệ, chỉ vừa được định ngày điều trần và lưu vào sổ lưu án với cái tên Án lệ bà Châu ở quận Cuyahoga. Không chỉ tất cả người dân ở Shaker Heights mà mỗi người dân ở Cleveland đều có quan điểm của mình. Thực tế thì vụ án này liên quan đến Shaker - một cộng đồng muốn giữ mình như chuẩn mực của thành phố lớn - đã thu hút sự quan tâm của mọi người. Một bà mẹ xứng đáng được tự tay nuôi nấng con mình. Một bà mẹ đã ruồng bỏ con mình không xứng đáng có được cơ hội thứ hai. Một gia đình người da trắng sẽ chia cách đứa bé Trung Quốc khỏi nền văn hóa đã sinh ra nó. Một mái ấm yêu thương quan trọng hơn sắc tộc của bố mẹ nó. McCullough là gia đình duy nhất mà bé Mirabelle từng biết. Mai Linh có quyền biết mẹ ruột của mình.
Gia đình McCullough đang cứu vớt cho Mirabelle, phe ủng hộ họ khăng khăng như thế. Họ mang cuộc sống tốt đẹp hơn đến cho một đứa trẻ không được mong đợi. Hai vợ chồng ấy là những người hùng, họ đang phá vỡ nạn phân biệt chủng tộc qua việc nhận con nuôi một cách giao-thoa-văn-hóa. “Tôi thấy họ đang làm một điều tuyệt vời, “ một phụ nữ đã trả lời phóng viên trong một đoạn ghi hình trên đường phố. “Ý tôi là, đó chính là tương lai, có phải không? Trong tương lai tất cả chúng ta có thể nhìn lại cuộc đua trong quá khứ.” “Anh có thể chỉ nhìn thấy cô ấy là một bà mẹ tuyệt vời đến thế nào,” một trong những người hàng xóm của gia đình McCullough đã nói thế sau đó vài phút. “Có thể nói rằng khi cô ấy nhìn xuống đứa bé trong vòng tay, cô không xem đó là một đứa bé người Trung Quốc. Mà tất cả những gì cô ấy thấy là một em bé, đơn giản và dung dị.”
Đó chính là vấn đề, phe ủng hộ cho Bebe đã khẳng định. “Con bé không chỉ là một đứa trẻ,” một phụ nữ đã phản bác, hòng tìm kiếm viễn cảnh cho người châu Á, khi Kênh số 5 đưa phóng viên đến Asia Plaza, một trung tâm mua sắm quy mô nhỏ được xem là khu Phố người Hoa ở Cleveland. “Con bé là một em bé Trung Quốc. Con bé sẽ trưởng thành mà không hề biết gì về nguồn cội của mình. Làm sao con bé có thể biết được mình là ai?” Mẹ của Serena Vương tình cờ mua sắm tại siêu thị châu Á vào sáng hôm đó và - khiến cho Serena đồng thời tự hào lẫn xấu hổ - đã phát ngôn một cách khá mạnh mẽ về chủ đề này. “Để giả vờ rằng đây chỉ là một đứa bé - giả vờ như ở đây chẳng có vấn đề phân biệt chủng tộc nào cả - thì quả là giả dối,” bác sĩ Vương ngắt lời, trong khi Serena cứ lăng xăng với cái phiếu tính tiền. “Và không hề, tôi không ‘chơi trò phân biệt chủng tộc’. Hãy tự hỏi lòng mình: nếu đó là một đứa trẻ tóc vàng liệu mọi người có thảo luận sôi nổi đến như vậy hay không?”
Sau nhiều cuộc thảo luận với luật sư, chính gia đình McCullough đã chấp nhận cuộc phỏng vấn độc quyền của Kênh số 3. Ông Richardson đã đồng ý đem mọi chuyện công khai một cách rõ ràng, vì vậy Kênh số 3 đã đưa một đội quay phim và một nhà sản xuất đến phòng khách của nhà McCullough và quay cảnh hai vợ chồng cùng bé Mirabelle đang ngồi trên bộ sô-pha rời ngay trước một đầu báo cháy, trong khi ông ấy ngồi bên ngoài màn hình. “Tất nhiên là chúng ta hiểu được lý do vì sao mà cô Châu lại làm như vậy,” bà McCullough nói. “Nhưng hai vợ chồng tôi đã có mặt trong hầu hết quãng đời của con bé và chúng tôi là tất cả những gì mà con bé nhớ. Tôi cảm thấy rằng Mirabelle thật sự là con gái mình, rằng con bé đến bên tôi như thế này là có lý do.”
“Ngoài kia sẽ không có ai,” bà McCullough nói thêm, “có thể thật lòng nói rằng Mirabelle ở trong một gia đình ổn định với đầy đủ bố mẹ thế này là không khá khẩm hơn.”
“Một số người cho rằng Mirabelle sẽ không còn liên hệ gì với cội nguồn văn hóa,” người sản xuất nói. “Bà trả lời thế nào cho những lo ngại ấy?”
Bà McCullough gật đầu. “Hai vợ chồng tôi đang cố gắng hết sức thận trọng với chuyện đó,” bà nói. “Mọi người sẽ nhận ra rằng chúng tôi ngày càng treo nhiều tranh nghệ thuật châu Á lên tường.” Bà phát tay lên những cuộn giấy với những ngọn núi được quét mực tàu đang treo trên lò sưởi, con ngựa bằng gốm tráng men đặt trên mặt lò sưởi. “Chúng tôi cam kết rằng, khi con bé lớn hơn, chúng tôi sẽ dạy cho nó biết về cội nguồn văn hóa đã sinh ra nó. Và, tất nhiên, con bé sẽ thích hạt gạo. Thực ra, cơm là thức ăn dạng rắn đầu tiên của bé.”
“Đồng thời,” ông Richardson nói, “chúng tôi muốn Mirabelle trưởng thành như một đứa con gái Mỹ điển hình. Chúng tôi muốn con bé biết rằng mình hoàn toàn giống với bất cứ ai khác.” Phân đoạn tin tức kết thúc với cảnh quay gia đình McCullough đứng bên chiếc cũi của Mirabelle khi con bé ê a cùng chiếc điện thoại di động.
Ngay cả những đứa trẻ của gia đình Richardson cũng tự thấy bất bình với đề tài hóc búa này. Tất nhiên, bà Richardson chắc chắn đứng về phía của gia đình McCullough, và Lexie cũng vậy. “Hãy nhìn cuộc sống hiện tại của Mirabelle mà xem,”, Lexie thét lên vào bữa ăn tối thứ Bảy. “Nhà cao cửa rộng để vui đùa. Có sân vườn. Hai căn phòng chất đầy đồ chơi. Mẹ của con bé không thể nào cho nó một cuộc sống như vậy.” Bà Richardson đồng ý: “Họ yêu con bé nhiều lắm. Họ đã chờ đợi quá lâu. Và họ đã nuôi nấng ngay từ khi con bé mới chào đời. Bây giờ con bé đã quên mất mẹ ruột của nó rồi. Mà David và Linda là bố mẹ duy nhất mà nó biết. Rất tàn nhẫn nếu bây giờ mọi người bắt con bé đi mất, khi mà họ chẳng là gì ngoại trừ việc họ là những ông bố bà mẹ lý tưởng.”
Ngược lại, Moody và Izzy thì thiên về phía Bebe. “Cô ấy đã phạm một sai lầm,” Moody khẳng định. “Cô ấy từng nghĩ rằng mình không thể chăm sóc cho đứa bé nhưng sau đó mọi thứ thay đổi và giờ cô ta có khả năng. Điều đó không có nghĩa là con của cô ta bị đem đi mãi mãi.” Izzy lại càng ngắn gọn hơn: “Cô ấy là mẹ nó. Bọn họ thì không.” Vụ kiện này có thứ gì đó đã châm ngòi trong cô, mặc dù cô không chắc đó là gì, và qua một thời gian dài cô cũng không thể cắt nghĩa rõ ràng được.
“Tối qua Cliff và Clair đã tranh cãi về chuyện này,” một buổi chiều Brian kể với Lexie. Họ đang nằm trên giường, nửa khỏa thân, vừa bỏ qua buổi tập bóng vợt và khúc côn cầu trên cỏ để tham gia vào một loại vận động khác. “Cliff và Clair không bao giờ cãi nhau.” Cuộc cãi vả nổ ra vào bữa tối, và cho đến khi cậu đi ngủ thì hai người họ đã rơi vào sự im lặng lạnh lùng ngoan cố. “Bố anh nghĩ rằng con bé ở với gia đình McCullough thì tốt hơn. Bố nghĩ rằng con bé chẳng có tương lai gì với một bà mẹ như cô Bebe. Bố nói là những bà mẹ như cô ta là loại cha mẹ xoay mãi cái vòng tròn nghèo đói.”
“Nhưng anh nghĩ sao?” Lexie tiếp tục. Brian do dự. Mẹ của cậu đã khiến cậu ngạc nhiên, bà đã cắt ngang tràng đả kích của bố - điều mà bà vẫn thường hay làm nhưng chưa bao giờ kịch liệt đến thế. “Vậy hết thảy bọn trẻ da màu sẽ bước vào những gia đình da trắng thì sao?” bà nói. “Anh nghĩ rằng điều đó đang phá vỡ vòng lặp nghèo đói hay sao? Bà bỏ cái nồi vào bồn rửa đánh xoảng rồi mở nước. Hơi nước bốc lên thành một đám mây xì xèo. “Thay vào đó, nếu họ muốn giúp đỡ cho cộng đồng da màu, tại sao họ không thay đổi chế độ trước đi chứ?” Lập luận của bố đã làm cho Brian cảm thấy hợp lý - đứa bé an toàn, được chăm sóc và yêu thương bằng mọi cơ hội có thể. Tuy nhiên cơ thể màu nâu nhỏ bé được bao bọc trong vòng tay xanh xao thon dài của bà McCullough có điều gì đó đã khiến cậu bối rối như mẹ cậu đã nói. Cậu cảm thấy hơi khó chịu - không, là giận dữ - khi cô Bebe làm cho cậu rơi vào tình cảnh này.
“Anh nghĩ rằng nếu cô ta cẩn thận hơn thì đã có thể tránh được toàn bộ chuyện này,” cậu trả lời một cách hà khắc. “Ý anh là, dùng bao cao su. Chuyện đó có khó gì? Bỏ một đô-la cho nhà thuốc và toàn bộ chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra.”
“Cách để qua chuyện hả Bry,” Lexie nói, và nhặt cái quần jean dưới sàn.
Với sự trợ giúp của ông Ed Lâm, Bebe đã nộp hồ sơ chính thức và được cấp quyền thăm nom tạm thời, một lần mỗi tuần trong vòng hai giờ đồng hồ. Trong thời gian này hai vợ chồng McCullough vẫn được giữ quyền nuôi con.
Không ai hài lòng với sự an bài đó.
“Chỉ trong thư viện hoặc ‘một nơi công cộng’ nào đó,” Bebe than thở với cô Mia. “Thậm chí con bé còn không được đến nhà em. Em phải ôm con mình ở thư viện chứ. Và nhân viên xã hội ngồi ngay đó, lúc nào cũng quan sát em. Cứ như em là tội phạm vậy. Cứ như em sẽ làm đau con vậy. Những người nhà McCullough này, họ nói rằng em có thể đến nhà họ, thăm con em tại đó. Họ nghĩ là em sẽ ngồi đó rồi cười nói trong khi chính bọn họ đã bắt cóc con em hay sao? Họ nghĩ là em sẽ ngồi trước cái lò sưởi và nhìn những bức ảnh của một người đàn bà khác đang ôm con mình hay sao?”
Trong khi đó, bà McCullough cũng có những than phiền của mình.
“Chị không biết được cảm giác đó đâu,” bà kể với bà Richardson qua điện thoại. “Giao con mình cho người lạ. Nhìn người đàn bà mà thậm chí mình còn không biết được là cô ta có ẵm con mình đi mất hay không. Mỗi lần chuông cửa reo lên là tôi đến phát ban luôn, chị Elena à. Sau khi họ đi khỏi, tôi thật sự quỳ xuống và cầu nguyện rằng cô ta sẽ quay lại như lời cô ta nói. Đêm hôm trước, tôi không ngủ được. Tôi phải uống mấy viên thuốc ngủ đó.” Bà Richardson ậm ừ thông cảm. “Và không ngày nào giống ngày nào. Mỗi tuần tôi đều nói, làm ơn, chúng ta có thể chọn lấy một giờ cố định được không. Làm ơn, chúng ta ấn định một ngày nào đó đi. Ít nhất bằng cách này thì tôi sẽ biết được khi nào cô ta sắp đến. Tôi còn có thời gian để chuẩn bị. Nhưng không, cô ta chỉ nói trước với nhân viên xã hội có một ngày. Cô ta nói rằng tới khi đó mới biết được lịch làm việc. Tôi nhận được một cuộc gọi vào buổi chiều - à, chúng tôi sẽ đến vào mười giờ ngày mai nhé. Thông báo chưa đến nửa ngày. Tôi bực mình quá thể.”
“Chỉ một thời gian thôi, Linda à,” bà Richardson nói dịu dàng. “Ngày ra tòa là trong tháng và tất nhiên chính quyền sẽ phán quyết đứa bé thuộc về chị.”
“Tôi cũng mong chị nói đúng,” bà McCullough trả lời. “Nhưng sẽ ra sao nếu họ phán quyết...” Bà ngừng lại, giọng khàn đặc, và hít một hơi thật sâu. “Tôi không muốn nghĩ tới chuyện đó.” Giọng bà sắc lại. “Nếu cô ta thậm chí còn không sắp xếp được lịch làm việc của mình, thì làm sao trông mong cô ta đủ ổn định để có thể nuôi dạy một đứa trẻ cơ chứ?”
“Chuyện này rồi sẽ qua thôi,” bà Richardson nói.
Tuy nhiên, sự bình tĩnh của bà Richardson đi ngược lại những cảm giác thật sự trong lòng bà. Càng nghĩ về Mia thì bà càng tức giận, và lại càng không thể ngừng suy nghĩ về cô ta.
Bà đã sống cả cuộc đời ở Shaker Heights, và mảnh đất này đã ngấm vào bà đến tận xương tủy. Ký ức tuổi thơ của bà - một dải đất rộng màu xanh lá: những bãi cỏ rộng, những cái cây cao, màu xanh tươi sang trọng đi kèm với sự sung túc - giống như tập quảng cáo tiếp thị mà hàng thập kỷ qua thành phố đã phát hành để thu hút đúng kiểu cư dân mà mình muốn. Điều này tạo ra một số ý nghĩa nhất định: ông bà của bà Richardson đã sống ở Shaker Heights này gần như từ những ngày đầu. Họ đã đến đây từ năm 1927, khi nơi này chính xác hãy còn là một ngôi làng - mặc dù nó đã được xem là khu dân cư tốt nhất trên thế giới, ông nội của bà đã lớn lên ở trung tâm thành phố Cleveland, ở nơi mà họ gọi đó là Dãy nhà của những Triệu phú, ngôi nhà hình bánh cưới có diềm răng cưa của gia đình ông nép bên cạnh gia tộc Rockfeller, vua điện báo và thư ký của Tổng thống McKinley. Tuy nhiên, vào thời điểm mà ông nội của bà Richardson - khi đó đã là một luật sư danh tiếng - đang chuẩn bị rước cô dâu của ông về nhà, thì trung tâm thành phố đã trở nên ồn ào và tắc nghẽn. Bồ hóng phủ nghẹt không khí và làm bẩn quần áo phụ nữ. Ông đã quyết định phải chuyển về vùng nông thôn ngay thôi. Bạn bè ông khăng khăng rằng chuyển đi quá xa thành phố như vậy thật là điên rồ, nhưng ông là người thích khí trời và cô dâu tương lai của ông là một phụ nữ khao khát được cưỡi ngựa, và Shaker Heights có ba con đường dành cho ngựa đi, có suối để câu cá và có cả bầu không khí trong lành. Bên cạnh đó, một tuyến đường sắt nội thành mới đây đã nhanh chóng đưa các doanh nhân từ Shaker đến thẳng trung tâm thành phố: còn gì hiện đại hơn. Đôi vợ chồng đã mua một căn nhà nằm trên đường Sedgewick, thuê một người giúp việc, tham gia vào câu lạc bộ đồng quê; bà nội của bà Richardson đã tìm được chuồng cho con ngựa của mình, con Jackson, và đã tham gia vào Câu lạc bộ Chậu hoa vườn.
Vào thời điểm mà mẹ của bà Richardson, bà Caroline, chào đời vào năm 1931, mọi thứ đã bớt chút nông thôn nhưng cũng không kém phần bình dị. Shaker Heights chính thức trở thành thành phố; với chín trường tiểu học và một ngôi trường phổ thông tường-gạch-đỏ vừa mới xây xong. Những căn nhà mới toanh vương giả đang mọc lên khắp nơi trong thành phố, mỗi căn nhà đều tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về phong cách và mã màu, và bị ràng buộc bởi một thỏa ước 99 năm về việc cấm bán lại cho bất cứ ai khi không có được sự đồng thuận của khu phố đó. Các cư dân quả quyết với nhau rằng những quy tắc, quy định và trật tự là điều cần thiết để giữ cho cộng đồng này được thống nhất và tốt đẹp.
Và Shaker Heights thực sự rất đẹp. Những bãi cỏ, những khu vườn sum suê có mặt khắp mọi nơi - người dân đã hứa sẽ nhổ cỏ đi, chỉ giữ lại hoa, và không bao giờ trồng rau cải. Những người may mắn sống ở Shaker này khẳng định họ là cộng đồng tốt nhất nước Mỹ. Đó là nơi mà - như một người dân đã phát hiện ra - nếu anh làm mất chiếc nhẫn cưới kim cương trị giá hàng ngàn đô-la khi đang dùng xẻng dọn sạch ngõ vào nhà thì bộ phận dịch vụ sẽ di dời toàn bộ tảng tuyết, mang nó vào nhà để xe thành phố và dùng đèn nhiệt làm tan chảy để tìm lại tài sản cho anh. Caroline trưởng thành trong những cuộc dã ngoại mùa hè bên những bờ hồ Shaker, trượt băng trên những sân trượt ngập lụt của thành phố vào mùa đông và hát mừng lễ Giáng sinh. Bà xem những buổi công chiếu của phim Khúc hát Phương Nam {Song of the South) và phim Anna và vị Vua nước Thái Lan {Anna and the King of Siam) tại nhà hát ở Quảng trường Shaker và vào những dịp đặc biệt - như sinh nhật của bà chẳng hạn - bố của bà đã dắt bà đến nhà hàng Stouffer’s ăn một bữa tiệc trưa tôm hùm. Khi đến tuổi teen, Caroline trở thành nữ trống dẫn đầu trong nhóm diễu hành của trường, bà đã dừng chân trước một Câu lạc bộ Thuyền buồm cùng với một chàng trai, người mà chỉ vài năm sau đó sẽ trở thành chồng bà.
Theo tưởng tượng của bà, đó chính là cuộc sống hoàn hảo ở một nơi hoàn hảo. Mọi người ở Shaker Heights đều cảm thấy như vậy. Vì vậy, khi rõ ràng là thế giới bên ngoài không hoàn hảo - vụ Brown V. Board đã tạo ra cuộc náo động và biểu tình tẩy chay xe buýt ở Montgomery và vụ 9 học sinh Mỹ gốc Phi ở Little Rock (Little Rock Nine) đã khiến cho con đường học hành của họ phải chịu một cơn bão gièm pha và phỉ nhổ - thì cư dân ở Shaker, bao gồm Caroline, đã tự mình quyết định rằng phải trở nên tốt đẹp hơn. Rốt cuộc, chẳng phải họ đã thông minh hơn, khôn ngoan hơn, chu đáo hơn và lo liệu nhiều hơn, giàu có nhất và giác ngộ nhất hay sao? Chẳng phải họ có nghĩa vụ phải soi sáng cho người khác hay sao? Những người ưu tú không có trách nhiệm chia sẻ hạnh phúc của mình cho những số phận kém may mắn hơn hay sao? Mẹ bà vẫn luôn dạy bà nghĩ đến những người cần giúp đỡ: bà ấy đã tổ chức các cuộc vận động quyên góp đồ chơi vào dịp Giáng sinh, là thành viên của Hội Trẻ em địa phương, thậm chí còn giám sát việc biên soạn một quyển sách nấu ăn của Hội, với tất cả lợi nhuận đều quyên vào từ thiện, và bà còn đóng góp bí quyết làm bánh quy mật. Khi những rắc rối của thế giới ngoài kia hiện diện tại Shaker Heights - bằng quả bom trong nhà của một bác sĩ người da đen - thì cộng đồng nơi đây cảm thấy rằng phải có nghĩa vụ chứng minh điều này không phải kiểu của Shaker. Một hiệp hội khu phố đã mọc lên để khuyến khích hội nhập tác phong đặc biệt của Shaker Heights: nhiều khoản cho vay nhằm khuyến khích các gia đình người da trắng chuyển đến sống tại các khu phố của người da đen, nhiều khoản cho vay nhằm khuyến khích các gia đình người da đen chuyển đến sống tại các khu phố của người da trắng và các quy định nghiêm cấm mọi dấu hiệu “Đăng Bán” nhằm ngăn chặn Cuộc di cư da trắng[1] - một luật lệ có hiệu lực trong suốt năm mươi năm tới. Cho đến khi đó, Caroline, bà nhà với đứa con mới một tuổi - bà Richardson hồi còn bé - đã lập tức gia nhập hiệp hội hợp nhất. Vài năm sau, bà đã dắt theo con gái, lái xe năm tiếng rưỡi đồng hồ đến Cuộc tuần hành Washington[2], và bà Richardson sẽ chẳng bao giờ quên ngày hôm ấy, ánh mặt trời oi ả làm đôi mắt bà nheo lại, mớ con người hỗn độn áp hết bắp đùi này đến bắp đùi khác lên bà, mùi mồ hôi hôi hám nóng bức bốc lên từ đám đông, Tượng đài Washington vươn xa khỏi biển người, giống như chiếc gai nhọn duỗi mình chọc thủng những đám mây. Bà nắm chặt tay mẹ, sợ rằng biết đâu mẹ bị cuốn đi mất. “Không hay chút nào,” mẹ bà nói mà không hề nhìn xuống con gái mình. “Hãy nhớ lấy khoảnh khắc này nhé, Elena.” Và Elena sẽ ghi nhớ vẻ mặt của mẹ bà, vẻ khao khát mang thế giới này sát gần đến sự hoàn hảo - giống như việc xoay cái chốt của cây đàn violin và mang dây đàn quyện vào giai điệu. Mẹ bà tin rằng sẽ làm được điều đó, nếu người ta đủ cố gắng thì không việc gì phải hỗn độn.
Thế nhưng ba thế hệ ở Shaker đều tôn sùng trật tự, quy tắc và nghi thức cũng sẽ ở lại với bà, và không bao giờ bà có thể hoàn toàn cân bằng được hết thảy. Năm 1968, Elena mười lăm tuổi đã bật TV và theo dõi những cuộc hỗn loạn đang bùng lên khắp đất nước như những cuộc xung đột nhỏ. Martin Luther King, Jr., sau đó là Bobby Kennedy. Những sinh viên trong cuộc nổi dậy tại Columbia. Các cuộc bạo động ở Chicago, Memphis, Baltimore, D.c. - khắp nơi, khắp chốn, mọi thứ đang tan rã. Tận đáy lòng bà là ngọn lửa kích động, một ngọn lửa mà nhiều năm về sau sẽ bùng lên trong lòng Izzy. Tất nhiên bà hiểu được lý do vì sao chuyện này lại diễn ra: người ta đang chiến đấu chống lại những điều bất công. Nhưng một phần trong bà đã rùng mình trước những cảnh tượng từ màn hình TV. Những cảnh quay đầy sạn, nhưng cũng không kém phần đáng sợ: những cửa hàng tạp hóa bốc cháy, cuộn khói bốc lên từ những mái nhà, những bức tường bị ngọn lửa gặm nhấm đến từng cái đinh. Các cạnh lởm chởm của những cánh cửa sổ vỡ vụn giống như những chiếc răng nanh trong đêm. Binh lính mang súng trường đang tuần hành qua các hiệu thuốc và các hiệu giặt tự động. Những chiếc xe jeep đang chặn những nút giao thông bên dưới những cột đèn giao thông chết hỏng. Bạn có phải thiêu rụi cái cũ để nhường chỗ cho cái mới hay không? Tấm thảm dưới chân bà thật mềm mại. Chiếc ghế sô-pha bên dưới bà được trang trí hình hoa hồng. Bên ngoài, một con chim bồ câu buồn rầu gù lên gọi chủ và một chiếc Cadillac lướt tới một trạm dừng trang nghiêm nơi góc đường. Bà tự hỏi liệu đâu mới là thế giới thực.
Mùa xuân năm sau, khi nổ ra các cuộc biểu tình chống chiến tranh, bà không lên xe, không lái đến đó để tham gia. Bà đã viết những bức thư đầy xúc động gửi cho ban biên tập; bà đã đánh dấu thỉnh cầu vào cuối bản thảo. Bà đã khâu một biểu tượng hòa bình trên chiếc ba lô. Bà đã kết hoa lên mái tóc.
Bà không sợ. Mà đơn giản vì dù Shaker Heights có mang chủ nghĩa lý tưởng hóa đi nữa thì đó cũng là một nơi mang chủ nghĩa thực dụng, và bà không biết phải làm sao để trở thành một thứ gì đó khác. Một cuộc sống mang đầy suy xét về tính thiết thực và sự thoải mái đã ngự trên đỉnh của ngọn lửa trong lòng bà như tấm chăn dày cộm và nặng trịch. Nếu bà chạy đến Washington để tham gia các cuộc biểu tình, thì bà sẽ ngủ ở đâu? Làm sao để giữ an toàn cho mình? Các lớp học của bà sẽ ra sao, liệu bà có bị trục xuất, liệu bà vẫn được tốt nghiệp và có được lên đại học hay không? Mùa xuân của năm cuối cấp, vào một ngày sau khi học xong lớp lịch sử Jamie Reese đã kéo bà sang một bên. “Tớ sẽ bỏ học,” cậu ta nói. “Sẽ đến California. Đi cùng tới nha.” Bà đã yêu mến Jamie từ hồi lớp 7, khi cậu ta ngưỡng mộ một bài thơ sonnet mà bà viết bằng tiếng Anh. Bây giờ, sắp sửa mười chín tuổi, cậu ta có mái tóc dài và bộ râu bờm xờm, một người không thích nhà cầm quyền, có một chiếc xe tải hiệu VW, cậu bảo rằng hai người có thể sống trong đó. “Giống như cắm trại vậy,” cậu nói, “ngoại trừ việc chúng ta có thể đi bất cứ đâu,” và bà cực kỳ muốn đi cùng cậu ấy, đến bất cứ đâu, để đặt nụ hôn lên nụ cười bẽn lẽn, gượng gạo ấy. Nhưng họ mua thức ăn thế nào đây, họ sẽ giặt giũ ở đâu, tắm táp ở đâu? Bố mẹ bà sẽ nói gì? Hàng xóm láng giềng, giáo viên và bạn bè của bà nữa? Bà đã hôn lên má của Jamie và khóc khi, rốt cuộc thì, cậu ấy cũng biến mất khỏi tầm mắt bà.
Mùa thu ấy, ngay tại Denison, trong khi các cuộc biểu tình lại một lần nữa diễn ra ác liệt tại DC, thì bà đã ngồi cùng bạn học và xem cuộc rút thăm quân dịch chiếu trực tiếp trên chiếc TV để phòng nhỏ xíu kiểu phổ thông. Sinh nhật của Jamie - ngày 24 tháng Tư - đã lọt vào đợt chọn thứ hai. Vì vậy, bà nghĩ rằng, cậu ấy có thể nằm trong số những người đầu tiên được gọi, và bà tự hỏi liệu cậu ấy đã đi đâu, nếu biết được điều gì đang đợi mình, thì liệu cậu sẽ trình báo hay bỏ chạy. Ở bên cạnh, Billy Richardson siết chặt tay bà. Sinh nhật của ông - ngày 29 tháng Ba - là một trong những người rút cuối cùng, số 362, và dù sao đi nữa, là một sinh viên năm cuối, ông được cấp phép hoãn, ông được an toàn. Trong một vài năm, sau khi họ tốt nghiệp, chiến tranh sẽ chấm dứt và họ sẽ kết hôn, sẽ mua một căn nhà và ổn định cuộc sống. Bà không hề hối hận.
Cả cuộc đời mình, bà đã học được rằng ngọn lửa là thứ nguy hiểm. Ngọn lửa quá dễ dàng vượt khỏi tầm kiểm soát. Nó trèo qua tường và nhảy qua hào. Tia lửa bắn lên như những con bọ chét và nhanh chóng lan rộng ra; một cơn gió có thể mang than hồng vươn xa hàng dặm. Tốt hơn hết phải kiểm soát tia lửa đó và thật cẩn thận vượt qua nó từ thế hệ này đến thế hệ khác, giống như ngọn đuốc Olympic vậy. Hoặc có lẽ, phải thận trọng giữ gìn như ngọn lửa bất diệt: ánh sáng và điều tốt lành nhắc nhở rằng sẽ không bao giờ có thể không bao giờ thiêu rụi bất cứ thứ gì. Thận trọng kiểm soát. Thuần hóa. Hài lòng trong sự giam giữ. Bà nghĩ rằng, mấu chốt nằm ở chỗ đề phòng hỏa hoạn.
Triết lý này đã đồng hành trong cuộc sống và như bà luôn cảm thấy, nó đáp ứng cho bà khá tốt. Tất nhiên là bà phải từ bỏ thứ nọ điều kia. Nhưng bà có một căn nhà xinh đẹp, một công việc ổn định, một người chồng yêu dấu, một đàn con khỏe mạnh hạnh phúc; đó chắc chắn là giá trị thương mại. Các quy luật tồn tại vì một lý do: nếu tuân thủ chúng, bạn ắt thành công; trái lại, bạn sẽ thiêu rụi thế giới.
Thế nhưng đây là Mia, chẳng làm bất cứ chuyện gì được cho là được làm: độc thân, rày đây mai đó, nghèo nàn cực khổ. Đang lê đứa con gái không có bố đi hết nơi này đến nơi khác, sống lay lắt bằng những công việc hèn mọn, đang biện hộ cho điều đó bằng cách khăng khăng với chính mình - khăng khăng với mọi người - rằng cô ta đang làm Nghệ thuật. Khiến cho Linda tội nghiệp phải chịu tổn thương, như thể những gì mà Linda trải qua là chưa đủ , như thể Mia là một loại hình mẫu về cách làm mẹ. Đang nhúng đôi tay dơ bẩn của mình vào chuyện của người khác. Đang khuấy tung rắc rối. Lơ đễnh vung vẩy những tia lửa. Bà Richardson giận sôi người, và sâu trong thâm tâm, cơn thịnh nộ vụn vặt đang âm ỉ bốc cháy. Mia làm bất cứ điều gì cô ta muốn, bà Richardson nghĩ, và chuyện gì sẽ xảy ra? Làm nát lòng người bạn lâu năm nhất của bà. Làm mọi người hỗn loạn. Cô không thể chỉ làm những thứ mà cô muốn, bà thầm nghĩ. Tại sao Mia lại khởi xướng chuyện này, trong khi chẳng ai khác làm vậy?
Mặc dù không tài nào cắt nghĩa được chuyện này - mặc dù bà đã tự nhủ với mình rằng hành động đó chỉ vì thiếu lòng tin với gia đình McCullough, rằng cô ta chỉ đơn giản muốn công lý được thực thi - thì đây là điều khiến bà đi sâu vào quá khứ của Mia. Và rốt cuộc, chính điều này đã dẫn bà Richardson bước qua ranh giới cuối cùng: bà sẽ làm một chuyến đến Pennsylvania và gặp bố mẹ của Mia. Bà sẽ tìm ra, một lần và mãi mãi, rốt cuộc thì người đàn bà này là ai.
❀ ❀ ❀
[1] Cuộc di cư Da trắng (White flight): một thuật ngữ có nguồn gốc từ nước Mỹ, bắt đầu được sử dụng từ thế kỷ 20. Thuật ngữ này nhằm ám chi các cuộc di cư lớn của những người có nguồn gốc tổ tiên dòng máu huyết thống châu Âu từ khu vực đô thị đa chủng tộc đến các vùng ngoại ô đồng nhất về chủng tộc hay đơn chủng tộc. Thuật ngữ này gần đây áp dụng cho các cuộc di cư khác của người da trắng, từ vùng ngoại ô nội trú cũ đến vùng nông thôn, cũng như từ vùng Đông Bấc và Trung Tây Hoa Kỳ tới khí hậu ôn hòa ở Đông Nam và Tây Nam.
[2] Cuộc tuần hành Washington (Great March on Washington) vì Việc làm và Tự do diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1963, Martin Luther King đã đọc diễn văn tại đài tưởng niệm Lincoln. Đây là thời điểm quyết định cho phong trào dân quyền Mỹ.