Như đã hứa, Pearl đưa bài luận đánh máy cho Lexie vào tuần kế tiếp - chuyện về hoàng tử ếch, dựa theo lời kể của con ếch. Cả cô Mia, người không muốn thừa nhận rằng mình đang nghe lén, hay Moody, người không muốn bị gán mác là kẻ đạo đức giả, chẳng ai nói một lời về chuyện này. Nhưng cả hai ngày càng không thoải mái.
Mỗi sáng khi Moody sang nhà để cùng Pearl đi bộ đến trường, từ phòng mình, Pearl đều xuất hiện trong chiếc sơ-mi của chị Lexie, hoặc chiếc áo hai dây, hoặc son môi màu đỏ sẫm. “Là của chị Lexie cho con,” cô giải thích, nửa với mẹ nửa với Moody, cả hai người đều chằm chằm nhìn cô bằng ánh mắt đầy thất vọng. “Chị Lexie nói màu này quá tối với chị nhưng lại rất hợp với con. Vì tóc con tối màu hơn.” Dưới lớp son môi, đôi môi cô trông như vệt tím bầm, nhạy cảm và thô ráp.
“Tẩy sạch đi,” cô Mia bảo, ngay lần đầu tiên trông thấy. Nhưng sáng hôm sau Pearl lại đeo cái vòng cổ của Lexie, cái vòng trông như vết cắt từ dải dây đen buộc quanh cổ.
“Hẹn gặp lại mẹ vào bữa tối,” cô nói. “Tan học con và chị Lexie sẽ đi mua sắm.”
Vào cuối tháng Mười, khi những tờ đơn đăng ký được gửi đi hết đơn này đến đơn khác thì suy nghĩ về buổi lễ kỷ niệm đã bắt đầu len lỏi trong những học sinh năm cuối. Bài luận đăng ký của Lexie đã được duyệt, và tâm trạng của cô đang vô cùng hồ hởi. Nhờ Pearl, bài luận của cô rất tốt, điểm SAT[1] loại giỏi, điểm GPA[2] cao và cô có thể sẵn sàng hình dung mình trong khuôn viên Đại học Yale. Cô cảm thấy nên thưởng cho Pearl vì sự trợ giúp của em ấy và, sau nhiều suy nghĩ, cô nảy ra ý tưởng tuyệt vời. “Cuối tuần này Stacie Perry có tiệc,”cô nói. “Muốn đến không?”
Pearl do dự. Cô có nghe về bữa tiệc của Stacie Perry, và cô cũng không chắc mình có thích hay không. “Không biết liệu mẹ có cho em đi không nữa.”
“Thôi nào, Pearl,” Trip nói, ngả tay lên chiếc sô-pha. “Anh cũng đi. Anh cần bạn nhảy cùng.” Sau đó, Pearl không cần thêm lời thuyết phục nào nữa.
Tại trường trung học Shaker Heights, bữa tiệc của Stacie Perry là một huyền thoại, ông bà Perry có nhà cao cửa rộng và thường xuyên du lịch, và Stacie có đầy đủ điều kiện. Trong trạng thái căng thẳng của việc gửi đơn đăng ký sớm cùng mấy tuần chờ kết quả thì các học sinh năm cuối đã sẵn sàng vui chơi. Suốt tuần, bữa tiệc Halloween là chủ đề sốt dẻo của các cuộc thảo luận: ai đi, ai không?
Tất nhiên, Moody và Izzy không được mời; họ chỉ biết tiếng tăm của Stacie Perry, và danh sách khách mời chủ yếu là học sinh năm cuối. Dù gắn bó với Lexie nhưng Pearl vẫn hầu như chẳng biết đến ai ngoài gia đình Richardson, và Moody thường là người bạn duy nhất mà cô nói chuyện trong suốt thời gian ở trường. Tuy vậy cả Lexie và Serena Vương đều được chính Stacie mời, do đó họ được phép dẫn theo người đi cùng - thậm chí là một học sinh năm hai không ai quen biết.
“Tớ nghĩ chúng ta sẽ thuê phim Ác quỷ nổi giận (Carrie),” Moody lầm bầm. “Cậu nói là cậu chưa xem phim này mà.”
“Cuối tuần sau nhé,” Pearl báo trước. “Đằng nào lúc đó cũng là ngày Halloween. Trừ khi cậu muốn chơi trò cho-kẹo-hay-bị-ghẹo.”
“Chúng ta lớn hết rồi,” Moody nói. Ở Shaker Heights, trò cho-kẹo-hay-bị-ghẹo cũng như mọi thứ khác, đều có quy định của nó: tiếng còi báo lúc sáu giờ và tám giờ để ra hiệu bắt đầu và kết thúc, và mặc dù không có giới hạn chính thức về độ tuổi, thì người ta có xu hướng ném ánh nhìn ngờ vực vào những cô cậu tuổi teen đang xuất hiện trước cửa nhà họ. Lần cuối cùng cậu chơi cho-kẹo-hay-bị-ghẹo là khi mười một tuổi, trong bộ dạng của một Ninja Rùa.
Trong bữa tiệc của Stacie, hóa trang là yêu cầu bắt buộc. Brian không đi - anh đang tranh thủ hoàn thành đơn đăng ký sớm vào Đại học Princeton - vì vậy anh không phải là nhân tố được trù tính. “Hãy hóa thành Những thiên thần của Charlie nào,” Lexie gào lên trong sự phấn khích vỡ òa, vì thế cô, Serena và Pearl đã vận quần ống loe phối sơ-mi sợi tổng hợp và xước tóc cao hết mức có thể. Khi mái tóc không thể cao hơn được nữa, họ liên tục tạo dáng, các ngón tay chỉa thành hình khẩu súng, và tự quan sát mình trong gương với lớp keo xịt tóc rối mù.
“Hoàn hảo,” Lexie khẳng định. “Nâu sẫm, vàng hoe và đen nhánh.” Cô chĩa ngón tay vào mũi Pearl. “Sẵn sàng cho bữa tiệc này chưa, Pearl?”
Dĩ nhiên, câu trả lời là không. Đó là đêm kỳ lạ nhất mà Pearl từng trải qua. Suốt buổi tối, bao chiếc xe được lái bởi những người trượt ván cùng nhiều động vật và Freddy Kruegers đã lái xe đỗ nơi lề cỏ rộng của nhà Stacie. Ít nhất có bốn chàng trai đeo mặt nạ Thần chết; một cặp vận áo bóng bầu dục và mũ bảo hộ; vài người sáng tạo thì mặc áo khoác dài, đội mũ phớt, đeo kính râm và quàng khăn lông. (“Mấy gã ma cô”, Lexie giải thích.) Hầu hết bọn con gái đều mặc đầm thiếu vải và đội nón hoặc đội tai thú, một người hóa trang thành công chúa Leia; người khác ăn vận như một robot nữ, tay đeo Austin Powers[3]. Bản thân Stacie thì sửa soạn như thiên thần trong chiếc váy ngắn hai dây màu ánh bạc, đôi cánh lấp lánh, vải lưới che và vầng hào quang trên chiếc băng đô.
Khi Lexie, Serena và Pearl đến nơi là chín giờ rưỡi, mọi người đều đã say rồi. Không khí đậm mùi mồ hôi và chua nồng vị bia, các cặp đôi đang ve vuốt mò mẫm nhau trong góc tối. Sàn bếp nhớp nháp thức uống chảy tràn vương vãi, vài cô nàng nằm dài trên bàn giữa đống chai rượu vơi nửa, hút điếu cần, cười khúc khích trong khi gã trai liếm rượu rum trên hõm rốn của cô ta. Lexie và Serena tự rót đồ uống và luồn lách vào sàn nhảy dã chiến ở phòng khách. Pearl, còn lại một mình, đứng nơi góc bếp, chăm một ly nhựa đỏ đầy ắp rượu Stoli pha Coca, ngóng tìm đợi Trip.
Nửa tiếng sau, cô thoáng nhìn thấy anh, phía sân trong, hóa trang như ác quỷ trong cái áo khoác màu đỏ từ cửa hàng đồ si cùng cặp sừng quỷ. “Em thậm chí không nghĩ anh ấy biết chị Stacie,” Pearl hét vào tai Serena khi cô quay trở lại lấy đồ uống. Serena nhún vai. “Stacie kể, một hôm nó nhìn thấy cậu ấy cởi trần sau khi tập banh và nghĩ cậu ta rất bảnh. Nó kể - và chị nói nguyên văn nhé - cậu ta ngon hết sảy.” Chị ấy tu một hơi rồi cười khúc khích. Pearl nhận ra mặt chị đỏ lên. “Đừng kể lại với Lexie, nhất trí nhé? Con nhỏ mửa ra đấy.” Chị ấy quay trở lại phòng khách, nhẹ nhàng lắc lư trên đôi giày cao gót mũi nhọn đang mang, và qua khung cửa kính trượt, Pearl quan sát Trip dùng cây chĩa nhựa thúc vào giữa vai của cô gái tóc đỏ. Cô vuốt lại tóc và lên kế hoạch. Ít lâu sau, khi ly của anh Trip vơi cạn, anh ấy sẽ vào trong, anh sẽ gặp cô. Anh sẽ hỏi, sao vậy Pearl. Và sau đó cô sẽ nói gì đó thật khéo léo với anh. Cô cố nghĩ ra chuyện. Chị Lexie sẽ nói gì với anh chàng mà chị ấy thích chứ nhỉ?
Nhưng trong khi cô cố vắt óc nghĩ ra thứ gì đó vừa gợi cảm lại dí dỏm thì cô nhận ra Trip đã không còn ở sân trong. Anh ấy vào trong, hay đã rời đi rồi? Cô nâng ly lên cao, len lỏi vào phòng khách, nhưng không nhìn thấy ai cả. Tiếng xập xình tràn ra từ dàn âm thanh nổi, tiếng bass dập mạnh đến mức cô có thể cảm nhận được nó trong cổ họng, và ca sĩ Janet Jackson đang xuất thần rền rĩ. Ánh sáng duy nhất đến từ vài ngọn đèn cầy, và tất cả những gì cô có thể nhận ra là những chiếc bóng quằn quại và tiếng bem bép trong những hành vi phóng đãng rõ mồn một. Cô lẻn ra sân sau, nơi có một tốp con trai đang nốc bia và tranh luận về cơ hội tranh vé vớt của đội bóng. “Nếu chúng ta thắng đội Ignatius,” một người trong số họ hét lớn, “và đội U.S thắng Mentor...”
Trong khi đó, Lexie đang có một đêm trọng đại. Cô thích nhảy nhót; cô, Serena và đám bạn cùng vào trung tâm bất cứ lúc nào các hộp đêm ở đó có chương trình đêm dành cho teen - hoặc bất cứ khi nào họ nghĩ nhân dạng bản thân không chân thật, làm họ cứ như là những sinh viên năm nhất, thì họ sẽ phá vỡ cơn lừa bịp đó. Lần nọ, hai người đã lẻn vào thùng xe chở hàng trong một nhà kho bỏ hoang để đến Flats và nhảy nhót đến tận ba giờ sáng, những chiếc vòng cổ lấp lánh lắc lư trên cườm tay và yết hầu của hai cô gái. Họ thường nhảy cùng nhau, với sự thoải mái của hai cô gái biết nhau quá nửa cuộc đời, eo sát bên eo, hông sát kề hông, Lexie đâu lưng lại Serena. Tối nay khi hai người đang nhảy cùng nhau thì Lexie cảm thấy có ai đó áp vào lưng cô. Đó là Brian, và Serena cười với cô ra chiều hiểu ý trước khi quay đi.
“Anh còn không chịu hóa trang nữa chứ,” Lexie vùng vằn, phát vào vai anh.
“Anh hóa trang rồi đây,” Brian khẳng định. “Anh là chàng trai vừa gửi đơn đăng ký nhập học trường Princeton.” Anh choàng tay ôm eo cô và hôn lên cổ cô.
Nửa tiếng sau, nhảy nhót, men rượu và sự kích thích ngọt ngào của phút vội vàng lên mười tám đã căng tràn hai con người trong lòng háo hức dâng đầy. Trong sáu tháng hẹn hò, họ đã gần gũi nhiều, như Lexie bẽn lẽn kể lại với Serena, nhưng chuyện đó, là chuyện hệ trọng, phút chốc tồn tại trong suy nghĩ của họ, giống như hồ nước sâu nơi mà đôi trai gái chỉ mới nhúng ngón chân vào đó. Bây giờ, áp vào cơ thể của Brian, chếnh choáng trong men rượu rum và coca, tiếng bass xập xình vây quanh hai thể xác như sẻ chia nhịp đập trái tim, cô ngập tràn khao khát được đột ngột lao mình vào hồ nước ấy và lặn sâu xuống tận đáy. Khi còn trẻ và ít trải nghiệm, Lexie có nhiều ảo tưởng cho lần đầu tiên ấy. Cô lên kế hoạch: có nến, có hoa, và có nhóm Boyz II Men trong đầu đĩa CD. Chí ít cũng có phòng ngủ, và có giường. Không phải ở ghế sau xe hơi như cái cách mà một số bạn bè cô đã làm; chắc chắn không phải ở cầu thang trường, như lời đồn về Kendra Solomon. Nhưng giờ phút này cô không còn quan tâm đến chuyện đó. “Muốn lượn một vòng không?” cô hỏi. Và cả hai đều hiểu cô đang gợi ý chuyện gì.
Không nói một lời, họ lẻn ra lề đường, nơi xe của Lexie đang chờ ở đó.
Lúc Lexie và Brian đi rồi, Pearl trở lại góc bếp của cô, đợi chờ anh Trip xuất hiện. Nhưng chẳng thấy, đến mười giờ rưỡi cũng không, đến mười một giờ cũng không. Mỗi giờ trôi qua, và mỗi chai rượu vơi cạn, mọi thứ trở nên ồn ào hơn và lỏng lẻo hơn. Vừa quá nửa đêm, trong lúc tự mình cố rót một cốc nước, Stacie Perry đã nôn luôn vào bình đựng nước hiệu Brita, và Pearl quyết định đó là lúc về nhà. Nhưng không thấy chị Lexie đâu cả, thậm chí khi cô tìm đường qua đám cơ thể lắc lư để vào phòng khách. Liếc nhìn ra bên ngoài, cô không thể biết được liệu chiếc Explore của chị Lexie vẫn còn đỗ trong dãy xe hơi lộn xộn ngoài đó hay không.
“Chị có thấy chị Lexie đâu không? Cô hỏi bất cứ ai có vẻ còn chút tỉnh táo. “Hoặc chị Serena?” Hầu hết mọi người nhìn cô chằm chằm như thể đang cố đánh giá cô. “Lexie á?” Họ hỏi. “Ô, Lexie Richardson hả? Em đến cùng bạn ấy sao?” Cuối cùng một cô gái sà vào lòng anh cầu thủ bóng đá trên chiếc ghế bành lớn, đã nói, “Chị nghĩ cậu ấy đưa bạn trai đi rồi. Phải không, hở Kev?” Đáp lại, Kev đưa đôi tay chắc nịch ôm lấy mặt cô và kéo miệng cô về phía mình, Pearl quay đi.
Pearl hoàn toàn không chắc mình đang ở đâu, và men rượu vodka đã làm nhòe tấm bản đồ Shaker thô sơ trong đầu cô. Liệu từ đây có thể đi bộ về nhà không? Phải mất bao lâu nhỉ? Thậm chí nhà Stacie nằm trên đường nào đây? Trong một lúc, Pearl cho phép mình mơ màng tưởng tượng. Có lẽ anh Trip sẽ đi qua cánh cửa kính trượt, làn gió mát mẻ sảng khoái thoảng qua theo anh vào phòng bếp. Và anh sẽ hỏi. Có cần anh đưa về không?
Nhưng tất nhiên chuyện này không xảy ra, và cuối cùng, Pearl lén lấy cái điện thoại không dây trong quầy bếp, trốn ra ngoài ga-ra, nơi yên tĩnh hơn và gọi cho Moody.
Hai mươi phút sau, một chiếc xe hơi đỗ trước nhà Stacie. Cửa sổ hành khách hạ xuống và đứng từ bậc cao Pearl nhìn thấy nét mặt Moody cau có.
“Lên xe,” là tất cả những gì cậu nói.
Nội thất trong xe toàn da mềm, mịn màng như da dưới đùi cô vậy.
“Xe của ai vậy?” cô hỏi, một cách ngớ ngẩn, khi chiếc xe lăn bánh khỏi lề đường.
“Mẹ tớ,” Moody đáp. “Và trước khi cậu gọi, mẹ đang ngủ, vì vậy chúng ta đừng phí thời giờ ở đây nữa.”
“Nhưng cậu chưa có bằng lái mà.”
“Được cho phép làm gì đó và biết cách để thực hiện nó là hai chuyện khác nhau.” Moody đánh xe vòng quanh góc đường và quay về hướng đường Shaker Boulevard. “Cậu say rồi à?”
“Tớ có uống một ly. Tớ không say.” Ngay cả khi nói ra điều này, Pearl cũng không chắc đúng là như vậy - cái ly đó có rất nhiều rượu vodka. Đầu quay cuồng và mắt cô nhắm lại. “Tớ chỉ không biết cách để về nhà thôi.”
“Xe anh Trip vẫn nằm đó, cậu thấy mà. Chúng ta chạy ngang qua nó lúc đi ra đó. Sao cậu không bảo anh ấy?”
“Tớ không tìm được ảnh. Tớ không tìm thấy ai cả.”
“Chắc lại ở trên lầu với đám con gái chứ gì.”
Họ im lặng một lúc. Theo đồng hồ trên bảng điều khiển, đã gần một giờ.
“Cậu thấy chưa,” Moody nói. “Họ giống cái gì.” Khi họ tiến lại gần khu nhà của cô Mia và Pearl, cậu ấn tắt đèn và đỗ xe bên lề đường. “Mẹ cậu sẽ giận lắm đấy.”
“Tớ có nói với mẹ là ra ngoài với chị Lexie và mẹ bảo tớ có thể chơi đến mười hai giờ. Tớ chỉ hơi trễ chút xíu.” Pearl liếc nhìn lên cửa sổ nhà bếp còn sáng đèn. “Người tớ có mùi không?”
Moody sán lại gần. “Người cậu hơi có mùi thuốc lá. Nhưng không giống rượu. Này.” Cậu ấy kéo một gói kẹo cao su Trident ra khỏi túi.
Theo thông tin cho biết buổi tiệc Halloween kéo dài đến ba giờ rưỡi sáng, và kết thúc là đám trẻ say khướt bất tỉnh nhân sự trên thảm trải phương Đông ở phòng khách nhà Perry. Lexie bò về nhà lúc hai giờ rưỡi, Trip thì ba giờ và hôm sau, hai đứa đều ngủ nướng đến quá trưa. Sau đó, Lexie xin lỗi Pearl bằng một lời thú tội thầm thì: trong thoáng chốc, cô và Brian đã nghĩ về chuyện ấy và có vẻ như tối nay chính là đêm đó - cô không biết, cô chỉ muốn kể ra với ai đó, thậm chí cô vẫn chưa nói gì với Serena, nhìn cô có gì khác không? Đối với Pearl, chị ấy ắt phải khác chứ - ốm hơn, sắc sảo hơn, tóc buộc ra sau thành cái đuôi ngựa rối bù, chút ít mascara và nhũ mắt vẫn sót rải rác ở hai góc mắt; Pearl còn có thể nhìn thấy nếp nhăn mờ nhạt giữa đôi lông mày chị Lexie thứ mà khoảng hai mươi năm nữa trông chị ấy sẽ: kiểu như mẹ của cô vậy. “Còn em thì sao?” cuối cùng Lexie cũng ôm chặt cánh tay Pearl và hỏi. “Em tìm đường về nhà có khó không? Tối qua vui chứ?” Và Pearl, với sự cảnh giác từ lần tổn thương mới đây, chỉ gật đầu.
Bây giờ, Pearl bóc lớp vỏ bọc của cái kẹo cao su rồi cho vào miệng và cảm nhận hương bạc hà loang tràn trên lưỡi. “Cảm ơn.” Moody hiểu rằng cô muốn cảm ơn nhiều hơn viên kẹo cao su, và cậu gật đầu.
Dù Pearl khẳng định rằng mẹ mình không phiền lòng, thì thực tế cô Mia lại vô cùng để ý đến việc con gái mình về trễ. Cuối cùng khi Pearl bước lên lầu - nồng nặc mùi thuốc lá, mùi rượu và thứ mùi gì đó mà cô Mia chắc chắn đó là cần sa - cô không biết phải nói gì. “Đi ngủ đi,” rốt cuộc cô kiềm chế. “Mẹ sẽ nói chuyện với con vào sáng mai.” Sáng mai cũng đến, Pearl vẫn ngủ, và thậm chí rốt cuộc khi cô thức dậy vào gần trưa, rũ rượi và mắt cộm đỏ, cô Mia vẫn không biết phải nói gì. Mày muốn Pearl có một cuộc sống bình thường hơn, cô tự nhắc nhở mình - nào, đó là những gì bọn trẻ vẫn làm. Một phần trong cô lại cho rằng cô nên nhúng tay nhiều hơn - rằng cô cần biết Pearl đã làm gì, rằng phải để mắt đến Lexie, để mắt đến cả bọn - nhưng cô phải làm gì? Theo đuôi đến các buổi tiệc và những trận khúc côn cầu của chúng sao? Hay cấm Pearl không được ra ngoài nữa? Cô kết thúc chuyện này mà không nói lời nào, và Pearl đã ăn hết tô ngũ cốc trong im lặng rồi quay trở lại giường.
Tuy nhiên, cơ hội sớm tự mình xuất hiện. Thứ Ba, sau bữa tiệc Haloween, bà Richardson tạt qua căn hộ hai tầng ở đường Winslow. “Chị ghé xem nhà em có cần gì không, em ở ổn định rồi mà,” bà nói, nhưng cô Mia quan sát bà ấy đi lòng vòng, chằm chằm nhìn quanh phòng bếp và vào phòng khách. Cô quá quen với những cuộc viếng thăm kiểu này, mặc dù các điều khoản cho thuê có nói về quyền hạn chế ra vào, và cô lui lại để bà Richardson có tầm nhìn tốt hơn. Sau bốn tháng, căn hộ vẫn rất ít đồ đạc. Trong nhà bếp, hai chiếc ghế không đồng bộ và một cái bàn cánh lật bị thiếu mất một cánh, tất cả đều được nhặt về từ vệ đường; phòng của Pearl, cái giường đôi và tủ quần áo nhỏ; phòng của cô Mia vẫn chỉ có mỗi cái đệm đặt trên sàn, và mấy chồng quần áo trong buồng. Một dãy gối tựa trên sàn phòng khách được gói gọn trong chiếc khăn trải bàn in hoa tươi sáng. Tuy nhiên, vải sơn lót sàn bếp đã được lau chùi, bếp lò và tủ lạnh đều sạch sẽ; thảm trải sàn không một vết dơ; giường nệm của cô Mia được trải bằng những tấm trải sọc nhăn nhúm. Và bà Richardson ngạc nhiên khi căn hộ tuy thiếu thốn vật dụng nhưng không hề có cảm giác trống trải. “Bọn em có thể sơn không?” cô Mia hỏi vậy khi hai người bước vào, và bà Richardson có chút lưỡng lự trước khi kịp nhớ ra, à nghệ sĩ, và trả lời, “Nếu màu không quá tối.” Lúc đó, ý bà là không màu đen, không màu xanh cũng không đỏ nâu, mặc dù ngay hôm sau trong đầu bà chợt lóe lên ý nghĩ ràng có lẽ Mia ám chỉ một bức tranh treo tường - xét cho cùng em ấy là một nghệ sĩ - và kết quả có thể là bức họa của Diego Rivera hoặc bức graffiti Glorify. Nhưng chẳng có bức tranh tường nào cả. Mỗi phòng đều được sơn một màu khác nhau - nhà bếp màu vàng tươi, phòng khách màu hoàng kim sẫm, phòng ngủ màu hồng đào ấm áp - và hiệu ứng tổng thể là như bước vào một chiếc hộp ánh dương, thậm chí dù là ngày mây mù. Cả căn hộ treo đầy ảnh chụp, không lộng khung và đính lên bằng áp-phích dán, tuy nhiên vẫn nổi bật, vẫn rất đẹp mắt.
Có nhiều bức thử đổ bóng lên tường gạch mờ, nhũng bức ảnh lông vũ đông cứng ven bờ hồ Shaker, những thí nghiệm mà cô Mia đang tiến hành bằng việc in ảnh trên các bề mặt khác nhau: giấy da cừu, lá nhôm, tờ báo. Một loạt ảnh giăng ngang qua hết bờ tường, có những bức được chụp từ tuần này qua tuần khác tại một công trường gần đó. Ban đầu, công trường đó chẳng có gì ngoài một đụn đất nâu trước khoảnh đất rộng màu nâu. Dần dần, từ khung hình này đến khung hình khác, gò đất chuyển sang màu xanh của cỏ dại, phủ trong lớp cỏ rậm rạp và bụi rậm, cuối cùng, một cây bụi nhỏ bám vào đỉnh gò đất. Phía sau, một căn nhà ba tầng màu nâu vàng nhạt từ từ hiện ra, như con quái vật khổng lồ bò lên khỏi mặt đất. Mấy cái máy xúc và xe tải lượn lờ ẩn hiện trong khung hình như những bóng ma bất thình lình. Trong bức cuối cùng, một chiếc xe ủi đã san bàng ụ đất thành bình địa, san bằng cảnh quang như quả bong bóng nổ.
“Ôi trời,” bà Richardson kêu lên. “Của em cả sao?”
“Thỉnh thoảng em cần nhìn ngắm chúng, ở trên tường, trong chốc lát, cho đến khi em biết liệu mình có ngộ ra gì đó. Cho đến khi em biết mình muốn gì.” Cô Mia nhìn qua một lượt các bức hình, như thể chúng là những ông bạn cũ và cô đang tự ngẫm lại khuôn mặt họ.
Bà Richardson tỉ mỉ chăm chú nhìn ngắm bức ảnh một cô gái trẻ u sầu trong trang phục nữ cao bồi. Cô Mia đã chụp nhanh bức ấy từ cuộc diễu hành mà họ đi ngang qua khi trên đường đến Ohio. “Em có khiếu chụp chân dung lắm,” bà nói. “Nhìn cách em chụp cô gái này. Em gần như bắt trọn linh hồn của cô ấy.”
Cô Mia không nói gì ngoài gật đầu theo cách mà bà Richardson xem đó là khiêm tốn.
“Em nên cân nhắc chuyện chụp ảnh chân dung một cách chuyên nghiệp,” Bà Richardson đề nghị. Bà ngừng lại. “Dĩ nhiên, không có nghĩa bây giờ em không chuyên nghiệp. Nhưng trong một phòng chụp, đại loại vậy. Hoặc cho các lễ cưới và lễ đính hôn. Em sẽ được săn đón lắm đấy.” Bà phát tay vào các bức ảnh trên tường, như thể chúng minh họa được ý bà. “Thực tế, biết đâu em có thể chụp ảnh chân dung cho gia đình chị. Tất nhiên, chị sẽ trả phí.”
“Có thể,” cô Mia nói. “Nhưng ảnh chân dung là những thứ chị cần để thể hiện với người khác theo cách mà chị muốn. Mà em thì lại thích cho người ta thấy như những gì em thấy. Vậy nên đến cuối cùng biết đâu em sẽ làm cho cả hai thất vọng.” Cô Mia cười một cách bình thản còn bà Richardson thì vụng về đáp lại.
“Em có bán bức nào không?” bà hỏi.
“Em có người bạn điều hành một phòng triển lãm ở New York, cô ấy có bán một số bức của em.” Cô Mia đưa ngón tay rà lên bức ảnh, miết theo đường cong của một cây cầu rỉ sét.
“Ôi, chị muốn mua một tấm,” bà Richardson nói. “Thật ra, chị khẳng định nhé. Nếu chúng ta không ủng hộ những nghệ sĩ của mình, làm sao họ tạo nên những tuyệt phẩm được chứ?”
“Chị thật hào phóng.” Ánh mắt cô Mia nhanh chóng trôi về phía cửa sổ, và bà Richardson cảm thấy tức giận trước phản ứng lãnh đạm dành cho hành động nhân ái của bà.
“Tiền bán ảnh có đủ sống không?” Bà hỏi.
Chính xác thì cô Mia hiểu đây là câu hỏi về tiền thuê nhà, và về khả năng chi trả của cô. “Gia đình em luôn xoay xở được,” cô nói, “không cách này thì cách khác.”
“Nhưng chắc chắn phải có những khoảng thời gian không bán được ảnh. Tất nhiên, không phải lỗi ở em. Và thường thì mỗi bức em bán được bao nhiêu?”
“Nhà em luôn xoay xở được,” cô Mia lặp lại. “Khi cần, em sẽ làm thêm nghề phụ. Dọn dẹp nhà cửa, hoặc nấu nướng. Những việc đại loại vậy. Hiện giờ em đang làm bán thời gian ở Điện Hồng Phúc, một nhà hàng món Hoa ở bên đường Warrensville. Không bao giờ em nợ nần gì ai cả.”
“Ôi, dĩ nhiên chị nào có ý đó,” bà Richardson quả quyết. Bà chuyển sự chú ý sang bức lớn nhất, chỏng chơ mắc kẹt trên bệ lò sưởi. Đó là ảnh chụp một phụ nữ quay lưng lại ống kính, đôi tay dang rộng tựa hồ đang nhảy múa. Tấm ảnh chụp cô trong một chuyển động mờ - đôi tay dang khắp nơi quanh người, duỗi người lên cao, cong eo - một mớ tay chân rối rắm mà bà Richardson đã sửng sốt nhận ra, khiến cô ta trông giống một con nhện khổng lồ, bao quanh bởi mớ mạng nhện rối rắm. Chúng khiến bà vừa lúng túng lại nhiễu loạn, nhưng bà không thể ngoảnh đi chỗ khác. “Chưa bao giờ chị nghĩ đến việc biến một phụ nữ thành con nhện,” bà thành thật nói vậy. Bà tự nhắc bản thân rằng nghệ sĩ luôn có suy nghĩ khác người, và cuối cùng bà tò mò quay sang cô Mia. Trước đây, chưa bao giờ bà gặp ai như vậy.
Cả đời mình, bà Richardson luôn sống một cuộc đời trật tự và khuôn phép. Bà cân mỗi tuần một lần, mặc dù trọng lượng dao động không quá ba pound và bác sĩ đảm bảo rằng đó là bình thường, thì bà vẫn dày công duy trì trọng lượng cơ thể. Mỗi sáng, bà lường chính xác nửa tách ngũ cốc Cheerios, theo khẩu phần hướng dẫn in trên hộp, dùng tách đo lường bằng nhựa in hoa mua từ Higbee’s như một cô dâu mới. Trong mỗi bữa ăn tối, bà cho phép mình uống một ly rượu vang - đỏ, báo chí nói rằng đó là thứ tốt nhất cho tim mạch - một vết gạch mờ trên ly rượu vang đánh dấu mức rót chính xác. Một tuần ba lần bà tham gia lớp aerobic, xuyên suốt kiểm tra đồng hồ để đảm bảo ràng nhịp tim vượt quá một trăm hai mươi nhịp một phút. Bà được nuôi nấng để sống theo quy tắc, để tin rằng sự vận hành chính xác của thế giới phụ thuộc vào sự tuân thủ của bà, và theo đó - và tin tưởng - bà đã sống như vậy. Từ hồi còn con gái, bà đã có kế hoạch và hết sức cẩn trọng làm theo kế hoạch đó: trung học, đại học, bạn trai, kết hôn, công việc, con cái và thế chấp. Một chiếc ô-tô mui kín với túi khí và dây an toàn tự động. Máy cắt cỏ và máy thổi tuyết. Máy giặt sấy liên hoàn. Nói tóm lại, bà làm đúng mọi thứ và bà đã có một cuộc sống tốt đẹp, kiểu cuộc sống mà bà muốn, kiểu cuộc sống mà mọi người đều muốn. Giờ đây, cô Mia này, một loại phụ nữ hoàn toàn khác biệt đang hướng đến cuộc sống hoàn toàn khác biệt, dường như cô ta tạo nên quy tắc của riêng mình mà không cần giải thích. Như bức ảnh vũ-công-nhện, bà Richardson thấy chuyện này nhiễu loạn nhưng thú vị đến lạ thường. Trong bà, một phần muốn nghiên cứu Mia như một nhà nhân loại học, để hiểu được vì sao - và làm cách nào - cô ta thực hiện những thứ mà cô đã làm. Phần khác trong bà - dù chỉ mới mơ hồ nhận ra, thì lúc này - không dễ dàng gì, muốn để mắt đến Mia, như người ta coi chừng một con quái thú nguy hiểm.
“Em giữ mọi thứ sạch sẽ lắm,” rốt cuộc bà nói, ngón tay chạy dọc theo bệ lò sưởi. “Chị nên thuê em đến nhà chị.” Bà bật cười và cô Mia lịch sự cười lại, nhưng cô có thể nhìn thấy mầm mống suy nghĩ ấy đang nứt hạt, đâm chồi trong đầu của bà Richardson. “Không phải rất tuyệt sao,” bà Richardson nóỉ. “Em chỉ cần đến vài giờ một ngày và làm ít việc dọn dẹp nhẹ nhàng. Tất nhiên, chị sẽ trả phí cho em theo giờ. Và sau đó tất cả thời gian còn lại trong ngày em có thể chụp ảnh.” Cô Mia bắt đầu sàng lọc câu chữ chính xác, khéo léo để bật gốc mớ suy nghĩ này, nhưng đã quá trễ. Bà Richardson đã cực kỳ hào hứng với việc này rồi. “Nào, thật đấy. Tại sao em không đến làm cho nhà chị luôn chứ? Trước đó nhà chị có một cô lau dọn kiêm chuẩn bị bữa tối, nhưng cô ấy đã về quê ở Atlanta từ mùa xuân, và chị đang cần giúp đỡ lắm. Em đang làm ơn cho chị, thật đấy.” Bà quay lại nhìn thẳng vào cô Mia. “Thật sự, chị khẳng định đấy. Em ắt hẳn sẽ có thời gian dành cho nghệ thuật của mình.”
Cô Mia thấy không có lý do để phản đối, thực tế thì, sự phản đối đó chỉ làm cho mọi thứ trở nên tồi tệ và dẫn đến ý nghĩ xấu. Cô biết rằng khi con người nhất quyết làm chuyện gì đó thì họ tin rằng đó là hành động tốt, và thường khó lòng ngăn cản được. Cô nghĩ đến sự hoảng hốt của gia đình Richardson, của cãn nhà rộng lớn và rực rỡ, của khuôn mặt Pearl khi mẹ cô dám đặt chân vào mảnh đất diệu kỳ này.
Và sau đó cô tưởng tượng mình đã định vị một cách an toàn trong vương quốc của gia đình Richardson, nửa ẩn khuất sau bối cảnh, dõi theo con gái. Xác nhận lại sự hiện diện của cô trong cuộc sống của con gái mình.
“Cảm ơn chị,” cô nói. “Chị đưa ra đề nghị hào phóng như vậy. Làm sao em có thể từ chối?” Và bà Richardson cười rạng rỡ.
❀ ❀ ❀
[1] SAT (Scholastic Assessment Test): một trong những bài thi chuẩn hóa cho việc đăng ký vào nhiều trường đại học tại Hoa Kỳ. SAT được quản lý bởi tổ chức phi lợi nhuận College Board và được các trường đại học dùng để kiểm tra trình độ tiếng Anh, đánh giá kiến thức tự nhiên, xã hội và kỹ năng phân tích, giải quyết vấn đề của học sinh.
[2] GPA (Grade Point Average): điểm trung bình các môn học.
[3] Austin Powers: nhân vật chính của loạt phim hành động hài cùng tên, được sản xuất và phát hành năm 1997 - 2002 tại Mỹ. Các nhân vật nữ trong phim rất đẹp là đều là robot giả nữ.