Mấy tuần sau đó trở thành những chuỗi “ngày mai” dành cho Moody. Họ đến Fernway, trường tiểu học ngày xưa cậu học, nơi đó họ trèo lên cầu tuột, múa cột theo điệu simmi và lộn nhào từ sàn hẹp xuống đống mạt gỗ bên dưới. Cậu đưa Pearl đến Draeger’s thưởng thức món kem Hot Fudge Sundae. Ở hồ Horseshoe, họ trèo lên cây như hai đứa trẻ, ném những mẩu bánh mì ỉu cho đàn vịt đang chực chờ bên dưới. Tại Yours Truly, khu ẩm thực đêm ở địa phương, họ ngồi trong quầy gỗ ghế tựa cao, ăn khoai tây chiên phủ đầy phô mai cùng thịt xông khói và bỏ đồng hai mươi lăm cent vào máy hát tự động để nghe bản “Great Balls of Fire” và “Hey Jude.”
“Đưa tớ đi xem người Shaker[1] đi,” ngày nọ Pearl bảo Moody và cậu bật cười.
“Chẳng còn người Shaker nào ở Shaker Heights cả,” cậu nói. “Họ đều chết cả rồi. Họ không tin vào tình dục. Họ chỉ đặt tên thành phố theo tên họ.”
Moody nói đúng một nửa, dù cậu hay hầu hết những đứa trẻ khác ở thành phố này đều không biết gì nhiều về lịch sử của giáo phái Shaker. Quả thực, từ rất lâu trước đây, người Shaker đã rời khỏi vùng đất mà sau này trở thành thành phố Shaker Heights, và tính đến mùa hè năm 1997 trên thế giới còn chính xác mười hai người Shaker đang sinh sống. Nhưng Shaker Heights đã được hình thành - nếu không dựa trên các nguyên tắc Shaker - với cùng ý tưởng tạo ra một địa đàng trần gian. Trật tự - và quy tắc, cha đẻ của trật tự - đã là bí quyết cân bằng của người Shaker. Họ đặt quy tắc cho mọi thứ: thức dậy đúng lúc vào buổi sáng, rèm cửa sổ có màu sắc nhất định, mái tóc của người đàn ông có độ dài thích hợp, chắp tay đúng cách khi cầu nguyện - ngón cái của tay phải để sang bên trái. Người Shaker tin rằng, nếu lập kế hoạch chi tiết cho mọi thứ, họ có thể tạo ra mảnh đất thiên đường nơi hạ giới, một nơi nhỏ bé để lánh đời, và những người sáng lập ra thành phố Shaker Heights cũng nghĩ như vậy. Trong các mẫu quảng cáo, họ vẽ ra một Shaker Heights trên mây, trên đỉnh núi ngay cuối cung cầu vồng, ném cái nhìn xuống những thành phố ngập trong bụi bặm. Sự hoàn hảo: đó là mục tiêu, và có lẽ những người Shaker đã kiên quyết thực hiện, thấm nhuần vào đất, nuôi dưỡng những người từng trưởng thành ở đó với thiên hướng hoàn thành mọi việc vượt kỳ vọng và không bao giờ khoan nhượng cho thói xấu. Thậm chí các thanh thiếu niên ở Shaker Heights - những người mang nguồn sáng chính yếu của người Shaker đang hát bản “Simple Gifts” ở lớp nhạc - có thể hiểu được việc hướng đến sự hoàn hảo vẫn làm bão hòa không khí.
Khi Pearl hiểu thêm về quê nhà mới của mình, thì Moody cũng bắt đầu biết thêm về nghệ thuật của cô Mia, về sự phức tạp và thất thường trong tài chính của gia đình Warren.
Moody chưa bao giờ lo nghĩ về tiền bạc, bởi cậu có bao giờ cần tiền cho việc gì. Đèn sáng khi cậu bật công tắc; nước chảy khi cậu vặn mở vòi. Thực phẩm chất đầy trong tủ lạnh theo những khoảng thời gian đều đặn rồi lại xuất hiện trong các bữa ăn nấu sẵn được dọn trên bàn vào mỗi giờ ăn. Từ khi lên mười, cậu đã có một khoản sinh hoạt phí, khởi đầu là năm đô-la mỗi tuần, sau đó gia tăng đều đặn theo mức lạm phát và độ tuổi, đến hiện tại là hai mươi đô-la. Chỗ phí ấy cộng với những tấm thiệp sinh nhật từ cô dì và họ hàng, mỗi tấm thiệp lúc nào cũng có một tờ tiền được gấp lại, thì cậu đã đủ dùng để mua sách cũ ở tiệm sách Mac’s Backs, hoặc chiếc CD đặc biệt, hoặc một cây guitar mới, bất cứ gì cậu cần.
Cô Mia và Pearl cật lực gom những món đồ miễn phí đã dùng rồi hoặc vẫn còn dùng tốt. Chỉ trong vài tuần, họ biết hết vị trí mọi kho hàng của Cứu tế quân, cái ở đường Vincent De Paul và đường Goodwill là lớn nhất vùng Cleveland. Ngay tuần đầu dọn đến, cô Mia đã nhận việc ở Điện Hồng Phúc, một nhà hàng món Hoa ở địa phương; vài buổi tối mỗi tuần, tại quầy hàng, cô nhận và đóng gói các đơn phải giao đi. Họ nhanh chóng biết rằng đối với các bữa tối giao tận nơi, thì dường như người dân ở Shaker chuộng nhà hàng Ngọc Phương Đông hơn, nhà hàng đó chỉ cách nơi này vài lô, tuy vậy Điện Hồng Phúc cũng kinh doanh rất tốt mảng giao hàng. Ngoài tiền công theo giờ, các phục vụ bàn còn chia cho cô phần tiền boa của họ, và khi có thức ăn thừa, cô lấy vài hộp mang về nhà - cơm vừa chớm hẩm, thịt heo chua ngọt còn thừa, rau củ vừa mới héo - những thứ giúp cô và Pearl duy trì cuộc sống trong cả tuần. Hai mẹ con hầu như chẳng có thêm gì, dĩ nhiên những thức ấy cũng không dùng ngay được: cô Mia rất giỏi xào nấu lại. Mì xào mềm thiếu nước sốt được phủ bằng món Ragu từ chiếc bình để qua đêm; hâm nóng lại và bỏ lên thêm miếng thịt bò cam. Những tấm ga trải giường cũ, tậu được với giá chỉ bằng một phần tư tại cửa hàng đồ si biến hình thành màn cửa, thành khăn trải bàn và vỏ áo gối. Moody nghĩ đến lớp Toán: một ứng dụng thực tiễn của toán học tổ hợp. Bạn có thể kết hợp bánh kếp mu-shu và món thịt nhồi thành bao nhiêu món khác nhau? Bạn làm được bao nhiêu món khác nhau chỉ với gạo, thịt heo và ớt?
“Sao mẹ cậu không tìm việc làm chính thức?” trưa hôm ấy, Moody hỏi Pearl. “Tớ cá là cô có thể làm thêm nhiều giờ mỗi tuần. Hoặc thậm chí có thể làm việc toàn thời gian ở nhà hàng Ngọc Phương Đông chẳng hạn, hoặc một nơi khác.” Kể từ khi biết được công việc của cô Mia, suốt cả tuần nay cậu cứ thắc mắc mãi chuyện này. Cậu lập luận rằng nếu cô Mia bỏ ra nhiều thời giờ hơn, thì cô ấy sẽ đủ tiền mua cái ghế sô-pha đúng nghĩa, những bữa ăn đúng nghĩa, thậm chí cả TV.
Pearl nhìn chằm chằm, nhíu mày, ra điều đơn thuần không hiểu câu hỏi ấy.
“Nhưng mẹ tớ có việc làm,” cô nói. “Mẹ làm nghệ sĩ”.
Họ đã sống như vậy suốt nhiều năm qua, cô Mia làm việc bán thời gian chỉ để kiếm sống qua ngày. Trong trí nhớ của mình, từ lâu lắm Pearl đã hiểu được trật tự: công việc thực sự của mẹ là tài nghệ của bà ấy, lúc nào cũng vậy mỗi hóa đơn có mặt chỉ để khiến cho nghệ thuật ấy thành hiện thực. Mỗi ngày, mẹ dành vài giờ để làm việc - mặc dù ban đầu Moody không nhận ra những thứ này là sản phẩm mà cô Mia đang làm. Thỉnh thoảng cô Mia xuống tầng dưới, trong phòng tối tạm thời mà cô dựng lên trong phòng giặt ủi ở tầng hầm, rửa các cuộn phim hoặc rửa ảnh. Đôi khi cô ấy dành gần hết thời gian để đọc sách - đọc những thứ có vẻ chẳng liên quan gì đến Moody, kiểu mấy tạp chí ẩm thực từ những năm 1960, hoặc cẩm nang xe hơi, hoặc một cuốn sách bìa cứng to oạch về tiểu sử của Đệ Nhất Phu nhân Eleanor Roosevelt -hoặc thậm chí phóng tầm mắt qua cửa sổ phòng khách chỉ để nhìn chằm chằm vào cây đào ngoài sân. Sáng hôm ấy, khi cậu đến, cô Mia đang nghịch một chuỗi dây, chơi trò dây luồn tay đan dây, cho đến khi hai đứa đi chơi về, cô vẫn ở đó, thậm chí dệt thành cái mạng rối rắm dài dằng dặc giữa các ngón tay và sau đó đột ngột tháo ra thành cái vòng đơn, rồi lại tiếp tục. “Một công đoạn trong quy trình đấy nhé,” Pearl nói với cậu khi họ ngang qua phòng khách, với vẻ lãnh đạm của một người bản địa không chút bất ngờ trước phong tục kỳ dị ở xứ mình.
Thỉnh thoảng cô Mia mang máy ảnh ra ngoài, nhưng thường thì cô có thể dành nhiều ngày, hoặc thậm chí nhiều tuần, để chuẩn bị vật chụp, trong khi việc chụp những bức ảnh ấy chỉ mất có vài giờ. Moody biết rằng cô Mia không tự xem mình là nhiếp ảnh gia. Trong lòng cô, nghề nhiếp ảnh thuộc kiểu tư liệu, và cậu nhanh chóng hiểu rằng đối với cô Mia thì nhiếp ảnh đơn thuần là công cụ, cô dùng nó chỉ như người họa sĩ sử dụng cọ hay con dao.
Một bức ảnh trơn sau đó có thể được chắp vá lại: với những chiếc mặt nạ thêu sặc sỡ che khuất khuôn mặt của chủ nhân đằng sau chúng, hoặc những nhân vật có thể được cắt ra, kiểu búp bê giấy, và vận những bộ trang phục được cắt ra từ mấy cuốn tạp chí thời trang. Có một bộ ảnh mà cô Mia đã tráng phim âm bản trước khi tinh chỉnh các bản in, chúng bị xuyên tạc một cách kỳ lạ - một bức là căn bếp sạch sẽ lại lốm đốm những vết nước chanh bẩn; một bức quần áo trên dây phơi bị thổi bay nhìn như bóng ma và bạc thếch vì chất tẩy. Còn một bộ ảnh khác, cô cẩn thận tạo hiệu ứng phơi sáng kép cho từng khung hình - phân lớp tòa nhà chọc trời nơi xa tít đặt trên ngón tay giữa của cô, chồng lên lớp ảnh một xác chim, đôi cánh sải trên mặt đường, vươn đến bầu trời xanh, vì vậy ngoại trừ đôi mắt nhắm chặt, trông nó như đang bay.
Cô làm việc trái với lệ thường, chỉ giữ những bức mình thích và vứt hết mớ còn lại. Khi cạn kiệt ý tưởng, cô giữ mỗi bức một bản in và hủy hết âm bản. “Cô không hứng thú với việc gửi ảnh đại trà,” cô Mia trả lời Moody, có phần đùa cợt, khi cậu hỏi tại sao cô không nhân lên nhiều bản. Cô hiếm khi chụp người - đôi khi chụp Pearl, như lúc cùng chiếc giường trên bãi cỏ, nhưng cô không bao giờ dùng chúng vào công việc. Hoặc, cô cũng không bao giờ sử dụng ảnh của chính mình: có lần Pearl đã kể với Moody rằng mẹ cô đã tự chụp một bộ ảnh chân dung, mẹ đeo những chiếc mặt nạ từ nhiều thể loại đồ vật khác nhau - một mảnh ren đen, những chiếc lá dẻ ngựa năm cánh, một con sao biển ẩm ướt dẻo quẹo - mẹ dành một tháng để chụp những bức ảnh ấy, rồi lọc lại còn bộ tám bức. Chúng rất đẹp và rất lạ, và dù Pearl có thể hình dung những bức ảnh ấy một cách chính xác: đôi mắt sáng của mẹ giống như viên ngọc trai lấp lánh xuyên qua những cánh sao biển. Nhưng đến cuối cùng cô Mia đã đốt đi các bản in và âm bản, với những lý do mà thậm chí Pearl cũng không hiểu nổi. “Mẹ đã mất bao nhiêu thời gian vào đó,” Pearl nói, “và rồi chỉ, ôi” - cô búng tay tanh tách - “vậy đó?”
“Mớ ảnh này không ổn,” là tất cả những gì cô Mia nói.
Nhưng những bức ảnh cô đã giữ hay đã bán, chúng đều rất nổi bật.
Trong căn hộ xa hoa mà họ thuê lại ở Ann Arbor, cô Mia đã lấy nhiều mẩu đồ đạc rời khác nhau của chủ nhà và xếp các linh kiện - những cái bu-lông dày như ngón tay, những cây thập giá không quét sơn dầu, một bàn chân rời - thành nhiều con vật. Chiếc bàn làm việc cồng kềnh từ thế kỷ thứ 19 đã biến thành con bò đực, các ngăn kéo rời ở hai bên tạo thành những cẳng chân cơ bắp, những cái núm bằng gang đúc dùng để kéo ngăn kéo giờ làm mắt, mũi của con bò và những quả bóng lấp lánh, một nắm viết từ trong bàn xòe ra thành cặp sừng hình lưỡi liềm. Với sự trợ giúp của Pearl, cô trải các bộ phận ra tấm thảm Ba Tư màu kem, bức phông nền trông như cánh đồng mù sương đầy hơi nước, sau đó trèo lên bàn, chụp góc từ trên xuống trước khi hai mẹ con nhặt lại từng mảnh và lắp lại thành cái bàn làm việc. Một cái lồng chim cũ kiểu Trung Quốc bị tháo tung thành mớ mạng dây cong cong, lại trở thành một con đại bàng, đôi cánh xương xương sải rộng như sắp bay lên. Chiếc ghế bành trở thành con voi, cái vòi vươn lên theo tiếng kèn trumpet.
Một loạt những bức ảnh xuất hiện trong dự án này đều hấp dẫn và khiến người xem bối rối, các con vật phức tạp và giống như thật đến ngỡ ngàng, và sau khi nhìn gần hơn bạn sẽ nhận ra chúng được làm từ những thứ gì. Bộ ảnh này cô bán được kha khá, thông qua người bạn tên Anita, chủ một phòng triển lãm ở New York - người mà Pearl chưa từng gặp, ở một nơi mà Pearl không bao giờ đến. Cô Mia ghét New York, cô không bao giờ đặt chân đến đó dù để sự nghiệp của mình thăng tiến. “Chị Anita à,” có lần cô Mia đã nói qua điện thoại, “Em rất quý chị nhưng em không đến New York tham gia triển lãm được. Không, thậm chí có bán đến cả trăm bức cũng thế thôi.” Thoáng im lặng. “Biết là vậy nhưng chị biết là em không thể mà. Vẫn ổn cả. Chị cứ làm hết những gì có thể, với em vậy là quá đủ.” Tuy nhiên, Anita đã xoay xở để bán được sáu bức trong đợt này, điều đó có nghĩa thay vì dọn dẹp nhà cửa, cô Mia có thể dành sáu tháng tới để làm một dự án mới.
Mẹ cô luôn làm việc như vậy: một dự án trong bốn hoặc sáu tháng, sau đó là dự án tiếp theo. Cô làm việc và làm việc rồi cho ra một bộ ảnh và phòng triển lãm của cô Anita thường có thể bán được ít nhất vài bức trong số đó. Ban đầu giá bán khá khiêm tốn - vài trăm đô-la mỗi bức - nên đôi khi cô Mia phải làm hai, hoặc thậm chí ba việc một lượt. Nhưng theo thời gian, các tác phẩm của cô được đánh giá khá tốt trong giới nghệ thuật nên Anita bán được nhiều hơn, và được giá hơn: đủ để chi trả các nhu cầu cơ bản của cô Mia và Pearl - thực phẩm, tiền nhà, xăng xe của chiếc Rabbit - thậm chí sau khi trừ đi 50 phần trăm - phần của cô Anita. “Có khi là hai hoặc ba trăm đô-la một bức,” Pearl hãnh diện nói với cậu, và Moody nhẩm tính nhanh trong đầu: nếu cô Mia bán mười bức một năm thì...
Thỉnh thoảng có những bức ảnh không bán được - một dự án mà cô Mia đã thực hiện với mớ gân lá chỉ bán được mỗi một bức, và trong mấy tháng sau đó cô Mia phải kiếm sống từ các việc lặt vặt như: dọn dẹp nhà cửa, cắm hoa, trang trí bánh. Cô thạo hết mọi việc liên quan đến đôi tay và cô thích những công việc không phải giao tiếp với khách hàng, vì với những công việc đó cô có thể ở một mình và suy nghĩ, hơn là làm phục vụ, thư ký, hay nhân viên bán hàng. “Trước khi sinh ra con, có lần mẹ từng làm nhân viên bán hàng,” cô kể với Pearl. “Mẹ lay lất từng ngày. Từng ngày một. Quản lý liên tục nhắc mẹ phải đặt những chiếc đầm lên móc ra sao. Còn khách hàng thì cứ giật mấy chuỗi hạt ra khỏi áo rồi đòi giảm giá. Mẹ thích lau sàn hơn, thích một mình ở nhà hơn là đối phó mấy chuyện này.”
Ngoài ra, các dự án khác đều bán được và nhận được sự chú ý. Có một bộ ảnh - đánh dấu sự trở lại của cô Mia sau thời gian làm thợ may - cô đã nuôi dưỡng chúng trong gần một năm. Cô phải đến các cửa hàng đồ si và mua những con thú nhồi bông cũ - những con gấu teddy bạc thếch, những con chó nhung long chân gãy gọng, những con thỏ bông cũ mèm - càng rẻ càng tốt. Về nhà, cô cắt chỉ và tách chúng ra thành từng mảnh, giặt sạch lớp vỏ lông, nhồi lại bông và mài lại mắt. Sau đó cô khâu chúng lại, từ trong ra ngoài, và thành quả có được lại đẹp một cách lạ thường. Bộ lông bèo nhèo tả tơi trái lại nhìn cứ như nhung xén. Cả con vật được may và nhồi bông lại, vẫn hình dáng đó nhưng điệu bộ lại khác hẳn, lưng và cổ thẳng hơn, đôi tai vênh váo hơn; đôi mắt giờ sáng bóng với tia sáng quen thuộc. Như thể những con vật được tái sinh trong một hình hài mới, già dặn hơn, mạnh mẽ hơn và tinh khôn hơn. Pearl rất thích ngồi xem mẹ làm việc, cúi xuống bàn bếp, tỉ mẩn với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật - dao mổ, kim khâu, cây ghim - để biến những thứ đồ chơi thành nghệ thuật. Như màn ảo thuật. Anita đã bán hết tất cả các bức ảnh trong bộ này; cô báo lại, thậm chí một bức trên đường đến với Bảo tàng nghệ thuật hiện đại (MoMa - The Museum of Modern Art). Cô nài nỉ Mia làm thêm một bộ khác, hoặc in lại loạt ảnh này, nhưng cô Mia đã từ chối. “Có ý tưởng rồi,” cô nói. “Giờ em đang làm thứ khác.” Và cô luôn như thế, luôn có chút gì đó khác biệt, luôn có chút gì đó tạo nên vị của riêng mình. Sẽ có ngày mẹ nhất định nổi tiếng, Pearl chắc chắn vậy; sẽ có ngày người mẹ kính yêu của cô trở thành một trong những nghệ sĩ, như Kooning[2] hay họa sĩ Warhol[3] hoặc họa sĩ O’Keeffe[4], những cái tên mà ai cũng biết. Chí ít, đó là lý do vì sao một phần trong cô không màng gì đến cuộc sống mà hai mẹ con luôn chịu, những bộ đồ si, ghế giường lượm lặt, cuộc sống thăng trầm tạm bợ trong mọi thứ. Rồi sẽ có ngày người đời sẽ nhận ra người mẹ tài hoa của cô.
Đối với Moody, loại tồn tại này gần như không hiểu nổi. Nhìn cách gia đình Warren sống giống như đang xem một trò ảo thuật, kỳ diệu như khi biến lon soda rỗng thành cái ấm bạc, hoặc kéo ra cái bánh hấp từ chiếc mũ lụa chóp cao. Không, cậu nghĩ: nó giống như đang xem Robinson Crusoe gợi lên một cuộc sống hư không. Càng ở lâu với cô Mia và Pearl, cậu càng say mê họ.
Nhờ những buổi chiều cùng Pearl, cậu dần hiểu được phần nào cuộc sống dặm trường của hai mẹ con. Họ lên đường một cách gọn nhẹ: hai cái đĩa, hai cái tách và một bộ đồ dùng cầm tay bằng bạc không đồng bộ, và dĩ nhiên cả máy ảnh của cô Mia nữa. Mùa hè, họ lái xe với các cửa sổ hạ xuống, trong chiếc Rabbit không có máy điều hòa ra sao; mùa đông, họ lái xe xuyên đêm, nhiệt độ tăng lên và ban ngày sẽ đỗ ở một nơi đầy nắng, ngủ trong nhà kính nhỏ xíu của chiếc xe trước khi bắt đầu lại hành trình vào lúc mặt trời mọc thế nào. Ban đêm, cô Mia đẩy đống túi xuống sàn để chân và trải cái chăn gấp quân đội lên bên trên rồi phủ đến ghế sau, tạo thành cái giường chỉ vừa đủ cho hai mẹ con ngả lưng. Để có sự riêng tư, họ mắc một tấm trải từ thành sau xe lên chỗ tựa đầu của ghế trước, căng lên thành cái lều nhỏ. Mỗi bữa ăn, họ dừng lại bên vệ đường, ngồi sau ghế lái ăn thức ăn đựng trong túi giấy thực phẩm: bánh mì và bơ đậu phộng, trái cây, đôi khi có xúc xích khô hoặc một cây xúc xích bò tiêu, nếu cô Mia mua được trong đợt giảm giá. Đôi khi họ chỉ lái đi vài ngày, thỉnh thoảng là một tuần, cho đến khi cô Mia tìm được nơi thích hợp, hai mẹ con sẽ ở lại.
Họ sẽ tìm một phòng cho thuê: thường là dạng một buồng, đôi khi là siêu nhỏ ở bất cứ nơi nào họ đủ khả năng chi trả và ở bất cứ đâu mà họ có thể rời đi ngay trong tháng, vì cô Mia không muốn bị ràng buộc. Khi chuyển đến Shaker, họ sẽ bày biện căn hộ mới với mớ đồ dùng phế phẩm và đồ si được làm mới lại hoặc chí ít cũng ở mức chấp nhận được; cô Mia sẽ ghi danh cho Pearl học trường địa phương và tìm một công việc giúp hai mẹ con trang trải cuộc sống. Sau đó, cô Mia sẽ bắt đầu dự án mới của mình, thực hiện, lo nghĩ ý tưởng chủ đạo, trong khoảng ba, bốn hay sáu tháng, đến khi cô cho ra một bộ ảnh để gửi đến cô Anita ở New York.
Sau khi Pearl ngủ say, cô sẽ bày một phòng tối trong phòng tắm. Sau vài bước dịch chuyển đầu tiên, cô đã sắp xếp mọi thứ một cách khoa học: các khay rửa ảnh đặt vào bồn tắm, dây phơi quần áo làm dây phơi ảnh kéo từ vòi hoa sen, cuộn cái khăn lại đặt ngang dưới cánh cửa để ngăn ánh sáng lọt vào. Khi làm xong, cô chồng mớ khay, xếp cái máy phóng vào túi đựng, đút các bình đựng hóa chất dưới bồn rửa và lau chùi bồn tắm sạch bóng để sáng mai Pearl còn tắm. Cô mở cửa sổ phòng tắm rồi đi ngủ, và khi Pearl thức dậy, mùi chua của thuốc tráng phim sẽ không còn. Pearl luôn biết rằng một khi cô Mia gửi ảnh qua thư điện tử thì hai mẹ con sẽ lại đóng đồ lên xe và toàn bộ quá trình sẽ được lặp lại. Mỗi thành phố, một dự án, và sau đó là lúc để rời đi.
Tuy nhiên lần này thì khác. “Hai mẹ con tớ sẽ ở lại đây,” Pearl nói với Moody, và đột nhiên cậu cảm nhận niềm vui sướng choáng váng dâng tràn, như một quả bóng căng. “Mẹ tớ đã hứa rồi. Lần này, hai mẹ con tớ sẽ ở lại luôn.”
Lối sống du cư đậm chất nghệ sĩ nơi họ đã hấp dẫn cậu: Moody là một chàng trai có trái tim lãng mạn. Mỗi học kỳ cậu đều có tên trong bảng danh dự, nhưng lại thiếu đi sự thực tiễn, cậu mơ mộng chuyện bỏ học, rong rủi khắp nơi như Jack Kerouac - và chỉ sáng tác nhạc thay vì làm thơ. Tiệm sách cũ Mac’s Backs ở địa phương đã mang đến cho cậu những bản sách sờn cũ của cuốn Trên đường và Dharma Bums, những bài thơ của Frank O’Hara, Rainer Maria Rilke và Pablo Neruda và cậu vui sướng khi tìm thấy một hồn thơ khác nơi Pearl. Dĩ nhiên cô không đọc nhiều bằng cậu, vì gia đình họ thường xuyên dịch chuyển, nhưng cô dành hầu hết thời thơ ấu của mình trong thư viện, nương náu giữa những giá sách, vờ làm một nữ sinh mới, hết trường này đến trường khác, hấp thu những quyển sách như thể chúng là không khí - và thực tế thì, cô bẽn lẽn kể với cậu rằng mình muốn trở thành một nhà thơ. Cô chép lại các bài thơ yêu thích của mình vào quyển sổ gáy xoắn dạng ngang lúc nào cũng mang theo bên mình. “Như vậy chúng sẽ luôn bên tớ,” cô nói, khi rốt cuộc thì cô cũng cho Moody đọc một vài bài thơ ấy, cậu không nói nên lời. Cậu muốn kết mình vào các vòng trang trí li ti mà cô vẽ. “Đẹp thật,” cậu thở dài, và gương mặt Pearl sáng rực lên hệt như ngọn đèn lồng, và ngày hôm sau Moody mang theo cây guitar, dạy cô đánh ba hợp âm, rụt rè hát cho cô nghe bản nhạc của mình, bài hát cậu chưa bao giờ hát cho bất kỳ ai.
Cậu sớm phát hiện ra Pearl có trí nhớ vô cùng tốt. Cô có thể nhớ các đoạn văn chỉ sau một lần đọc lướt qua, có thể nhớ các ngày Đại Hiến Chương (Magna Charta), nhớ tên các vị vua Anh quốc và nhớ tên theo đúng thứ tự của tất cả các vị Tổng thống. Nhờ chăm chú học tập và sử dụng rất nhiều thẻ ghi chú, học kỳ nào Moody cũng có tên trong bảng danh dự, nhưng mọi thứ với Pearl dường như quá đơn giản: cô có thể lướt qua một bài toán và trực giác nảy ra đáp án trong khi Moody phải nghiêm túc giải các bài đại số ra giấy hết dòng này đến dòng khác; cô có thể đọc bài luận và lập tức chỉ ra điểm nổi bật nhất hoặc lỗi logic nghiêm trọng nhất. Cứ y như cô liếc qua một đống những mảnh xếp hình và ngay lập tức nhìn ra toàn bộ bức tranh mà thậm chí không cần tham khảo từ chiếc hộp. Quá rõ ràng, trí tuệ của Pearl là thứ gì đó hết sức phi thường, và Moody không thể ngăn lòng ngưỡng mộ dành cho cách vận hành của bộ não ấy, sao mà dễ dàng đến thế. Niềm vui đơn thuần của cậu là quan sát cô xử lý mọi thứ.
Bên Pearl càng lâu Moody càng thấy mình như bắt đầu phân thân. Mỗi khoảnh khắc dành ra - thực tế là mỗi khi cậu sắp xếp được - cậu sẽ ở cùng Pearl, tại quầy ăn tối, trên một cành cây, quan sát đôi mắt to tròn của cô say sưa ngắm nhìn mọi thứ xung quanh như thể cô khao khát đến khô khốc, những trò đùa vui ngớ ngẩn, vét những mẩu chuyện tầm phào, bất cứ gì làm cho cô ấy cười. Song song đó, trong đầu mình, cậu lang thang khắp thành phố, liều mạng kiếm tìm địa điểm tiếp theo để dẫn cô đến, sự bất ngờ tiếp theo của vùng ngoại ô Cleveland mà cậu có thể khoe, bởi khi cậu không còn nơi nào để khoe, cậu chắc chắn cô ấy sẽ biến mất. Cậu nghĩ mình đã chứng kiến sự im lặng kéo dài của cô qua những miếng khoai tây chiên, đang chọc vào miếng pho-mát kết đông cuối cùng trên đĩa; và cậu chắc rằng đôi mắt cô đang trôi qua bờ xa phía bên kia hồ.
Quyết định này của Moody sẽ trở thành câu hỏi mà cậu phải mang theo suốt phần đời còn lại. Mãi đến nay cậu vẫn không nói với gia đình bất cứ gì về Pearl hay mẹ của cô, cậu bảo vệ tình bạn của hai người như con rồng bảo vệ kho báu: lặng lẽ và thèm khát. Tận đáy lòng, cậu nhận thấy có gì đó sẽ làm mọi thứ thay đổi, như trong các câu chuyện cổ tích, điều kỳ diệu sẽ bị tước mất nếu bạn không giữ được bí mật. Nếu cậu cứ giữ kín chuyện này, có lẽ tương lai sẽ mở ra khác hẳn. Biết đâu Pearl chẳng bao giờ gặp bố hay mẹ cậu, hoặc chị Lexie, anh Trip hay Izzy, hoặc nếu có, họ có thể chỉ là những người mà cô nghe qua chứ không hề biết đến. Hai mẹ con cô có thể ở lại Shaker này mãi mãi, giống như kế hoạch của họ; mười một tháng sau, ngôi nhà của gia đình Richardson biết đâu vẫn trụ vững. Nhưng Moody không nghĩ rằng bản thân đủ thu hút để giữ được sự chú ý của cô. Nếu cậu là một thành viên Richardson nào khác, có lẽ mọi thứ cũng đã khác; các anh chị em của cậu chẳng bao giờ lo nghĩ liệu người ta có thích họ không. Chị Lexie có nụ cười tỏa nắng và chị rất hay cười, anh Trip vừa có ngoại hình lại còn có duyên: làm sao người ta không thích họ, tại sao họ chẳng bao giờ phải hỏi những điều như thế? Izzy, thậm chí còn đơn giản hơn: nó hoàn toàn không quan tâm thiên hạ nghĩ gì về mình. Nhưng Moody không có sự ấm áp của chị Lexie, không có sức hấp dẫn tinh nghịch của anh Trip, không có sự tự tin của Izzy. Cậu cảm thấy, tất cả những gì cậu phải mang đến cho cô chính là những gì mà gia đình cậu có, chính là gia đình cậu, và suy nghĩ đó đã khiến cậu mở lời, vào một buổi trưa cuối tháng Bảy, “Đến đây nào. Cậu có thể gặp gia đình tớ.”
Lần đầu tiên bước vào nhà Richardson, Pearl ngập ngừng nơi ngưỡng cửa. Cô tự nhủ rằng đây chỉ là một căn nhà. Moody sống ở đây. Tuy nhiên chính suy nghĩ ấy thậm chí bất chợt làm cô cảm thấy hơi kỳ quái. Từ vỉa hè, Moody e dè gật đầu đánh hướng về ngôi nhà. “Là nhà đó,” cậu nói, và cô ngạc nhiên, “Cậu sống ở chỗ này?” Không phải bởi quy mô của căn nhà - thực tế, nó rất to, nhưng nó cũng to như mọi ngôi nhà khác trên phố, và chỉ trong vòng ba tuần ở Shaker này, thậm chí cô còn thấy căn nhà to hơn thế. Không: đó là màu tươi xanh của bãi cỏ, những vạch vữa trắng sắc nét giữa các viên gạch, tiếng lá phong xào xạc trong làn gió nhẹ nhàng, khẽ khàng lướt qua nhau. Mùi của chất tẩy rửa, mùi bếp núc và mùi cỏ cây chan hòa đưa hương thoang thoảng nơi lối vào, như thể có người đã bày bừa chúng ra mà quên sắp xếp lại. Cảm giác thay vì bước vào một căn nhà, Pearl như đang bước vào khái niệm của một căn nhà, một kiểu nguyên mẫu[5] nào đó đã mang cuộc sống ngỡ ngàng này đến trước mắt cô. Những thứ cô chỉ mới nghe qua mà chưa bao giờ trông thấy. Cô có thể nghe thấy dấu hiệu cuộc sống từ những căn phòng xa xôi - tiếng lầm bầm khe khẽ của phim quảng cáo truyền hình, tiếng bíp bíp của lò vi sóng nhảy số lùi - nhưng chúng xa vời tựa hồ một giấc mơ.
“Vào trong nào,” Moody giục, và cô bước vào.
Sau đó Pearl nghĩ rằng có lẽ gia đình Richardson ắt đã sắp xếp mọi thứ để làm cô thích thú với cảnh tượng này, và chắc chắn rằng nhà này không phải lúc nào cũng thể hiện cuộc sống gia đình trong trạng thái hoàn hảo đến như vậy. Có bà Richardson đang làm bánh quy ở trong bếp, tất cả mọi thứ - những thứ mà mẹ ruột của cô không khi nào làm, mặc dù nếu Pearl cố hết sức nài nỉ thì đôi khi mẹ sẽ mua một khúc bột nhào được bọc kỹ về xắt ra thành từng khoanh nhỏ. Có ông Richardson, như thu nhỏ lại trên bãi cỏ xanh rộng lớn ngoài kia, đang khéo léo giũ than bỏ vào vỉ nướng bằng bạc sáng loáng. Có anh Trip, đang nằm ườn trên chiếc sô-pha vòng cung dài, đẹp trai quá mức cho phép, một tay choàng lên thành ghế cơ hồ chờ đợi cô nàng may mắn bước đến và ngồi xuống cạnh bên. Và có chị Lexie, trong vạc nắng phía bên kia, chuyển ánh mắt lấp lánh của chị từ màn hình TV về phía Pearl khi cô bé bước vào phòng, và hỏi, “Ồ, nhà mình có ai đây?”
❀ ❀ ❀
[1] Các tín đồ đạo Shaker, một giáo phái rất nghiêm khắc được một người Anh - bà Ann Lee - thành lập từ nửa cuối thế kỷ 18. Và cái tên của vùng Shaker Heights có xuất xứ từ đạo này.
[2] Willem de Kooning (1904 - 1997): nghệ sĩ biểu hiện trừu tượng người Mỹ gốc Hà Lan sinh ra ở Rotterdam, Hà Lan. Các tác phẩm nổi tiếng nhất bao gồm “Woman I”, “Attic,” và “Excavation”. Ông tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên vào năm 1948 tại Egan Gallery Charles. Bức tranh nổi tiếng, “Woman III”, được bán với giá đáng kinh ngạc 137.000.000 đô-la trong năm 2006.
[3] Andy Warhol: họa sĩ người Mỹ gốc Rusyn nổi tiếng về nghệ thuật đại chúng. Ông thường vẽ tranh hậu hiện đại, thương mại và viết phim tiền phong.
[4] Georgia Totto O’Keeffe: họa sĩ người Mỹ. O’Keeffe đầu tiên được cộng đồng nghệ thuật New York chú ý vào năm 1916. Cô được biết đến với những bức tranh hoa phóng to, tòa nhà chọc trời New York, và cảnh quan New Mexico.
[5] Từ gốc: “archetype” - thuật ngữ được C. G. Jung (1875 - 1961), nhà tâm lý học phân tích nổi tiếng người Thụy Sĩ xác lập năm 1912, khi xuất bản cuốn Tâm lý học vô thức. Có nhiều cách gọi tên của thuật ngữ này nhưng đều dẫn đến nội dung: Archetype “là thứ bẩm sinh đã có, có từ nguyên thủy, là một thành phần trong gia tài tinh thần nhân loại”. Ở đây chúng tôi tạm dịch là “nguyên mẫu”.