Sự say mê mới mẻ mà Izzy dành cho cô Mia hóa ra lại lâu dài. Thay vì tự cô lập bản thân trong phòng ngủ cùng cây đàn violin thì ngay khi tan học cô bé lại cuốc bộ cả dặm rưỡi để đến căn nhà trên đường Winslow, nơi cô Mia miệt mài làm việc. Izzy sẽ quan sát cô Mia hàng giờ, học cách lấy khung, tạo bản in và rửa phim. Trong khi đó, Pearl hoàn toàn ngược lại, cô đi bộ cùng Moody đến nhà cậu ấy, nằm ườn trên phòng hứng nắng với các anh chị nhà Richardson. Sau đó, lúc năm giờ, Izzy sẽ nhảy vào ghế phụ chiếc Rabbit và cô Mia sẽ lái xe đưa hai người đến nhà Richardson, nơi đó Izzy sẽ ngồi phía cuối quầy bếp còn cô Mia chuẩn bị bữa tối và sát sao theo dõi những người còn lại - đặc biệt là con gái mình - đang xem chương trình Jerry Springer ở phòng bên. Chỉ đến khi cô Mia trở về nhà - với Pearl ngồi trên ghế phụ, thì lúc đó - Izzy sẽ nhập bọn cùng các anh chị ở phòng khách và ngồi sụp xuống bộ sô-pha bên cạnh. “Ai đó mê mẩn cô Mia rồi kìa,” Lexie ê a, và Izzy trợn tròn mắt rồi lên lầu.
Tuy vậy, chữ “mê” này có lẽ là chính xác. Izzy bám sát từng chữ của cô Mia, săn đón và tin tưởng ý kiến của cô trong mọi việc. Song song những kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh, cô bé bắt đầu hấp thu gu thẩm mỹ và sự nhạy cảm của cô ấy. Khi Izzy hỏi cô Mia làm sao biết cách kết hợp những tấm ảnh nào với nhau, cô Mia đã lắc đầu. “Cô không biết. Đây... đây là cách cô hình dung ra suy nghĩ của mình.” Cô phát tay lên con dao X-actor nằm trên bàn, bức ảnh mà cô đang cẩn thận cắt rời ra. Một dãy xe hơi đổ xô qua cầu Lorain-Carnegie, đôi mắt cảnh giác của hai bức tượng khổng lồ bên dưới được khắc vào các chân cầu. Cô đang tỉ mỉ cắt xén từng chiếc xe, chỉ để lại phần đổ bóng của chúng. “Cô e rằng cô không có kế hoạch nào cả,” cô nói, rồi lại nhấc con dao lên. “Nhưng có mấy ai thực sự lập kế hoạch, dù đã nói gì đi nữa.”
“Mẹ con có. Mẹ cho rằng mẹ có kế hoạch cho mọi thứ.”
“Cô chắc làm vậy giúp mẹ con thấy thoải mái hơn.”
“Mẹ con ghét con.”
“Ôi, Izzy. Cô đảm bảo với con là không có chuyện đó đâu.”
“Không phải, có mà. Bà ấy ghét con. Đó là lý do vì sao bà ấy cứ phạt con chứ không phải mấy anh chị kia.”
Từ khi làm việc tại nhà Richardson, cô Mia nhận ra sự sôi nổi lạ thường của Izzy so với những người khác trong nhà, đặc biệt là mẹ cô. Nói thật, bà ấy khắt khe với Izzy hơn bất cứ đứa nào khác: luôn đánh giá thái độ, luôn thiếu kiên nhẫn với những sai phạm hay thiếu sót của con bé. Có vẻ bà đặt cho Izzy một tiêu chuẩn cao hơn những đứa còn lại, đòi hỏi nhiều hơn, song cùng lúc đó lại bỏ qua thành tích mà chỉ để tâm đến những lỗi lầm của con bé. Cô Mia nhận ra rằng Izzy có khuynh hướng phản ứng lại bằng cách châm chọc mẹ mình nhiều hơn, khiêu khích bà bằng sự tinh ranh mà chỉ bọn con nít mới có.
“Izzy,” giờ cô Mia nói, “Để cô nói con biết một bí mật. Nhiều khi, các bậc phụ huynh không hiểu rõ con cái của họ. Con à, con quá tuyệt vời.” Cô siết nhẹ khuỷu tay Izzy và vung một nhúm rác vào thùng rác, và Izzy cười rạng rỡ. Vào những buổi chiều dài dằng dặc này, khi chỉ còn hai người thì Izzy dễ dàng vờ rằng cô Mia là mẹ mình, rằng phòng ngủ dưới hành lang là của cô ấy rồi khi đêm xuống, cô ấy sẽ vào phòng và ngủ rồi thức dậy vào sáng hôm sau. Rằng Pearl - cách xa một dặm rưỡi, đang xem TV với các anh chị của cô - không hề tồn tại, rằng cuộc sống này chỉ thuộc về Izzy và cô Mia. Những lần khác, khi trở về chính căn nhà mình trong tiếng nhạc jazz chát chúa từ phòng của anh Moody, tiếng Alanis Morisette đang khóc than từ phòng chị Lexie và dàn âm thanh nổi của anh Trip đang phát ra tiếng bass trầm cực lớn, thì Izzy sẽ tưởng tượng cảnh mình trở về căn nhà ở đường Winslow: có lẽ cuộn mình trên giường để đọc sách, hoặc có thể là đang viết một bài thơ còn cô Mia ở ngoài phòng khách đang làm việc xuyên đêm. Có rất nhiều chiều xoắn trong sự tưởng tượng này: nhiều năm về trước, cô và Pearl vô tình bị tráo đổi với nhau; cô bị bố mẹ mang về nhà, họ không phải bố mẹ ruột của cô, và đó là lý do vì sao không ai trong gia đình này có thể hiểu được cô, lý do vì sao cô dường như khác biệt với mọi thành viên còn lại. Giờ đây, trong giấc mơ được thêu dệt tỉ mỉ của mình, cô được trùng phùng với mẹ ruột. Mẹ biết có ngày mẹ sẽ tìm thấy con, cô Mia sẽ nói với cô như vậy.
Mọi người trong gia đình Richardson đều chú ý đến sự tiến bộ trong cách cư xử của Izzy. Ngày nọ, Lexie nói với cô Mia rằng “Con nhỏ gần như dịu dàng khi ở bên cô”. Qua mọi việc Izzy làm, sự ngưỡng mộ mà cô bé dành cho cô Mia không hề nửa vời: chuyện gì Izzy cũng có thể làm cho cô Mia. Và Izzy chắc rằng mình sẽ nhanh chóng biết được cô Mia thật lòng muốn gì.
Vào giữa tháng Mười một, Pearl và Moody cùng bạn học trong lớp Lịch sử châu Âu hiện đại đã đến bảo tàng nghệ thuật để xem các bức họa thời Phục hưng. Người hướng dẫn chuyến này đã luống tuổi, mảnh khảnh và trông có vẻ toàn bộ tinh túy trong người ông đã bị hút ra ngoài qua cái ống hút nơi cửa miệng mím môi. Ông đặc biệt không thích các nhóm trung học: mấy đứa teen không hề lắng nghe. Bọn teen chẳng hề để tâm đến bất cứ gì ngoại trừ bản năng tình dục như đám hơi nước đang cuồn cuộn trong mỗi đứa. Ông nghĩ đến Velazquez, một số bức vẫn còn, có lẽ một số của Caravaggio nữa. Tất nhiên, không bức nào khỏa thân, ông dẫn bọn trẻ đi một vòng dài quanh khu trưng bày tranh của người Ý, đi qua hội trường chính với những tấm tranh thảm thủ công và những bộ áo giáp đặt trong những lồng kính.
Tuy nhiên, nhóm học sinh này không quan tâm đến nghệ thuật như các học sinh đi thực địa thường hay có. Andy Keen, mỗi lần thúc vào giữa bả vai của Kleinman rồi vờ vịt không phải cậu làm. Clayton Booth và David Shearn bàn về bóng đá, về cơ hội cho đội Raider lật lại đội St. Ignatius trong trận đấu sắp tới. Jennie Levi và Tanisha McDowell cố ý phớt lờ Scott Graham và Dante Pierce, những đứa đang đếm và đánh giá những cặp vú lõa lồ trong các bức tranh mà người hướng dẫn vội vã lướt qua. Moody, một người yêu nghệ thuật, đang quan sát Pearl, và ước ao - không phải lần đầu - rằng cậu là một tay nhiếp ảnh để có thể bắt được vạt sáng từ lớp kính mờ trên trần phòng triển lãm đang phủ lên gương mặt để ngửa của cô và làm cho khuôn mặt ấy sáng bừng lên.
Và, mặc dù cố tập trung vào bài diễn thuyết khô khan của người hướng dẫn, thì chính Pearl lại thấy tâm trí mình cứ trôi đi. Cô bước sang bên, vào phòng triển lãm bên cạnh, vào phòng trưng bày được bày trí đặc biệt thành chủ đề Madonna và Đứa Bé. Từ phía bên kia phòng, Moody, đang cẩn thận ghi chép về Caravaggio, nhìn cô bước đi. Sau ba, bốn rồi năm phút mà Pearl không trở lại, cậu giúi cây bút chì vào quyển sổ ghi chép gáy xoắn của mình rồi đi theo.
Đó là một phòng nhỏ, với chỉ vài chục bức tranh trên tường, tất cả đều trưng bày Đức Mẹ Đồng Trinh và Chúa Jesus ngồi trên đùi. Vài bức thời Trung cổ lộng khung vàng không lớn hơn chiếc hộp nhựa đựng đĩa CD là mấy; một số khác là các phác thảo thô bằng bút chì các pho tượng thời Phục hưng; một số nữa là các bức tranh sơn dầu đồ sộ. Một bức hậu hiện đại được cắt dán từ những bức ảnh của người nổi tiếng từ những tạp chí lá cải; Đức Mẹ Đồng Trinh với cái đầu của Julia Roberts, chúa Jesus với cái đầu của Brad Pitt. Nhưng thứ làm cho Pearl sững sờ chính là bức ảnh: một bức ảnh đen trắng, cỡ tám nhân mười, bức ảnh người đàn bà ngồi trên ghế sô-pha, cười rạng rỡ nhìn xuống đứa trẻ sơ sinh trong vòng tay. Không thể nào nhầm lẫn, đó chính là cô Mia.
“Nhưng, làm thế nào...” Moody lên tiếng.
“Tớ không biết.”
Họ nhìn chằm chằm vào bức ảnh và im lặng một lúc. Lúc nào cũng rất thực tế, Moody bắt đầu thu thập thông tin. Theo thông tin từ tấm thẻ bên cạnh, tiêu đề tác phẩm là Mẹ đồng trinh và Đứa bé 1 (1982); nghệ sĩ là bà Pauline Hawthorne. Cậu ghi những thông tin này vào sổ, ngay bên dưới những ghi chú bỏ ngỏ về Caravaggio. Không có lời bình luận từ ban quản lý, ngoài một ghi chú rằng bức ảnh này được Phòng triển lãm Ellsworth ở Los Angeles cho mượn để trưng bày.
Trái lại, Pearl lại tập trung vào chính bức ảnh. Mẹ cô trông trẻ hơn đôi chút, nhỏ nhắn hơn đôi chút, nhưng vẫn dáng vẻ mong manh ấy, vẫn đôi gò má cao ấy và chiếc cằm nhọn ấy. Nốt ruồi nhỏ ngay dưới mắt, vết sẹo như sợi chỉ trắng chạy cắt qua chân mày bên trái. Đôi cánh tay thon thả của mẹ trông mảnh khảnh như chân chim, như bị khóa bên dưới một vật rất nặng, nhưng đó là đôi tay có thể mang nặng hơn bất kỳ phụ nữ nào mà Pearl từng thấy. Ngay cả mái tóc của mẹ vẫn như vậy: cột thành búi tóc rối ngay trên đỉnh đầu. Mẹ đẹp đến lạ thường: tóc xòa xuống thành lọn, như ngọn lửa. Chính hình ảnh của mẹ trong bức ảnh này dường như sáng bừng lên. Mẹ không nhìn vào máy ảnh; sự tập trung của mẹ hoàn toàn và tuyệt đối bị đứa trẻ sơ sinh bé nhỏ trước mặt mình thu hút. Là tập trung vào mình, Pearl nghĩ. Cô dám chắc đứa bé trong ảnh chính là mình. Mẹ có thể bế đứa trẻ nào khác chứ? Pearl không có tấm hình nào hồi ẵm ngửa nhưng cô nhận ra đứa bé này chính là mình, từ sống mũi, góc mắt, cái nắm tay thật chặt mà cô vẫn luôn làm vậy hồi mới chập chững và hồi còn nhỏ, trong sự tập trung, Pearl không nhận ra rằng thậm chí ngay bây giờ tay cô cũng đang nắm chặt. Bức ảnh này từ đâu mà có? Chiếc sô-pha sắc xám mà mẹ cô đang ngồi có thể màu nâu vàng nhạt, hoặc màu xanh xám, hoặc thậm chí là màu vàng; cửa sổ phía sau mẹ hướng ra khung cảnh mờ nhạt của những tòa cao ốc. Người chụp bức ảnh này chỉ cách vài bước, giống như đã ngồi trên cái ghế bành ngay bên cạnh bộ sô-pha. Là ai đã chụp?
“Cô Warren,” bà Jacoby đứng từ sau lưng gọi cô. “Cậu Richardson.” Pearl và Moody xoay người lại, mặt hai người nóng ran lên. “Nếu hai em đi ra ngay thì cả lớp đang đợi hai em đấy.”
Và thật vậy, cả lớp đã tập trung bên ngoài, các quyển sổ giờ đóng lại, người hướng dẫn kè kè bên cạnh đầy trách nhiệm, bạn học cười khúc khích và thầm thì khi Moody và Pearl xuất hiện.
Trên xe buýt trở về, nhiều lời bông đùa bắt đầu lan truyền về những gì Moody và Pearl đã làm. Mặt Moody biến sắc thành đỏ bầm và cậu vụng về ngồi xuống chỗ của mình, vờ không nghe thấy. Pearl nhìn chằm chằm ra cửa sổ, hoàn toàn không hay biết. Cô chẳng nói gì cho đến khi xe buýt về đến bãi bầu dục quanh trường và học sinh bắt đầu nối đuôi nhau bước ra. “Tớ muốn trở lại đó,” cô nói với Moody khi họ bước xuống xe.
Và chiều tan trường hôm đó họ đã thuyết phục chị Lexie lái xe đưa đi vì không còn cách nào khác để đến đó, đồng thời để cho Izzy theo đuôi vì con bé cứ khăng khăng muốn vậy. Moody thuyết phục chị Lexie chở đi nhưng cậu không kể với chị về thứ mà hai người muốn xem, và khi bước vào phòng triển lãm, miệng của Lexie há hốc.
“Ôi chao,” cô nói. “Pearl ơi... mẹ em kìa.”
Cả bốn người cùng xem xét bức ảnh: Lexie đứng từ giữa phòng như thể cô cần khoảng cách để có tầm nhìn tốt hơn; Moody thì gần như dí mũi mình đến mức làm nhòe bức ảnh, như thể cậu có thể tìm ra đáp án từ những ẩn khuất giữa các điểm ảnh, rồi rạc người sát lại đến mức kích hoạt chuông báo động. Pearl chỉ đứng đó nhìn trân trối. Và Izzy đứng chết trân trước hình ảnh của cô Mia. Trong bức ảnh, cô ấy dường như tỏa sáng như vầng trăng tròn đêm thanh minh. Mẹ đồng trinh và Đứa bé 1, cô đọc trên tấm áp-phích và trong phút chốc cô để mình tưởng tượng rằng đứa bé trong vòng tay cô Mia kia chính là mình.
“Thật điên rồ,” cuối cùng Lexie nói. “Tròi ơi, quá điên rồ mà. Mẹ em đang làm gì trong bức ảnh trưng bày ở viện bảo tàng nghệ thuật vậy chứ? Cô ấy là người nổi tiếng ẩn danh sao?
“Người trong ảnh không hề nổi tiếng,” Moody nói xen vào. “Người chụp mới là người nổi tiếng.”
“Ồ, chúng ta phải hỏi cô ấy,” Lexie nói. “Chúng ta phải hỏi cô ấy ngay.”
Và ngay khi về đến nhà, họ lũ lượt kéo vào căn bếp của nhà Richardson, nơi cô Mia vừa mới nêm nếm xong con gà cho bữa tối.
“Mấy đứa đi đâu vậy?” cô hỏi khi bọn chúng bước vào. “Cố cứ nghĩ là đồng hồ chạy sai, ba giờ rưỡi rồi bốn giờ mà chưa thấy đứa nào về cả.”
“Tụi con đến viện bảo tàng nghệ thuật,” Pearl bắt đầu, rồi do dự. Đối với cô, chuyện này có gì đó không đúng, giống cảm giác không thoải mái khi người ta đặt chân bước lên một bậc thang lung lay, ngay trước khi nó đổ nghiêng dưới chân mình. Moody, Izzy và Lexie tụm lại quanh cô Mia, và Pearl nhìn thấy cái cách mà bọn họ nhìn mẹ mình, phấn khích, mở to mắt và tò mò.
Lexie thúc vào lưng Pearl. “Hỏi đi.”
“Hỏi gì vậy?” cô Mia đặt con gà vào nồi hầm và đến bồn rửa tay, và Pearl có cảm giác như đang ở bể bơi nhảy từ chiếc cầu nhảy rất cao, lao mình đâm sầm xuống.
“Có một bức ảnh của mẹ,” cô buột miệng. “Ở viện bảo tàng nghệ thuật. Bức ảnh mẹ ngồi trên ghế sô-pha tay ẵm em bé.”
Cô Mia vẫn quay lưng về bọn trẻ, nước chảy luồn qua hai bàn tay cô, nhưng cả bốn đứa trẻ đều thấy rõ: dáng điệu của cô có đôi phần sững lại, như sợi dây đàn bị kéo căng ra. Cô không quay lại nhưng vẫn tiếp tục lau chùi các kẽ tay.
“Ảnh của mẹ sao Pearl? Ở bảo tàng nghệ thuật hả?” cô hỏi. “Ý con là có ai đó trông giống mẹ sao.”
“Chính là cô,” Lexie nói. “Chắc chắn là cô luôn. Cái nốt ruồi nhỏ ngay dưới mắt, vết sẹo ở lông mày và mọi thứ khác nữa.”
Cô Mia rà đốt ngón tay lên trán, cứ như cô quên mất ở đó có vết sẹo, và một giọt bọt nước ấm nóng chảy xuống thái dương. Sau đó cô rửa tay và tắt vòi nước.
“Có thể đó là mẹ,” cô lên tiếng. Cô quay người lại và bắt đầu dùng khăn lau bát đĩa lau nhanh đôi bàn tay, và Pearl hết sức ngạc nhiên khi gương mặt của mẹ mình đột nhiên khắc nghiệt và đanh lại. Mất hết phương hướng, giống như cánh cửa luôn mở bỗng nhiên đóng sầm lại. Trong giây lát trông cô Mia không giống mẹ cô chút nào. “Con biết không, các nhiếp ảnh gia lúc nào cũng tìm người mẫu. Rất nhiều sinh viên nghệ thuật đã làm chuyện này.”
“Nhưng cô phải nhớ chứ,” Lexie nằng nặc. “Cô ngồi trên bộ sô-pha trong một căn hộ đẹp. Và Pearl nằm trong lòng cô. Người chụp ảnh là...” Cô quay sang Moody. “Bà ấy tên gì nhỉ?”
“Hawthorne. Bà Pauline Hawthorne.”
“Pauline Hawthorne,” Lexie lặp lại, như thể cô Mia không nghe thấy. “Cô phải nhớ chứ.”
Cô Mia dùng cổ tay giật vội cái khăn lau bát đĩa. “Lexie, cô thật sự không tài nào nhớ nổi tất cả việc lặt vặt mà cô từng làm,” cô nói. “Con có biết, khi khó khăn, con làm bao nhiêu thứ chỉ để cố gắng kiếm đủ tiền trang trải. Cô không biết liệu con có tưởng tượng nổi chuyện này là thế nào hay không.”
Cô quay lại bồn rửa và treo cái khăn lên phơi, và Pearl nhận ra rằng tất cả những gì cô đang làm đây đều sai. Cô không nên hỏi mẹ mình như vậy, trong phòng bếp của gia đình Richardson với quầy bếp bằng đá hoa cương, với tủ lạnh bằng thép không rỉ và với nền lát gạch nung của Ý, ngay trước mặt đám trẻ nhà Richardson đang vận những chiếc áo khoác hiệu North Face sáng láng đắt tiền, đặc biệt là trước mặt Lexie, người vẫn lủng lẳng cầm bộ chìa khóa chiếc Explorer trên tay. Nếu cô đợi đến lúc chỉ còn hai mẹ con, trở về nhà trong căn bếp nhỏ lờ mờ nơi căn-hộ-phân-nửa ở đường Winslow của họ, ngồi trên những chiếc ghế không đồng bộ ở cái bàn cánh lật chỉ còn lại một cánh mà họ lượm về, có lẽ mẹ sẽ kể với cô. Cô đã nhận ra sai lầm của mình: đây là chuyện riêng, chỉ nên giữ riêng cho hai mẹ con, và khi gộp với những thành viên của gia đình Richardson, cô đã phá vỡ làn ranh không nên xâm phạm. Bây giờ, nhìn sự kiên quyết và ánh mắt dứt khoát của mẹ, cô biết rằng không còn cách để hỏi thêm bất cứ điều gì nữa.
Về phần mình, Lexie hài lòng với giải thích của cô Mia. “Mỉa mai, không phải sao,” cô nói vậy và nhún vai khi họ rời nhà bếp, và Pearl bỏ qua mà thậm chí không buồn nói với chị ấy rằng chuyện này đâu có ý là mỉa mai. Cô thấy vui khi để cho chuyện này ngừng lại. Suốt tối hôm đó, mẹ cô im lặng đến lạ thường, và cô hối hận khi đã lôi chuyện này ra. Lúc nào cũng vậy, Pearl luôn ý thức về tiền bạc - với hoàn cảnh gia đình mình, sao cô có thể không? - nhưng trước đây chưa bao giờ cô liệu nổi những gì mà mẹ mình phải trải qua khi có một đứa trẻ sơ sinh, mẹ phải cố gắng trang trải cuộc sống ra sao. Cô tự hỏi liệu mẹ còn phải làm thêm việc gì nữa để có thể tiếp tục tồn tại - để cả hai mẹ con có thể sống sót - trong những năm đầu. Trong đời mình, chưa bao giờ cô đi ngủ mà thiếu nụ hôn chúc ngủ ngon của mẹ, nhưng đêm đó lại không, cô Mia ngồi nơi phòng khách trong ngọn đèn mờ đục, nét mặt cô đanh lại và trầm ngâm suy nghĩ. Sáng hôm sau, bước vào bếp, lòng Pearl nhẹ nhõm khi thấy mẹ Mia cũng ở đó, mẹ đang nướng bánh mì như mọi khi và cư xử vui vẻ như thể hôm qua chẳng xảy ra chuyện gì.
Cô sẽ không bao giờ biết được rằng, từ lâu, mẹ đã cố giấu đi một bí mật, và chuyện về bức ảnh cứ phảng phất trong không khí như một mùi khó chịu. Cô vùi những nghi hoặc của mình vào sâu tâm trí và quyết định không nói thêm gì nữa, ít nhất là bây giờ.
“Con có cần pha trà không mẹ?” cô hỏi.
Tuy nhiên, Izzy đã quyết tìm cho ra đáp án. Rõ ràng bức ảnh giữ một bí mật gì đó về cô Mia, và cô bé tự hứa với mình rằng sẽ làm sáng tỏ chuyện này. Là một học sinh năm nhất, cô bé không có tiết nào trống, nhưng cô đã dành vài buổi ăn trưa, thậm chí là ở lại trường sau giờ tan học để dùng máy tính của thư viện. Cô tra cứu tên Pauline Hawthorne trong danh mục thẻ và tìm thấy vài quyển sách về lịch sử nghệ thuật. Rõ ràng là bà ấy khá nổi tiếng. “Một người tiên phong trong nền nhiếp ảnh hiện đại của nước Mỹ,” một quyển sách nói về bà như vậy. Một cuốn khác thì gọi bà là “Cindy Sherman trước Cindy Sherman có Cindy Sherman.” (Về điểm này thì Izzy đánh một vòng nhanh để tra cứu về Cindy Sherman, và mất cả buổi chiều để nghiên cứu các bức ảnh của bà ấy.)
Cô biết được các tác phẩm của bà Pauline Hawthorne nổi tiếng bởi sự gần gũi và tính đặc trưng của nó, bởi những hình ảnh mang tính chất vấn về nữ tính và nhân dạng. “Bà Pauline Hawthorne đã trải đường cho tôi và các nữ nhiếp ảnh gia khác,” Cindy Sherman đã tự nói vậy trong một bài báo. Izzy nhìn đăm đăm vào các bức ảnh của bà ấy: bức một bà nội trợ và con gái trên xích đu, đứa bé đá mạnh chân vào sợi xích uốn thõng, bất chấp trọng lực, đôi tay người đàn bà dang rộng ra như thể đẩy đứa nhỏ đi hoặc tuyệt vọng kéo nó trở lại. Những bức ảnh này đã làm lòng cô xáo trộn đến không thể diễn tả bằng lời và cô xem đây là những tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Cô lùng sục mọi đường dẫn về Pauline Hawthorne được liệt kê trong danh mục thẻ cho đến khi gom góp được nhiều thông tin cơ bản của bà: sinh năm 1947 tại New Jersey, học Đại học Garden State, các tác phẩm đầu tiên được trưng bày tại Thành phố New York năm 1970, lần đầu tiên triển lãm riêng năm 1972.
Izzy biết những tác phẩm của bà là một trong những bức ảnh được săn lùng nhiều nhất thập niên những năm 1970; một trong số đó còn được bán đấu giá một triệu đô-la vào năm 1978. cổng thông tin cung cấp một bức ảnh chân dung của bà Pauline Hawthorne, một phụ nữ mảnh mai với đôi mắt đen to tròn và mái tóc ngắn quá vai chỉnh tề chấm bạc. Trông bà ấy như một giáo viên dạy Toán vậy.
Cô biết, bà Pauline Hawthorne đã qua đời vì bệnh ung thư vú vào năm 1982. Izzy ngồi lỳ trước một trong hai cái máy tính của thư viện, đợi modem kết nối, và gõ tên của Pauline vào công cụ tìm kiếm AltaVista. Cô tìm ra nhiều ảnh khác - Bảo tàng Nghệ thuật Getty có một bức, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại MoMA có ba bức; vài bài báo phân tích tác phẩm của bà, một bài cáo phó từ tờ New York Times. Không còn gì khác. Cô đã thử đến thư viện công cộng, ở cả hai chi nhánh, tìm thấy thêm vài quyển sách ảnh và vài bài báo trên tấm vi phim, nhưng cũng không có thêm thông tin gì mới. Mối liên hệ giữa bà Pauline Hawthorne và cô Mia là gì? Có lẽ cô Mia chỉ đon thuần là mẫu ảnh, như cô nói; có lẽ cô chỉ ngẫu nhiên ngồi đó làm mẫu cho bà Pauline Hawthorne chụp. Lý giải này không làm Izzy hài lòng, cô thấy chuyện trùng hợp như vậy rất khó xảy ra.
Cuối cùng, cô chuyển sang nguồn tin duy nhất mà mình có thể nghĩ ra: là mẹ cô. Bà là ký giả, ít nhất cũng trên danh nghĩa. Thật vậy, mẹ cô gần như phụ trách hết các bài báo nhỏ, nhưng những ký giả luôn khám phá ra nhiều thứ. Họ có nhiều mối quan hệ, họ có cách để điều tra mà không cần tiếp cận đến bất cứ người nào. Từ ngày còn nhỏ, Izzy đã độc lập một cách ương ngạnh và dữ dội; cô không chịu nhờ vả bất kỳ ai giúp đỡ. Chỉ vì lòng khao khát mãnh liệt muốn làm sáng tỏ bức ảnh bí ẩn ấy mới có thể thuyết phục cô tiếp cận mẹ mình.
Vài tuần sau lần đầu nhìn thấy bức ảnh, tối hôm ấy cô gọi “Mẹ ơi. Giúp con việc này có được không?”
Như thường lệ, bà Richardson lắng nghe Izzy bằng tâm trí nửa vời. Áp lực hạn cuối giao bài đang sát nút, một bài về việc bán cây hàng năm của Trung tâm Thiên nhiên.
“Izzy à, có lẽ bức ảnh ấy không phải mẹ của Pearl. Có thể là một ai đó khác. Ai đó chỉ trông giống cô ấy thôi. Mẹ đảm bảo đây chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi con à.”
“Không đâu mẹ,” Izzy khăng khăng. “Pearl biết rõ đó là mẹ của chị ấy và con cũng thấy như vậy. Mẹ sẽ xem xét nó ngay phải không? Hãy gọi cho viện bảo tàng hoặc đâu đó đại loại vậy. Mẹ sẽ phát hiện được gì đó. Năn nỉ mà.” Cô bé chưa bao giờ giỏi vòi vĩnh - cô luôn cảm thấy xu nịnh là một kiểu dối trá - nhưng cô lại cực kỳ muốn biết chuyện này. “Con đảm bảo là mẹ xử được chuyện này. Mẹ là phóng viên mà.”
Bà Richardson nhượng bộ. “Được rồi,” bà nói. “Để mẹ xem xem có thể tìm ra được gì. Nhưng phải chờ đến sau kỳ hạn này của mẹ. Ngày mai mẹ phải giao bài rồi.”
“Con nên biết là có lẽ cũng chẳng có gì cả,” bà nói thêm, khi Izzy nhún nhảy về phía cửa với niềm hân hoan mới vừa dồn nén.
Câu nịnh hót của Izzy - mẹ là phóng viên mà - đã chạm vào niềm kiêu hãnh của mẹ cô như việc ấn ngón tay vào vết bầm cũ. Cả cuộc đời, bà Richardson luôn mong muốn được làm ký giả - từ rất lâu trước khi cố vấn học đường thực hiện các bài kiểm tra năng khiếu tại trường trung học. Bà diễn giải trong bài phát biểu tại lớp Tiếng Anh về những nghề mơ ước rằng, “Các ký giả ghi chép cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Họ tiết lộ sự thật và những thông tin mà công chúng đáng được biết, họ để lại hồ sơ cho thê hệ mai sau, giúp các thế hệ tương lai có thể học hỏi từ những sai lầm đồng thời phát huy những thành tựu của chúng ta.” Bà được nuôi dạy để trở thành con người có tinh thần cộng đồng; mẹ bà lúc nào cũng bận rộn với các ủy ban hoặc đại loại vậy, ủng hộ cho nhiều quỹ học đường, luật công lý, công bằng và đưa cô con gái nhỏ của bà theo cùng. “Thay đổi không chỉ là ngẫu nhiên,” mẹ bà luôn hô vang khẩu hiệu của Shaker, “nó cần phải có kế hoạch.” Trong lớp Lịch sử, khi cô gái trẻ Elena học được thuật ngữ quyền cao chức trọng, trách nhiệm nặng nề thì ngay lập tức cô hiểu được nó. “Quay lại cuộc Tuần hành Washington hồi năm 1963,” mẹ bà hào hứng kể, “mẹ đã dắt con theo. Chúng ta là nhân chứng lịch sử, con còn nhớ không.” Đối với bà Richardson, nghề báo dường như là con đường cuối cùng để tìm ra bằng chứng. Dường như đó là một nghề cao quý, một nghề mà người ta có thể làm tốt trong phạm vi quy tắc nghề nghiệp và trong lòng mình bà đã hình dung sự kết hợp giữa Nelly Bly và Lois Lane. Sau bốn năm làm việc cho báo trường - khởi đầu từ lớp báo chí khi mới là học sinh năm nhất và thăng tiến lên thành đồng-tổng-biên-tập vào năm cuối - dường như điều này không chỉ hợp lý mà còn là lẽ thường tình.
Bà tốt nghiệp hạng nhì trong lớp và có được các suất chọn ở các trường đại học: một học bổng toàn phần tại Đại học Oberlin, một suất học bổng bán phần tại Đại học Denison, được công nhận trên tất cả các bang, từ Kenyon đến Kent cho đến Wooster. Mẹ bà ủng hộ học trường Oberlin, cụ đã giục bà nộp đơn đầu tiên, nhưng khi Elena đến thăm khuôn viên trường, ngay lập tức bà cảm thấy nơi này không phù hợp. Các ký túc xá trong trường nam nữ đồng giáo này đã làm bà do dự, bọn con trai mặc độc chiếc quần lót, còn đám con gái thì chỉ khoác áo choàng tắm, bà cảm thấy bất cứ lúc nào bọn con trai cũng có thể lang thang mà vào phòng mình - hoặc tệ hơn là vào luôn phòng tắm. Trên bậc thềm của một tòa nhà, ba nữ sinh tóc dài vận những chiếc áo dashiki đang ngồi thổi sáo trượt; bên kia các sinh viên năm nhất giơ cao các tấm áp-phích trong cuộc biểu tình im lặng: NÉM BOM VÌ HÒA BÌNH CŨNG NHƯ LÀM TÌNH VÌ TRINH TIẾT. TÔI KHÔNG MÀNG GÌ TỔNG THỐNG. HÃY YÊU THƯƠNG, KHÔNG CHIẾN TRANH. Elena cảm thấy chuyện này như ở nước ngoài, nơi mà luật lệ không với tới. Bà cố kiềm nén nỗi bồn chồn không yên, như thể sân trường là một chiếc áo len dày ngứa ngáy.
Vì vậy, bà đã đến Denison vào mùa thu sau đó và tự mình vẽ ra một tương lai lẫy lừng đầy khát vọng. Vào ngày thứ hai đến lớp bà đã gặp Billy Richardson, một chàng cao to, đẹp trai với phong cách của Clark Kent, và đến cuối tháng họ đã chính thức yêu nhau. Họ lên kế hoạch cho tương lai một cách rõ ràng: tốt nghiệp xong, một lễ cưới màu trắng tại Cleveland, một căn nhà ở Shaker, sinh thật nhiều con, chồng học trường luật, vợ làm phóng viên mới - một kế hoạch mà hai người tỉ mỉ kỹ càng cùng nhau thực hiện.
Ngay sau khi kết hôn và định cư tại một căn hộ hai tầng thuê tại Shaker, ông Richardson bắt đầu theo học trường luật và bà Richardson được mời làm việc với vị trí phóng viên mới tại Sun Press. Đó là một tờ báo nhỏ, tập trung vào mảng tin tức địa phương, và mức lương cũng thấp tương ứng. Tuy nhiên, bà quyết định đây là nơi hứa hẹn để bắt đầu. Có lẽ, vào đúng thời cơ, bà có thể chuyển sang tờ Plain Dealer, tờ báo “chính hiệu” của Cleveland - dù rằng, dĩ nhiên có bao giờ bà muốn rời khỏi Shaker, đồng thời cũng không thể tưởng tượng nổi phải gây dựng một gia đình ở bất kỳ nơi nào khác.
Bà đã chặt chẽ theo sát tất cả hội nghị tin tức ở địa phương, các hoạt động chính trị của thành phố, các tác động trong khu vực từ những quy định mới đối với tất cả mọi thứ từ cầu cống đến việc trồng cây, và chia sẻ trách nhiệm với một phóng viên cấp thấp khác, là Dwight, bà ấy trẻ hơn bà một tuổi. Đây là môi truờng tốt để làm việc, nơi này cho phép bà nghỉ sáu tuần thai sản sau khi sinh Lexie, sau đó là Trip, rồi Moody. Tuy nhiên, khi Izzy chào đời, bà Richardson nhận thấy dù hiện giờ làm phóng viên cao cấp ở tờ Sun Press, nhưng bà vẫn phụ trách các bài báo nhỏ, những tin tức nhỏ. Trong khi đó, bà Dwight đã chuyển đến Chicago để làm việc tại tờ Tribune. Có phải vì khoảng thời gian bà đã nghỉ sinh, hay vì sự thật - khi bà bắt đầu nhận ra - rằng bà không có mong muốn đào bới nhũng câu chuyện gay gắt và nhũng tấn bi kịch chua xót? Chẳng bao giờ bà có thể chắc chắn được điều đó, nhưng thời gian càng trôi qua, thì khả năng bà có thể chuyển đến một nơi nào khác dường như càng ít, và chuyện này trở thành vấn đề con gà và quả trứng. Dường như chẳng có ai ở Plain Dealer, cũng như bất kỳ nơi nào khác, muốn nhận một phóng viên xấp xỉ tuổi bốn mươi, có bốn đứa con với mọi bổn phận đi kèm, người không bao giờ đảm nhiệm các tin bài quan trọng, và liệu đó là con gà hay quả trứng cũng không còn là vấn đề.
Vì thế bà vẫn ở lại. Bà tập trung vào những bài báo thấy ổn, các bài tường thuật ca ngợi sự tiến bộ: sáng kiến mới về việc tái chế, tái cơ cấu thư viện, lễ cắt băng khánh thành ở sân thể thao phía sau thư viện. Bà tham dự lễ tuyên thệ của vị quản lý mới của thành phố (“long trọng”) và cuộc diễu hành Halloween (“sinh động”), khai trương Nhà sách Nửa giá tại Trung tâm Van Aken (“sự bổ sung cần thiết cho khu thương mại của Shaker”), cuộc tranh luận về việc phun thuốc các loài bướm đêm gypsy[1] (“nóng hổi”, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Bà bình luận vở nhạc kịch Grease tại nhà thờ Unitarian và vở nhạc kịch Guys and Dolls tại trường trung học: “Vui nhộn,” bà viết trong một bài; “Đáng nhiệt liệt hoan nghênh,” bà viết trong bài khác. Bà nổi tiếng vì đáng tin cậy và vì hướng đến các bản thảo sạch sẽ, dù rằng - chẳng ai nói thành lời - những bài báo ấy cứ đều đặn, khá tẻ nhạt và cực kỳ câu nệ. Như vốn dĩ, Shaker Heights hết sức an toàn, thế nên những tin tức, vì vậy mà buồn tẻ. Ở thế giới ngoài kia, núi lửa phun trào, chính phủ thăng trầm, trao đổi con tin, tên lửa nổ tung, tường thành sụp đổ. Nhưng tại Shaker Heights, mọi thứ cứ bình yên, các cuộc bạo động, ném bom, động đất đều là những đòn giáng tĩnh lặng kẹt lại ở nơi xa. Nhà của bà rộng; con cái của bà an toàn, hạnh phúc và được giáo dục tốt. Bà tự nhủ lòng đây rõ ràng là thành quả từ kế hoạch bà đã lập ra trong suốt bao nhiêu năm qua.
Tuy nhiên, lời thỉnh cầu của Izzy đã mang lại đôi điều mới mẻ. Điều gì đó hấp dẫn, hoặc ít ra cũng thú vị. Điều gì đó biết đâu rất đáng để điều tra đến tận cùng.
Như đã hứa, bà Richardson gửi bài và quay sang bức ảnh bí ẩn. Giờ nghỉ trưa vào tuần kế tiếp, bà tạt qua viện bảo tàng để tận mắt xem nó. Mãi đến khi đó, bà vẫn đinh ninh rằng Izzy chỉ đang tưởng tượng ra mọi thứ, nhưng con bé nói đúng: đây rõ ràng là Mia. Trong bức ảnh của bà Pauline Hawthorne sao! Tất nhiên bà từng nghe về bà Pauline Hawthorne. Chuyện gì đây? Bà Richardson bối rối với chuyện này khi nhét vội tờ năm đô-la gấp lại vào thùng quyên góp cùa bảo tàng và đi ra xe, thật quá ngạc nhiên.
Bước đầu tiên là bà gọi điện cho phòng trưng bày nghệ thuật nơi đã cho mượn bức ảnh để trưng bày. Vâng, người chủ sở hữu đã kể với bà rằng họ đã mua bức ánh từ một chủ buôn ở New York vào năm 1982. Rất nhanh sau khi bà Pauline mất, giới nghệ thuật đã một phen náo động khi bức ảnh trước giờ chưa từng được biết, nay lại đưa ra bán. Một cuộc đấu giá đã diễn ra khốc liệt và người ta hồi hộp mang bức ảnh đi với năm mươi nghìn đô-la - thật sự quá hời. Vâng, bức ảnh được cho là của bà Pauline Hawthorne một cách đáng thuyết phục: trong nhiều năm qua chủ buôn đã bán nhiều ảnh của bà Pauline, và bức ảnh này - bản in duy nhất, họ được biết - được chính bà Pauline ký vào mặt sau. Không, chủ sở hữu bức ảnh là một người nặc danh, nhưng họ rất sẵn lòng cho bà Richardson biết tên của người buôn ảnh.
Bà Richardson lấy tên của bên buôn ảnh - Anita Rees - và, sau một cuộc gọi nhanh đến cổng thông tin mở của thành phố New York, số điện thoại của Phòng triển lãm Rees là ở Manhattan. Khi bắt máy, Anita Rees rõ ràng là một người New York chính gốc: lanh lợi, nói nhanh, và điềm tĩnh.
“Bức ảnh của bà Pauline Hawthorne sao? Có, em khẳng định đã bán bức đó. Em làm đại diện cho bà Pauline Hawthorne đã nhiều năm.” Qua điện thoại, bà Richardson nghe được tiếng ồn ào không rõ của tiếng còi báo động lướt ngang qua sau đó lùi dần về phía xa. Trong tâm trí bà, đó luôn là âm thanh của New York: tiếng còi ô-tô, còi xe tải và còi báo động. Bà đến New York mới chỉ một lần, ở trường đại học, vào những ngày mà người ta phải dùng hai tay giữ chặt ví của mình và không dám chạm vào bất cứ thứ gì trên tàu điện ngầm, thậm chí là một cái cột. New York đã gắn chặt vào ký ức của bà như vậy.
“Nhưng bức ảnh này,” bà Richardson nói, “được bán sau khi bà Pauline mất. Bởi một ai đó. Đó là bức ảnh một phụ nữ đang ẵm đứa bé. Tên là Mẹ đồng trinh và Đứa bé 1.”
Đường dây điện thoại đột nhiên im lặng đến nỗi bà Richardson nghĩ rằng cô ta đã cúp máy. Nhưng sau một lúc, Anita Rees lên tiếng trở lại. “Vâng, em nhớ bức đó.”
“Em chỉ muốn hỏi,” bà Richardson nói, “liệu chị có thể cho em biết tên của người đã bán bức ảnh này hay không.”
Có gì đó vừa lóe lên trong giọng nói của Anita: đầy ngờ vực. “Phiền chị nói lại là chị đang gọi đến từ đâu?”
“Em tên là Elena Richardson.” Bà Richardson do dự một lát. “Em là phóng viên của tờ báo Sun Press, ở Cleveland, Ohio. Tấm ảnh này liên quan đến đề tài mà em đang nghiên cứu.”
“Em hiểu rồi.” Im lặng một lần nữa. “Em rất tiếc, nhưng chủ sở hữu ban đầu của bức ảnh muốn được giấu tên. Vì các lý do cá nhân. Em không có quyền tiết lộ danh tính của người bán.”
Bà Richardson gấp mép quyển sổ tay của mình trong sự khó chịu. “Em hiểu, ôi, điều mà em đặc biệt quan tâm chính là người trong ảnh. Chị cho em chút ít thông tin về cô ấy có được không?”
Lần này, không còn nghi ngờ gì nữa: im lặng đến giật mình, và khi Anita Rees nói tiếp, giọng cô quá lạnh lùng. “Em e rằng không có bất cứ thông tin nào chia sẻ được với chị. Chúc chị may mắn với bài báo của mình.” Đường dây đã ngắt bằng tiếng tách nhẹ nhàng.
Bà Richardson bỏ điện thoại xuống. Là ký giả, bà không xa lạ gì với việc bị ngắt máy, nhưng lần này lại khiến bà tức tối hơn hết. Có lẽ trong chuyện này có gì đó, vài bí ẩn kỳ lạ đang đợi chờ lật mở. Bà liếc nhìn nhìn màn hình vi tính, nơi vẫn còn phân nửa bản thảo về chuyến viếng thăm Cleveland sắp tới của phó Tổng thống Al Gore đang chờ đợi.
Bà nghĩ, các nhà sưu tầm nghệ thuật thường ẩn dật. Đặc biệt với những nơi liên quan đến tiền bạc. Có thể cô Anita Rees này còn chẳng biết gì về bức ảnh, ngoại trừ năm mươi phần trăm tiền hoa hồng của cô ta. Và dù sao đi nữa, ai là người đã làm cho bà vướng vào chuyện rắc rối này? Là Izzy. Đứa con gái liều lĩnh hiếu động của bà, liên tục phản ứng thái quá, có xu hướng phẫn nộ dữ dội với những thứ chẳng có gì.
Bà nghĩ, chỉ riêng điều đó đã là dấu hiệu cho thấy bà bị đâm sầm xuống hố thỏ[2]. Bà lật quyển sổ trở lại trang về chuyến viếng thăm của vị phó tổng thống và bắt đầu gõ.
❀ ❀ ❀
[1] Sâu bướm gypsy: loại côn trùng xâm lấn và làm hại cây rừng. Nguyên thủy xuất xứ từ Âu châu, sâu bướm không có nguồn gốc ban đầu từ Canada, nhưng đã được tìm thấy tại đây hơn 100 năm. Chúng tấn công cả cây rừng lẫn cây đô thị.
[2] Nguyên văn: “down to rabbit hole” - một phép ẩn dụ từ tác phẩm Alice lạc vào xứ sở thần tiên, được sử dụng khi rơi vào tình huống không rõ, mất phương hướng hoặc mất tinh thần.