Thật tình cờ, kế hoạch đến Pittsburgh của bà Richardson đã mang lại thời cơ cho Lexie. Từ sau bữa tiệc Halloween, cô và Brian thường lén lút với nhau bất cứ khi nào có thể - sau giờ thực hành, vào cuối hoặc đôi khi là đầu buổi hẹn hò cuối tuần của hai người, và, một lần vào giữa trưa, suốt mấy tuần thi học kỳ, lúc mà Lexie phải thi Vật lý và Brian thì thi Tiếng Tây Ban Nha. “Cậu nghiện lắm rồi,” Serena chọc cô. Đối với Lexie, điều phiền hà lớn nhất chính là bất cứ khi nào cô và Brian muốn được riêng tư nhất thì dường như căn hộ của nhà Richardson cứ luôn có người. Nhưng bố của Brian nhận điện thoại sẽ đi ngay và mẹ của anh thì làm việc muộn, nên căn nhà của gia đình Avery thường không có ai, và nếu cần thiết, hai người sẽ làm tạm trong xe của Lexie, đỗ ở một bãi xe vắng vẻ và trèo vào ghế sau, bên dưới tấm chăn cũ mà cô bắt đầu để sẵn ở ghế sau chỉ để dùng cho chuyện đó.
Đối với Lexie, thế giới này gần như hoàn hảo, và trong tưởng tượng của mình thì cuộc sống thực muôn màu của cô đã xoay vần. Sau những ngày hẹn hò, khi cô và Brian miễn cưỡng tách nhau ra để trở về nhà, cô sẽ cuộn mình trên giường, không ngừng hình dung về hơi ấm của anh, về viễn cảnh tương lai, khi hai người về chung sống. Với cô, việc chìm vào giấc ngủ trong vòng tay anh rồi thức dậy bên anh chính là thiên đường. Cô chẳng tài nào hình dung ra còn gì thỏa mãn hơn thế: chính ý nghĩ đó khiến lòng cô đong đầy ấm áp, gần như cảm giác hưng phấn sau cuộc mây mưa. Tất nhiên, hai người sẽ có một căn nhà nhỏ. Một sân sau cho cô tắm nắng; một vành bóng rổ ngay phía trên cửa ga-ra, cho Brian. Cô sẽ trưng một lọ tử đinh hương trên chiếc tủ ngăn kéo và những tấm ga trải giường vải sọc. Và một ngày nào đó - khi trí tưởng tượng bắt đầu xoay vần và rực sáng như pháo hoa lấp lánh giữa trời đêm - một đứa trẻ sẽ chào đời. Thằng bé sẽ y đúc bức ảnh mà mẹ của Brian vẫn đặt trên lò sưởi, chụp Brian lúc một tuổi: tóc xoăn, má phình, đôi mắt nâu to tròn và dịu dàng đến nỗi khi nhìn vào đôi mắt ấy bạn sẽ thấy con người mình tan chảy. Brian sẽ choàng hông thằng bé mà nảy lên, hất tung lên không trung. Gia đình họ sẽ dã ngoại công viên và em bé sẽ lăn mình trên bãi cỏ rồi cười vang khi những lá cỏ nhột nhạt bàn chân. Đêm đến, hai người sẽ ngủ cùng con, con nép mình nằm giữa kết thành một khối ấm áp mềm mại thơm lừng mùi sữa.
Đôi khi Lexie cực kỳ khao khát, chuyện mà bao đêm cô thao thức nghĩ về. Giống như một lời hứa, một món quà mà ai đó cho cô xem, rồi lại mang giấu trên một kệ tủ cao. Chuyện mà đằng nào cô cũng làm, thì tại sao không phải bây giờ? Có nghĩa là nhiều hơn một lần, khi Lexie thò tay vào giỏ rồi tìm thấy một hộp bao cao su Trojans rỗng không, thì hai người cũng chẳng hề dừng lại. “Không sao đâu,” cô thỏ thẻ với Brian. “Mình cứ...”
Tại Shaker Heights, mỗi học sinh được giáo dục giới tính không chỉ một, mà là năm lần: một lần lớp Năm và một lần lớp Sáu, xem như là “sự can thiệp sớm” của ban giám hiệu; trong “những năm nguy cơ” của lớp Bảy và lớp Tám; và thêm một lần nữa vào lớp Mười, lần nỗ lực cuối cùng, khi đó giáo dục giới tính được kết hợp với những khái niệm cơ bản về dinh dưỡng, những cuộc thảo luận tự đánh giá, và tư vấn xin việc. Nhưng Lexie và Brian cũng chỉ mới tuổi teen, quá non kém trong việc tính toán thiệt hơn và thậm chí lại càng non kém hơn trong việc định liệu rủi ro. Họ trẻ và chắc chắn rằng họ yêu nhau. Họ bị hoa mắt, bị choáng váng bởi viễn cảnh tương lai mà cả hai dự định cùng nhau.
Và đó là tuần đầu tiên của tháng Một, Lexie nhận ra mình đang ở hiệu thuốc, đang lặng nhìn quầy trưng bày que thử thai.
Cô lấy hai gói que thử thai khỏi ngăn cuối cùng và, nhét chúng dưới túi xách, mang ra quầy. Nhân viên tính tiền là một phụ nữ trẻ, có lẽ chỉ mới ba mươi hoặc ba mươi lăm tuổi, nhưng quanh môi đã có nếp nhăn khiến cho miệng cô ấy lúc nào cũng nhăn nheo. Làm ơn đừng hỏi gì cả, Lexie cầu nguyện.
“Cô nhớ lần đầu tiên phát hiện mình có bầu,” người phụ nữ ấy đột nhiên lên tiếng. “Phải kiểm tra ở chỗ làm. Cô rất lo rằng mình sẽ nôn.” Cô ấy bỏ que thử vào túi nhựa và đưa cho Lexie. “May mắn nhé, cô bé.” Lexie thật sự ngạc nhiên, khoảnh khắc tế nhị đầy bất ngờ này gần như khiến cô bật khóc, và cô chộp lấy cái túi rồi quay đi thật nhanh mà không hề nói lời chào tạm biệt.
Ở nhà, Lexie khóa cửa nhà vệ sinh rồi mở hộp. Các hướng dẫn rất đơn giản. Một vạch là không, hai vạch là có. Cô bỏ cái que ướt lên bệ rồi cúi xuống nhìn. Cô nghĩ nó giống như Quả cầu Tiên tri, chỉ là kết quả thì hệ trọng hơn nhiều. Chiếc đồng hồ của cô không có cây kim giây, nhưng thật sự, gần như ngay khi bỏ cái que thử xuống, thì cô có thể nhìn thấy các vạch dần hiện ra. Hai vạch, màu hồng tươi.
Có người gõ cửa nhà vệ sinh. “Xong ngay đây,” cô la lên. Cô nhanh chóng dùng giấy vệ sinh quấn que thử lại, hết gần cả nửa cuộn, và nhét nó xuống đáy thùng rác. Izzy vẫn đang đứng bên ngoài ngay hành lang trong khi cô xối nước, rửa tay và cuối cùng cũng mở cửa.
“Chị làm gì mà lâu vậy?” Izzy săm soi khắp chị gái rồi vào nhà vệ sinh, như thể còn ai đó trốn bên trong.
“Một số người,” Lexie nói, “thích dành chút thời gian để chải tóc. Một số người rất để ý đến vẻ ngoài của mình nha Izzy.” Cô lướt qua Izzy rồi vào phòng mình, nơi mà, ngay khi cửa vừa đóng lại, cô đã cuộn mình trên giường và cố gắng nghĩ xem phải làm gì.
Trong phút chốc, Lexie đã thật sự tin rằng hai người có thể giữ lại cái thai. Họ có thể xử lý được chuyện này. Họ có thể thu xếp được, cũng như mọi thứ trước giờ luôn được thu xếp cho cô. Cô sẽ chuyển dạ - cô bấm ngón tay - vào tháng Bảy hoặc tháng Tám. Có lẽ cô sẽ hoãn vào trường Yale khoảng một hoặc hai học kỳ, và sẽ nhập học muộn. Hoặc có lẽ đứa bé có thể ở cùng bố mẹ cô trong khi cô học đại học. Tất nhiên là mỗi kỳ nghỉ cô đều về nhà để thăm con. Hoặc có lẽ - và đây là giấc mộng tuyệt vời nhất - có lẽ Brian sẽ chuyển trường sang Yale, hoặc cô có thể chuyển trường sang Princeton. Họ có thể thuê một căn hộ nhỏ. Giống như hai người đã kết hôn rồi. Cô đặt một tay lên bụng mình - vẫn phẳng phiu như nào giờ - và tưởng tượng sâu bên trong có tế bào nhỏ bé đang dao động và đang phân bào, giống như các đoạn video trong lớp Sinh học. Sâu trong cô có một phần nhỏ của Brian, tia lửa nhỏ ấy của anh đang xoay xoay trở trở trong người cô. Ý nghĩ kỳ diệu đến ngỡ ngàng.
Cô thận trọng mở đầu bằng việc nói về chuyện của Mirabelle, khi cô bé đã hiện diện trong nhiều tháng. “Bry à, anh sẽ không tin nổi là ngón tay của con bé tí nị cỡ nào đâu,” cô nói. “Cái móng tay út là bé nhất. Giống như con búp bê, anh không tin nổi đâu. Cái cách mà con bé hòa vào lòng khi anh ôm nó.” Rồi với những đứa trẻ khác mà cô vừa nhìn thấy, trên Tạp chí Nhân dân. Lấy vai của Brian làm gối, lật các trang tạp chí bóng láng, cô xếp chúng theo mức độ dễ thương, thỉnh thoảng lôi kéo ý kiến của anh.
“Nhưng anh có biết ai sinh được những đứa con dễ thương nhất không?” cô hỏi. Trái tim cô bắt đầu đập mạnh. “Chúng ta. Chính chúng ta đó. Hai đứa mình sẽ có những bé con đáng yêu nhất trên đời. Anh không nghĩ vậy sao? Những đứa con lai thì lúc nào cũng đẹp hết. Có lẽ là do gen của hai đứa mình quá khác biệt.” Cô lướt qua tờ tạp chí. “Ôi trời, em nói này, ngay cả con của Michael Jackson cũng dễ thương quá. Còn ông ta thì gớm chết đi được. Đó là quyền năng của những đứa con lai.”
Brian quắn một góc trang sách. “Rõ ràng Michael Jackson là người da đen. Như anh này. Còn kia là một đứa bé da trắng.”
Cô dựa người vào cánh tay của Brian, đẩy bức ảnh lên gần hơn. Trong ảnh, Michael Jackson nằm ườn trên ngai vàng, đang ôm một đứa trẻ sơ sinh trong vòng tay. “Nhưng mà nhìn dễ thương quá.” Cô dừng lại. “Anh không muốn hai đứa mình lập tức có một đứa sao?”
Brian đứng phắt dậy, đột ngột đến nỗi Lexie gần như ngã nhào. “Em điên rồi hả,” anh nói. “Thứ điên rồ nhất mà anh từng nghe.” Anh lắc đầu. “Đừng có nói mấy thứ như vậy.”
“Bry à, em chỉ đang tưởng tượng thôi. Trời ơi.” Lexie thấy cổ họng mình như nghẹn lại.
“Em đang tưởng tượng một đứa bé. Còn anh thì tưởng tượng cảnh Cliff và Claire giết chết anh. Thậm chí họ chẳng cần chạm vào anh. Hai người chỉ cần ném ánh mắt đó vào anh thì anh cũng chết mất. Ngay lập tức. Chết ngay lập tức.” Anh xước tay lên tóc. “Họ sẽ nói gì em biết không? Tao nuôi mày để mày nên thân hơn thế này.”
“Anh thật sự thấy chuyện này khủng khiếp vậy sao? Hai ta bên nhau, rồi một đứa trẻ?” Cô lấy móng tay gấp mép tờ tạp chí. “Em đã nghĩ rằng anh muốn chúng mình bên nhau mãi mãi.”
“Anh muốn chứ. Có lẽ. Lex à, chúng ta mới mười tám. Em có biết thiên hạ sẽ nói gì không? Người ta sẽ nói, ôi nhìn kìa, lại một thằng nhóc da đen làm con bé kia có chửa, thậm chí thằng đó còn chưa học xong trung học. Lại thêm phụ huynh tuổi teen. Chắc là bỏ học luôn bây giờ. Người ta sẽ nói như vậy.” Anh gập cuốn sách lại và ném lên bàn. “Không đời nào anh trở thành cái thằng đó. Không. Đời. Nào.”
“Được rồi.” Lexie khép đôi mi lại và mong rằng Brian không nhận ra. “Em không hề nói rằng, chúng ta hãy có con ngay lập tức, anh biết mà. Em chỉ đang tưởng tượng. Chỉ đang cố hình dung tương lai sẽ thế nào, chỉ vậy thôi.”
Quá khó để thừa nhận, khi cô biết rằng anh nói đúng. Tại Shaker này, học sinh trung học không sinh con. Họ vào các lớp danh dự; họ lên đại học. Hồi lớp Tám, ai cũng cho rằng Joseph có bầu: cậu bạn trai nổi tiếng của con nhỏ mới mười bảy tuổi và là một kẻ bỏ học khỏi trường Cleveland Heights, và cô bạn thân nhất của Carrie, Tiana Wilson, đã xác nhận với vài người rằng đó là sự thật. Carrie đã trải qua mấy tuần với dáng vẻ khó gần và bí ẩn, cứ xoa tay lên bụng, cho đến khi thầy hiệu phó, Avengard, triệu tập một cuộc họp để nói chuyện với cả khối. “Tôi biết là đang lan truyền nhiều tin đồn,” ông nói, chằm chằm đưa mắt nhìn đám học trò. Đối với ông, những gương mặt này non choẹt: niềng răng, mụn trứng cá, máng răng, những bộ ria mới lần đầu bờm xờm. Ông nghĩ rằng, những đứa trẻ này chỉ xem đó như trò đùa. “Không ai có thai hết,” ông nói với chúng. “Tôi biết không ai trong các cô các cậu đây lại vô trách nhiệm như vậy.” Và quả thực, sau nhiều tuần trôi qua mà bụng của Carrie Wilson vẫn phẳng lì như nào giờ, và người ta cũng thật sự quên khuấy đi chuyện này. Teen ở Shaker Heights, hoặc không được dính bầu, hoặc phải làm chút kỹ xảo để giấu nhẹm chuyện đó. Vì những thứ mà thiên hạ sẽ bàn tán hay sao? Thứ con gái hư, đám học sinh ở trường sẽ dè bỉu như thế, mặc dù cô và Brian đã yêu nhau hơn một năm nay. Thứ con điếm. Xóm giềng sẽ rủa vậy sao? Có lẽ khi cô mang cái bụng bầu vượt mặt hoặc đẩy xe nôi đi qua, họ sẽ chẳng nói gì - nhưng khi cô vào nhà rồi, thì ai ai cũng đàm tiếu. Mẹ cô phải chịu sỉ vả. Rất xấu hổ, rất xót xa, và Lexie biết rằng cô không đủ dũng khí để chịu đựng những điều đó dù chỉ một.
Sau đó, có duy nhất một chuyện cần làm. Cô cuộn mình trên giường, cảm nhận thứ nhỏ bé, hồng hào và dịu dàng như một ly cocktail, và cô buông bỏ ảo tưởng của bản thân, như quả bóng bay vút lên bầu trời cho đến lúc nổ tung.
Bữa tối hôm ấy, bà Richardson thông báo kế hoạch đến Pittsburgh - “Để nghiên cứu,” bà nói với mọi người như vậy. “Một bài báo về loài trai sọc vằn ở hồ Erie, và mọi người có biết là Pittsburgh có những vấn đề đặc thù về việc xâm lấn đời sống hoang dã không...” Bà đã cẩn thận nghĩ ra một lý do có vẻ chính đáng và, sau nhiều suy nghĩ, bà đã nảy ra một đề tài mà không ai nghi ngờ thắc mắc gì về nó. Như bà mong đợi, không ai để ý gì nhiều ngoại trừ Lexie, cô bé nhanh chóng nhắm mắt lại và thầm cảm ơn bất cứ vị thần nào đã mang đến cơ hội này. Sáng hôm sau, Lexie vờ đi trễ, nhưng một khi mọi người đã rời khỏi, cô kiểm tra lại để chắc chắn rằng ở nhà không còn ai thì sau đó gọi điện thoại cho Tổ chức Kế hoạch hóa Gia đình, tối qua cô đã tra số trước. “Năm hoặc sáu tuần gì đó,” cô trả lời họ. “Cần làm ngay trong vòng hai ngày tới đây.”
Cái đêm trước khi mẹ cô đi Pittsburgh, Lexie đã gọi cho Pearl. “Chị cần em giúp,” cô nói, hạ giọng nửa như thì thầm, mặc dù hai người đang nói chuyện bằng đường dây riêng mà cô và Trip dùng chung, và Trip thì vẫn đang tập khúc côn cầu.
Vẫn còn cảnh giác sau vụ bữa tiệc Halloween, Pearl thở dài. “Chuyện gì,” cô hỏi. Trong đầu mình, cô lướt qua cả một danh sách những thứ mà chị Lexie, cũng như mọi người, có thể muốn cô làm. Chẳng phải những chuyện như bình thường. Mượn cái áo? Hay mượn thỏi son? Pearl chẳng có gì mà Lexie Richardson cần dùng cả. Hỏi ý kiến của cô sao? Lexie có bao giờ nghe lời ai đâu chứ. Lexie là kiểu người đưa ra ý kiến, dù người ta có yêu cầu hay không.
“Chị cần em,” Lexie nói, “ngày mai đi cùng chị đến Tổ chức Kế hoạch hóa Gia đình. Chị đi phá thai.”
Im lặng một lúc lâu trong khi Pearl cố gắng xử lý thông tin này. Chị Lexie dính bầu rồi sao? Chị Lexie muốn phá thai sao? Cô-bé-Lexie điên rồ, một Lexie có nền tảng đạo đức tốt, một Lexie-nhanh-nhảu đánh giá người khác sao?
“Sao chị không hỏi chị Serena?” cuối cùng Pearl hỏi.
Lexie do dự. “Chị không muốn nhờ Serena,” cô nói. “Chị muốn em.” Cô thở dài. “Chị không biết nữa. Chị chỉ nghĩ là em hiểu chuyện hơn. Chị chỉ nghĩ là em sẽ không phán xét.”
Dù chẳng muốn, nhưng Pearl vẫn cảm thấy rậm rực tự hào. “Không phải em đang phán xét,” cô nói. “Em chỉ ngạc nhiên thôi.”
“Này,” Lexie nói. “Chị cần em. Em sẽ giúp chị, phải không?”
Lúc bảy giờ sáng, Lexie dừng xe trước căn nhà ở đường Winslow. Như đã hứa, Pearl đang đứng đợi bên lề đường, dù tâm trạng của cô bé khá mơ hồ. Pearl đã nói với mẹ rằng chị Lexie sẽ đưa cô đi học.
“Chị có chắc sẽ làm chuyện này không?” cô hỏi.
Lexie vẫn nhìn thẳng kính chắn gió. “Chị chắc.”
“Chị biết đó, đây là quyết định hệ trọng. Chị không thể quay lại được đâu. Không hề giống với chuyện chị mua cái áo len đâu.”
“Chị hiểu.”
Khi đến cột đèn giao thông, Lexie chạy chậm lại và Pearl rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những quầng thâm dưới mắt chị. Chưa bao giờ Pearl thấy chị Lexie trông mệt mỏi hay nghiêm túc đến thế.
“Em sẽ không nói cho ai biết, phải không?” khi chiếc xe lại lăn bánh, Lexie hỏi Pearl.
“Tất nhiên là em không nói.”
“Kể cả Moody cũng không?”
Pearl nghĩ đến tối qua mình đã nói dối Moody - rằng cô không cùng cậu đi bộ đến trường như mọi ngày được, rằng sáng nay cô có lịch hẹn với nha sĩ. Dường như cậu ấy chẳng nghi ngờ gì; chưa bao giờ cậu nghĩ rằng Pearl có thể nói dối. Cô thở phào nhẹ nhõm, nhưng cũng có chút đau lòng - rằng cậu ấy dễ dàng tin mình đến vậy, rằng cậu ấy không nghĩ gì khác mà cứ tin như thật.
Khi đến phòng khám, Lexie khóa cửa xe và đưa chìa khóa cho Pearl. “Đây,” cô nói. “Em sẽ lái xe về. Em có bằng lái tạm thời đó chứ?”
Pearl gật đầu và cố nhịn không nhắc chị ấy rằng, nói một cách chính xác thì giấy phép tạm thời của cô chỉ cho phép sử dụng khi đi cùng với một người trên hai mươi mốt tuổi đã có bằng lái xe. Lexie cầm chìa khóa trên những ngón tay vừa tái vừa lạnh, và trong cơn bộc phát đột ngột, Pearl nắm lấy bàn tay của chị.
“Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi,” cô nói, và hai người cùng nhau bước vào phòng khám, những cánh cửa mở ra, như thể hai người đang được mong đợi.
Y tá nơi bàn làm việc là một phụ nữ mập mạp với mái tóc màu vàng rơm, cô nhìn hai cô gái bằng lòng cảm thông nhân từ. Pearl nghĩ rằng hẳn cô đã nhìn thấy cảnh này hàng ngày, các cô gái trẻ đến đây trong nỗi sợ hãi những chuyện sắp xảy ra, sợ hãi những chuyện sẽ xảy ra nếu họ không làm thế này.
“Em có hẹn trước không, hở cô bé?” người phụ nữ hỏi. Cô dịu dàng nhìn Pearl rồi nhìn Lexie.
“Em có,” Lexie trả lời. “Lúc chín giờ.”
Người phụ nữ ngồi sau chiếc bàn làm việc gõ tay lên bàn phím. “Và em tên gì nhỉ?”
Như thể thấy xấu hổ, như thể đó thật sự là tên mình, Lexie bình thản trả lời, “Pearl Warren.”
Cố giữ cho mình đừng mở miệng là tất cả những gì Pearl có thể làm. Trong chốc lát, khi người phụ nữ kia gõ bàn phím Lexie cố tình tránh ánh mắt của Pearl. “Có ai đưa em về không?”
“Em có,” Lexie nói. Cô nghiêng đầu về phía Pearl, lại một lần nữa không chạm vào ánh mắt ấy. “Đây là em gái của em. Em ấy sẽ đưa em về.”
Em gái sao, Pearl nghĩ. Hai người trông giống nhau chỗ nào chứ, cô và Lexie sao. Chẳng đời nào có người tin rằng cô - nhỏ nhắn, tóc xoăn - lại có quan hệ với một Lexie yểu điệu, mượt mà. Nó giống với việc nói rằng một con chó sục Scotland và một con chó săn thỏ là chị em một lứa. Người phụ nữ liếc nhanh qua hai người. Sau một lúc, có vẻ cô ta thấy chuyện này cũng hợp lý, hoặc chỉ quyết định vờ như hợp lý.
“Đi thẳng và điền vào những phiếu này,” cô nói, trao cho Lexie một bìa hồ sơ kẹp mớ phiếu màu hồng. “Mọi thứ sẽ sẵn sàng trong ít phút nữa.”
Khi hai người thận trọng an vị ở những chiếc ghế xa bàn làm việc nhất, Pearl cúi người xuống bìa hồ sơ.
“Em không tin nổi là chị lại lấy tên em,” cô rít gắt.
Pearl hết sức ngạc nhiên, khi Lexie ngồi sụp xuống ghế. “Chị hoảng quá,” cô nói. “Khi chị gọi điện đến, họ hỏi tên chị và chị nhớ ra rằng bạn của mẹ là giám đốc ở đây. Và em có biết không - báo chí đang đưa tin về bố chị, vụ kiện tụng với gia đình McCullough. Chị không muốn người ta nhận ra tên mình. Chị chỉ buột miệng nói ra cái tên đầu tiên hiện lên trong đầu chị. Đó là tên em.”
Pearl không nguôi nổi cơn giận này. “Bây giờ tất cả bọn họ sẽ nghĩ rằng em là đứa đi phá thai.”
“Chỉ cái tên thôi mà,” Lexie nói. “Chị mới là người gặp rắc rối. Ngay cả khi họ không biết tên thật của chị.” Cô hít một hơi thật sâu nhưng dường như lại càng bẹp dí hơn nữa. Pearl nhận ra, mái tóc của chị dường như rũ xuống, buông thõng xuống trước mặt che đi nửa đôi mắt. “Em, em có thể là bất cứ ai mà.”
“Ôi, trời đất ơi.” Pearl lấy cái bìa hồ sơ từ trong lòng của Lexie. “Đưa em.” Cô bắt đầu điền phiếu, bắt đầu bằng tên của chính mình. Pearl Warren.
Cô sắp điền xong thì cánh cửa màu trắng nơi cuối phòng chờ mở ra và một y tá mặc áo trắng bước đến. “Pearl phải không?” cô hỏi, kiểm tra tập hồ sơ trong tay cô. “Mọi thứ đã sẵn sàng rồi em.”
Ở dòng Liên hệ Khẩn cấp, Pearl nhanh chóng ghi tên của mẹ mình và số điện thoại nhà. “Đây,” cô nói, giúi bìa hồ sơ vào tay Lexie. “Điền xong rồi.”
Lexie chậm chạp đứng dậy, như người trong cơn mộng mị. Họ đứng đó một lúc, mỗi người siết lấy một đầu chiếc bìa hồ sơ, và Pearl chắc rằng cô có thể cảm nhận được trái tim của Lexie đập thình thịch lan truyền khắp các đầu ngón tay và truyền vào tấm lưng bìa hồ sơ gỗ.
“Chúc may mắn,” cô dịu dàng nói với Lexie. Lexie gật đầu và cầm lấy chồng phiếu, nhưng cô dừng bước nơi ngưỡng cửa để ngoái đầu nhìn lại, như thể để chắc rằng Pearl vẫn còn ở đó. Ánh mắt của Lexie nói rằng: Làm ơn. Xin em, chị không biết mình đang làm gì. Xin em, hãy ở đây khi chị trở ra. Pearl đấu tranh với lòng thôi thúc rằng hãy chạy lên và nắm lấy tay chị, rằng cùng chị xuống hành lang, như thể hai người thật sự là chị em, kiểu chị em gái sẽ chứng kiến nhau vượt qua loại thử thách này, kiểu chị em gái mà nhiều năm về sau, sẽ nắm lấy tay nhau vượt qua thời khắc chuyển dạ. Kiểu chị em gái không hề bối rối trước sự trần trụi hay nỗi đau của nhau, những người chẳng có điều ngoại lệ gì phải che giấu đối phương.
“May mắn nhé,” cô nói thêm lần nữa, nói to hơn, và Lexie gật đầu bước theo người y tá vào trong cánh cửa.
Khi con gái đang thay áo choàng bệnh viện cũng là lúc bà Richardson bấm chuông cửa nhà hai vợ chồng cụ bà George Wright. Bà đã lái xe một mạch ba giờ đồng hồ đến Pittsburgh mà không hề dừng lại để đi vệ sinh hay để duỗi chân ra một chút. Mặc dù vậy, bà vẫn không hoàn toàn chắc rằng mình sẽ nói gì với những người của gia đình này, cũng không biết chính xác thì mình muốn lấy những thông tin gì từ họ. Nhưng bà biết rằng nơi này chứa đựng một điều bí mật, và bà cũng chắc rằng gia đình này giữ chìa khóa để mở nó.
Nếu bà Richardson từng có bất kỳ e ngại nào về việc liệu bà có tìm đúng nhà hay không, thì những nghi ngại ấy lập tức bị xua tan ngay khi cánh cửa mở ra. Cụ bà Wright trông giống Mia đến ngỡ ngàng - tóc của cụ sáng màu hơn đôi chút, và được cắt ngắn, nhưng đôi mắt và khuôn mặt cụ giống Mia đến mức đủ khiến cho bà Richardson lờ mờ nhìn ra dáng vẻ của Mia trong ba mươi năm sau.
“Bác Wright phải không ạ?” bà bắt đầu. “Con là Elena Richardson. Con muốn nói chuyện về con trai của bác.”
Một khoảng lặng dài trôi qua. Sau đó cụ Wright lên tiếng, “Xem nào, tôi nghĩ là cô có thể vào nhà.”
Bà đã lên kế hoạch cho phần mở đầu này và tin tưởng vào biệt tài của bản thân trong việc dẫn dắt câu chuyện theo hướng mà bà muốn. Qua nhiều năm, bà đã học được rằng, việc lấy thông tin từ những người được phỏng vấn đôi khi giống như dắt một con bò mộng lì lợm: bạn phải làm sao cho con bò đi đúng hướng trong khi vẫn khiến nó tin rằng nó đang tự mình đi đúng hướng. Nhưng hóa ra, gia đình nhà Wright lại là những đối tượng dễ tính đến khó tin. Với mấy cốc cà-phê và một đĩa bánh quy hiệu Pepperidge Farm, có vẻ nhà Wright thực tình háo hức kể về Warren.
“Con đang viết một bài báo về các vận động viên đầy triển vọng nhưng con đường sự nghiệp của họ lại vắn số,” bà kể với họ, và thông tin cứ lũ lượt tràn ra đến mức gần như còn nhiều hơn những gì bà có thể viết lại.
Phải, Warren làm tiền đạo của đội khúc côn cầu; phải, thằng bé cũng là trung vệ của đội bóng đá. Thằng bé bắt đầu với các đội bóng mini khi lên bảy hay tám tuổi; cô Richardson có muốn xem ảnh của nó không? Thằng nhỏ thật sự có năng khiếu thể thao đó, người ta không cần huấn luyện nó; không, ông Wright có bao giờ giỏi thể thao đâu. Ông ấy sẽ nói rằng, thêm một người xem còn hơn là thêm một người chơi. Nhưng Warren lại khác - thằng bé chơi giỏi lắm; thầy huấn luyện đã nói rằng, nếu huấn luyện đúng mức, thằng bé có thể vào trường Division I. Nếu không xảy ra tai nạn...
Đến đây, cả cụ ông lẫn cụ bà đều im lặng một lúc, và bà Richardson, tò mò khi muốn biết thêm, đã thật lòng cảm thấy đáng tiếc. Bà nhìn xuống bức ảnh Warren Wright mặc bộ đồng phục khúc côn cầu, bức ảnh mà cụ bà Wright đã lấy xuống từ lò sưởi để cho bà xem. Lúc đó, cậu ta ắt chỉ mười bảy, cũng trạc tuổi Trip. Hai đứa con trai trông không giống nhau cho lắm, nhưng có gì đó trong kiểu chụp ấy khiến bà nhớ đến con trai mình, cái đầu nghiêng nghiêng, một chút tinh nghịch của điệu cười khóe môi đầy tự mãn. “Cậu bé khá cuốn hút,” bà lẩm bẩm, và cụ bà gật đầu.
“Và con cũng muốn nói chuyện với chị gái của Warren nữa ạ,” bà Richardson nói. Giả vờ như tra cứu các ghi chú của mình. “Là cô Mia. Hai bác có thể cho con số điện thoại mà cô ấy đang dùng được không?”
Như bà Richardson tiên liệu, hai cụ trao nhau những ánh mắt khó chịu.
“Tôi e rằng gia đình tôi đã mất liên lạc với con gái cũng một thời gian rồi,” cụ bà trả lời.
“Ôi trời, con rất tiếc.” Bà Richardson liếc nhìn cụ ông rồi sang cụ bà. “Con mong là con không đề cập đến chủ đề cấm kỵ.” Bà chờ đợi, để cho sự im lặng khiên cưỡng này gia tăng. Theo kinh nghiệm, bà biết rằng không ai có thể chịu nổi sự im lặng kéo dài như thế. Một khi đã chờ đủ lâu, ắt có người sẽ bắt đầu mở miệng, và thường thì họ sẽ khơi gợi để bạn hỏi thêm, để trò chuyện cởi mở và thu thập những gì mà bạn muốn.
“Không hẳn vậy,” sau một lúc, cụ ông nói. “Nhưng không bao lâu sau khi thằng Warren mất, chúng tôi đã không nói chuyện với nó.”
“Nghe buồn quá,” bà Richardson nói. “Quá nhiều chuyện xảy ra, mất đi một thành viên trong gia đình đã rất khó chấp nhận. Lại thêm mất liên lạc.”
“Nhưng chuyện của con Mia không liên quan gì đến chuyện của thằng Warren cả,” cụ bà xen vào. “Chuyện của thằng Warren là tai nạn. Những thằng nhóc tuổi teen hấp tấp thiếu thận trọng. Hoặc có lẽ chỉ tại tuyết. Còn con Mia thì lại là chuyện khác. Con nhỏ đó lớn rồi. Tự nó có sự lựa chọn của mình. George và tôi...” Bà Richardson giật mình khi đôi mắt của cụ bà đã ngân ngấn nước.
“Không có thời cơ để chấp nhận,” cụ ông nói thêm vào.
“Con rất tiếc.” Bà Richardson cúi người sát gần hơn. “Chắc hai bác đã rất khó khăn. Khi phải mất đi cả hai đứa con trong một lúc, theo một cách nào đó.”
“Con nhỏ đó cho chúng tôi chọn cái gì chứ?” cụ bà bật khóc. “Khi nó xuất hiện trong tình trạng đó.”
“Regina à,” cụ ông lên tiếng, nhưng cụ bà vẫn không ngừng lại.
“Tôi đã nói với nó rằng, tôi không quan tâm gia đình Reed này tử tế đến cỡ nào, tôi không đồng ý chuyện đó. Đem bán con ruột của mình thì đúng chỗ nào.”
Cây bút chì trên tay bà Richardson sững lại giữa không trung. “Gì ạ?”
Cụ bà lắc đầu. “Con nhỏ nghĩ rằng nó chỉ cần từ bỏ đứa con và tiếp tục cuộc sống của mình. Như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Tôi có hai đứa con, cô biết mà. Tôi biết tôi đang nói gì. Thậm chí trước khi chúng tôi mất đi thằng Warren.” Cụ véo vào sống mũi như thể nơi đó có một dấu ấn mà cụ muốn tẩy đi. “Thậm chí người ta còn không thể vượt qua được chuyện nói lời từ biệt với con mình. Dù có xảy ra chuyện gì đi nữa thì đó vẫn là máu thịt của mình.”
Đầu của bà Richardson cứ xoay mòng mòng. Bà đặt bút chì xuống bàn. “Để xem con hiểu có đúng không nhé,” bà nói. “Cô Mia có bầu và dự định để cho đôi vợ chồng - nhà Reed - nhận nuôi đứa bé có phải không?”
Cụ ông và cụ bà lại nhìn nhau, nhưng lần này cái nhìn đó nói rằng: với một món tiền. Dưới con mắt lão luyện của bà Richardson thì quá rõ ràng rằng họ muốn nói ra chuyện này, rằng có lẽ họ đã chờ quá lâu để có thể kể với một ai đó, quá lâu rồi.
“Không hẳn vậy,” cụ ông nói. Một khoảng lặng dài. Sau đó: “Đó cũng là con của họ. Họ không thể tự sinh. Con nhỏ này mang thai hộ.”