Paul Clifford — Toàn Tập

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

“Hãy kể tường tận, vị khách tựa thần linh của tôi,” bà nói,

“Những mưu mẹo của người Hy Lạp,—và thị trấn bị phản bội!”

DRYDEN: Virgil, AEneid, quyển ii.

Từ đó trốn xuống, chúng đã thoát! — Sđd.

Đã có một sự thay đổi lớn trong tính cách của Augustus Tomlinson kể từ lần cuối Paul gặp lại con người lừng lẫy ấy. Khi xưa, Augustus từng ra vẻ một tay chơi phóng khoáng, kẻ lang thang tao nhã chốn thị thành, một Pericles tài đức vẹn toàn trên các trang báo, miệng vui vẻ trích dẫn Horace, điềm đạm ném đi một con ruồi đang đậu trên bài xã luận của Lãnh chúa Dunshunner. Giờ đây, một vẻ mặt nghiêm nghị hơn nhưng không kém phần kiêu kỳ đã hằn lên những nét mặt hắn; dáng vẻ thời thượng đã nhường chỗ cho vẻ thông thái; và từ một tay chơi, Augustus Tomlinson đã chuyển hóa thành một nhà hiết học. Hơn thế nữa, hắn không chỉ thỏa mãn với sự thăng hoa này; hắn kết hợp triết gia với chính trị gia; và kẻ bịp bợm tinh ranh ấy lấy làm hãnh diện đặc biệt khi tự nhận mình là “một người theo phái Whig ôn hòa”!

“Paul,” hắn thường hay nhận xét, “tin tôi đi, chủ nghĩa Whig ôn hòa là một tín điều vô cùng xuất sắc. Nó thích ứng với mọi sự thay đổi có thể xảy ra, với mọi biến khôn lường của hoàn cảnh. Đó chính là nền chính trị duy nhất dành cho chúng ta, những kẻ quý tộc thuộc khối tự do nổi dậy chống lại những bộ luật bạo tàn; bởi vì, chết tiệt thật, tôi không phải là hạng dân chủ chủ nghĩa của các cậu. Cứ để ngục tối và cai ngục dành cho đám tiểu nhân ranh con chuyên vặt quần áo phơi trên gié rào, hay lén lút mò xuống tầng hầm để kiếm một chiếc thìa bạc; nhưng những ngôi nhà cải tạo không dành cho những kẻ đã được thụ hưởng nền giáo dục khai sáng — những kẻ căm ghét những vụ trộm vặt của các cậu chẳng kém gì một vị thẩm phán — những kẻ chưa bao giờ nên bị gọi là bất lương trong các mối làm ăn, mà nếu bị phát hiện ra, thì chỉ là ‘gặp vận rủi trong các cuộc mạo hiểm’ mà thôi! Thật là một điều nực cười khi lại có sự phân biệt thứ bậc giữa các thành viên khác trong cộng đồng, mà lại không có giữa chúng ta! Hiến pháp Anh được ca ngợi của cậu ở đâu, tôi muốn biết đấy, các đặc quyền quý tộc của cậu ở đâu, nếu tôi, một quý tộc sinh ra đã biết tiếng Latinh, và từng sống trong giới thượng lưu, lại bị tống vào cái nơi gớm ghiếc này cùng với một tên bẩn thỉu sinh ra dưới tầng hầm, kẻ chưa bao giờ kiếm nổi một số tiền vượt quá giá của một cây xúc xích? Không, không! Đừng có đem mấy nguyên tắc bình quân chủ nghĩa ấy ra áp dụng với tôi! Tôi là một người phóng khoáng, hỡi Paul, và tôi yêu tự do; nhưng ơn Chúa, tôi khinh bỉ nền dân chủ của các cậu!”

Cứ thế, nửa đùa nửa thật, che giấu một bản tính châm biếm vốn có, vị tín đồ phái Whig ôn hòa này có thể huyên thuyên suốt hàng giờ liền trong những đêm dài dặc, bắt đầu từ lúc bốn giờ rưỡi, khi hắn và Paul bầu bạn với nhau.

Vào một buổi tối nọ, khi Tomlinson có vẻ hứng thú với việc nói dài dòng đến mức Paul cảm thấy hơi mệt mỏi vì tài hùng biện của hắn, người hùng của chúng ta, mong muốn thay đổi bầu không khí trò chuyện, liền nhắc Augustus nhớ đến lời hứa kể lại lịch sử cuộc đời hắn; và vị triết gia phái Whig nọ, chẳng ngần ngại gì khi được nói về bản thân, bèn hắng giọng và bắt đầu.

“Đừng bận tâm cha tôi là ai, hay quê quán tôi ở đâu! Tổ tiên đầu tiên của tôi là Tommy Linn (người thừa kế của ông ta trở thành con trai của Tom Linn) — hẳn cậu đã từng nghe khúc ballad ca ngợi ông ta,

‘Tommy Linn là người gốc Scotland,

Đầu ông trọc lóc, râu ông cạo sạch;

Ông đội chiếc mũ bằng da thỏ rừng,

Tommy Limn là một người già dặn!’

Có một kiểu tiên tri ngầm ám chỉ về con cháu của tổ tiên tôi trong khổ thơ kết thúc của khúc ballad này: —

‘Tommy Linn, vợ ông, và mẹ vợ ông,

Tất cả cùng rơi vào đống lửa;

Kẻ nào nằm ở dưới cùng sẽ bị bỏng da, —

‘Chúng ta không đủ người!’ Tommy Linn nói.’”

“Cậu thấy đấy lời tiên tri đó: nó áp dụng được cho cả những tên côn đồ hào hoa lẫn những kẻ theo phái Whig ôn hòa; bởi vì cả hai đều ở vị thế yếu thế trên thế giới này, và cả hai đều liên tục gào lên rằng, ‘Chúng ta không đủ người!’

Tôi xin bắt đầu câu chuyện của chính mình bằng việc kể lại rằng, tôi từng theo học một ngôi trường ở miền Bắc, nơi tôi nổi tiếng là kẻ thông minh lanh lợi và có tài chơi ‘cướp cờ’ — xin thề là tôi không hề có ý chơi chữ đâu nhé! Tôi từng được định hướng để bước vào con đường tu hành. Do từ sớm đã muốn tự mình tìm hiểu về các nghi thức của nhà thờ, tôi bỗng thuyết phục cô hầu gái của thầy hiệu trưởng giúp tôi tổ chức một buổi lễ rửa tội. Cha tôi không thích tình yêu sớm sủa đối với các nghi lễ linh thiêng ấy. Ông đưa tôi về nhà; và muốn bẻ lái nhiệt huyết tu sỹ của tôi sang một hướng khác, ông bắt tôi tập viết bài giảng bằng cách bắt tôi nghe chục bài mỗi ngày. Tôi đâm chán ngấy chuyện này, dù nghe có vẻ kỳ lạ đối với cậu. ‘Thưa cha,’ tôi nói vào một buổi sáng, ‘nói mãi cũng vô ích thôi; con sẽ không vào nhà thờ đâu — chuyện đó là chắc chắn. Hãy ban phước cho con và cho con một trăm bảng Anh, con sẽ lên London và kiếm sống bằng nghề khác thay vì làm phó tế.’ Cha tôi nổi giận đùng đùng; nhưng cuối cùng tôi đã thắng thế. Tôi bày đặt nói về chuyện làm gia sư tư; thề thốt rằng tôi nghe nói chẳng có gì dễ dàng hơn thế — thứ duy nhất còn thiếu là học sinh; và cách duy nhất để có được chúng là lên London và làm cho học thức của tôi được nhiều người biết đến. Cha tội nghiệp của tôi — à mà ông ấy đã qua đời rồi, và giờ thì tôi lại thấy mừng vì điều đó!” Giọng người kể bỗng chùng xuống. “Tôi đã thắng thế, tôi nói vậy, và tôi đến thủ đô, nơi tôi có một người họ hàng làm chủ hiệu sách. Nhờ mối quan hệ của ông ấy, tôi đã viết một cuốn sách mang tên ‘Hành trình đến Ethiopia’ cho con trai của một vị bá tước muốn làm một nhân vật nổi đình nổi đám; và một ‘Luận án về Tiểu từ Hy Lạp,’ được đề tặng cho vị thủ tướng, theo đơn đặt hàng của một vị kinh sĩ muốn được phong làm giám mục — bởi vì tiếng Hy Lạp, đứng sau quan hệ ngoại giao, chính là con đường ngắn nhất dẫn đến chiếc mũ giám mục. Cả hai thành tựu này đều được trả công rất hậu hĩnh; thế là tôi thuê một căn hộ ở tầng một, và quyết tâm tung ra một đòn quyết định để kiếm vợ. Cậu nghĩ tôi đã làm gì nào? — thôi, đừng đoán làm gì; có đoán cũng vô ích thôi. Đầu tiên, tôi tìm đến người thợ may giỏi nhất và may một bộ đồ ôm sát vào người; thứ hai, tôi học thuộc lòng cuốn sách về giới quý tộc và các phả hệ của họ; thứ ba, vào một buổi tối, với sự bình tĩnh thản nhiên nhất có thể, tôi bước thẳng vào dinh thự của một nữ công tước đang tổ chức một bữa tiệc linh đình! Các tờ báo đã truyền cảm hứng cho tôi làm điều này. Tôi từng đọc về những đám đông khổng lồ mà một phu nhân ‘ở nhà’ tìm cách thu hút đến dinh thự của mình. Tôi từng đọc về những cầu thang chật cứng người đến mức không thể nhúc nhích nổi, và những quý cô ngất xỉu được bế thốc ra ngoài; và lẽ thông thường mách bảo tôi rằng vị chủ nhân xinh đẹp kia làm sao có thể tường tận tính hợp pháp của từng vị khách đến dự. Do đó, tôi quyết định thử vận may của mình, và — mang theo con người của Augustus Tomlinson thâm nhập vào bên trong như một món hàng ăn cắp. Thề có Chúa! Đêm đầu tiên tôi còn rụt rè — tôi cứ bám chặt lấy cầu thang, và đưa mắt đưa tình với một ả trinh nữ già quý tộc mà tôi nghe xướng tên là Lady Margaret Sinclair. Chắc chắn là chưa bao giờ ả được ai đưa tình như thế; và ả rõ ràng vô cùng ngây ngất trước ánh mắt đưa tình của tôi. Đêm hôm sau, tôi đọc được tin về một buổi vũ hội tại nhà Nữ bá tước ———. Tim tôi đập thình thịch như thể sắp bị roi quất; nhưng tôi lấy hết can đảm và tiến đến dinh thự của quý bà ấy. Ở đó, tôi lại một lần nữa nhìn thấy Lady Margaret thần thánh; và nhận thấy mặt ả ngả sang màu vàng vọt thay cho tiếng đỏ mặt khi trông thấy tôi, tôi liền tận dụng chút rượu vang đã uống để làm can đảm cho bước tiến vào của mình, rồi thong thả bước đến với phong cách thời thượng nhất có thể, tôi gợi nhắc quý bà về màn giới thiệu mà tôi nói là mình từng vinh dự có được tại nhà Công tước xứ Dashwell, đồng thời ngỏ ý mời ả khiêu vũ bản vũ khúc cotillion tiếp theo. Ôi, Paul, hãy tưởng tượng sự đắc thắng của tôi xem! Mụ đàn bà già nua ấy thốt lên với một tiếng thở dài rằng ả nhớ tôi rất rõ, ha, ha, ha! — và tôi kéo ả vào điệu cotillion như một vị Theseus khác đang cướp đi nàng Ariadne thứ hai. Để không dài dòng về giai đoạn này của cuộc đời, tôi cứ đêm này qua đêm khác đến các buổi vũ hội và tiệc tùng, những nơi mà để được bước chân vào, một nửa số quý ông lịch lãm ở London sẵn sàng cắt cả tai mình. Và tôi đã tận dụng thời gian rất tốt với Lady Margaret, người tự chủ cuộc đời mình và có trong tay 5.000 bảng Anh — một phần tài sản tồi tệ đến quỷ tha ma bắt đối với một số người, nhưng không phải là thứ để tôi chê bai — đến mức tôi bắt đầu nghĩ ngợi xem khi nào ngày hạnh phúc nên được ấn định. Trong lúc đó, vì Lady Margaret giới thiệu tôi với một số bạn bè của ả, và chỗ ở của tôi lại nằm ở một vị trí đắc địa, tôi đã vinh dự nhận được một số lời mời thực sự. Hai câu hỏi duy nhất mà tôi từng được hỏi là (một cách bâng quơ), ‘Có phải tôi là con một không?’ và khi tôi trả lời quả quyết ‘Phải!’ thì — ‘cậu ở hạt nào?’ (câu hỏi này được đặt ra với vẻ hào hứng hơn). May mắn thay, hạt của tôi rất rộng lớn — Yorkshire; và bất kỳ cư dân nào ở đó mà những nữ thẩm vấn viên xinh đẹp có thể gặng hỏi về tôi thì cũng chỉ có thể trả lời rằng tôi không sống ở vùng đất của họ.

Thế đấy, Paul, tôi trở nên táo bạo đến mức trơ trẽn nhờ thành công đến nỗi một ngày nọ quỷ sứ xui khiến tôi đến dự một bữa tối thị soạn tại nhà Công tước xứ Dashwell. Tôi đến, dự tiệc — chẳng có chuyện gì xảy ra cả; tôi ra về, và sáng hôm sau tôi đọc được trên báo rằng: —

‘Vụ việc bí ẩn — kẻ lạ mặt hay lui tới — những dinh thự hàng đầu — những bữa tiệc thời thượng nhất — không ai biết là ai — tại nhà Công tước xứ Dashwell ngày hôm qua. Công tước không muốn làm lớn chuyện — vì có sự hiện diện của hoàng gia.’”

Tờ báo tuột khỏi tay tôi. Ngay khoảnh khắc đó, cô gái phục vụ trong nhà đưa cho tôi một mẩu giấy từ Lady Margaret — nhắc đến đoạn báo đó; thắc mắc ‘Kẻ lạ mặt’ đó là ai; hy vọng được gặp tôi tối nay tại nhà Lãnh chúa A——-, người mà tôi từng nói là đã được mời đến dự tiệc; để khi đó có thể nói chuyện cụ thể hơn về những vấn đề tôi đã đề cập! — tóm lại, hỡi Paul thân mến, là một bức thư tình! Tất cả những vĩ nhân đều là những kẻ tin vào định mệnh — và giờ thì tôi cũng là một kẻ như vậy; định mệnh đã biến tôi thành một kẻ điên. Ngay trước bài báo đầy điềm gở đó, tôi đã gom góp can đảm và tối hôm đó đến nhà Lãnh chúa A———. Thực tế là tình hình của tôi đang rất rối ren — tôi ngập trong nợ nần. Tôi biết rằng mình cần phải hoàn tất cuộc chinh phục Lady Margaret càng sớm càng tốt; và nhà Lãnh chúa A——— có vẻ là nơi thích hợp nhất cho mục đích đó. Hơn thế nữa, tôi nghĩ sự trì hoãn quá nguy hiểm, sau bài báo chết tiệt kia, một ngày thôi cũng có thể lột mặt nạ tôi, và do đó tốt hơn hết là không nên lãng phí một giờ nào để kết thúc vở kịch ‘Kẻ lạ mặt’ bằng màn hài kịch ‘Tuần trăng mật’. Vậy là hãy hình dung tôi đang ở nhà Lãnh chúa A———, dẫn Lady Margaret ra khiêu vũ. Hãy hình dung tôi đang thì thầm những lời ngọt ngào nhất vào tai ả. Hãy tưởng tượng ả chấp thuận lời cầu hôn của tôi, và nhẹ nhàng trách yêu tôi vì đã nhắc đến chuyện trốn đi Gretna Green. Hãy hình dung tất cả những điều đó, bạn hiền của tôi, và ngay lúc đỉnh cao của sự đắc thắng, hãy mở rộng đôi mắt tưởng tượng của cậu ra, và chứng kiến uy nghi phong thái của Lãnh chúa A———, vị chủ nhà quý tộc của tôi, đang bước thẳng về phía tôi, trong khi một giọng nói tuy trầm và tĩnh lặng như làn gió chiều nhưng lại làm tim tôi chùng xuống tận gót giày, vang lên rằng: — ‘Tôi tin là, thưa ngài, ngài chưa hề nhận được lời mời nào từ Lady A———?’”

“Tôi không thốt nên được một lời nào, Paul — một lời nào. Nếu đó là đường cái quan thay vì một phòng khiêu vũ, tôi đã có thể ăn nói rành mạch; nhưng tôi như đang bị bỏ bùa. ‘Hừm!’ cuối cùng tôi lắp bắp — ‘h-ừ-m! Có chút nhầm lẫn, tôi — tôi —’ Đến đó thì tôi khựng lại.”

“‘Thưa ngài,’ vị bá tước nói, nhìn tôi với vẻ nghiêm nghị lạnh lùng, ‘tốt hơn hết là ngài nên rời khỏi đây.’”

“‘Trời đất quỷ thần ơi! Chuyện gì thế này?’ Lady Margaret kêu lên, buông thõng cánh tay đã tê cứng của tôi ra, và trân trân nhìn tôi như thể đang chờ đợi tôi cất lời như một người hùng.”

“‘Ồ,’ tôi nói, ‘hừm, hừm — tôi sẽ gi-ải thích vào ngày mai — hừm, h-ừ-m.’ Tôi chuồn thẳng ra cửa; tất cả ánh mắt trong phòng dường như biến thành những chiếc kính lúp hội tụ ánh nắng, đốt cháy cả da mặt tôi. Tôi nghe thấy một tiếng thét khe khẽ khi rời khỏi căn phòng — chắc là Lady Margaret ngất xỉu rồi! Thế là chấm dứt sự nghiệp cưa cẩm và những cuộc phiêu lưu của tôi trong ‘giới thượng lưu’.”

“Tôi cảm thấy u sầu vì sự thất bại của kế hoạch. Cậu phải công nhận đó là một dự án vĩ đại chứ. Thật là một lòng dũng cảm tuyệt vời! Tôi khâm phục chính mình mỗi khi nghĩ về điều đó. Không có thư giới thiệu, chẳng quen biết một ai, hoàn toàn bằng nghị quyết của chính mình, tôi đã tự do ra vào những dinh thự đẹp nhất ở London, khiêu vũ với các tiểu thư con nhà bá tước, và suýt chút nữa thì rước được một tiểu thư con bá tước về làm vợ. Nếu tôi làm được điều đó, những kẻ bằng hữu chắc chắn sẽ phải làm gì đó cho tôi; và Lady Margaret Tomlinson có lẽ đã giới thiệu tài năng trẻ tuổi của Augustus nhà ả vào quốc hội hay nội bộ chính phủ. Ôi, đúng là một cú ngã đau đớn làm sao! Tuy vậy, thề có Chúa, ha, ha, ha! Tôi không thể ngừng cười, bất chấp nỗi bực dọc, khi nhớ lại rằng trong suốt ba tháng trời tôi đã qua mặt được những kẻ ‘thuộc tầng lớp độc tôn kiêu kỳ’ này, và thậm chí còn được mời chào bởi chính nhiều kẻ trong số họ, những kẻ vốn dĩ sẽ chẳng đời nào thèm mời các cậu con trai thứ của chính họ hàng nhà mình, chỉ vì tôi sống ở một con đường đẹp, tự nhận mình là con một, và khoác lác về tài sản ở Yorkshire! Ha, ha! Chắc hẳn đám nạn nhân háu tiền đó đã cảm thấy cay đắng biết bao khi sự thật bị phơi bày! Thật là một viên thuốc đắng ngắt cho đám quý bà khả kính từng gắn kết hình ảnh của tôi với hình ảnh của cô con gái Mary hay Jane nào đó — ha, ha, ha! Niềm kiêu hãnh đó quả thực đáng giá hơn cả sự bẽ bàng. Tuy nhiên, như tôi đã nói trước đó, tôi chìm đắm trong u sầu vì chuyện này, nhất là khi đám chủ nợ bắt đầu giở giọng đe dọa. Thế là tôi đến tìm người họ hàng làm chủ hiệu sách để xin lời khuyên. Ông ấy khuyên tôi nên viết bài cho các tờ báo, và kiếm cho tôi một cơ hội. Tôi bắt đầu làm việc khá kiên nhẫn trong một thời gian ngắn, và thiết lập được một số tình bạn dễ chịu với những quý ông mà tôi gặp ở một quán ăn bình dân tại St. James's. Mặc dù vậy, đám chủ nợ, dù tôi có trả góp từng tí một, vẫn là nỗi ám ảnh của cuộc đời tôi. Tôi đã thú nhận điều đó với một trong những người bạn mới của mình. ‘Hãy cùng tôi đến Bath trong một tuần,’ hắn rủ rê, ‘và cậu sẽ trở về giàu có như một tên Do Thái.’ Tôi nhận lời đề nghị, và đến Bath trên chiếc xe ngựa của bạn tôi. Hắn dùng cái tên Lãnh chúa Dunshunner, một quý tộc Ireland chưa từng đặt chân ra khỏi hạt Tipperary, và do đó không thể bị nhận diện ở Bath. Hắn cũng thuê một ngôi nhà trong một năm; chất đầy rượu vang, sách vở, và cả một tủ đựng đồ bạc. Khi hắn ú ớ bóng gió về việc dựng vợ gả chồng cho người em trai út để tranh cử vào quốc hội của thị trấn, hắn đã mua những món đồ này từ những người dân trong vùng, nhằm mục đích kích thích việc kinh doanh của họ. Tôi lén lút tìm cách vận chuyển chúng về London và bán đi; và vì chúng tôi bán tống bán tháo với giá thấp hơn giá gốc năm mươi phần trăm, nên các khách hàng của chúng tôi — tức là đám tiệm cầm đồ — đã không đặt ra quá nhiều câu hỏi tò mò. Chúng tôi đã có một cuộc sống vui vẻ ở Bath trong vài tháng, và rồi chuồn mất vào một đêm nọ, để lại người quản gia ở lại trả lời mọi chất vấn. Chúng tôi đã cẩn thận ngụy trang, độn người cho to lên và đổi màu tóc. Người bạn quý tộc của tôi là một chuyên gia trong các màn biến hóa này; và mặc dù cảnh sát không hề lơ là công việc, họ vẫn không bao giờ tìm ra dấu vết của chúng tôi. Tôi đặc biệt mừng vì chúng tôi không bị phát hiện, bởi vì tôi vô cùng yêu mến Bath; và tôi dự định sẽ quay lại đó vào một ngày nào đó, và rút lui khỏi thế gian — nhờ vào một cô nàng giàu có!”

“Này Paul, chẳng lâu sau cuộc phiêu lưu này thì tôi quen biết cậu. Tôi vẫn tiếp tục duy trì bề ngoài là một nhà văn, nhưng điều đó chỉ như một chiếc mặt nạ để che đậy cho những công sức lao động mà tôi không công khai. Một biến cố buộc tôi phải rời khỏi London khá vội vã. Lãnh chúa Dunshunner gia nhập cùng tôi ở Edinburgh. Mẹ kiếp, thay vì làm được trò trống gì ở đó, chúng ta lại bị lừa ngược lại! Thậm chí tên nhóc tì ranh ma nhất từng bò lê lê lết trên con phố High Street còn cao tay hơn cả những gã người Anh rành nghề nhất. Đối với chúng ta đó là nghệ thuật; còn đối với người Scotland thì đó là bản năng. Bọn chúng móc túi cậu mà chẳng cần dùng đến ngón tay; và chúng ngăn chặn việc cậu đòi lại bằng cách chẳng có gì cho cậu móc cả.”

“Chúng tôi rời Edinburgh với những bộ mặt dài thườn thượt, và đến Carlisle thì thấy cần thiết phải tách nhau ra. Về phần mình, tôi xin vào làm người hầu cho một vị quý tộc vừa mới mất đi người đầy tớ cuối cùng tại Carlisle vì bệnh sốt; người bạn của tôi đã cho tôi một lời giới thiệu không thể tuyệt vời hơn! Ông chủ mới của tôi là một người rất thông minh. Ông ấy khiến mọi người kinh ngạc trong bữa tối bằng những câu ứng khẩu được chuẩn bị sẵn từ bữa sáng; nói một cách ngắn gọn, ông ấy là một kẻ lắm tài vặt. Chẳng mấy chốc ông ấy nhận ra — bởi vì bản thân ông ấy cũng có học thức — rằng tôi đã được thụ hưởng một nền giáo dục cổ điển, và ông giao cho tôi nhiệm vụ tuyệt mật là tìm kiếm các câu trích dẫn cho mình. Tôi phân loại chúng theo thứ tự bảng chữ cái và chia làm ba nhóm — ‘Nghị trường, Văn chương, Tiệc tùng.’ Những nhóm này lại được chia nhỏ thành ‘Tinh tế,’ ‘Bác học,’ và ‘Hài hước’; nhờ thế mà ông chủ của tôi biết chính xác nơi nào để tìm kiếm thiên tài, sự thông thái và óc hài hước. Ông ấy vô cùng hài lòng với cách tôi quản lý trí tuệ của ông. Để tỏ lòng khen ngợi ông ấy, tôi chú ý nhiều hơn đến chính trị so với trước đây; bởi vì ông ấy là một ‘tài phiệt phái Whig vĩ đại,’ và cực kỳ phóng khoáng trong mọi thứ — ngoại trừ tiền bạc! Từ đó, hỡi Paul, là nguồn gốc của những nguyên tắc chính trị trong tôi; và tôi cảm tạ Trời Đất vì giờ đây ở nước Anh không có tên côn đồ nào lại là một kẻ xuất chúng hơn — nghĩa là, một tín đồ phái Whig ôn hòa nhiệt thành hơn cái gã tôi tớ hèn mọn của cậu đây! Tôi tiếp tục làm việc với ông ta gần một năm trời. Ông ta sa thải tôi vì một lỗi lầm xứng tầm với thiên tài của tôi: những người hầu khác có thể đánh mất chiếc đồng hồ hoặc chiếc áo khoác của chủ nhân; còn tôi thì nhắm đến một món mồi cao cả hơn, và làm ông ta mất đi — thanh danh cá nhân!”

“Ý cậu là sao?”

“Thì là, tôi đã say mê một quý cô sẽ chẳng thèm liếc nhìn tôi lấy một cái nếu tôi chỉ là ông Tomlinson; thế là tôi lấy quần áo và thỉnh thoảng cả xe ngựa của ông chủ, rồi tán tỉnh nàng nốt gót giai nhân với tư cách là một vị Lãnh chúa. Sự kiêu hãnh của nàng đã khiến nàng kém cẩn trọng. Các tờ báo của phái Tory đã chộp lấy được câu chuyện đó; và ông chủ của tôi, trong một đợt cải tổ nội, đã bị Vua George III tuyên bố là ‘quá phóng túng để làm Bộ trưởng Tài chính.’ Một ông già có tới mười lăm đứa con với một người vợ trông như quỷ dữ Gorgon đã được chọn để thay thế ông chủ của tôi; và mặc dù vị bộ trưởng mới chỉ là một kẻ ngốc trong năng lực công vụ, công chúng đạo đức lại hoàn toàn mãn nguyện với ông ta, chỉ vì những đức tính riêng tư của ông ta!”

“Ông chủ của tôi tức điên lên, tiến hành điều tra gắt gao nhất, tra ra được tôi và cũng đá đít tôi ra đường!”

“Một kẻ thuộc phái Whig không có chức vụ sẽ luôn có cái cớ để ghét bỏ Hiến pháp. Sự khốn cùng của tôi suýt biến tôi thành một kẻ theo chủ nghĩa cộng hòa; nhưng, trung thành với tín điều của mình, tôi phải thú nhận rằng tôi chỉ muốn san bằng theo hướng đi lên. Tôi đặc biệt bất mãn với sự bất bình đẳng về tài sản; tôi nhìn chằm chằm đầy hằn học vào bất kỳ chiếc xe ngựa nào đi ngang qua; thậm chí tôi còn cau mày như một tên Catiline thứ hai trước làn khói từ căn bếp của một quý ông! Hoàn cảnh trước đó của tôi chẳng mấy béo bở; tôi đã lờ đi những khoản thu nhập phụ trong cơn khát khao chính trị. Hơn thế nữa, ông chủ của tôi còn từ chối cấp cho tôi một lá thư giới thiệu: thử hỏi ai sẽ nhận tôi khi không có nó chứ?”

“Tôi đang tự hỏi mình câu hỏi đầy sầu muộn đó vào một buổi sáng, thì bất ngờ chạm trán với một trong những người bạn lịch lãm mà tôi từng vớt vát được từ chốn ăn chơi cũ, quán ăn bình dân ở St. James's. Tên hắn là Pepper.”

“Pepper!” Paul kêu lên.

Phớt lờ tiếng kêu đó, Tomlinson tiếp lời: — “Chúng tôi đến một quán rượu và uống chung một chai. Rượu làm tôi cởi mở hơn; nó đồng thời cũng mở lối trái tim người đồng chí của tôi. Hắn rủ tôi đi dạo cùng hắn đêm hôm đó hướng về phía Hounslow. Tôi đồng ý, và thế là vớ được một cái ví.”

“Thật may mắn làm sao! Ở đâu vậy?”

“Trong túi của một quý ông. Tôi quá đỗi sung sướng với vận may của mình đến mức tôi đã đi lại con đường đó hai lần một tuần, để xem có vớ thêm được cái ví nào nữa không. Định mệnh mỉm cười với tôi, và tôi đã sống cuộc sống của một kẻ được ơn trên ban phước trong một thời gian dài. Ồ, Paul, cậu không biết đâu — cậu không hề biết cuộc sống của một tên cướp đường vinh quang đến nhường nào; nhưng rồi cậu sẽ được nếm trải nó một ngày nào đó — cậu sẽ được thế, xin thề trên danh dự của tôi.”

“Giờ đây tôi sống chung với một băng nhóm toàn những gã hảo hán. Chúng tôi tự gọi mình là ‘Đám người độc tôn’ — bởi vì chúng tôi vô cùng kín kẽ trong các mối quan hệ xã giao, và chỉ những kẻ làm ăn lớn mới được kết nạp vào nhóm của chúng tôi. Về phần mình, với tất cả tình yêu dành cho nghề nghiệp, tôi vẫn thích sự mưu trí hơn là vũ lực, và chuộng cái mà kẻ phàm phu gọi là lừa đảo, hơn cả việc cướp bóc trên đường cái quan. Trong một chuyến đi kiểu đó, tôi từng cưỡi ngựa vào một thị trấn nhỏ, và thấy một đám đông tụ tập ở một góc phố; tôi nhập bọn, và ôi cảm xúc của tôi! — tôi nhìn thấy người bạn tội nghiệp của mình, Tử tước Dunshunner, đang chuẩn bị bị treo cổ! Tôi quất ngựa tẩu thoát nhanh nhất có thể — tôi tưởng như Jack Ketch đang bám sát gót chân mình. Con ngựa của tôi hất văng tôi xuống một rào cây giăng, và tôi bị gãy xương đòn. Trong thời gian bị giam cầm sau đó, những ý tưởng ảm đạm lảng vảng trong tâm trí tôi. Tôi không thích bị treo cổ; thế là tôi tự suy luận để chống lại những sai lầm của mình, và ăn năn hối cải. Tôi hồi phục chậm chạp, trở về thành phố, và tìm đến người họ hàng làm hiệu sách của mình. Thú thật là tôi đã chơi khăm ông ấy một vố nhỏ: thu hồi một số khoản nợ của ông ấy do nhầm lẫn — điều rất dễ xảy ra trong sự hỗn loạn bủa vây những khốn cùng của tôi. Tuy nhiên, ông ấy cực kỳ cay nghiệt về chuyện đó; và sự nhầm lẫn, dẫu tự nhiên đến đâu đi nữa, cũng đã khiến tôi mất đi mối quan hệ với ông.”

“Bây giờ tôi đến gặp ông ấy với bộ dạng sám hối của đứa con hoang đàng, và thề có Chúa, ông ấy trông chẳng khác nào hình ảnh con bê béo tốt sắp được đem ra mổ thịt để chào mừng sự trở lại của tôi — béo tốt làm sao, và ủ rũ làm sao! ‘Tên vô lại vô ơn!’ ông ta mở lời, ‘cha tội nghiệp của cậu qua đời rồi!’ Tôi vô cùng bàng hoàng; nhưng — đừng sợ, Paul, tôi không định diễn cảnh bi lụy đâu. Cha tôi đã chia tài sản của mình cho tất cả các con; phần của tôi là 500 bảng Anh. Việc sở hữu số tiền này sớm khiến cho sự ăn năn của tôi trở nên chân thành hơn rất nhiều trong mắt người họ hàng tốt bụng của tôi; và sau một màn cảm động đến rơi nước mắt, ông ấy lại một lần nữa đón nhận tôi vào sự sủng ái của mình. Giờ đây tôi bàn bạc với ông ấy về phương pháp tốt nhất để đầu tư số vốn và khôi phục lại danh tiếng. Chúng tôi không thể nghĩ ra kế hoạch nào trong buổi họp đầu tiên, nhưng đến lần thứ hai tôi gặp ông ấy, người họ hàng của tôi hào hứng lên tiếng: ‘Hãy vui lên, Augustus, ta đã kiếm cho cậu được một vị trí rồi. Ngài Asgrave chủ ngân hàng sẽ nhận cậu làm thư ký. Ông ấy là một người vô cùng đáng kính; và vì có vốn học vấn uyên thâm, ông ấy sẽ nể trọng cậu vì tài năng của cậu.’ Cùng ngày hôm đó, tôi được giới thiệu với ngài Asgrave, một người đàn ông thấp bé với mái đầu hói tròn trịa và nhân hậu; và sau một cuộc trò chuyện dài mà ông ấy nhã ý dành cho tôi, tôi trở thành một trong những kẻ múa bút cho ông ta. Không hiểu sao, nhưng cứ từng chút một, tôi đã leo lên được sự sủng ái của ông chủ. Tôi lấy lòng ông ấy, tôi tưởng tượng thế, bằng cách đem 500 bảng Anh của mình đầu tư theo lời khuyên của ông; ông ấy đã đầu tư giúp tôi vào cái mà ông gọi là một khoản bảo đảm nổi tiếng, trên một khu đất điền trang. Ngài Asgrave là người thích giao du — ông ấy có một ngôi nhà lớn và những loại rượu vang tuyệt hảo. Vì ông ấy không quá kén chọn bạn bè, cũng không tham vọng giao thiệp với giới quyền quý, ông thường cho phép tôi ngồi vào bàn tiệc của mình, và rất hứng thú tranh luận dài dòng với tôi về người xưa. Tôi sớm nhận ra rằng ông chủ của mình là một nhà triết học đạo đức vĩ đại; và bản thân đang có sức khỏe kém, chán ngấy những theo đuổi tầm thường của thế gian mà trải nghiệm của tôi đã đi trước cả tuổi tác, lại vốn có tâm tính trầm ngâm, tôi hướng sự chú ý của mình đến các nghiên cứu đạo đức đã mê hoặc người chủ của tôi. Tôi đọc ngấu nghiến chín kệ sách đầy những nhà siêu hình học, và nắm rõ điểm mà những tư tưởng gia lừng lẫy đó cãi vã lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ lớn lao của khoa học. Tôi và ông chủ thường có nhiều cuộc tranh luận dài về bản chất của thiện và ác; nhờ vào chiếc trán nhân hậu và giọng nói trầm đĩnh, ông luôn tỏ ra trước khán giả là người khôn ngoan và đạo đức hơn trong hai người, nên ông rất hài lòng với những cuộc tranh cãi của chúng tôi. Quý ông này có một cô con gái độc nhất — một mụ đàn bà đanh đá khủng khiếp với khuôn mặt giống như cái rìu nhưng các triết gia có thể vượt qua những khiếm khuyết ngoại hình; và chỉ nghĩ đến những điều tốt đẹp mà tài sản của nàng có thể mang lại cho tôi để giúp ích cho đồng loại, tôi đã lén lút tán tỉnh nàng. Cậu sẽ bảo rằng đó là chơi khăm ông chủ một vố đau đớn để trả ơn ông ấy ư? Không hề; chính ông chủ đã thuyết phục tôi rằng không có cái gọi là đức tính biết ơn. Đó chỉ là sự lầm tưởng của những đạo đức gia bình dân. Tôi nhượng bộ trước những lý lẽ của ông, và cuối cùng đã bí mật kết hôn với con gái ông. Ngày hôm sau khi chuyện này diễn ra, ông gọi tôi vào phòng làm việc. ‘Này Augustus,’ ông nói rất ôn tồn, ‘cậu đã kết hôn với con gái tôi rồi đấy: thôi nào, đừng có ra vẻ bối rối; ta đã thấy từ lâu rằng cậu quyết định làm thế, và ta rất mừng về điều đó.’”

“Tôi cố lắp bắp vài lời cảm ơn. ‘Đừng ngắt lời ta!’ ông nói. ‘Ta có hai lý do để vui mừng — thứ nhất, vì con gái ta là tai họa của cuộc đời ta, và ta cần ai đó gánh giùm nợ đời này; thứ hai, vì ta cần sự trợ giúp của cậu trong một vấn đề cụ thể, và ta không dám ngỏ lời với ai khác ngoài con rể của mình. Tóm lại, ta muốn đưa cậu vào làm đối tác kinh doanh!’”

“‘Đối tác kinh doanh!’ tôi hét lên, quụp sụp xuống quỳ gối. ‘Con người cao thượng, hào phóng!’”

“‘Khoan đã,’ bố vợ tôi tiếp tục. ‘Cậu nghĩ cần có những quỹ gì để duy trì một ngân hàng? Trông cậu ngẩn ngơ thế! Không một xu cắc ké! Cậu sẽ hùn vốn đúng bằng số tiền ta bỏ ra. Thậm chí cậu còn hùn nhiều hơn một chút; vì cậu từng bỏ vào 500 bảng Anh, số tiền đã tiêu sạch từ lâu rồi. Ta chẳng bỏ ra một xu tiền túi nào cả. Ta sống bằng tiền của khách hàng, và ta rất sẵn lòng nhường cho cậu một nửa số đó!’”

“Hãy tưởng tượng, hỡi Paul thân mến, sự kinh ngạc, sự bàng hoàng của tôi! Tôi thấy mình đã kết hôn với một mụ vợ đanh đá gớm ghiếc — làm con rể của một tên khốn tay trắng, và bị lừa sạch toàn bộ gia tài! Hãy so sánh góc nhìn này với cái viễn cảnh từng rực sáng trong tôi khi tôi nghĩ đến việc trở thành con rể của ngài Asgrave giàu có. Ban đầu tôi lồng lộn lên. Ngài Asgrave cầm cuốn ‘Bàn về sự tiến bộ của triết học’ của Bacon lên, và chẳng thèm đáp lại cho đến khi cơn bùng nổ của tôi hạ nhiệt. Cậu sẽ nhận thấy rằng khi cơn giận lùi đi, tôi buộc phải nhận ra chẳng còn con đường nào khác ngoài việc chấp nhận đề nghị của bố vợ. Thế là, bởi định mệnh cứ đeo bám tôi ngay vào cái lúc tôi định hướng thiện, tôi bị đẩy vào con đường khốn nạn, và bị cuốn vào việc lừa gạt một lượng lớn con người chỉ vì sự tình cờ làm con rể của một đại triết gia đạo đức. Vì ngài Asgrave là một kẻ lười biếng, kẻ chuyên dùng những buổi sáng để chiêm nghiệm về đức hạnh, tôi trở thành người điều hành chính. Tôi dành cả ngày ở phòng kế toán; và khi tôi về nhà để tìm kiếm sự giải khuây, vợ tôi lại cào cấu rách tươm cả mặt tôi.”

“Nhưng cậu chưa bao giờ bị nhận ra là ‘kẻ lạ mặt’ hay ‘kẻ phiêu lưu’ trong thân phận mới đó sao?”

“Không; bởi vì dĩ nhiên trong mọi sự thay đổi, tôi đều dùng cả tên giả lẫn hóa trang. Và nói thật với cậu, cuộc hôn nhân đã thay đổi tôi nhiều đến mức, với một chiếc áo khoác màu nâu sẫm và một bộ tóc giả xơ xác màu nâu, cùng một cây bút giắt sau tai phải, tôi trông chẳng khác nào bức tranh khắc họa sự đứng đắn vững chãi. Khuôn mặt tôi dài thêm một inch mỗi ngày. Chẳng có gì đáng kính bằng một khuôn mặt dài; và một biểu cảm khuôn mặt dịu dàng chính là dấu hiệu chắc chắn nhất của sự thịnh vượng thương mại. Mọi chuyện cứ thế trôi qua khá huy hoàng trong khoảng một năm. Trong khi đó, tôi đã tiến bộ kỳ diệu về triết học. Cậu không thể tưởng tượng được một người vợ hay cằn nhằn lại có thể thanh luyện và tinh tế hóa trí tuệ của một con người đến mức nào đâu. Sấm sét làm trong lành bầu không khí mà cậu biết đấy! Cuối cùng, thật bất hạnh cho danh tiếng của tôi (vì tôi đang ấp ủ một bộ lịch sử đạo đức vĩ đại về loài người, mà nếu ả sống thêm một năm nữa, tôi đã hoàn thành), vợ tôi qua đời khi đang sinh con. Bố vợ tôi và tôi đang bàn về sự kiện đó, và chê bai nền văn minh vì những thói quen làm suy nhược khiến phụ nữ chết vì con cái thay vì sinh nở mà thậm chí chẳng mảy may nhận thức được sự việc, thì một mẩu giấy, được đóng dấu lệch lạc, được đưa cho đối tác của tôi. Ông ta liếc qua, kết thúc cuộc thảo luận, và sau đó bảo tôi rằng ngân hàng của chúng ta đã ngừng thanh toán. ‘Bây giờ, Augustus,’ ông ta nói, vừa châm tẩu bằng mẩu giấy đó, ‘cậu đã thấy cái lợi của việc không có gì để mất chưa.’”

“Chúng tôi trả nợ chưa đầy sáu xu trên một bảng; nhưng đối tác của tôi được coi là bất hạnh đến mức công chúng Anh đã quyên góp tiền để giúp ông ấy, và ông ấy về hưu với một khoản tiền trợ cấp, rất được kính trọng và vô cùng thương cảm. Vì tôi không nổi tiếng như một nhà triết học đạo đức, lại không có lợi thế ngoại hình là một cái đầu hói nhân hậu, chẳng có gì được làm cho tôi cả, và tôi lại bị ném ra giữa thế gian rộng lớn một lần nữa, để triết lý về những thăng trầm của vận mệnh. Người họ hàng làm hiệu sách của tôi đã qua đời, và con trai ông ta thì phớt lờ tôi. Tôi thuê một căn gác mái ở Warwick Court, và với vài cuốn sách — nguồn an ủi duy nhất, tôi nỗ lực vực dậy tinh thần để hướng về tương lai. Chính vào thời điểm này, hỡi Paul, những nghiên cứu của tôi mới thực sự phát huy tác dụng. Tôi suy ngẫm rất nhiều, và tôi trở thành một triết gia thực thụ, tức là một triết gia thực tiễn. Kể từ đó, mọi hành động của tôi được điều tiết bởi nguyên tắc; và vào lúc nào đó, tôi sẽ chứng minh cho cậu thấy rằng con đường đạo đức chân chính chưa bao giờ tránh né túi tiền của người hàng xóm cả. Ngay khi tâm trí tôi đạt được phát hiện vĩ đại mà ngài Asgrave đã đạt được trước tôi, rằng con người ta nên sống theo một hệ thống — bởi vì nếu cậu làm điều sai trái, thì đó là do hệ thống của cậu sai, chứ không phải cậu — tôi liền lao vào con đường cướp bóc, hoàn toàn không còn chút dằn vặt lương tâm nào từng làm tôi khó chịu trong những cuộc phiêu lưu như vậy. Tôi gia nhập một nhóm ‘Tự do nhân’ ưu tú mà tôi sẽ giới thiệu với cậu vào một ngày nào đó, và tôi nhanh chóng vươn lên vị trí nổi bật giữa họ. Nhưng khoảng sáu tuần trước, không kém phần ưa thích những con đường tắt hơn đường cái quan, tôi đã cố gắng chiếm đoạt một chiếc xe ngựa và bán nó giá rẻ. Tôi được tha bồi thẩm đoàn về tội trọng tội, nhưng bị thẩm phán Burnflat đày tới đây vì tội khinh tội. Đến nay, người bạn trẻ của tôi, cuộc đời của Augustus Tomlinson mới tiến triển đến chừng đó.” Lịch sử của quý ông này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Paul. Ấn tượng đó càng được củng cố bởi những cuộc trò chuyện diễn ra sau đó với Augustus. Gã xứng đáng đó là một kẻ thuyết phục nguy hiểm và tinh vi. Hắn thực sự đã đọc rất nhiều về lịch sử, và chút ít về đạo đức; và hắn có một cách tài tình để biện minh cho những hành vi đê tiện của mình bằng các tam đoạn luận từ triết lý và những ví dụ từ lịch sử. Những lý thuyết này được hắn đúc kết lại bằng cách viện dẫn đến tình hình chính trị đương thời. Những kẻ lừa bịp công chúng bằng những lý do giả dối, hắn vui vẻ gọi là “những người theo phái Whig ôn hòa”; những kẻ đòi tiền xấc láo móc túi cậu là “những kẻ theo phái Tory cực đoan”; và việc ăn cắp theo băng nhóm chính là “hiệu ứng của tinh thần đảng phái.” Có sự khác biệt này giữa Augustus Tomlinson và Long Ned — Ned là kẻ hành động bạo lực, còn Augustus là kẻ ngụy biện lý luận; và do đó chúng ta có thể thấy qua một chút suy ngẫm rằng Tomlinson là một bạn đồng hành nguy hiểm hơn nhiều so với Pepper — bởi vì những lý thuyết hào nhoáng luôn có sức quyến rũ lớn hơn đối với giới trẻ và những kẻ thông minh so với những ví dụ thuyết phục, và sự kiêu ngạo của tuổi trẻ khiến chúng thích thú hơn khi được thuyết phục về một điều gì đó hơn là bị lôi kéo vào nó.

Một hoặc hai ngày sau câu chuyện của Mr. Tomlinson, Paul lại được Mrs. Lobkins đến thăm — vì các quy định chống lại việc thăm viếng thường xuyên lúc bấy giờ không bị siết chặt nghiêm ngặt như chúng ta hiểu ở hiện tại; và người phụ nữ khả kính đến để than thở về sự thất bại trong cuộc gặp gỡ của bà với thẩm phán Burnflat.

Chúng tôi tha cho người đọc đa cảm chi tiết về cuộc gặp gỡ đầy cảm động diễn ra sau đó. Thật vậy, nó chỉ là sự lặp lại của những gì chúng tôi đã tường thuật trước đó. Chúng tôi chỉ xin nói, như một minh chứng cho sự mềm lòng của Paul, rằng khi cậu từ biệt người phụ nữ khả kính, và chúc “Chúa phù hộ bà,” giọng cậu chùng xuống, và những giọt nước mắt đọng lại trong mắt cậu — hệt như chúng thường đọng lại trong mắt Vua George III, khi vị quân vương xuất sắc đó nhã ý vui lòng yêu cầu hát lại bài “Chúa cứu nhà vua!”

“Ta thề là sẽ bị treo cổ,” người hùng của chúng ta tự lẩm bẩm một mình, khi lê bước chậm rãi về phía tên Augustus tinh ranh — “(hừm! Lời nguyền rủa thật mang tính tiên tri), nếu ta không cảm thấy biết ơn mụ già vì sự quan tâm của mụ chẳng kém gì việc mụ chưa từng đối xử tệ bạc với ta. Còn về cha mẹ ta, ta tin rằng mình có rất ít điều phải biết ơn hay tự hào từ phía đó. Mẹ tội nghiệp của ta, theo mọi lời kể, dường như hầu như chẳng có lấy nổi một chút đức tính bẩm sinh của sự dịu dàng mẫu tử; và theo mọi xác suất loài người, ta sẽ chẳng bao giờ biết được mình có một người cha hay tới năm mươi người. Nhưng điều đó có nghĩa lý gì chứ? Ta thà thích sự độc lập hơn; và rốt cuộc, chín phần mười chúng ta nhận được gì từ cha mẹ ngoài một cái tên xấu xí, và những lời khuyên mà nếu chúng ta tuân theo, chúng ta sẽ khốn khổ, còn nếu chúng ta phớt lờ, chúng ta sẽ bị truất quyền thừa kế?”

Tự an ủi bản thân bằng những suy nghĩ này, vốn có lẽ mang màu sắc triết học từ những cuộc trò chuyện gần đây với Augustus, và ngắt quãng bằng tiếng ngâm nga vụn vặt của bài hát —

“Sao chúng ta phải tranh giành sự giàu có?”

Paul quay trở lại những công việc quen thuộc của mình.

Vào tuần thứ ba bị giam cầm của người hùng chúng ta, Tomlinson đã tiết lộ cho cậu một kế hoạch tẩu thoát đã loé lên trong bộ óc sắc sảo của hắn. Trong khoảng sân dành cho các hoạt động giải trí của những kẻ “phạm tội khinh miết,” có một đường ống dẫn nước chạy dọc theo bức tường, vắt ngang qua cánh cửa mà mỗi buổi sáng những tù nhân mộ đạo bước qua trên đường đến nhà nguyện. Bằng con đường này, Tomlinson đề xuất việc tẩu thoát; bởi vì đối với đường ống kéo dài từ cửa đến tường, theo một hướng nghiêng và dễ dàng, có một loại ván ốp chân tường; và một kẻ khéo léo và nhanh nhẹn có thể dễ dàng, nhờ sự trợ giúp của tấm ván này, di chuyển dọc theo đường ống, cho đến khi tiến trình của ống dẫn hữu ích đó (vốn rất ngắn ngủi một cách may mắn) bị chặn lại bởi đỉnh tường, nơi nó có phần tiếp nối bằng một đường ống khác hạ xuống mặt đất ở phía bên kia bức tường. Giờ đây, ở phía bên kia này chính là khu vườn của nhà tù; trong khu vườn này có một người canh gác, và người canh gác này chính là con “ngáo ổng” trong kế hoạch của Tomlinson — “Bởi vì giả sử chúng ta đã an toàn trong vườn,” hắn nói, “chúng ta phải làm gì với gã khốn kiếp này đây?”

“Nhưng đó chưa phải là tất cả,” Paul nói thêm; “bởi vì cho dù không có người canh gác đi nữa, thì vẫn có một bức tường khủng khiếp, thứ mà tôi đã đặc biệt ghi nhớ vào tuần trước, khi chúng ta bị bắt ra vườn làm việc, và nó chẳng có đường ống nào cả, ngoại trừ một ống thẳng đứng mà một người phải có đôi chân của loài ruồi mới leo lên nổi!”

“Vớ vẩn!” Tomlinson đáp lại; “Tôi sẽ chỉ cho cậu cách trèo qua bức tường cứng đầu nhất ở xứ Thiên Chúa giáo này, miễn là đường đi nước bước thông thoáng. Chính là người canh gác, người canh gác, chúng ta phải—”

“Phải làm sao?” Paul hỏi, nhận thấy đồng bọn của mình không nói hết câu.

Phải mất một lúc lâu vị triết gia Augustus mới trả lời; sau đó hắn nói bằng một giọng trầm ngâm: —

“Tôi đang tự suy ngẫm, Paul, liệu có phù hợp với đạo đức, và bộ luật đạo đức nghiêm ngặt chi phối mọi hành động của tôi hay không, nếu ta — tiêu diệt người canh gác!”

“Lạy Chúa!” Paul kêu lên, chết lặng vì kinh hoàng.

“Và tôi đã quyết định,” Augustus tiếp tục một cách trang nghiêm, phớt lờ lời kêu lên đó, “rằng hành động đó hoàn toàn có thể biện minh được!”

“Đồ khốn!” Paul thốt lên, lùi phắt người lại phía đầu kia của chiếc hộp đá — bởi vì trời lúc đó đã tối — nơi họ bị nhốt.

“Nhưng,” Augustus tiếp tục, kẻ dường như đang độc thoại nội tâm, và có giọng điệu bình tĩnh, trầm ngâm giống như giọng của Young trong đoạn độc thoại nổi tiếng trong “Hamlet,” cho thấy hắn chẳng mảy mé đếm xỉa gì đến sự ngắt lời bất lịch sự đó — “nhưng ý kiến không phải lúc nào cũng chi phối hành động; và mặc dù việc mưu sát người canh gác có thể là đạo đức, nhưng tôi lại không đủ tàn nhẫn để làm điều đó. Tôi hy vọng trong lịch sử tương lai của mình, tôi sẽ không bị các nhà đạo đức học tinh tường chỉ trích quá gay gắt vì một sự yếu mềm mà nguyên nhân duy nhất là do thể chất của tôi đáng trách!”

Bất chấp bước ngoặt của màn độc thoại, Paul phải mất một thời gian dài mới có thể nguôi ngoai để tiếp tục trò chuyện với Augustus; và chỉ nhờ niềm tin rằng nhà đạo đức học này đang nghiêng về xu hướng nói đùa nên cuối cùng cậu mới nối lại cuộc bàn bạc.

Tuy nhiên, những kẻ âm mưu đã không đưa ra bất kỳ quyết định cuối cùng nào cho kế hoạch của họ vào đêm hôm đó. Ngày hôm sau, Augustus, Paul và một vài thành viên khác trong nhóm được đưa ra vườn làm việc; và Paul khi đó quan sát thấy bạn mình, khi đẩy một chiếc xe cút kít sát chỗ người canh gác đứng, đã làm đổ tung nội dung trong xe. Người canh gác tốt bụng đến mức giúp hắn gom đầy lại chiếc xe cút kít; và Tomlinson đã tận dụng cơ hội đó rất tốt đến mức tối hôm đó hắn thông báo với Paul rằng họ sẽ chẳng có gì phải sợ sự cảnh giác của người canh gác nữa. “Hắn ta đã hứa,” Augustus nói, “để đổi lấy một số lót-tay-nhất-định, sẽ cho phép tôi đánh ngã hắn; hắn cũng hứa sẽ vờ như bị thương nặng đến mức không thể nhúc nhích cho đến khi chúng ta vượt qua bức tường. Khó khăn chính của chúng ta lúc này, do đó, là bước đầu tiên — cụ thể là, trèo lên đường ống mà không bị phát hiện!”

“Về chuyện đó,” Paul nói — kẻ trong suốt kế hoạch đã bộc lộ những năng khiếu về sự sắc sảo, táo bạo và phát minh khiến bạn mình mê mẩn, và chắc chắn hứa hẹn những điều tốt đẹp cho sự nghiệp tương lai của cậu — “về chuyện đó, tôi nghĩ chúng ta có thể xoay sở để leo lên đoạn đầu với ít nguy hiểm hơn cậu tưởng. Những buổi sáng gần đây có rất nhiều sương mù; trời gần như tối đen vào giờ chúng ta đi nhà nguyện. Cậu và tôi hãy khóa đuôi hàng: ống dẫn nước chạy ngay phía trên cánh cửa; tay chúng ta, như đã thử, có thể với tới nó; và một cú bật nhảy không quá mất sức sẽ cho phép chúng ta nâng người lên để đặt chân lên đường ống và tấm ván chân tường.

Việc trèo lên sau đó rất dễ dàng; và với lớp sương mù dày đặc cùng sự nhanh nhẹn của chính chúng ta, tôi nghĩ chúng ta sẽ gặp ít khó khăn trong việc đột nhập vào khu vườn. Những biện pháp duy nhất chúng ta cần áp dụng là chờ một buổi sáng thật tối trời, và chắc chắn rằng chúng ta là những kẻ đứng cuối hàng, để không ai ở phía sau có thể phát động báo động —”

“Hoặc bắt chước làm theo tấm gương của chúng ta, và phá hỏng chuyện béo bở bằng một quả mận thừa thãi!” Augustus nói thêm. “Cậu mưu lược thật tuyệt vời; và một ngày nào đó, nếu không bị treo cổ trong thời gian này, tôi dám cá là cậu sẽ trở thành một nhà logic học vĩ đại.”

Sáng hôm sau trời quang mây tạnh và có sương giá; nhưng ngày hôm sau nữa lại, theo cách so sánh của Tomlinson, “tối đen như thể toàn bộ người da đen ở châu Phi đã được hầm nhừ thành không khí.” Người ta nói rằng “Cậu có thể dùng dao cắt được lớp sương mù ấy.” Paul và Augustus thậm chí không thể nhìn thấy đối phương nhìn nhau đầy ý nhị thế nào.

Một nét đặc trưng đáng chú ý trong bản tính táo bạo của người trước, đó là dù còn trẻ tuổi, cậu đã được ấn định là kẻ dẫn đầu cuộc vượt ngục. Đến giờ đi nhà nguyện, các tù nhân nối đuôi nhau đi qua cánh cửa như thường lệ. Khi đến lượt Paul, cậu dùng tay bám vào đường ống, rồi trườn dọc theo đường cong uốn lượn của nó, vượt lên đến bức tường trước cả khi kịp thở dốc. Hơi vụng về hơn một chút, Augustus làm theo gương bạn mình. Có lúc chân hắn bị trượt, và suýt nữa thì ngã nhào qua bên kia. Hắn vô thức dang rộng hai tay, và tóm lấy chân Paul. May mắn thay, người hùng của chúng ta lúc bấy giờ đã bám được vào bức tường; và một lần hiếm hoi, tên này kéo kẻ kia lên mà không làm người kia ngã nhào. Giờ đây hãy ngắm nhìn Tomlinson và Paul đang ngồi trên bức tường trong chốc lát để lấy lại hơi; sau đó người đi đầu — cú nhảy xuống đất không quá cao — hạ thân người xuống bằng đôi tay, và thả mình rơi tõm xuống khu vườn.

“Bị thương không?” Augustus cẩn trọng hỏi bằng một giọng khàn khàn, trước khi leo xuống khỏi “vị thế tồi tệ” của mình, thậm chí còn sẵn lòng —

“Thà chịu đựng những nỗi đau đang có,

Còn hơn bay đến những thứ khác mà ta không hề biết rõ”

“Không!” mà không cần thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa trước đó trong tầm tay, đó là câu trả lời bằng chính giọng nói ấy, và Augustus buông tay rơi xuống.

Ngay khi kẻ sau bình phục khỏi cú va chạm khi rơi xuống, hắn không lãng phí một giây nào để chạy tới đầu bên kia của khu vườn. Paul đi theo sau. Dọc đường, Tomlinson dừng lại ở một đống rác vụn, và nhặt lên một hòn đá khổng lồ. Khi đến đoạn tường đã thỏa thuận trèo qua, họ tìm thấy người canh gác — kẻ mà thực ra họ chẳng cần phải bận tâm đến; bởi vì nếu không có sự sắp xếp từ trước rằng hắn sẽ gặp họ, lớp sương mù dày đặc cũng đã đủ sức ngăn cản hắn nhìn thấy họ. Người gác cổng trung thành này đã bị Augustus đánh gục, không phải bằng hòn đá, mà bằng mười đồng guinea; hắn sau đó rút ra từ trong y phục một sợi dây thừng khá dày mà hắn đã kiếm được vài ngày trước từ tay cai ngục, và buộc chặt hòn đá vào một đầu, rồi ném đầu đó qua bên kia bức tường. Giờ đây, bức tường có (như đa số các bức tường kiên cố khác) một loại tường chắn nhô ra ở cả hai bên; và hòn đá, khi được ném qua và kéo căng theo chiều dài sợi dây mà nó được buộc vào, chắc chắn đã vướng vào phần nhô ra này; và do đó sợi dây đã được cố định vào bức tường, và Tomlinson có thể dùng nó để kéo bản thân lên đỉnh rào chắn. Hắn thực hiện động tác này với sự khéo léo của một vận động viên thể dục, giống như một kẻ đã từng luyện tập nó nhiều lần; mặc dù nhà thám hiểm kín đáo này đã không đề cập trong câu chuyện kể cho Paul bất kỳ dịp luyện tập trước đó nào. Ngay khi ngoi lên được đỉnh tường, hắn ném sợi dây xuống cho đồng bọn, và để cân nhắc đến sự thiếu kinh nghiệm của Paul trong cách trèo đó, hắn cố định thêm một lớp an toàn cho sợi dây bằng cách tự mình giữ lấy nó. Với sự chậm chạp và nhọc nhằn, Paul tự kéo mình lên; và sau đó, bằng cách chuyển hòn đá sang phía bên kia bức tường, nơi nó dĩ nhiên tạo ra một điểm vướng tương tự, hai nhà thám hiểm của chúng ta có thể lần lượt trượt xuống, hoàn tất cuộc trốn chạy khỏi Trại Cải tạo.

“Theo tôi ngay!” Augustus nói khi cắm cổ chạy bạt mạng; và Paul đuổi theo hắn qua một mê cung những con hẻm và lối đi, nơi hắn lách qua và né tránh với tốc độ biến hóa khôn lường mà nếu Paul không bám sát gót, thì rất nhanh chóng, kết hợp với sương mù, đã có thể bứt hắn ra khỏi tầm mắt của đồng minh trẻ tuổi. May mắn thay, thời điểm sáng sớm mập mờ, sự mờ ảo của những con đường đi qua, và trên hết là bầu không khí tối đen như mực, đã ngăn chặn việc bị phát hiện và bắt giữ mà bộ đồ tù nhân của họ lẽ ra đã đảm bảo cho họ. Cuối cùng, họ thấy mình đã ra đến những cánh đồng; và lẩn khuất dọc theo các hàng rào, cẩn trọng tránh xa đường cái quan, họ tiếp tục chạy trốn về phía trước, cho đến khi đã tiến sâu vào “tận cõi lòng của vùng đất.” Vào lúc đó, “cõi lòng” của Augustus Tomlinson bắt đầu nhắc nhở hắn về những nhu cầu của nó; và hắn bỗng đề xuất sự cần thiết của việc chộp lấy người nông dân đầu tiên họ gặp, và ép hắn ta đổi quần áo với một trong những kẻ đào tẩu, để người đó có thể bước vào một quán rượu và lo liệu những nhu cầu chung của họ. Paul đồng ý với đề xuất này, và do đó họ canh chừng cơ hội rồi tóm gọn một tên cày thuê. Augustus lột sạch áo khoác ngoài, mũ và tất len của hắn; và Paul, bị tôi luyện bởi sự ngặt nghèo và tình bạn đồng hành, đã phụ giúp trói gí bác nông dân tội nghiệp vào một thân cây. Sau đó, họ tiếp tục hành trình trong khoảng một tiếng đồng hồ, và khi bóng tối của buổi hoàng hôn buông xuống xung quanh, họ phát hiện ra một quán rượu. Augustus bước vào, và quay trở lại chỉ sau vài phút với đầy bánh mì, phô mai và một chai bia. Thức ăn trong tù chữa khỏi cho một người tính chảnh chọe, và hai kẻ đào tẩu đã ngấu nghiến những món ăn mộc mạc này với sự thỏa mãn đáng kể. Sau đó, họ tiếp tục hành trình, và cuối cùng, kiệt sức vì vận động, họ đến một đống rơm cô độc, nơi họ quyết định nghỉ ngơi trong một hoặc hai giờ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.