Thế là đã qua một mùa hè nóng bỏng. Và bây giờ sang thu. Bầu trời miền biển cao rộng đến vô tận, bởi cái màu xanh thăm thẳm trong sáng của da trời. Cánh đồng lúa mỡ màng sắp đứng lá để đón gió heo may. Trong vườn, những cành bưởi sa đà trĩu quả, da bưởi đã bắt đầu rám màu nắng vàng. Đầm nước bao quanh xã Bạch Đằng sau những trận mưa, đầy ắp như sông. Từng đàn sếu bay theo hình cánh cung in bóng xuống mặt nước, và từ khoảng không bao la buông tiếng kêu tha thiết rót xuống mặt đất man mác không khí buổi chiều thu.
Sau khi phá bốt Xuân Hòa, nhân dân Bạch Đằng đang sống những ngày yên ổn. Hơn ba tháng nay, địch không về càn. Nhưng tiếng súng vẫn nổ ở gần xa, đêm đêm, ánh đèn pha của địch ở thị xã Kiến An vẫn quét sáng khắp một vùng. Tiếng ca nô, tàu chiến thỉnh thoảng vẫn ầm ì vọng đến từ ngoài sông Văn Úc.
Đa cảm thấy chuyển biến mạnh mẽ trong tâm trí từ cái đêm đi phá bốt Xuân Hòa. Đêm ấy, khi phân đội của Thược đốt đuốc đi ra đường, thì trong lòng Đa bùng lên ngọn lửa đuốc. Đa bỏ cối gạo đang làm dở chạy ra và nhập vào đoàn biểu tình. Đa lượm những cây nứa khô ở hàng rào làm đuốc. Chưa bao giờ Đa được tự do hô khẩu hiệu như đêm nay. Cho đến khi ta phá xong bốt, trời đổ mưa, Đa sung sướng tắm trong màn mưa mát rượi.
Từ ngày đó, Đa càng ao ước thiết tha được vào Đội. Hơn ba tháng qua, cái ngày vui ấy đã đến.
Buổi chiều, khi Đa đánh trâu về thì thấy anh Minh đang ngồi ở hiên cùng đứa con gái nhà chủ làm cái đèn ông sao bằng giấy bóng đỏ để chuẩn bị rước đèn trong đêm Trung Thu.
Thấy Đa về, anh Minh chạy ra, giúp Đa cho trâu vào chuồng, anh tươi cười nói với Đa:
– Anh đến nói với nhà chủ cho em tối đi dự lễ. Tối nay Đội kết nạp em, chắc Thược báo cho em biết rồi chứ?
– Vâng, Thược mới báo cho em biết lúc nãy
– Đa còn xúc động – nhưng nhà chủ có bằng lòng cho em đi không anh.
Anh Minh gật đầu:
– Họ bằng lòng, anh phải nói mãi mới được đấy. Lúc em đi, em cũng nên nói với nhà chủ nhé. Mình cứ giữ đúng bổn phận, vì em vào Đội rồi vẫn còn phải ở nhà họ! – Anh Minh dịu giọng – Rồi sau này hãy hay.
Lần đầu tiên Đa được bước chân đến một nơi long trọng như vậy. Căn nhà sáng rực ánh
đèn, ánh cờ và khẩu hiệu đỏ. ảnh Bác Hồ treo dưới lá cờ. Bác hiền từ mỉm cười nhìn các cháu. Các đội viên ăn mặc chỉnh tề, đầu đội mũ ca-lô nâu, cổ quàng khăn đỏ.
Đa ngượng nghịu vì mình chỉ mặc bộ quần áo nâu đã vá, đấy là bộ tươm tất nhất mà Đa hiện có. Anh Minh thân mật đón Đa từ ngoài cửa và khoác vai đưa Đa vào hàng ghế đầu. Đa rụt rè ngồi xuống ở mép ghế, và cảm thấy hàng chục cặp mắt đang chú ý nhìn mình.
Phân đội trưởng Thu tuyên bố lý do buổi lễ. Nói xong, Thu hô mọi người đứng dậy làm lễ chào cờ, hát Quốc ca, và mặc niệm. Tất cả những nghi thức ấy Đa đã được Thược nói trước, nhưng lúc này Đa quên hết. Đa thấy thấp thoáng như trong một giấc mơ. Nhiều hình ảnh, sự việc lướt qua không rõ ràng, nhưng đều hay, đều đẹp, lấp lánh ẩn hiện.
Thược ngồi bên cạnh Đa, thỉnh thoảng lại nhắc nhở Đa đứng lên hay ngồi xuống. Nhưng dần dần phút hồi hộp qua đi, Đa bắt đầu chú ý khi anh Minh đứng lên long trọng tuyên bố kết nạp Đa vào Đội. Anh nói đến cả cuộc đời của Đa, tính hay, nết tốt và cả những khuyết điểm. Chưa bao giờ Đa được nghe ai nói về mình như thế. Đa nhủ thầm: à ra thằng Đa như vậy đó. Đa có cảm giác lạ lùng khó hiểu, tưởng như con người mình thay đổi theo từng lời anh Minh nói.
Anh Minh nói xong, Thu bước lên bục:
– Bây giờ đến mục thứ năm, mời bạn Phạm Ngọc Đa, người đội viên mới lên phát biểu cảm tưởng.
Chao ôi! Mời bạn Phạm Ngọc Đa, chưa bao giờ có người gọi Đa như thế. Bấy lâu nay, Đa chỉ nghe những lời đay nghiến: cái thằng Đa mất dạy, cái thằng lười chảy thây, cái thằng không cha không mẹ, cái thằng trời đánh, cái thằng ôn vật, cái thằng chết nửa đời nửa đoạn, cái thằng đầu trộm đuôi cướp… Rồi thằng Đa băm bèo, xay lúa đi, dọn cứt cho anh mày đi, rửa bát đi… và những cái bạt tai, những làn roi, những ngày phơi lưng giữa trời nắng cháy, những đêm mưa dầm, gió bấc, nằm còng queo trong đống rạ. Ăn thì chỉ một bát úp cơm nguội, mấy quả cà thâm, mà phải mài rách đũng quần trên lưng trâu ngày này qua tháng khác.
* * *
Vào một ngày hè năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, ở bến Khuể, địa đầu huyện Tiên Lãng, người ta chen nhau bước xuống đò. Con sông Văn Úc ở đoạn này rộng mênh mông như biển. Dòng nước đục ngầu hung dữ, đôi bờ đã rộng, mà dòng nước còn muốn trào lên, vùng vẫy tưởng không còn biết đâu là bến bờ nữa.
Trong số người đi chuyến đò hôm ấy có một gia đình ông thợ mộc ở Phác Xuyên. Người chồng gánh một gánh đồ đạc lỉnh kỉnh, trên đầu đòn gánh treo một cái cưa. Người vợ gánh hai cái thúng. Một bên bát đũa nồi niêu, một bên là một thằng bé xếp bằng tròn, phía trên quấn chiếc chiếu rách như cái mui thuyền. Đứa con gái lớn đeo cái bị cói, đang nói chuyện, trêu đùa với em. Ra giữa sông con đò bị sóng dồi lắc lư. Thằng bé hai tay bám chặt miệng thúng, nhún nhảy reo cười thích thú. Con chị dọa em:
– Thằng Đa, mày có ngồi yên không thì chị ném xuống sông đấy. Mày đứng lên làm gì đấy, ngã bây giờ. Này, tao đố mày biết cái gì kia? – Con chị chỉ tay về phía chiếc gác chuông nhà thờ sừng sững ở bên kia sông.
Thằng em:
– Nhà xờ, nhà xờ.
Ông bố đứng lặng chống chiếc đòn gánh quay nhìn về quê nhà đang xa dần. Trước mắt ông lô nhô những nóc tháp chuông nhà thờ: Xuân Hòa, Xuân Quang, Thủy Nẻo, Đông Côn. Chúa cũng chẳng làm cho mọi người khỏi phải rời bỏ quê hương đi kiếm ăn nơi khác. Ông không đi đạo, nhưng trong chuyến đò này cũng có bao nhiêu bà con cổ đeo thánh giá xỉn màu, quần áo cũng rách rưới, lôi thôi lếch thếch như gia đình ông. Nét mặt họ nhẫn nhục, u tối.
Tại cái mảnh đất đồng chua nước mặn chẳng đủ nuôi sống người. Hằng năm, ông vác cưa đục đi lang thang kiếm miếng cơm chín. Việc làm ngày một hiếm. Bà con nghèo thì mấy ai thuê thợ làm nhà cửa, còn nhà giàu thì đã có bao nhiêu hiệp thợ có tiếng tăm đem lễ lạt đến xin việc, ai thuê đến người thợ nghèo nàn lẻ loi như ông. Tay nghề khéo léo của ông không mấy ai biết đến. Vợ con ở nhà lăn lưng làm thuê làm mướn, chẳng đủ miếng ăn. Ông nghe người ta đồn đâu trên Bắc Giang, Lạng Sơn, đất rộng người thưa, có thể lên đấy kiếm ăn được. Trong xã Bạch Đằng, đã có bao nhiêu gia đình phiêu bạt lên đấy. Nghe nói cũng có người làm ăn mát mặt. Ngày giỗ, ngày tết có đôi người trở về thăm quê cha, đất tổ, cũng thấy họ bận được bộ quần áo lành. Thế là ông quyết định đưa gia đình đi. Đành mang cái tiếng bỏ làng, nhưng hãy kiếm sống đã. Rồi ra đất mới chiều người, mình cố sức làm ăn khấm khá lên, khi ấy sẽ liệu. Thời thế đổi thay sẽ tìm cách trở về làng.
Gia đình ông phó mộc dắt díu nhau đi bảy tám ngày mới đến vùng Nhã Nam, Yên Thế. Ông gặp một gia đình người cùng xã đã lên trên này làm ăn ba bốn năm. Họ đã giúp đỡ ông qua những ngày đầu bỡ ngỡ, khó khăn. Ông dựng được một căn nhà nhỏ trên một quả đồi. Vợ con vỡ đất trồng khoai, trồng sắn. Ông vác cưa đục, đi làm thợ quanh vùng. Đời sống có đôi phần dễ chịu, nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi buồn tha hương.
Sau Cách mạng tháng Tám, cuộc đời đổi mới, quanh nơi ông ở, người ta nô nức làm ăn và hội họp. Ông chạnh nghĩ tới quê nhà. Cách mạng ở cả nước, chắc quê ông cũng đổi thay. Ông bàn với vợ con để ông về một chuyến, nếu xem ra thu xếp được yên ổn sẽ lên đón vợ con cùng về. Không ngờ ông về chuyến ấy rồi không bao giờ trở lên nữa. Ngày này, tháng khác trôi qua, vợ con ông chờ đợi mãi không thấy tăm hơi. Bà vợ nóng ruột, liền thu xếp nhà cửa gửi lại hàng xóm. Cái gì bán được thì bán lấy tiền giắt lưng. Ba mẹ con như bầy chim tìm đường về tổ cũ. Thằng Đa đã lớn, không phải ngồi trong cái thúng nữa. Nó chạy lon ton vượt lên trước từng đoạn xa, rồi ngồi chờ mẹ và chị. Nó đen, khỏe, đã đi chăn trâu, chăn vịt hộ cho người ta được rồi.
Ba mẹ con về đến đầu làng thì được tin ông phó mộc đã chết. Làng nước đã chôn cất cho ông, nay mồ đã xanh cỏ rồi. Trời ơi, sao con người ta phải chịu trăm cay nghìn đắng.
Ông phó mộc về đến nhà thì bị ốm, người ta bảo ông ốm ngã nước. Đường sá xa xôi cách trở, không có cách gì nhắn tin cho vợ con được. Ông nhắm mắt mà không được nhìn vợ con lần cuối.
Giặc Pháp, giặc Nhật xâu xé bóc lột làng xóm đến tiêu điều xơ xác, gây nên nạn đói khủng khiếp. Cách mạng còn mới, biết bao nhiêu khó khăn trong buổi chính quyền còn trứng nước. Giặc Pháp trở mặt, đánh chiếm Hải Phòng, sắp tràn sang Kiến An.
Bà mẹ Đa lại thấy trước mắt con đường tăm tối. Bà không muốn trở lên Bắc Giang nữa. Ba mẹ con làm một túp lều nhỏ dựa vào bờ tường đình, hằng ngày làm thuê kiếm ăn. Nỗi đau khổ và vất vả hút hết sức lực bà mẹ. Bà ốm đau mòn mỏi. Một đêm tháng bảy mưa to gió lớn, ba mẹ con ôm nhau ngủ trong túp lều. Gió tốc mái, mưa dột. Sáng ra trời tạnh, hai chị em thức giấc, gọi mẹ dậy, thì thấy mẹ đã chết cứng từ bao giờ!
Người ta thường nói: “Chết cha còn được ăn cơm với cá, chết mẹ liếm lá đầu đường”. Hai chị em mất cả cha lẫn mẹ, thì đến lá đầu đường cũng không có.
Hai chị em đi ở cho nhà chánh Bất. Mụ chánh có họ với Đa. Một giọt máu đào còn hơn ao nước lã, mụ chánh được tiếng nhân đức nuôi hai đứa cháu mồ côi. Thực ra là nuôi hai đứa ở, mà không phải trả tiền công. Người chị đã lớn, biết nghĩ đến đường xa. Cuộc đời nếu cứ đi ăn đi ở, làm cật sức mà không dành dụm được tí vốn liếng nào thì suốt đời không mở mày mở mặt ra được. Chị Ích siêng năng chịu khó, một vài bạn trai nghèo đánh tiếng hỏi làm vợ. Lấy chồng dù nghèo khổ đến đâu cũng còn hơn đi ở. Nuốt được miếng cơm của nhà chủ, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, lại còn phải chịu bao nhiêu cay đắng tủi nhục. Lấy chồng thì thoát thân chị, nhưng còn em? Bố mẹ chết rồi, chị có bổn phận chăm sóc em. Nó còn bé, tám chín tuổi đầu, đã phải thức khuya dậy sớm, làm đến còi cọc đi không lớn lên được. Nghĩ đến em, Ích đứt từng khúc ruột. Ích nghĩ nếu lấy chồng mà khá ra, thì em cũng còn được nhờ. Nhưng người con gái về làm dâu nhà người ta, đâu có thể định đoạt theo ý mình được. Chị để ý đến anh Khích, một anh con trai nghèo rớt mùng tơi. Chỉ một điều duy nhất khiến chị ưng lấy anh vì anh cũng một thân một mình, cha mẹ đều chết cả. Lấy người chồng trắng tay như vậy cũng khổ đấy, nhưng Ích thì có gì? Tất cả trông vào hai bàn tay, hai vợ chồng chung sức làm lụng thì chắc sẽ có miếng mà ăn, gây dựng lấy một tổ ấm riêng, thì thằng Đa có chỗ đi về. Không còn bố mẹ, không còn nhà cửa, thì lấy nhà anh chị làm nhà mình.
Ích ôm em khóc một đêm ròng. Hôm sau, Ích nói với chủ nhà rồi ôm bó quần áo, cắp cái nón rách về nhà chồng. Không cheo cưới, không dạm hỏi, không ai đưa đón.
Người chồng kiếm được mẻ cá, nấu bữa cơm cúng bố mẹ hai bên, rồi gọi Đa đến ăn gọi là mừng cho anh chị. Bữa cơm chung đầu tiên, đơn sơ mà đầm ấm. Đa ngon miệng chén thỏa thuê, ăn xong cười khì:
– Ba đời, hôm nay mới được bữa no, giá anh chị bữa nào cũng cưới nhau như thế này thì em khoái.
Ích nhìn em, rơi nước mắt.
Từ đấy, Đa có chỗ đi về, một túp nhà con mà sướng gấp vạn lần nơi tòa ngang dãy dọc. Năm sau, anh chị sinh đứa con đầu lòng. Đa rất mến cháu, và cháu cũng mến cậu. Hai cậu cháu thường quấn quýt nhau. Đa rất chịu khó làm đồ chơi cho cháu. Khi thì một con cua vác cờ. Khi thì cho đàn kiến khiêng kiệu, mỗi chân kiệu là một con ruồi. Khi thì lấy chỉ buộc ống bơ vào lưng cóc, cóc nhảy ống bơ kêu loong coong. Cháu vỗ tay cười tít, cậu cũng thấy vui. Những lúc ấy, Đa hết sức hiền dịu, thường cho cháu cưỡi trên lưng, bò khắp sân. Cứ có lúc ngơi việc là Đa trốn nhà chủ về chơi với cháu chốc lát. Đấy là những phút Đa vui sướng nhất. Anh chị nghèo, nhưng vẫn thường để dành cho Đa, khi bát cơm nguội, khi củ khoai. Ra đồng bắt được con cá nào, Đa đều giấu giếm đem về cho anh chị.
Cái quá khứ tuy chưa dài nhưng nhiều đắng cay chìm nổi ấy, khiến Đa khôn lớn dạn dày trước tuổi. Nhưng cũng như cái cây dại, Đa lớn lên không được chăm sóc vun trồng. Đa trở thành đứa trẻ ngỗ ngược, cục cằn, nhưng cũng dễ bất bình xúc động. Đa gây gổ, nhưng thèm muốn được an ủi vuốt ve. Đã yêu, đã thích, thì dù khó mấy cũng làm, đã ghét thì căm hờn, hằn học.
Giờ đây đứa trẻ ấy đang ngồi giữa căn nhà sáng trưng, giữa bạn bè thân ái, nghe tiếng gọi tên mình trang trọng.
– Mời bạn Phạm Ngọc Đa…
Họ mời ai đấy chứ. Đa nấn ná chưa đứng dậy. Rồi không biết từ đâu nước mắt trào ra giàn giụa. Đa chạy ù ra sân khóc rưng rức.
Lát sau, Thược đưa Đa vào. Đa ngượng nghịu đi lên bục. Thược hỏi ý kiến anh Minh rồi nói:
– Đề nghị các bạn trật tự, để bạn Đa phát biểu.
Đa ngước cặp mắt long lanh ướt nhìn mọi người, khuôn mặt bừng lên rạng rỡ trước ánh đèn:
– Kính thưa Bác Hồ, – giọng Đa trong trẻo vang lên – thưa anh phụ trách, thưa tất cả các bạn. Tôi là thằng Đa, Phạm Ngọc Đa, mười hai tuổi. Nghề nghiệp: đi ở, tại xóm Chùa, thôn Phác Xuyên, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An. Bố mẹ đã chết. Trình độ văn hóa: mù chữ. Hôm nay tôi rất sung sướng được lên đây phát biểu cảm tưởng. Được kết nạp vào Đội, tôi xin hứa tuyệt đối trung thành. Lớn lên một tí nữa, tôi xin khẩu súng để bắn chết hết bọn tây trắng, tây đen, bọn Việt gian, vệ sĩ, để Việt Nam hoàn toàn độc lập muôn năm! Bác Hồ muôn năm! Xin hết!
Đa giơ nắm tay gân guốc lên chào. Tiếng vỗ tay ran ran xen lẫn tiếng cười. Anh Minh bước lên giang tay ôm lấy Đa, rồi trịnh trọng quàng khăn đỏ cho Đa. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô rào rào nổi lên như sấm.