Xã được trên phát cho ba khẩu súng, năm quả mìn và bốn chục quả lựu đạn. Đám dẫn tổ du kích đi lĩnh về. Súng lấy được trong kho của địch còn mới toanh, nước thép xanh óng. Mìn và lựu đạn là do công binh xưởng của ta sản xuất. Tổ du kích ở lại nhà Đám lau súng và tập tháo lắp. Xã đội trưởng bảo vợ kiếm chút gì làm cuộc liên hoan nhỏ. Nhưng mụ Bền đã mua về rất nhiều thứ với hai chai rượu nặng. Ý mụ muốn chuốc cho bọn họ say để có thể moi được tin tức. Mụ còn đề nghị chồng đi mời anh Tường. Được mọi người tán thành mụ nhận luôn việc đi mời để dò xem anh Tường ở đâu. Nhưng khi mụ đến gặp Khoa thì Khoa trả lời không biết theo đúng cách giữ bí mật. Sau đó Khoa mới báo cho anh Tường biết. Vốn sẵn có sự nghi ngờ mụ Bền, Khoa nói anh Tường đừng đến, nhưng Tường vẫn đến. Anh cũng muốn nhân dịp này để dò xét thêm về mụ Bền, liệu mụ có phải do kẻ thù cài vào hay không.
Có Tường dự mọi người chỉ nhấp một chút rượu, bữa ăn kết thúc nhanh chóng. Trước khi về Tường dặn riêng Đám:
– Đừng phát vội số vũ khí này. Ngay đêm nay cậu phải cất giấu cẩn thận, một mình cậu làm và đem đầu ra bảo đảm. – Tường nhấn mạnh. – Cất giấu ngay và nói với anh em là khi nào phát sẽ báo. Đám ạ, cậu nên nhớ không phải chỉ có giặc ngoài mà còn thù trong nữa đấy, phải cẩn thận.
Tường vừa ra khỏi nhà Đám thì Khoa và Thu xuất hiện. Khoa nói:
– Anh đi rồi em vẫn áy náy nên gọi Thu cùng đi đón anh.
– Các em chu đáo quá. Tường cảm động.
Tháng chín năm 1950, Bộ Chỉ huy quyết định mở chiến dịch biên giới. Ở vùng đồng bằng bộ đội địa phương và dân quân du kích tăng cường hoạt động đánh địch để tiêu hao lực lượng và đánh lạc hướng mặt trận chính. Bộ đội tỉnh về xã Bạch Đằng trú quân để trinh sát và đánh bốt Đoàn Lập ở xã bên cạnh.
Bộ đội về thôn Phác Xuyên vào lúc nửa đêm, phân tán về ở trong các gia đình đã được báo trước. Đội thiếu nhi làm nhiệm vụ canh gác. Đa vốn quen nấu nướng nên được phân công nấu cơm cho bộ đội. Thu đưa bộ đội đi trinh sát bốt Đoàn Lập. Mọi việc được chuẩn bị kỹ càng nhưng khi nổ súng đánh thì không thắng lợi như dự kiến. Địch đã chống cự quyết liệt như đã có phòng bị trước. Bộ đội ta phải rút quân trước khi trời sáng. Đúng thế, chính mụ Bền đã bí mật báo cho cha Hiếu, và cha tự đi sang bốt Đoàn Lập báo tin lại, rồi cha vào ẩn trong nhà thờ Đông Xuyên.
Mụ Bèn cũng biết đã bị nghi ngờ, nên mụ gặp cha Hiếu xin được chuyển đi vùng khác. Cha Hiếu bằng lòng với điều kiện mụ phải tìm ra hầm bí mật của anh Tường.
– Phải tìm cho nhanh – cha Hiếu nói – để “nhắc chõ” chúng nó lần nữa thì ta mới yên tâm, và con sẽ được về Hải Phòng, về cõi “thiên đường” của con.
Từ đấy mụ lo làm nhanh công việc mà cha Hiếu giao. Hàng đêm mụ bí mật đi rình mò. Một lần mụ trông thấy một bóng người từ dưới đất nhô lên. Tuy đêm tối nhưng mụ nhận ra đấy là Thu, mụ đoán Thu vừa ở hầm anh Tường lên. Tuy không chắc chắn nhưng mụ vẫn báo với cha Hiếu là đã tìm ra hầm của Tường. Không ngờ mụ lại đúng.
Sau khi bộ đội chuyển đi được năm hôm, thì một toán địch từ trên quận kéo về Bạch Đằng. Dẫn đầu là thằng Ba Phay, và cạnh hắn là thằng Búa.
Đa chăn trâu ở gò cỏ cạnh miếu Âm Hồn. Lúc này, ngoài việc chăn trâu, Đa còn có nhiệm vụ canh gác. Khi phát hiện địch đang kéo quân hướng về xã mình, Đa chạy như bay về làng gặp Thu. Thu bảo cho Khoa biết để báo với anh Tường, còn mình chạy đến các nhà cán bộ. Đa cùng chạy theo Thu. Đến nhà anh Đám, anh Minh, cả hai anh đều đi vắng. Thu chợt nhìn thấy một dấu hiệu lạ ở bờ tường đất quét vôi nhà anh Minh. Một vòng tròn có mũi tên chéo qua vẽ bằng than.
Thu chỉ cho Đa xem rồi bảo:
– Cậu đứng đây và chú ý đến cái dấu hiệu này. Tớ chạy đi một lát sẽ quay lại ngay.
Một loáng sau, Thu trở lại:
– Đa ơi, bây giờ cậu đi xóm trên, mình xóm dưới, thấy nhà nào có dấu hiệu này thì xóa ngay đi, làm kín đáo đừng để ai trông thấy.
– Dấu này là gì vậy? – Đa hỏi.
– Còn gì nữa. Có đứa chỉ điểm, chó má thật.
Đa chạy đi, cái giỏ cua vẫn buộc bên hông. Xóa được ba dấu hiệu thì đến nhà Thược. Đa giật mình thấy địch đã đứng lố nhố đầy sân.
Đa nhìn vào vách nhà Thược, cái vòng tròn và mũi tên nằm lồ lộ ở đấy. Đa choáng người, đứng nấp ngoài bờ giậu lo lắng nhìn vào. Bà mẹ Thược đứng trước cửa nói với bọn lính. Một tên lính hỏi bà:
– Nhà này có mấy người?
– Chỉ có hai mẹ con tôi.
– Con bà đi đâu?
– Cháu đi cắt cỏ ngoài đồng.
Không. Thược hôm nay không đi cắt cỏ. –Đa biết thế. Có tiếng một đứa nào nói. Đa không nhìn rõ mặt.
– Chồng mụ mở hiệu thuốc bắc trên chợ Đôi.
– Con mụ ta làm gì?
– Đứa con gái mới mười ba, mười bốn tuổi, ở Đội thiếu nhi.
Một thằng lại hỏi mẹ Thược:
– Con gái mụ đâu?
– Tôi đã nói với các ông là cháu nó đi cắt cỏ ở ngoài đồng.
– Đúng không?
– Nếu sai tôi chịu tội.
Đối với Thược, Đa có thể quên mình để bảo vệ bạn. Đấy là người đã đánh thức trong tâm hồn Đa bao nhiêu điều mới mẻ, nguồn vui, ánh sáng và tình thương yêu.
Đa bước vào sân, dường như không chú ý đến bọn địch. Đa nói với bà mẹ Thược:
– Bác ơi, cái Thược gửi cháu giỏ cua đem về cho bác đây. Nó còn cắt cỏ đến trưa mới về.
Đa cởi giỏ cua, mắt nhìn bà mẹ Thược cốt cho bà hiểu được ý mình. Người mẹ hiểu ngay, đỡ lấy giỏ cua, khóe mắt đầy vẻ biết ơn:
– Cháu ở ngoài đồng về đấy à?
– Vâng.
– Cháu có ra ngoài đồng bây giờ thì bảo cái Thược về ngay hộ bác nhé.
Đa hiểu hai tiếng “về ngay”, liền nhận lời bà mẹ Thược rồi đi ra, phía sau gáy thấy hơi lạnh. Tuy vậy trong lòng tràn ngập niềm vui, Đa chạy tới các nhà khác.
Bọn địch ở nhà Thược cũng kéo đi, một đứa đạp mũi giày vào cái dấu hiệu trên vách.
Nhận được tin của Thu, Khoa chạy ngay đến gặp anh Tường. Lúc này, ở hầm anh có thêm ba người. Anh Đám, anh Minh đến bàn công việc và chị Văn, chị giao thông của huyện vừa đưa công văn đến.
Anh Tường bảo Khoa:
– Em lên và ngụy trang hầm thật cẩn thận. Xong rồi, em đừng nên ở gần hầm. – Tường đắn đo định dặn riêng Khoa một điều, nhưng anh lại thôi, thấy Khoa chần chừ anh giục – Em lên đi!
Khoa lên rồi, anh Tường nói:
– Bây giờ các đồng chí ở đây thôi, đừng lên vội.
Đám sốt ruột:
– Để chúng tôi lên phân tán ra còn kịp chán.
– Không kịp đâu. – Anh Tường nói một cách chắc chắn. – Chúng ta tập trung ở đây là thất sách. Nhưng, – anh mỉm cười – không may mà chúng tóm cả thì càng vui.
Anh nói vậy nhưng trong lòng đầy lo lắng. Anh vừa đọc chỉ thị mà Văn đưa đến. Cái chỉ thị đó chỉ một mình anh biết. Huyện đã xác nhận ý kiến anh: Mụ Bền là gián điệp. Huyện đã có thêm nhiều tài liệu về những hoạt động phản bội nguy hiểm của mụ. Huyện chỉ thị cho Tường theo dõi mụ thật sát, làm sao trong một thời gian ngắn có thể tìm ra được cả màng lưới tay chân của mụ ở trong xã. Khi cần thiết sẽ bắt ngay.
Bọn địch về xã hôm nay có những ý định gì? Liệu mụ Bền có biết cái hầm này không? Anh Tường cay đắng khi nghĩ rằng có thể mình đã chậm hơn mụ, có thể chỉ chậm một giờ khắc rất ngắn ngủi. Bây giờ phải tính đến khả năng xấu nhất. Anh nói:
– Hãy hủy tất cả tài liệu giấy tờ đi. Bàn cách đối phó với địch nếu chúng bắt được.
Đám nói:
– Lo thì lo chứ tôi chắc chẳng xảy ra chuyện gì. Có thể chúng kéo về để “đơm” thương binh, nhưng vồ hụt rồi. Còn cái “vía” của tôi dữ lắm, địch chưa đụng tới được đâu. – Đám cười hồn nhiên.
Đám chưa biết chuyện gì sắp xảy đến với anh. Cái sự việc ấy rõ ra, thì anh còn đau đớn hơn là sa vào tay địch. Lúc này chỉ có Tường biết, và anh đang lo sợ thay cho Đám. Anh càng xót thương người đồng chí của mình. Đám đã ở bên cạnh một con rắn độc mà vẫn tưởng đấy là người vợ khéo léo đảm đang, vẫn coi đấy là niềm an ủi và nguồn vui của mình. Tường đang phân vân xem có nên nói cho Đám biết hay không. Anh nghĩ hãy cố nén đến khi thật cần thiết. Vì nói bây giờ, có thể cái tính nóng nảy của Đám làm hỏng việc. Anh nói giọng từ tốn và nghiêm khắc:
– Tôi hết sức tin tưởng các đồng chí. Dù bị địch bắt, chúng ta không bao giờ phản bội. Nhưng chúng ta phải nghĩ đến việc thoát khỏi tay địch mà hoạt động. Các đồng chí phải nghe tôi trong lúc này. Nếu kẻ địch mò được hầm này, dĩ nhiên là chúng biết tôi. Các đồng chí ai có cách thoát được thì cứ thoát, đừng câu nệ. Cô Văn không được nhận là giao thông của huyện, cô nên nói là người xã bên, đến đây chỉ là chuyện tình cờ.
Minh nói:
– Tôi đề nghị anh Tường đội hầm lên ngay bây giờ. Có thể anh lẩn tránh thoát được.
– Không kịp nữa đâu. – Tường nói. – Vả lại, địch có thể chưa biết hầm này.
Tường vừa nói xong thì tiếng động ở bên trên đã vọng xuống. Không khí trong hầm bỗng lặng đi. Tường xòe diêm đốt tài liệu, khói làm mọi người phải bịt miệng ho sặc.
Tiếng cuốc đất thình thịch. Không còn nghi ngờ gì nữa, tên gián điệp đã nhanh tay hơn anh. Anh chưa kịp bẻ răng con rắn độc thì nó đã mổ vào anh rồi. Làm sao truyền được chỉ thị này đến cho Đàn, người mà chi bộ đã quyết định sẽ thay anh nếu anh bị bắt. Phải báo được cho Đàn ra tay ngay. Bắt mụ Bền tức khắc, nếu không thì hắn chuồn mất. Anh quyết định:
– Tôi nói với các đồng chí một điều hệ trọng. – Anh nhìn Đám mặc dù trong hầm tối không nhìn rõ. – Bọn địch sẽ bắt cả bốn chúng ta. Mọi người phải cố tìm mọi cách mà thoát khỏi tay địch. Nếu ai thoát được, thì đến báo ngay cho đồng chí Đàn, – anh nhấn mạnh – ra lệnh bắt mụ Bền tức khắc. Đấy là con gián điệp lợi hại chui vào hàng ngũ chúng ta lâu nay. Tôi nói lại: – Bắt mụ Bền, vợ đồng chí Đám!
Như có nhát búa giáng vào đầu, Đám kêu lên. Hai tay anh lẩy bẩy bám vào vai Tường.
Tường nói tiếp:
– Đấy là sự thực. Hãy thực hiện đúng chỉ thị của Đảng. Riêng đối với đồng chí Đám, đó là điều đau xót. Nhưng hãy nén tình cảm lại. Đảng tin đồng chí, nên mới nói cho đồng chí biết. Nếu đồng chí thoát được, thì việc đầu tiên phải báo với đồng chí Đàn, rồi do đồng chí ấy quyết định hành động. Đồng chí chớ nóng nảy mà làm hỏng việc. Bây giờ hãy tập trung vào đối phó với địch.
Cửa hầm đã lộ, ánh sáng rọi xuống rõ hơn. Tường xua đuổi mọi ý nghĩ rối rắm, anh nói giọng cứng rắn, tha thiết:
– Các đồng chí! Chúng ta hãy xứng đáng với Đảng, với nhân dân.
Tường thông cảm với nỗi đau đớn của Đám trong lúc này. Anh tìm nắm bàn tay Đám, bàn tay ướt mồ hôi. Đám nắm chặt lấy bàn tay người bí thư và nói với giọng âm thầm:
– Anh đừng lo cho tôi. Tôi không phụ lòng tin cậy của anh.
Hầm đã lộ. Phút cuối cùng, mọi người vẫn còn một tia hy vọng mỏng manh. Cái hầm này có ngách rất sâu, từ giữa vườn thông mãi vào dưới gốc một lùm tre. Không ai bảo ai, ba người đều có ý kiến bắt buộc Tường phải phục tùng. Họ đẩy anh vào tận cùng ngách hầm đó. Ba người sẽ lên và nói với địch rằng trong hầm đã hết người.
Tường nghe theo, nhưng anh biết là không có hy vọng gì, nên anh bình tĩnh chuẩn bị tinh thần cho mình.
Quả nhiên, khi ba người lên rồi, thằng Búa hỏi:
– Còn thằng Tường đâu?
– Dưới hầm không còn người.
– Đừng nói láo. Đừng bịp chúng tao.
Chúng đào được đến chỗ Tường ngồi thật vất vả. Khi đất đã rơi xuống bàn chân, Tường đứng vụt lên, đi ra giữa tiếng reo của địch. Ba người đồng chí của anh đã bị chúng trói thành một dây đứng đó, người nào cũng đã nếm đòn. Anh bắt gặp cặp mắt của thằng Ba Phay. Anh không nhìn hắn. Chung quanh anh ngổn ngang những đống quần áo, mâm nồi, bát đĩa. Anh giật mình khi nhìn thấy cụ Vớt, người chủ nhà đã đào cái hầm này cho anh ở. Ông cụ bị chúng đánh tơi tả nằm lịm đi. Lòng anh đau nhói, và suýt nữa không kìm được nước mắt, vì nghĩ đến cái nghĩa lớn của nhân dân đối với anh.
Địch không đánh anh, chúng trói anh vào chung cái dây với ba đồng chí.
Bọn địch tập trung rất đông. Một đống lửa cháy bùng bùng ở góc vườn. Hai tên lính cởi trần đang quay một con lợn trên đống lửa đó. Thằng Ba Phay ngậm thuốc lá, những ngón tay lùa vào mớ lông ở ngực đầy vẻ thỏa mãn về cái chiến công của hắn.
Tính đến hôm nay Tường về Bạch Đằng đã được năm tháng rưỡi. Năm tháng rưỡi trong cuộc đấu tranh gay go, có biết bao nhiêu sự kiện đã xảy ra. Những thành công, thất bại, vui, buồn, những bài học, những suy nghĩ lo âu, những tình cảm cao đẹp, cái gì cũng sâu sắc, cái gì cũng để lại dấu vết không phai mờ trong ký ức.
Thằng Ba Phay tay cầm con dao có vẻ lơ đãng, đến trước mặt Tường, hắn cười, giễu cợt:
– Tôi hân hạnh được đón tiếp ông lần này. Ông không có điều gì phàn nàn chứ?
– Có. – Tường đáp thản nhiên.
Ba Phay tròn mắt. Hắn đoán trước sẽ được một câu trả lời khác, hoặc là sự im lặng. Hắn hỏi:
– Ông nói đi, nói thẳng thắn.
– Ông hãy tha cho ông cụ già kia, – Tường quay mặt về phía cụ Vớt: – và đừng lấy của, đốt nhà người ta. – Anh đã nhìn thấy thằng Búa đang sửa soạn làm công việc đó.
Ba Phay nói:
– Nó chứa chấp ông, đấy là một tội lớn. Hơn nữa, khi chúng tôi đến đây lão già còn cứng cổ, tìm cách che giấu đến cùng.
– Vậy ông công nhận rằng nhân dân đã ủng hộ chúng tôi? – Tường hỏi lại. Thấy Ba Phay im lặng, anh nói tiếp. – Mục đích của các ông là bắt tôi, các ông đạt được rồi. Các ông thường nói là bảo vệ dân, không dám nhận là kẻ thù của dân. Nhưng hành động của các ông thì ngược lại. Các ông giết người đốt nhà, lòng căm hờn của nhân dân sẽ bùng cháy và các ông không thể nào dập tắt được. Tường cũng biết rằng đối với một thằng gian ác say máu như Ba Phay thì thuyết phục bằng lời lẽ chẳng ích gì. Nhưng anh cũng biết bọn địch trong lúc này còn muốn nắm dân bằng cái mặt nạ phỉnh phờ, nên anh lợi dụng cốt để cứu cụ Vớt.
Ba Phay hỏi đột ngột:
– Nếu các ông bắt được tôi thì sao?
– Cũng như các ông bắt được tôi. Nhưng chúng tôi xử tội ai đều có chứng cớ rõ ràng.
Ba Phay nhún vai, tia mắt hắn giận dữ:
– Nhưng lần này ông đã thua rồi, và tôi sẽ không nới tay đối với ông. Được, để tỏ ra tôi là người hiểu biết, tôi chấp nhận yêu cầu của ông.
Ba Phay gọi thằng Búa lại:
– Cho đi! – Hắn ra lệnh cộc lốc.
Thằng Búa nói:
– Dạ, tôi cho lính đốt nhà này xong thì đi.
Ba Phay khoát tay:
– Thôi.
– Sao ạ? – Thằng Búa ngạc nhiên – Cần phải nghiêm trị để làm gương cho kẻ khác.
– Có nhiều cách làm gương. – Ba Phay cau có – Anh hãy theo lệnh tôi, đừng hỏi nữa. Cần đi khỏi nơi này ngay.
Bọn lính khiêng con lợn quay còn chảy mỡ.
Hàng chục tên lăm lăm tay súng áp tải dây người bị trói.
Cụ Vớt nằm lại trên đống đồ đạc bừa bãi. Cụ đã tỉnh, nhưng sức đã yếu quá. Cái hầm bí mật bị đào bới như một vết thương chưa kịp băng bó đang chảy máu.