Cuộc họp kín trong nhà cụ Thoại có tám người. Ngoài anh Tường, cụ Thoại, có sáu cán bộ chủ chốt của xã, gồm những người vẫn bám đất và những người bỏ chạy mới trở về.
Thu và Khoa làm việc canh gác cho cuộc họp. Hai đứa ngồi dưới bóng một bụi tre cạnh bờ đầm. Ngồi đấy có thể nhìn dọc con đường nhỏ dẫn tới nhà cụ Thoại. Phía sau nhà đã có bà cụ canh gác.
Trong nhà anh Tường chủ trì cuộc họp kiểm điểm lại tình hình vừa qua, nhưng chủ yếu là bàn công việc phải làm trước mắt. Tường mời cụ Thoại phát biểu.
Cụ Thoại lấy khăn tay chấm mắt. Ngọn đèn trước mắt cụ nhòa thành một vầng sáng mờ. Cụ nhìn anh Tường rồi nói:
– Hồi đồng chí Dừa còn sống, có một lần tôi được nghe đồng chí ấy nói rằng thằng địch có đóng bốt ở xã ta, thì sẽ đóng ở Xuân Hòa, chứ không phải ở Xuân Quang. ý kiến ấy đến bây giờ ta thấy đúng. Đóng ở đấy tức là chúng nó thọc đúng con dao vào giữa trái tim của xã ta. Nhưng cũng có điều bất lợi cho chúng, vì giáo dân ở Xuân Hòa tốt, họ ở gần lão Hiếu tuy bị đầu độc lừa phỉnh, nhưng cũng thấy mặt xấu xa của lão. Khả dĩ mình có thể vận động giáo dân mà tranh đấu. Tôi ngẫm lời anh ấy nói phải.
– Vận động được dân thì chúng nó đã xây xong bốt, rước Tây về rồi, bố già ạ. – Đám nói trong hơi khói thuốc lào.
Đàn đứng về phía cụ Thoại, anh giải thích thêm:
– Địch dùng lửa, thì ta có cách chữa lửa.
Khi cháy nhà thì không ai còn muốn chậm chạp. Cái chính là làm sao cho dân biết địch đóng bốt ở Xuân Hoà, là đã đem lửa đốt nhà mình rồi đấy.
Tường muốn được nghe ý kiến của tất cả mọi người, anh hướng về phía Minh:
– Thế nào, đồng chí thanh niên?
Minh chớp mắt, một tay chống xuống chiếu, một tay xoay xoay chén nước chè, anh lắc đầu hất mái tóc lên rồi nói:
– Tôi nghĩ trong vấn đề này cần phải tạo ra một lực lượng mạnh toàn diện, như nhiều lớp sóng dâng lên ào ạt. Tôi đề nghị huy động lực lượng thanh niên đã đành, mà nên đưa cả thiếu nhi tung vào cuộc đấu tranh một cách thực sự.
Bên ngoài, Khoa ngồi một mình ở bờ đầm, chợt nhìn thấy một chiếc thuyền đang bơi từ giữa đầm tiến vào bờ. Trăng đã lặn, mặt nước sương phủ mờ, con thuyền ẩn hiện trong màn sương đó rồi rõ dần.
Khoa nhận ra dáng người cầm sào chống thuyền là một người đàn bà. Con thuyền nhẹ, lướt êm vào thẳng bờ chỗ Khoa ngồi. Khoa đứng dậy và nép vào gốc tre, sẵn sàng làm ám hiệu báo động khi cần thiết. Con thuyền ghé mạn vào bến. Khoa đã nhìn rõ người chống thuyền, lòng bớt hồi hộp. Khoa bước ra khi người đàn bà vừa đặt một chân lên bờ đầm:
– Chị Bền đi đâu khuya thế?
Mụ Bền giật mình, nhưng nhận ra Khoa, mụ trấn tĩnh:
– Chị đi chở ít rạ, định ghé vào nhà em. Ông có nhà không?
– Bố em đi đâu từ tối đến giờ, vài hôm nay ông cụ có ngủ ở nhà đâu.
Mụ Bền vẫn đứng một chân trên thuyền, một chân trên bờ, tay vịn cây sào. Mụ liếc nhanh vào nhà, bắt gặp ánh đèn nhỏ xuyên khe vách. Mụ bước hẳn xuống thuyền nhổ sào:
– Thôi, chị về vậy, kiếm ít rạ về lợp nhà, ban ngày chẳng có thì giờ mà làm. Em vào đi ngủ đi, ra đây làm gì khuya vậy, chắc lại ngóng bố hẳn. Chị về nhé. – Mụ đẩy mạnh đầu sào vào bờ, con thuyền lao ra mặt đầm và biến dần trong màn sương đục.
Trong nhà đèn đã tắt. Cửa liếp hé mở, từng người đi ra khuất vào bóng tối. Thu và Khoa đi vào sân. Anh Tường đang đứng đấy. Anh đặt tay lên vai hai đứa:
– Sương ướt đẫm áo rồi, có lạnh không?
– Không anh ạ.
– Ngồi xuống đây.
Ba anh em ngồi xuống thềm hè. Anh Tường nói:
– Bây giờ anh giao nhiệm vụ cho hai em.
– Vâng ạ. – Khoa ngoan ngoãn đáp.
Anh Tường thấp giọng:
– Thu vẫn làm liên lạc. Bây giờ chúng ta phải hoạt động bí mật, không có người liên lạc giỏi thì chẳng khác gì vừa câm vừa điếc. Công việc vừa không dễ dàng vừa nguy hiểm. Bọn địch rất thèm những điều bí mật của người liên lạc.
Thu thấy người nóng ran:
– Chúng đừng có hòng moi được nửa lời khai của em.
– Em phải nói chúng đừng có hòng bắt được em mới giỏi. – Anh nắm tay Thu nhìn Khoa nói tiếp. – Còn Khoa cũng có việc rất quan trọng là bảo vệ các anh. Em trông coi những hầm bí mật. Khi các anh xuống hầm thì em ngụy trang, khi có địch thì báo động.
Anh Tường nắm tay hai đứa:
– Anh hoàn toàn tin cậy các em. Còn bây giờ anh với anh Đàn về Xuân Hòa để lo liệu công việc.