Phạm Ngọc Đa

Lượt đọc: 228 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Gần sáng có một người đến nhà cụ Thoại. Lúc ấy Tường đang ngủ say, còn Thu đã về nhà. Cụ Thoại đã thức, mỗi đêm cụ chỉ chợp mắt vài ba tiếng. Vả lại có Tường ngủ trong nhà, cụ chỉ ngủ một nửa, đôi tai vẫn thức. Cụ nghe tiếng chân người bước vào sân, dù rất nhẹ. Cụ hé nhìn qua khe liếp, đôi mắt kém, chỉ thấy một bóng đen mờ cúi lom khom áp tai vào vách. Cụ đứng lặng một lúc, suy tính. Đấy là người ngay hay kẻ gian? Cụ lại giường nằm, rồi ho lên một tiếng nhỏ nhẹ bình thường như người già lúc trở giấc. Rồi cụ đi nhẹ ra cửa.

Ngoài vách vọng vào tiếng thì thầm:

– Ông ơi, ông ơi!

Cụ Thoại đã nhận ra tiếng quen, nhưng cụ vẫn im lặng để lắng nghe một lần nữa cho chính xác. Người kia lại gọi sẽ. Cụ Thoại vui mừng lách cửa bước ra ngoài:

– Anh Đàn hả?

– Vâng, con đây. – Người bên ngoài reo lên khe khẽ, rồi ôm chầm lấy cụ Thoại, người anh lạnh toát. Cụ Thoại kéo Đàn xuống bếp.

– Anh ở đâu về?

– Con vẫn ở lại làng.

– Mấy hôm rày nằm đâu? Lạnh hử, sao quần áo ướt vậy, ngồi dựa vào đống rạ này.

– Hầm nhà con bên cạnh bờ đầm nên nước thấm vào. Có ai về không ông?

– Chưa ai về? – Cụ Thoại giấu việc anh Tường về. Đàn là đảng viên còn trẻ, mới hai mươi hai tuổi. Cụ Thoại tin anh, nhưng lúc này cụ vẫn phải cẩn thận.

Đàn thở dài. Anh mệt lắm, mấy hôm nay nằm hầm dầm nước. Lúc đêm, anh cũng đã đến nhà cụ Thoại, gặp bà cụ ở ngõ, anh hỏi, nhưng bà cụ bảo không có ai ở nhà, và tìm cách khéo léo đẩy anh đi. Anh trở về nhà suy tính mãi, và bây giờ anh lại đến đây.

– Hồi khuya con đã đến tìm ông.

– Có, bà nhà tôi có nói.

– Thế, lúc ấy ông có nhà?

Cụ Thoại không đáp và hỏi lại:

– Bây giờ anh định sao?

– Con định tìm ông để bàn bạc xem. Chẳng lẽ lúc này lại nằm im, chịu bó tay. Nếu chưa có ai về, thì ông với con, hai đảng viên vẫn phải gánh lấy trách nhiệm lãnh đạo nhân dân. Nếu không thừa cơ hội này, bọn địch sẽ lấn tới, phong trào gay lắm.

Cụ Thoại thấy vui trong bụng, giọng nói của đồng chí trẻ vẫn toát ra sự hăng hái đáng tin cậy. Cụ nói:

– Sắp sáng rồi. Bây giờ anh quay về ngủ đi một giấc, tối quay lại đây chúng ta bàn. Việc thì gấp, nhưng cũng không thể vội vã xốc nổi.

– Trời, bây giờ được vùi đầu vào đống rạ này mà ngủ thì khoái quá ông ơi.

Chà, cái thằng vẫn còn tính trẻ con. Cụ Thoại suy tính rồi nói: – Được, muốn ngủ thì nằm đây mà ngủ, có động tôi sẽ gọi xuống hầm. Để tôi lấy cho cái chiếu.

Được ngủ ở đây, có sự bảo vệ của người đồng chí già, Đàn hoàn toàn yên tâm. Anh nằm khoanh vào giữa đống rạ. Rạ mới, nồng mùi thơm quen thuộc, ấm áp như ngày thơ ấu nằm khoanh trong lòng mẹ. Khi cụ Thoại mang chiếu xuống thì Đàn đã ngủ say. Cụ đắp chiếu cho anh rồi đánh diêm hút thuốc. Vậy là cơn sóng dữ đã qua, con thuyền lại có tay chèo lái. Cụ cảm khái ngâm khe khẽ một câu thơ cổ:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch…[1]

* *   *

Đêm qua, Đám và Minh cũng trở về. Từ chiều Đám bảo Minh:

– Tối nay tao về.

Minh ngăn:

– Anh Tường bảo đợi anh cho người sang gọi. Đám nói:

– Anh ấy dặn thế là vì cái tinh thần của chúng mình hạng bét. – Đám cay cú thú nhận

– Giặc đến, cán bộ bỏ nhân dân tếch sang để giữ lấy cái mạng, không hiểu sao tao cũng lú lẫn đến thế. Ở nhà, có chết còn vinh. Tao nghĩ thương anh Dừa một mình đứng mũi chịu sào, chết còn hơn khối thằng sống. Về rồi, tìm anh Tường báo cáo, tao dám chắc là anh ấy chỉ mừng chứ không trách. Mày xem, cả ngày hôm nay tao cũng như mày có dám nhìn mặt ai ở xã bạn. Người ta chửi thầm trong bụng đấy. Tưởng mấy ông cán bộ Bạch Đằng gan vàng dạ sắt gì, hóa ra miệng hùm gan sứa, chó má thật. – Đám lấy hai tay đấm vào đầu: – Mày còn trẻ, tao đã hơn ba mươi tuổi rồi mà còn ngu.

– Không phải là vấn đề ngu. – Minh nói gượng gạo – mà nên bình tĩnh…

– Chẳng vấn đề gì cả. Tao về, thế thôi. Mày sợ thì ở lại, mai tao cho người sang gọi về. Về làng chứ đến nơi xa lạ đâu mà lo.

– Anh về tôi cũng về, anh coi thường tôi thế.

Đám về đến nhà, vợ đi vắng. Nhà trống lạnh như nhà hoang. Hai đứa con ôm nhau ngủ ở xó nhà.

Vợ Đám, mẹ hai đứa bé chết đói năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, cái năm người chết đói như rạ. Vợ chết giữa đường, khi Đám đưa gia đình đi lên Bắc kiếm ăn. Anh vừa ăn xin, vừa làm thuê nuôi hai đứa con dại. Sau Cách mạng, anh về làng, già đi đến chục tuổi. Nhưng sống được rồi. Anh được chia ruộng tạm cấp. Mỗi lúc nhớ đến quãng đời cay đắng vừa mới qua anh thường răn con: “Chúng mày sướng mà không biết, không có Cách mạng thì tuyệt giống rồi đấy con ạ. Tao thương mẹ chúng mày không còn đến bây giờ”.

Anh vào dân quân rồi làm xã đội trưởng. Cái vóc dáng cao lớn gân guốc của anh trông có dáng quân sự lắm. Chật vật lắm mới học được dăm ba chữ (như anh thường nói).

Đám lấy vợ kế vào năm bốn tám[2]. Đã gần được ba năm nhưng chưa có con. Đến khuya vợ anh mới về. Anh sốt ruột tưởng vợ cũng bỏ chạy đi xã khác như mình. Cô ấy cũng ở trong ban chấp hành phụ nữ xã. Nhưng vợ anh không chạy. Đã về kia, vẫn cái dáng gọn gàng chải chuốt. Lại mặc cái áo lụa mỡ gà nữa chứ, giặc càn mà như là đi hội. Đám đã thấy nóng mắt, nhưng chưa kịp gắt thì Bền đon đả reo lên:

– Anh đã về đấy ư, ở đâu về thế? Tôi lại đằng nhà chị Thành, hai chị em bàn chuyện ngày mai đi chợ. Việc mình, lại việc của đoàn thể. Chán mớ đời, tính toán như bà ấy rồi có chuyến mất cả vốn. Tôi thấy máy mắt, vội bảo chị ấy có lẽ nhà tôi về, hóa ra anh về thật. Phụ nữ chúng tôi cũng định họp nhưng lại nghĩ phải đợi các vị lãnh đạo về. Chẳng biết có ai về hay không. Thương anh Dừa, hy sinh vì nước vẻ vang, mà trong lúc gay go, chôn cất không được đàng hoàng. Bây giờ như rắn mất đầu, chẳng biết rồi làm ăn ra sao. – Bền còn định nói nữa nhưng Đám ngắt lời:

– Thôi, để người ta hỏi một câu đã nào, tính gì mà đã nói là cứ như tháo cống.

– Ăn với nói, hỏi gì thì hỏi đi!

– Đi đâu về mà ăn mặc như bà hoàng vậy. – Đôi mắt Đám nhìn xoáy vào vợ, cố nén sự bực tức.

Bền thấy lạnh người, nhưng trấn tĩnh ngay và giọng nói trở nên nhẹ nhàng đằm thắm:

– Anh làm sao vậy, em đã nói là đến nhà chị Thành. Anh tưởng anh chạy đi rồi ở nhà vui vẻ lắm hay sao? Có vài bộ quần áo mấy hôm nay phải trốn tránh đầu bờ xó bụi lấm bẩn hết, em phải lôi cái của này ra mặc chứ báu gì. Mà cũng chỉ dám mặc ban đêm, chứ ban ngày mặc thế này người ta chửi cho ư.

Những lý lẽ đơn giản ấy xua tan nỗi nghi ngờ bực dọc trong lòng Đám, anh thấy bối rối:

– Thấy vậy thì nói vậy.

– Cái tính anh đáng ghét thật cơ. Nào anh định hỏi gì em?

Đám đã ngồi xuống giường, Bền lại ngồi cạnh và cầm quạt quạt cho chồng. Đám hỏi:

– Hôm nay mình có lại đằng cụ Thoại không?

Một tia sáng lóe lên trong mắt Bền. Bền nói dối:

– Em chẳng đến, ông cụ coi chừng cũng mất tinh thần.

– Bậy nào!

– Trách gì ông cụ, đến các anh còn bỏ chạy, nói gì người già. Hai ba hôm rồi mà chưa ai về, ông cụ biết dựa vào đâu.

Đám đắn đo:

– Bây giờ mình lại đằng ấy giúp tôi.

– Làm gì?

– Cứ lại xem có tình hình gì rồi về cho tôi biết.

– Có ai về đằng ấy hẳn?

– Đừng bép xép.

Bền xẵng giọng:

– Anh chúa coi thường phụ nữ. Đã không tin em, thì anh đi lấy. Em có là cán bộ ở cái xã này hay không?

Đám cười ngượng nghịu:

– Có vậy mà đã giận, Không phải là chuyện tin hay không tin. Nhưng mà chính tôi cũng chưa biết chắc. – Đám ghé tai vợ nói thầm. – Anh Tường về đêm hôm qua nhưng không biết có ở đằng cụ Thoại không?

– Anh Tường nào?

– Anh Tường Xuân Lai chứ còn Tường nào. Huyện cử anh ấy về thay anh Dừa.

Mắt Bền lại loé lên một tia sáng vui mừng độc ác.

* *   *

Bền chính quê gốc ở Phác Xuyên. Bố Bền lấy vợ ở Minh Đức, mới chuyển lên đấy ở nhà vợ. Mẹ Bền là một người buôn bán thập thành. Khi Bền lớn lên thì nhà đã có một cửa hàng buôn vàng ở phố huyện. Trong nhà có cái hòm sắt ba khóa, đựng đầy tiền giấy, và những nén bạc, nén vàng.

Lớn lên Bền theo mẹ đi khắp nơi phồn hoa. Sang Hải Phòng, lên Hà Nội, ngược Lạng Sơn, Đồng Đăng, xuôi Nam Định. Khi đi chỉ giắt trong lưng một cái túi nhỏ, khi về mang đầy tay nải hàng hóa quý. Bền là cô gái có sắc đẹp, cái đẹp vốn có của con gái Phác Xuyên, lại pha màu thành thị. Đôi tai cứ vài tháng lại đeo thay đổi một đôi khuyên, một đôi hoa các kiểu. Năm mười tám tuổi, cô gái cửa hàng vàng phố huyện lấy chồng. Lấy cậu Búa con ngài đội Đục người cùng phố.

Bố thằng Búa đi lính cho Pháp sang tận bên Tây rồi đóng đội và được thưởng “mề đay”. Lão Đục gửi tiền về tậu ruộng, và khi lão về hưu thì nhà đã giàu có. Ruộng cho cấy rẽ, thu thóc tô. Lão đem theo về một mụ vợ bé, mặt như lợn ỉ nhưng trát đầy phấn son. Lão làm cho người vợ cả già nua một dinh cơ trong làng trông nom ruộng vườn, còn lão và mụ vợ lẽ ra phố ở. Lão đem đứa con trai độc nhất của vợ cả là thằng Búa ra ở với mình. Lão Đục ngày xưa cũng nghèo, nhờ đi lính biết dành dụm mà phất. Vậy là nhà lão phát nghề võ, nên khi thằng Búa mười ba tuổi lão xin cho đi học ở trường “ăng-phăng-túp”[3] tận trên Đáp Cầu, Bắc Ninh.

Bố mẹ Búa nhằm cô Bền làm dâu. Sau năm năm, thằng Búa tốt nghiệp ra trường, được về phép thì gia đình cưới cô Bền cho nó. Đám cưới linh đình chưa từng có. Hai nhà đều giàu, thi nhau phô sự sang trọng và của cải. Pháo đốt ran, xác pháo phơi đỏ đường phố. Khách khứa từ Hải Phòng, Hà Nội cũng đổ về. Xe tay, gọng đồng bóng loáng, quần lượt áo là, đủ cả các ông, các bà, các thầy cai, thầy đội, lính tráng bạn của chàng rể. Đám cưới dựng rạp ăn uống hàng tuần lễ. Quan huyện sở tại cũng đến dự, thật cực kỳ sang trọng. Cưới xong, hết phép, thằng Búa đi. Hằng ngày nó về nhà vài lần. Bền vẫn theo mẹ đi buôn vàng. Bền có đẻ được một đứa con trai, nhưng được vài tháng thì thằng bé chết. Người ta bảo cái thứ mẹ đi buôn tứ xứ giang hồ thì thiết gì đến con cái.

Năm Cách mạng tháng Tám, lão Đục và mụ vợ lẽ đi đâu mất tích. Người thì bảo lão đi Tây, người bảo sang Nhật, người thì bảo ở Hà Nội, không ai biết đích xác. Thằng Búa cũng biệt tăm.

Cô Bền về ở nhà bố mẹ đẻ, và tuyên bố cắt đứt với thằng Búa – nó là thằng phản cách mạng. Cửa hàng vàng bề ngoài bé đi, nhưng của chìm vẫn còn nhiều, không ai đụng đến.

Ngày Chính phủ ta tổ chức tuần lễ quyên vàng để mua súng bảo vệ độc lập, trẻ con trong phố hát:

Đeo hoa chỉ tổ nặng tai

Đeo kiềng nặng cổ, hỡi ai có vàng

Đem vàng đổi súng cối xay…

Bền cất đôi hoa tai đi. Bà hàng vàng ủng hộ Chính phủ một lạng. Bà được mời ngồi ghế danh dự trong buổi mít tinh của huyện.

Giặc Pháp trở lại chiếm Hải Phòng, Kiến An, rồi về Tiên Lãng xây đồn bốt ở huyện lỵ. Bền lại đi buôn. Bền đi một mình, không phải theo mẹ nữa. Bền vẫn đẹp và béo ra, nhưng chưa lấy chồng, người ta bảo cô ấy chờ thằng Búa.

Một buổi Bền đi Kiến An về hơi muộn, sợ tối, Bền đi vội. Ra đến đầu tỉnh thì gặp hai tên lính, đang đứng nghênh ngang hút thuốc lá. Một thằng toét miệng cười duyên:

– Chẳng hay cô em xinh đẹp đi đâu về mà muộn vậy, có ai đợi cô em ở nhà không, hí… hí…

Bền cúi mặt bước đi, nhưng tên lính đứng ngáng đường. Thằng kia lè nhè:

– Trông thấy nàng mà lòng anh đây xốn xang bồi hồi mơ màng…

Bền lo sợ, quay mặt đi và tìm cách đối phó, thì chợt nghe tiếng bốp bốp phía sau, và một giọng nói ngờ ngợ:

– Định giở trò đểu hả? Cút!

Bền quay lại, một tên sĩ quan cao lớn có hàm râu con kiến đang mỉm cười trước sự sửng sốt của Bền.

Trời ơi, Búa!

Bền đứng lặng như người chôn chân. Thằng Búa nói:

– Em ngạc nhiên hả? Quả đất tròn em ơi. Anh mới đổi về đây, đã để ý tìm em, hôm nay mới gặp, thật là hạnh ngộ.

Bền vẫn không nói được lời nào, nước mắt rưng rưng. Nửa mừng, nửa sợ.

Búa cầm tay Bền:

– Hãy vào trong quán này nói chuyện. Chó má ơi, thế mà anh đã xa em năm sáu năm rồi đấy. Chao ôi, cuộc đời phiêu lãng giang hồ.

Bền giật nhẹ tay ra:

– Để hôm khác, hôm nay cho em về kẻo tối.

– Sao lại thế? Chẳng lẽ em quên anh rồi sao?

– Bây giờ gặp anh có nhiều chuyện, nhưng em chưa biết nói gì được, ngày mai em sẽ sang gặp anh.

Búa ghé sát vào mặt Bền, hàng râu con kiến ngọ nguậy: 

– Cảm động hả? Thôi được, ngày mai anh đợi.

Bền thấy đôi chân run bần bật vội nói:

– Vâng, mai em sang. – Rồi Bền bước đi vội vã.

Búa nói với:

– Sai hẹn thì đừng có trách đấy.

Đúng hẹn, hôm sau Bền sang, và những hôm sau nữa, cứ cách dăm bảy ngày Bền lại gặp Búa. Có hôm Bền ăn cơm cùng Búa, có hôm ngủ lại trong một nhà ở phố mà Búa đã mượn để tiếp Bền.

Bền thành thật kể hết mọi chuyện trong những năm vắng Búa, và cũng không giấu những tình cảm nhớ thương chồng. Trái lại Búa lảng tránh không kể chuyện mình.

– Đời lính tráng nay đây mai đó, em biết đấy, có gì đáng kể.

Cái quan hệ gần như công khai đó, nhiều người đã biết, và chắc rằng hai đứa lại sống chung với nhau. Bền cũng muốn thế, nhưng đã lâu không thấy Búa đả động đến, Bền hỏi:

– Bây giờ anh bảo em làm sao?

Thằng Búa vờ ngạc nhiên:

– Anh tưởng em chẳng bao giờ hỏi tới chuyện đó. Vì mọi việc đã rõ ràng. Chúng ta đã đi hai con đường khác nhau, gặp nhau vì chút tình xưa nghĩa cũ, làm bạn với nhau như vậy là tốt.

Bền như người rơi xuống vực thẳm, nhìn xoáy vào hàm râu con kiến của thằng Búa, tưởng như sự đểu cáng lật lọng ở đó mà ra.

– Sao anh không nói với tôi từ hôm đầu?

– Á à – Thằng Búa nheo mắt – sự đời đâu có đơn giản vậy cô em.

Bền cố vớt vát:

– Chung quanh người ta đã coi tôi với anh trở lại sống với nhau, và tôi cũng nghĩ như vậy.

– Người ta nói thì mặc xác người ta. Còn em cũng nghĩ như vậy thì anh sẽ đền bù. – Hắn rút một nắm giấy bạc trong túi ra đặt trước mặt Bền. – Gọi là chút tiền tặng cô làm vốn buôn. Đời lính tráng nghèo vậy thôi, đừng chê.

Bền ném tập giấy bạc lại, rồi ra về. Tưởng từ đấy sẽ hoàn toàn cắt đứt với thằng chồng cũ. Nhưng sự đời lại diễn ra một cách khác. ít lâu sau, thằng Búa được cử về làm quận phó Tiên Lãng. Hắn nghĩ tới Bền, nhưng không phải để nối lại tình duyên, hắn đã có vợ khác, mà để dùng Bền với mục đích khác. Và Bền không có cách nào thoát khỏi bàn tay hắn.

Thằng Búa về Tiên Lãng được một tháng, thì Bền bỏ về Phác Xuyên ở nhờ nhà bà cô, với lý do để tránh mặt thằng quận phó, và để có thể đóng góp sức mình vào công cuộc kháng chiến.

Rồi Bền lấy Đám, anh xã đội góa vợ có hai con. Người thì khen, kẻ thì chê. Mấy đứa bạn buôn cũ dè bỉu: “Thế giới này thiếu chó gì đàn ông, mà đi lấy cái thằng khố rách áo ôm ấy”. Bền cười: “Tao thích thì tao lấy”. Có kẻ bảo vì bị thằng Búa phụ bạc nên Bền giận thân giận đời mà lấy lão góa vợ.

Đám lại càng không hiểu vì sao mà Bền lấy mình. Mọi việc gần như Bền lo liệu cả, kể cả cái ý nghĩ lấy Bền cũng do bà cô Bền đến gợi cho anh. Vì vậy khi lấy nhau rồi anh vẫn còn bàng hoàng nửa mơ nửa tỉnh.

Ngoài Bền ra, thì chỉ có thằng Búa biết cái nguyên nhân hai người lấy nhau, vì chính hắn gợi ý cho Bền. Hắn đã dùng quyền lực vừa dụ dỗ vừa ép buộc Bền làm tên gián điệp chui vào hàng ngũ ta để phá hoại từ bên trong. Đám vô tình trở thành cái mộc để che cho Bền hoạt động.

Khi Đám ở Quang Phục về nhà, là lúc mụ đi gặp cha Hiếu. Đám đã vô tình báo cho mụ cái tin quan trọng là anh Tường về Bạch Đằng, cái tin mà cha Hiếu đang cần biết. Tất cả sự chăm sóc ân cần của mụ đối với Đám, là để trả công cho chồng về cái tin đó.

❀ ❀ ❀

[1] Thù nước chưa báo được, đầu đã bạc.

[2] 1948.

[3] Trường Thiếu sinh quân của Pháp.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Xuân Sách

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.