Trời sáng, Tường cùng Thu qua khe cửa đình nhìn ra chung quanh. Mặt trời lên độ con sào thì lác đác có người vác liềm hái ra đồng đi gặt. Rồi dần dần người ra đông. Cánh đồng nhấp nhô nón trắng, những dáng người lom khom, những cây đòn xóc cắm bờ, những tay lúa vung lên lấp loáng ánh mặt trời. Có tiếng nói rì rầm, rì rầm. Nhìn cảnh tượng ấy, Tường thấy vui.
Không, bà con mình không phải đã hoang mang, mình còn đất sống. Phải về nhanh để kịp cùng đồng bào tổ chức cất giấu thóc lúa, không để công lao mồ hôi nước mắt lại lọt vào tay địch. Mùa này lúa tốt, giữ được thì có ăn, phong trào dễ bề nâng lên được. Tường phân vân tính toán, anh có ý định ngay bây giờ sẽ xuống đồng cùng gặt với đồng bào, qua đó có thể tìm hiểu tình hình. Nhưng từ phía Xuân Lai, một toán lính địch đang đi ra dọc theo bờ đầm. Toán lính hơn hai mươi đứa, tiểu liên đeo trước ngực, đội mũ vải rộng vành. Chúng cứ dọc theo bờ đầm đi về phía đình. Đi đầu là một thằng Tây thấp béo, ngăm ngăm đen. Hắn cởi trần, mặc độc cái quần “soóc” ka-ki màu xám. Bộ ngực hắn đầy lông hoe vàng. Tay hắn cầm con dao lăm lăm. Thu nói nhỏ:
– Thằng Ba Phay!
Ba Phay là tên sĩ quan chỉ huy cả vùng này, khét tiếng gian ác. Dường như quanh năm hắn cởi trần. Hắn ít dùng súng, trong tay luôn có con dao nhọn to bản như dao chọc tiết lợn. Hắn đánh người, giết người đều bằng dao. Không hiểu do đâu, đồng bào ta biết lai lịch của hắn. Bố hắn người Pháp, mẹ – người châu Phi. Bố mẹ hắn chết sớm, và hắn vào lính từ khi biết cầm súng. Không còn nghề gì hợp hơn đối với hắn ngoài nghề đi lính. Hắn sang Việt Nam từ lâu, từ trước ngày ta làm Cách mạng tháng Tám. Từ một thằng lính trơn vô học, hắn nhảy lên làm quan ba, là do tính mẫn cán, và thói giết người không ghê tay của hắn. Hắn thông thạo tiếng nói và phong tục Việt Nam, nên người ta thường gọi hắn là loại Tây “mắm tôm”.
Về mùa nắng, hắn càng say máu. Con dao của hắn không mấy ngày là không vấy máu người. Cả vùng này ai cũng gờm hắn. Những đứa bé khóc, có nhiều bà mẹ thường đem thằng Ba Phay ra dọa con. Hắn trở thành hung thần trước mắt lũ trẻ.
Ta đã chủ trương tìm cách giết hắn. Hắn biết hắn đang sống giữa bể căm hờn, nên rất chú ý đề phòng. Dưới tay hắn có một đội lính bảo vệ đặc biệt do hắn huấn luyện, và được trả lương cao. Toán lính, bây giờ đang đi với hắn đây, toàn lính nguỵ, đều là những đứa đã dày tội ác, nặng nợ máu với nhân dân.
Chúng đi qua đình rồi vòng xuống bờ ruộng quanh những đám lúa có đông người gặt. Ngồi trong đình. Người Tường nóng bừng, nắm gạo rang nhai trong miệng không thể nào nuốt trôi. Dưới ánh mặt trời tháng năm như thiêu như đốt; con dao của Ba Phay thỉnh thoảng lại vung lên loang loáng cảm thấy lạnh buốt xương sống.
Bọn địch đi một vòng, rồi quay về nhà thờ Xuân Hòa. Chúng ăn cơm trưa ở đấy. Ba Phay được cha Hiếu mời lên trên gác. Một mâm cơm thịnh soạn bày ra bàn. Một chai rượu tây còn mới, hai cái cốc thủy tinh có chân cao. Người bõ già đứng túc trực để lo quạt cho hai vị chủ, khách. Ba Phay lấy khăn nhúng vào chậu nước, lau mồ hôi khắp người. Vừa lau hắn vừa è è trong cổ họng. Rửa xong, Ba Phay ngồi vào ghế nói với cha Hiếu:
– Xin lỗi cha, ở xứ này phải cởi trần mới chịu được.
– Ông cứ tự nhiên. – Cha Hiếu vừa nói vừa ra hiệu cho người bõ mở chai rượu.
Ba Phay nhìn người bõ già rồi nói:
– Hôm nay tôi muốn bàn với cha một số công việc.
Cha Hiếu bảo người bõ già sau khi rót rượu xong:
– Cho anh xuống nhà.
Ba Phay vừa ăn uống vừa nói, cái mồm hắn nói tiếng Việt thành thạo, như bàn tay hắn cầm đũa:
– Tôi biết chuyện thằng Dừa. Ông đừng trách thằng Gộc, giết được một con hổ, cả bầy cáo sẽ sợ. – Hắn tợp một hớp rượu, rồi đưa bàn tay xoa cái ngực đầy lông.
Cha Hiếu khoát tay:
– Đấy là việc của các ông.
Ba Phay ngã người ra ghế cười khục khục, mắt hắn nheo nheo nhìn cha Hiếu đầy vẻ chế giễu:
– Đấy là việc của chúng ta. – Hắn nói bằng tiếng Pháp – Hai người cùng đi dưới trời mưa, thì cùng chịu ướt.
– Nhưng một người có dù che thì sao? – Cha Hiếu đáp lại.
Ba Phay giơ thẳng bàn tay:
– Chính ông là người có dù che. – Hắn vỗ vào ngực – Tôi cởi trần, còn ông mặc áo của Chúa. Chúng nó tìm cách lấy đầu tôi, còn ông vẫn đứng trên bục giảng đạo.
– Nhưng các ông có súng. – Cha Hiếu rót đầy cốc rượu – Bao giờ các ông sẽ cho chúng tôi vũ khí?
Ba Phay đã ngà ngà say:
– Bao giờ ư? Bao giờ cái nhà này biến thành lô cốt – Hắn nhún vai – Xin lỗi ông, bao giờ ông thay cái áo chùng thâm bằng bộ quân phục của chúng tôi, thay cây thánh giá bằng con dao như của tôi thường dùng vậy.
Cha Hiếu đỏ bừng mặt. Ba Phay lại cười:
– Tôi vốn thô lỗ. Nhưng tôi đã biết có những cha đạo làm như vậy. Rút cục, bằng cách này hay cách khác, chúng ta cũng… – hắn chắp hai bàn tay, ngón đan lại với nhau giơ lên – Súng không thiếu, cần đưa lính về đây, chúng tôi sẽ đưa về. Nhưng đưa về rồi lại phải rút đi, thì đó là điều tôi không muốn một tí nào. Ông hiểu chứ?
– Tôi sẽ làm tròn bổn phận của tôi. – Cha Hiếu bình thản đáp.
Cha Hiếu cũng đứng dậy rót đầy hai cốc rượu, rồi cả hai cùng chạm cốc.
* * *
Đến đêm Tường và Thu về nhà cụ Thoại. Đêm nay cụ không thắp đèn, căn nhà tối om, nhưng cái cửa liếp vẫn mở hé. Thu ghé mặt vào bên trong cửa se sẽ gọi.
– Ông có nhà không ông ơi!
– Thu đấy à?
Que diêm xòe lửa, ngọn đèn được thắp lên. Tường lách cửa vào theo Thu. Thu ghé gần lại cụ Thoại:
– Anh Tường cùng về với cháu đấy.
– Anh Tường nào? – Cụ Thoại lấy tay che ngọn đèn và nhìn ra cửa.
Tường lại gần, giọng xúc động:
– Tường Xuân Lai đây ông ạ, ông còn nhớ không?
Cụ Thoại đã nhận ra tiếng người quen, vội đứng dậy:
– Anh Tường, tôi nhớ chứ, anh trên huyện về ư?
– Tôi được huyện cử về đây thay đồng chí Dừa.
Cụ Thoại đưa cả hai tay nắm lấy tay Tường, đôi tay ông già run lên:
– Thật không?
– Dạ, thật.
– Thế, ăn cơm chưa? – ông cụ càng nghẹn ngào.
– Đã ăn gạo rang rồi.
Cụ Thoại định quay vào gọi Khoa, nhưng hai mẹ con đã dậy từ lúc nào, và đang đứng ở sau lưng cụ.
– Cái Khoa đi nấu cơm cho anh ăn, con.
Bà Thoại:
– Nấu cơm nếp ông nhá.
– Được, được, đi nấu ù đi.
Khoa gọi Thu cùng xuống bếp, Thu đi theo
Bà Thoại đi ra ngoài cổng xem chừng động tĩnh. Bà vẫn quen làm công việc canh gác cho các buổi họp.
Cụ Thoại rót nước mời Tường uống, đôi tay còn run. Chưa bao giờ ông già lộ xúc động nhiều như thế. Có người về thay Dừa, người ấy lại là Tường, đúng lòng mong muốn của người đồng chí già.
Tường khoan khoái hút luôn hai điếu thuốc lào cho đã cơn thèm. Thế là rõ, không cần phải nói nhiều , không cần phải thăm dò thử thách nhau nữa. Bây giờ chỉ có việc nghỉ ngơi chốc lát, rồi bắt tay vào công việc. Uống xong chén nước, Tường hỏi:
– Hầm thế nào ông?
– Cái cũ tôi lấp rồi vì sợ lộ. Ta sẽ đào cái khác.
– Vâng, ta đào ngay bây giờ.
– Ăn cơm đã, đêm tối chúng chẳng dám mò đến đâu. Tình hình chưa đến nỗi kẻ địch muốn làm gì thì làm.
– Lần này, thì phải đào nhiều hầm đấy ông ạ.
– Các cậu nhà mình về tất chứ?
– Ngày mai sẽ gọi các đồng chí ấy về. Tôi đã gặp Đám và Minh ở Quang Phục.
Ông già phân vân:
– Còn mấy cậu chạy lên Cựu Đôi, ở vùng địch, vậy ta có gọi về không?
– Nhiều không ông?
– Có vài ba cậu vốn có họ hàng ở trên ấy.
– Theo ý tôi, càng cần phải gọi về, lúc này ta không được để mất cán bộ.
– Tôi cũng tính vậy. Ở vùng địch ngộ xảy ra chuyện gì thì nguy hiểm lắm… Để mai tôi bảo bà nó đi chợ Đôi tìm cách báo cho các cậu ấy về.