Phạm Ngọc Đa

Lượt đọc: 228 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20

❊ ❊ ❊

Năm nay mưa muộn. Sang đầu thu, trời mới đổ những cơn mưa rào. Cứ chập tối, không khí ngột ngạt oi bức. Phía chân trời mây dựng lên và sấm chớp ầm ì. Đến đêm trời đổ mưa suốt đến sáng mới tạnh. Cơn mưa như xối, cuốn hết những rác rưởi, mặt đất trở nên sạch sẽ.

Kéo dài hàng tuần lễ, cứ đêm mưa ngày nắng như thế, trời mới bắt đầu chuyển. Không khí trở nên mát dịu. Bầu trời cao lên, mây mỏng xốp dán lên nền trời xanh thẳm. Ngoài đồng, lúa mượt màu xanh thì con gái.

Nhưng lại chính vào những ngày thu êm ả đó, xã Bạch Đằng và cả huyện Tiên Lãng bước vào trận chiến đấu nóng bỏng, bước vào trận chống càn lớn nhất trong lịch sử kháng chiến của huyện mình.

Địch mở trận càn lớn mang tên Cờ-lốt[1]. Chúng huy động một lực lượng gồm hai mươi tiểu đoàn quân tinh nhuệ cùng với máy bay, tàu chiến, xe tăng, xe bọc thép, càn vào một khu vực nhỏ hẹp gồm một số xã vùng du kích của Tiên Lãng. Trận càn kéo dài gần một tháng. Từ hai mươi tháng tám, đến ngày mười chín tháng chín.

Chiều ngày hai mươi mốt, một chiếc máy bay “bà già” vè vè lượn trên vùng trời xã Bạch Đằng. Ngoài đường cái số 25, địch cấm dân đi lại. Xe chạy bốc bụi mù, ầm ĩ, sầm sầm như động đất.

Khác những lần trước, lần này dựa vào lực lượng đông, càn quét dài ngày, nên chúng có vẻ không cần đến sự bất ngờ, mà còn phô trương lực lượng để khủng bố tinh thần đối phương.

Sáng ngày hai mươi hai, như thường lệ, địch bắn những loạt đạn đại bác mở đầu. Đạn nổ đồng loạt trên một phạm vi rộng. Riêng ở Bạch Đằng, những loạt đạn đầu tiên rơi vào nơi mọi người không ngờ nhất: đạn rơi vào nhà thờ.

Chúng nó bắn nhầm chăng? Người bõ già nghe tiếng đạn nổ gần, hốt hoảng chạy lên gác vào phòng cha Hiếu. Ông bõ vừa đập cửa, cửa đã mở tung, căn phòng trống không. Cha đi đâu? Một loạt đạn đại bác nữa nổ, cửa kính căn phòng rung loảng xoảng.

Chúng không bắn nhầm. Gác chuông nhà thờ Xuân Hòa là mục tiêu của đạn rơi. Từ đêm trước, cha Hiếu đã xách va ly đi khỏi xứ này, không kèn trống, im lặng âm thầm như kẻ đi chịu nạn. Cha đã thực hiện ý định của mình, bỏ cái đất cứng đầu cứng cổ này, bỏ bầy con chiên đã mất lòng tin đối với cha.

Cha Hiếu đi xứ khác, trong tay cha đã có chiếc va ly đầy vàng bạc, mà cha đã vơ vét, tích trữ mấy năm nay. Lạy Chúa, thế là đủ. Cha bỏ ngoài tai mọi lời nguyền rủa phỉ báng, miễn là thoát được cái nơi mà ở đấy họ biết đến cái tổ chấy của cha, có thể treo cổ cha lên không oan uổng.

Và bây giờ là những loạt đạn đại bác nổ mỗi lúc một dồn dập. Từng tốp máy bay khu trục cất cánh từ sân bay Cát Bi tới thả bom, và xả đạn xuống những rặng tre. Ngoài đường cái, xe nối nhau chạy, đổ quân xuống từng chặng. Tiếng hò hét, tiếng còi, tiếng giày đinh nghiến trên đá sỏi. Với lực lượng dày đặc ấy, với sắt thép ấy, dưới mắt chúng, mấy cái làng xóm chơ vơ yếu đuối kia, chẳng mấy chốc sẽ bị giày xéo, sẽ bị đè nát dưới gót giày.

“Khi chúng ta đã đi qua tất cả chỉ còn là bãi tha ma…” đấy là lời một bài hát của quân xâm lược.

Suốt đêm qua anh Đàn chạy đến khắp nơi xem xét tình hình, đến sáng mới về nhà xã đội trưởng, anh nói với Đám:

– Lần này chúng sẽ quyết liệt với ta. Ta phải tránh chỗ mạnh của địch, bảo toàn lực lượng rồi tìm chỗ sơ hở của chúng mà đánh.

Có thể chúng nó sẽ càn quét nhiều ngày. Xã mình hẹp quá, chui xuống đất chưa chắc đã yên. Phải phân tán luồng càn, tìm nhiều cách mà đánh. Anh em ta đã trưởng thành hơn trước nhiều nhưng không được chủ quan.

Đám đem theo Đa đi kiểm tra các vị trí của du kích, và bây giờ trở lại hướng đầu làng Phác Xuyên. Phía Quang Phục, địch đã bắt đầu tràn sang cánh đồng. Phía đường 25, chúng chỉ bước mấy bước nữa là vào xã. Riêng hướng Minh Đức, địch vẫn giập giờn ở xa.

Đám nói với anh em du kích:

– Coi chừng chúng nó nghi binh.

Một loạt đạn đại bác nổ dăng hàng trên cánh đồng màu, dựng nên một bức thành khói bụi dày đặc chắn ngang tầm mắt. Khi tan bụi, thấy địch thưa hẳn đi, Đám bảo Đa:

– Mày chạy lại chỗ cây gạo xem có cậu nào leo lên cây quan sát hay không. Nếu không, mày leo lên xem, rồi về đây báo ngay.

* *   *

Đa chạy đến cây gạo, giật mình nhìn thấy một anh du kích nằm vật dưới gốc cây, máu thấm loang cả một khoảng đất. Đa cúi xuống, anh du kích mở đôi mắt đã lạc con ngươi. Đa gọi khẽ, anh du kích cựa mình, cặp mắt đã tinh lại. Anh ra hiệu, Đa ghé sát xuống. Anh thều thào:

– Địch theo Con Cừ vào chân làng, chạy đi báo…

Như con sóc, Đa leo nhanh lên cây gạo, và nhìn thấy ở Con Cừ, địch nối nhau lom khom tiến vào. Đa tụt xuống nói với anh du kích:

– Anh nằm đây em đi báo tin và gọi cứu thương đến.

Đa chạy đến chỗ anh Đám. Nhưng không kịp nữa rồi. Địch đã vào làng nổ súng và hét “a-la-xô” váng lên. Đám đang chạy tìm Đa. Thấy Đa, anh nói:

– Mày đi báo các tổ du kích rút xuống hầm ngay. Chó má thật, nó vào đến đít mới biết. Báo xong, mày cũng phải xuống hầm.

Địch đã nghi binh, chúng lợi dụng khói bụi của đạn đại bác tiến theo Con Cừ vào làng. Anh du kích trên cây gạo đã phát hiện thấy, anh tụt xuống để đi báo, nhưng một loạt đạn đã làm anh ngã, khi đang ở lưng chừng thân cây. Anh bị thương nặng không thể chạy được nữa.

Lực lượng quá chênh lệnh, du kích lại bị bất ngờ. Tuy vậy, một vài tổ đã nổ súng tiêu diệt được một số địch rồi mới rút xuống hầm.

Chúng đã vào đặc hai nhà thờ Xuân Hòa, Xuân Quang. Chúng đập giày cho đất bùn rơi ra đầy sân gạch nhà thờ. Chúng tập trung ở đấy rồi mới chia ra từng toán đi vào làng lùng sục.

Ở đình, giữa hai thôn Phác Xuyên, Xuân Lai, địch đang phá cây cối. Chúng đổ chất ét-xăng đặc vào chân cột đình rồi châm lửa đốt. Cái đình có cột gỗ to, một người ôm không xuể, xây dựng từ lâu đời, bắt đầu bốc cháy như một bó đuốc khổng lồ. Ngọn lửa đỏ đọc cháy rừng rực.

Đa chạy về phía nhà bà Tẹo. Địch chưa đến xóm này. Đa chợt nhớ đến Thược. Đa chưa kịp cùng Thược đào hầm riêng, bây giờ không biết Thược tránh ở đâu. Vừa may, Đa đã thấy Thược đang đứng trong vườn bà Tẹo bên gốc chanh yên. Đa mừng quá:

– Tôi đang lo bạn chưa có hầm tránh.

Thược đáp:

– Sáng sớm, gặp cu Thau đánh trâu đi, nó bảo tôi đến hầm này.

– Ta xuống hầm thôi, chúng nó đến nơi rồi đấy.

Đa lại mở cửa hầm xuống trước. Thược xuống theo.

– Áo bạn đâu rồi? – Thược hỏi, chợt nhìn thấy tấm lưng trần của Đa lúc vào hầm.

Nghe Thược hỏi, Đa mới để ý, và cũng không nhớ cái áo đứt cúc của mình, mình đã cởi nó ra từ lúc nào.

Vừa xuống hầm, Đa và Thược đã nghe tiếng súng nổ trong xóm và tiếng bước chân địch đi lại rất gần.

Đến non trưa, hầu như địch đã hoàn toàn làm chủ tình hình trên mặt đất. Nhưng bọn đi sục sạo thỉnh thoảng vẫn chết vì vấp lựu đạn, vì sa các hố chông. Bây giờ chúng tập trung lại từng khóm để nấu ăn. Chúng đang lùng nồi niêu, bát đĩa, và các thứ ăn được.

Một toán lính Tây vào nhà bà Tẹo. Chúng bực bội sau khi khua khoắng không kiếm được cái gì ăn trong căn nhà trống không. Chúng ra vườn và trông thấy cây chanh yên. Chúng đặt khẩu súng cối xuống vườn, tranh nhau hái quả, dùng lưỡi lê cắt ăn. Quả chưa chín, chúng nhai cả vỏ, vừa the vừa đắng. Mặt thằng nào cũng nhăn như khỉ ăn gừng, vừa nhai vừa nhổ ra đầy vườn.

Trước nhà bà Tẹo là một khoảng ruộng chân mạ, giờ đang bỏ đất không, đợi mùa trồng thuốc lào. Từ đấy có thể nhìn thấu ra cánh đồng xa. Một thằng chợt nhìn thấy có con trâu ngoài cánh đồng. Không hiểu sao có con trâu lạc bầy rớt lại đấy. Nó thản nhiên gặm cỏ, không để ý đến những tràng súng còn nổ lẻ tẻ chung quanh. Bọn chúng chỉ trỏ con trâu và nói líu lô. Một thằng đem khẩu súng cối đặt lên mô đất cao trong vườn. Chúng xô lại ngắm về phía con trâu. Đứa nào cũng lộ vẻ thích thú vì cái mục tiêu mà chúng sắp bắn.

Một thằng thả quả đạn. Nòng súng phụt lửa, quả đạn bay đi. Hàng chục cặp mắt theo dõi. Viên đạn nổ cách con trâu quãng mươi, mười lăm mét. Con trâu cong đuôi nhảy đi. Bọn địch la ó và thả tiếp hai quả đạn đuổi theo con vật. Con trâu chạy thoát vì nó đã rẽ ngang.

Bọn địch đã phát hiện chỗ đặt súng, đất bị lún nhiều, chứng tỏ bên dưới rỗng. Lập tức chúng reo lên, chúng đã phát hiện được một hầm bí mật.

Chúng đào bới và tìm ra miệng hầm. Khi một khoảng trống tối đen lộ ra, bọn chúng vội nằm xuống. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Chúng gọi một tên lính ngụy đến, bảo thằng này kêu gọi người dưới hầm lên. Thằng lính ngụy đứng né miệng hầm và ngoác mồm:

– Việt Minh lên hàng đi, các quan sẽ tha chết cho! Không lên sẽ bị tiêu diệt!

Nhưng khoảng tối cửa hầm vẫn yên lặng. Tên lính ngụy gọi hai ba lần, vẫn không có tiếng trả lời. Bọn chúng đẩy tên lính ngụy xuống hầm, nhưng thằng này từ chối. Một thằng Tây gí súng sau lưng tên ngụy bắt buộc phải xuống. Hắn bước, đôi chân run lật bật, hắn nói vào trong hầm:

– Đừng bắn tôi. Bắn tôi thì các ông cũng bị giết. Các ông hãy lên đầu hàng, các ông sẽ được sống. Hãy lên đi, đằng nào các ông cũng bị bắt. Đừng bắn tôi, tôi cũng bị bắt buộc đi lính.

Tên ngụy vừa kêu gọi vừa rên rỉ bằng cái giọng thảm hại buồn cười, nhưng vẫn không có tiếng trả lời. Cái hầm vẫn im lìm bí mật. Tên lính ngụy bước lên lắc đầu, ra hiệu là trong hầm không có người. Nhưng bọn Tây không chịu. Chúng ném xuống một quả lựu đạn hơi ngạt. Chờ cho khói tan, hai thằng mới lò dò xuống, súng lên đạn chĩa phía trước.

❀ ❀ ❀

[1] Cloche: quả chuông.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Xuân Sách

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.