Xã Bạch Đằng có bốn thôn ở thành hàng dọc theo thứ tự: Phác Xuyên, Xuân Lai, Xuân Hòa, Xuân Quang. Một cái đầm nước bao quanh ba mặt và thông ra sông. Người ta thường đi thuyền trên đầm nước. Đi làm ruộng, đi chợ, đi đến chơi nhà nhau. Những chiếc thuyền ván thon dài, xinh như ghép bằng bìa. Về mùa mưa, đường trong làng trở nên lầy lội ngập bùn, thuyền càng trở nên cần thiết. Từ xưa đã có câu truyền lại: “Trăm cái tội không bằng lỗ lội Phác Xuyên”. Vì vậy người ta ít gồng gánh mà thường đội đầu. Đàn bà thường phải cắt tóc để đội cho tiện. Người ta coi đấy là chuyện bình thường, nhưng thực ra đó là nỗi đau khổ của người đàn bà. Sau khi lấy chồng, có con, coi như đã yên phận, thì người con gái cầm kéo cắt mớ tóc đẹp đẽ của mình, để sống cuộc đời lam lũ vất vả cho đến già.
Hai gác chuông nhà thờ Xuân Hòa và Xuân Quang cao vọt lên, một cái nóc tròn, một cái nóc nhọn. Đứng ở trên tầng cao gác chuông ấy có thể nhìn khắp một vùng, có thể nhìn vào bếp từng nhà trong thôn, thấy rõ mọi hoạt động, qua những khe cửa chớp bằng xi măng.
Cha Hiếu ở nhà thờ Xuân Hòa. Đấy là một người bệ vệ, nõn nượt. Nước da trắng mướt vì cớm nắng. Đôi má và cái cằm béo sệ che lấp cả cổ. Chẳng mấy ai biết rõ tung tích của cha. Ông ta về đây ở một mình một căn nhà hai tầng rộng thênh thang phía sau nhà thờ. Nhà thờ chiếm rất nhiều ruộng tốt, giáo dân nai lưng ra làm, đến mùa thì nộp thóc vào kho nhà thờ. Người dân theo đạo có ổ gà đẻ trứng, phải chọn những quả tốt nhất đem biếu cha. Cha đựng đầy hàng sọt. Ăn không hết, cha sai người đi đổ từng đống. Trẻ con Xuân Hòa đã một lần tìm ra đống trứng thối đó. Chúng đem ra đồng bày trò ném nhau, đến nỗi tắm ba lần bảy lượt cũng chưa hết mùi thối.
Cái hôm bọn giặc bắt được anh Dừa, cha Hiếu đóng kín cửa lại, dường như cha không muốn để tâm đến những chuyện thuộc về phần đời ấy. Nhưng cha vẫn đứng bên trong nhìn qua khe cửa, thấy hết cảnh bọn giặc tra tấn anh Dừa. Nhìn thấy xếp Gộc hùng hổ như con chó đói tra tấn anh Dừa mãi mà không kết quả, cha bực tức cứ đi lại trong nhà, miệng rủa thầm. Cái thằng Gộc ngu như lợn, đối với thằng bí thư cộng sản ấy phải biết mềm mỏng, biết đấu lý với nó. Chao ôi, chẳng lẽ cha lại phải nhúng tay vào. Chẳng lẽ lại đưa thằng Dừa vào đây đối mặt với cha.
Khi thấy bọn lính khiêng Dừa đi, cha thốt lên:
– Thế là chúng nó bắt được con gấu mà không lấy được mật, thật là công toi!
Người bõ già vào nói:
– Trình cha, có anh Tẩu xin vào gặp cha, anh ấy đang đợi ở nhà dưới.
– Bảo anh ta lên đây.
Cha Hiếu ngả lưng ra ghế bành, mắt nhìn lên trần nhà. Chén trà ở bàn vẫn bốc khói. Cha đã tắt ngọn đèn dầu, và thắp lên một ngọn nến nhỏ. Ngọn lửa lắt lay, khiến cái bóng cha lù lù in trên tường cũng lay động. Thằng Tẩu nhìn vào cái bóng đó mà đoán thầm những ý nghĩ của đấng bề trên. Chắc lúc này, sau bữa ăn, cha đang thả linh hồn về cái thế giới xa xôi nào đó.
– Thế là không moi được điều gì ở thằng Dừa?
Cha Hiếu bật dậy và nhìn vào mặt Tẩu. Thằng Tẩu đáp:
– Trình cha, không được gì, hắn thi gan với ông xếp Gộc, và ông ta không nén được.
Cha Hiếu ngắt lời:
– Xếp Gộc vừa hèn vừa ngu.
Mắt thằng Tẩu lóe sáng, hắn hoạt bát hẳn lên:
– Trình cha, quả có thế. Ông Gộc giết thằng Dừa quá vội, phải tay con thì… – Hắn vội im, mắt lại cụp xuống. Cha Hiếu nhìn Tẩu:
– Thế còn công việc của anh đến đâu rồi? Tẩu thu người lại trên ghế, nghĩ cách trả lời. Hắn biết tính bề trên không ưa dài dòng:
– Trình cha, công việc thuận lợi. Con đã chọn được chẵn hai mươi đứa trai tráng vào đội vệ sĩ, đội quân của Chúa. Rành những đứa đáng tin cậy, có thể tử vì đạo, vì Chúa mà nhảy vào lửa. Lập được cái bốt ở xứ Xuân Hòa này với hai mươi người đó, con tin là con sẽ làm tròn bổn phận. Chỉ còn thiếu vũ khí. Trình cha, họ hỏi con bao giờ thì phát súng cho họ, con xin ý kiến cha.
– Súng thì không thiếu. Nhưng liệu những kẻ được giao súng đã chắc chắn giữ được chưa, hay lại để rơi vào tay du kích. Anh phải hết sức cẩn thận, chọn lọc người cho đúng. Bảo họ hãy đợi, bao giờ thấy giao súng được, ta sẽ giao. Trong khi chờ súng thì các anh đã có gì trong tay?
– Dạ, con đã cho nhồi được một trăm chai vôi bột, hiện đang xếp ở trên gác chuông.
– Việc đó phải hoàn toàn giữ kín, anh hiểu chứ?
– Dạ.
Cha Hiếu uống nước, và rót một chén đẩy về phía Tẩu, thấp giọng:
– Thằng Dừa chết, những thằng khác chạy bán xới, đây là cơ hội thuận lợi, con phải cố gắng. Cha tin ở con.
Thằng Tẩu đứng dậy:
– Trình cha, vì Chúa con xin hết sức, và con vẫn nhớ cha thay mặt đấng Cao cả chăn dắt chỉ bảo cho chúng con. – Nói rồi hắn nhẹ nhàng lui ra.
Cha Hiếu thổi phụt tắt ngọn nến, gian nhà chìm trong bóng tối. Cha ưa suy nghĩ trong bóng tối như vậy.
Nhưng một lát sau, ngọn nến lại được thắp lên. Một người lại ngồi trước mặt cha. Lần này là một người đàn bà. Người đàn bà không còn trẻ nhưng dáng vóc còn nuột nà. Mụ mặc cái áo lụa màu mỡ gà. Mái tóc vấn trần đen mượt. Cặp mắt dài và sắc đang đăm đắm nhìn lên tượng Chúa treo trên tường.
Cha Hiếu không ngồi ở ghế bành nữa, mà đi đi lại lại quanh nhà. Cha nói rất dịu dàng với người đàn bà:
– Sao hôm nay con đến muộn thế?
– Con tới hầu cha đã lâu, nhưng thấy cha có khách nên ngồi đợi ở dưới bếp.
– Khách nào đâu, thằng Tẩu đấy mà!
Người đàn bà mỉm cười:
– Trình cha, đấy có phải là cánh tay phải của cha không ạ?
– Lạy Chúa, con nói điều hồ đồ rồi. Thằng ấy chưa phải là người mà cha hoàn toàn trông cậy được. Hôm nay con có mang tin lành đến với cha không?
– Trình cha, có phải cha đang muốn biết đứa nào sẽ thay thằng Dừa phải không ạ?
Cha Hiếu cười hề hề:
– Chúa đã phú cho con một trí óc thật sáng láng, mặc dù con chưa phải là con chiên của Người. Có những người làm việc như con, cha thật hài lòng.
– Cha quá khen. Con chưa biết, mà cũng chưa đoán được đứa nào sẽ thay thằng Dừa. Điểm mặt bọn cán bộ thì không có đứa nào, có lẽ huyện sẽ cử một đứa ở nơi khác về.
– Cho cha có ý kiến trái ngược với con. Cha cho rằng chúng nó sẽ tìm một đứa ngay ở xã này. Con nghĩ kỹ xem. Thằng chồng con cũng không biết tí gì ư?
– Thằng ấy chạy bán xới rồi, mà hắn cũng không biết gì đâu. Vả lại thằng Dừa mới chết chiều nay, ít ra cũng phải vài ba hôm nữa mới có đứa thay thế.
– Không lâu đến thế đâu con ạ. Nhưng thôi, việc ấy hãy khoan. Thế nào rồi con cũng biết, có điều là biết sớm chừng nào hay chừng ấy.
Cha ngừng lời và nhìn người đàn bà, cái nhìn xoi mói lóe lên những tia sáng thèm khát.